Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế cạnh tranh hiện nay, có thể nói hiệu quả hoạt động kinh doanh của mỗi doanh nghiệp quyết định đến sự suy tồn và phát triển của doanh nghiệp đó. Đây cũng là vấn đề các nhà quản trị doanh nghiệp đặc biệt quan tâm bởi lẻ hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng cao thì sức cạnh tranh trên thị trường càng lớn và niềm tin với nhà đầu tư thêm vững chắc. Sự phát triển của từng doanh nghiệp phản ánh sự phát triển của ngành kinh doanh trong lĩnh vực đó. Trên địa bàn thành phố Đà Nẵng hiện nay, phát triển du lịch là nhiệm vụ hàng đầu của các cơ quan chức năng với phương châm “Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn; du lịch chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội”.

Để tìm hiểu sự phát triển của ngành trên địa bàn thành phố hiện nay, chúng ta cần phân tích xem các doanh nghiệp hoạt động trong ngành du lịch hiện nay hoạt động như thế nào, hiệu quả ra sao? Do đó, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả hoạt động kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

– Xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kiểm định mô hình và các giả thuyết nghiên cứu, từ đó xác định các nhân tố và mức độ tác động của chúng đến hiệu quả kinh doanh của các công ty hoạt động trong ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

– Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp ngành du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu hiệu quả kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu được giới hạn trong 03 năm 2011, 2012 và 2013. Đây là giai đoạn thực tế phản ánh tình trạng khó khăn của nền kinh tế thời kỳ hậu khủng hoảng.

Phạm vi về không gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu 25 doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Đây là những doanh nghiệp thực hiện tương đối đầy đủ công tác thông tin trong bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh.

4. Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu

  • Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài: các tài liệu, giáo trình về phân tích và thống kê hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
  • Kết quả nghiên cứu của các tác giả khác: trong các tạp chí, báo cáo
    khoa học, đề tài nghiên cứu khoa học, … có liên quan đến các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.
  • Các chủ trương, chính sách của Nhà nước và thành phố Đà Nẵng liên quan đến ngành du lịch.
  • Số liệu phục vụ cho nghiên cứu: thu thập từ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 25 doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 3 năm từ năm 2011 đến năm 2013 và các số liệu thống kê của ngành trên cáo cáo của Sở Văn hóa – Thể thao & Du lịch TP. Đà Nẵng.

Phương pháp thực hiện

Trong nghiên cứu, tác giả sử dụng công cụ toán thống kê với sự hỗ trợ
của phần mềm Excel và SPSS 16.0 để xây dựng mô hình hồi quy và kiểm
định sự ảnh hưởng các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp sử dụng trong nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề tài đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

5. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1. Tổng quan về phân tích hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp.

Chương 2. Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

Chương 3. Giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Phân tích hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆU QUẢ KINH DOANH

      1. 1.1.1. Khái niệm

Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh.

Nhà kinh tế học Adam Smith cho rằng: “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”. Như vậy, hiệu quả được đồng nghĩa với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh, có thể do tăng chi phí mở rộng sử dụng nguồn lực sản xuất. Nếu cùng một kết quả có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này doanh nghiệp cũng đạt hiệu quả.

Một số quan điểm lại cho rằng hiệu quả kinh doanh được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Điển hình cho quan điểm này là tác giả Manfred Kuhn, theo ông : “Tính hiệu quả được xác định bằng cách lấy kết quả tính theo đơn vị giá trị chia cho chi phí kinh doanh”. Đây là quan điểm được nhiều nhà kinh tế và quản trị kinh doanh áp dụng vào tính hiệu quả kinh tế của các qúa trình kinh tế.

Hai tác giả Whohe và Doring lại đưa ra hai khái niệm về hiệu quả kinh doanh. Đó là hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật và hiệu quả tính bằng đơn vị giá trị. Khái niệm hiệu quả tính bằng đơn vị hiện vật của hai ông chính là năng suất lao động, máy móc thiết bị và hiệu suất tiêu hao vật tư, còn hiệu quả tính bằng giá trị là hiệu quả của hoạt động quản trị chi phí.

Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn và các yếu tố khác) để đạt được mục tiêu xác định mà doanh nghiệp đã đề ra. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh gia trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra ở mức độ nào.

      1. 1.1.2. Vai trò của hiệu quả kinh doanh đối với với doanh nghiệp

Hiện nay với sự vận động đa dạng và phức tạp của cơ chế thị trường dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Trong khi đó các nguồn lực sản xuất xã hội ngày càng giảm nhưng nhu cầu của con người lại ngày càng đa dạng. Điều này phản ánh quy luật khan hiếm. Quy luật khan hiếm bắt buộc mọi doanh nghiệp phải trả lời chính xác ba câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? vì thị trường chỉ chấp nhận những doanh nghiệp nào sản xuất đúng loại sản phẩm với số lượng và chất lượng phù hợp. Chính vì vậy để có thể tồn tại và phát triển của doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải xác định cho mình một phương thức hoạt động riêng, xây dựng các chiến lược, các phương án kinh doanh phù hợp và có hiệu quả. Như vậy, hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến doanh nghiệp, được thể hiện thông qua các vai trò sau:

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều kiện hết sức quan trọng trong
việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
: Sự tồn tại của doanh

nghiệp được xác định bởi sự tạo ra hàng hóa, của cải vật chất và dịch vụ phục
vụ cho nhu cầu của xã hội. Do đó doanh nghiệp phải đảm bảo thu nhập đủ bù
đắp chi phí bỏ ra và có lãi trong quá trình hoạt động. Ngoài ra doanh nghiệp
còn phải có sự tích lũy cho quá trình tái sản xuất mở rộng. Nhưng trong điều kiện các yếu tố của quá trình sản xuất chỉ thay đổi trong khuôn khổ nhất định thì để tăng lợi nhuận đòi hỏi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phải đạt hiệu quả. Hiệu quả sản xuất kinh doanh càng cao, doanh nghiệp càng có điều kiện tái sản xuất mở rộng, đổi mới công nghệ tiên tiến hiện đại… Sản xuất kinh doanh có hiệu quả cũng là tiền đề để nâng cao phúc lợi cho người lao động từ đó kích thích người lao động tăng năng suất lao động.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh là nhân tố thúc đẩy sự cạnh tranh và
tiến bộ trong sản xuất kinh doanh
: Cạnh tranh là yếu tố làm doanh nghiệp mạnh lên nhưng cũng có thể khiến doanh nghiệp không thể tồn tại được trên thị trường. Thị trường ngày càng phát triển thì sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn. Sự cạnh tranh lúc này không còn là cạnh tranh về số lượng mà cạnh tranh cả về chất lượng hàng hóa, giá cả và các yếu tố khác. Do đó doanh nghiệp phải cung cấp được hàng hóa dịch vụ với chất lượng tốt, giá cả hợp lý. Mặt khác hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa bán ra, nhưng chất lượng không ngừng được nâng cao,..Vì vậy, các tiến bộ khoa học kỹ thuật, các phương thức quản lý hiện đại sẽ được áp dụng thúc đẩy sự tiến bộ trong sản xuất kinh doanh.

 Hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều kiện thực hiện mục tiêu bao
trùm của doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận: Để có được lợi nhuận, doanh
nghiệp phải tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra sản phẩm
cung cấp cho thị trường. Muốn vậy, doanh nghiệp phải sử dụng một số nguồn
lực nhất định. Doanh nghiệp càng sử dụng tiết kiệm các nguồn lực này bao
nhiêu sẽ càng có cơ hội để thu được nhiều lợi nhuận. Hiệu quả hoạt động kinh
doanh là phạm trù phản ánh tính tương đối của việc sử dụng tiết kiệm các
nguồn lực xã hội nên đây là điều kiện để thực hiện mục tiêu bao trùm, lâu dài
của doanh nghiệp.

    1. 1.2. Nguồn thông tin sử dụng trong phân tích hiệu quả kinh doanh
      1. 1.2.1. Nguồn thông tin từ báo cáo tài chính

Trong phân tích hiệu quả kinh doanh chúng ta sử dụng thông tin từ hai nguồn chính đó là thông tin từ các báo cáo tài chính (BCTC) của doanh nghiệp và các nguồn thông tin tài liệu khác.

BCTC là báo cáo được lập dựa vào phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ sổ sách kế toán, theo các chỉ tiêu tài chính phát sinh tại những thời điểm hoặc thời kỳ nhất định

Các BCTC phản ánh một cách hệ thống tình hình tài sản của đơn vị tại một thời điểm, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình sử dụng vốn của đơn vị trong một thời kỳ nhất định. Đồng thời, BCTC được giải trình, thuyết minh giúp các đối tượng sử dụng thông tin có thể nhận biết được tình trạng trạng tài chính, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để ra các quyết định phù hợp.

Trong nền kinh tế hiện nay, đối tượng sử dụng các thông tin trên BCTC rất đa dạng: các đơn vị quản lý nhà nước, các nhà quản lý doanh nghiệp, cổ đông, nhà đầu tư, nhà tài trợ… Vì vậy các BCTC phải đảm bảo tính hệ thống và đồng bộ, số liệu phải phản ánh trung thực, đầy đủ, chính xác và kịp thời.

Hệ thống BCTC bao gồm:

– Bảng cân đối kế toán (CĐKT). Mẫu số B.01-DN

– Báo cáo kết quả kinh doanh (KQKD). Mẫu số B.02-DN

– Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Mẫu số B.03-DN

– Bảng thuyết minh BCTC. Mẫu số B.09-DN

      1. 1.2.2. Các tài liệu liên quan khác

Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chịu tác động bởi nhiều nhân tố thuộc cả môi trường vĩ mô nên khi thực hiên phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp cần đặt trong bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và nền kinh tế khu vực. Kết hợp tất cả các thông tin này sẽ đánh giá một cách đầy đủ và chính xác hơn tình hình của doanh nghiệp và dự báo những nguy cơ hay cả những cơ hội đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có thể đưa ra giải pháp có hiệu quả cho công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Những thông tin vĩ mô thường được doanh nghiệp quan tâm đó là: thông tin về sự tăng trưởng, suy thoái của nền kinh tế; lãi suất ngân hàng, tỷ giá ngoại tệ, tình hình biến động của thị trường chứng khoán…; tình hình lạm phát, giảm phát và các chính sách kinh tế của Chính Phủ, các chính sách chính trị, ngoại giao…

Ngoài những thông tin về môi trường vĩ mô, những thông tin về ngành kinh doanh cũng cần được xem xét: Mức độ và yêu cầu công nghệ thông tin của ngành; mức độ cạnh tranh, khả năng xuất hiện đối thủ cạnh tranh và quy mô của thị trường và nhịp độ và xu hướng vận động của ngành kinh doanh…

    1. 1.3. Các phương pháp sử dụng phân tích hiệu quả kinh doanh

Trong phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp có thể sử dụng 5 phương pháp sau:

      1. 1.3.1. Phương pháp so sánh

Phương pháp so sánh là phương pháp chủ yếu trong phân tích hiệu quả kinh doanh để xác định xu hướng, mức độ biến động của chỉ tiêu phân tích. Để thực hiện so sánh, phải giải quyết các vấn đề cơ bản trước, đó là: xác định tiêu chuẩn so sánh, điều kiện so sánh và kỹ thuật so sánh.

Việc so sánh này biểu hiện kết cấu, mối quan hệ, tốc độ phát triển… của chỉ tiêu phân tích. Các chỉ tiêu phân tích trong một thời kỳ được thể hiện qua số bình quân. Phương pháp so sánh này phản ánh nội dung chung nhất của hiện tượng, bỏ qua sự phát triển không đồng đều giữa các bộ phận cấu thành hiện tượng đó, hay nói cách khác, số bình quân đã san bằng mọi chênh lệch về trị số của chỉ tiêu. Số bình quân có thể thể hiện dưới dạng số tuyết đối (năng suất lao động bình quân, tỷ suất chi phí bình quân…) hoặc dưới dạng số tương đối (tỷ suất doanh lợi bình quân, tỷ suất chi phí bình quân…).

      1. 1.3.2. Phương pháp loại trừ

Phương pháp loại trừ là hệ thống gồm hai phương pháp: phương pháp thay thế liên hoàn và phương pháp số chênh lệch

      1. 1.3.3. Phương pháp cân đối liên hệ

Cân đối liên hệ có cơ sở là sự cân bằng về số lượng giữa hai mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh: giữa tổng số tài sản và tổng số nguồn vốn, giữa nhu cầu và khả năng thanh toán, giữa nguồn mua sắm và nhu cầu các vật tư, giữa thu và chi… Mối liên hệ cân đối vốn có về lượng của các yếu tố dẫn đến cân bằng mức biến động giữa các yếu tố đó. Dựa vào nguyên tắc này ta xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố có quan hệ dưới dạng tổng số bằng cân đối liên hệ.

      1. 1.3.4. Phương pháp chi tiết

Kết quả sản xuất kinh doanh có thể được chi tiết theo nhiều hướng khác nhau, thông thường được chi tiết theo các hướng sau:

Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: được sử dụng để tìm kết cấu của chỉ tiêu kinh tế và xác lập vai trò của bộ phận cá biệt hợp thành chỉ tiêu tổng hợp. Việc chi tiết này có tác dụng đánh giá ảnh hưởng từng bộ phận đến chỉ tiêu phân tích chung và được quyết định bởi nhiệm vụ, nội dung và yêu cầu của công tác phân tích kinh doanh của doanh nghiệp.

Chi tiết theo thời gian: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Chi tiết theo thời gian sẽ giúp kết quả phân tích phản ánh đầy đủ, chính xác và có thể tìm ra được thời gian tốt nhất theo kết quả đạt được khi doanh nghiệp sử dụng khả năng của mình, có thể xác định được sự không đều đặn của quá trình sản xuất kinh doanh. Khi phân tích các chỉ tiêu theo năm cần chú ý chi tiết theo quý, tháng… tùy vào mục đích sử dụng các thông tin chi tiết đó.

Chi tiết theo địa điểm: kết quả kinh doanh cuối cùng là kết quả đóng góp của tất cả các bộ phận trên các địa điểm khác nhau. Chi tiết theo địa điểm sẽ làm rõ hơn kết quả của từng bộ phận và ảnh hưởng của chúng đến kết quả chung cuối cùng. Ví dụ, doanh thu của doanh nghiệp thương mại có thể chi tiết theo từng cửa hàng, theo từng vùng, khu vực…

      1. 1.3.5. Phương pháp thống kê hồi quy

Thống kê hồi quy là phương pháp sử dụng dữ liệu quá khứ để tìm ra quy luật, mối quan hệ giữa chúng. Mối quan hệ này thể hiện dưới dạng một phương trình hồi quy. Dựa vào đây có thể giải thích các kết quả lượng hóa về bản chất; hỗ trợ, củng cố lý thuyết và có thể thực hiện dự báo cho tương lai. Trong phân tích hiệu quả kinh doanh có thể sử dụng phương pháp thống kê hồi quy để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng để giải thích rõ hơn hiệu quả kinh doanh chịu ảnh hưởng của những nhân tố nào và chịu ảnh hưởng ra sao. Đây cũng là cơ sở để có thể đề xuất một số các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh các doanh nghiệp.

    1. 1.4. Nội dung phân tích hiệu quả kinh doanh

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp, được tạo thành bởi tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh. Do vậy hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp không chỉ được xem xét một cách tổng hợp mà còn được nghiên cứu trên cơ sở các yếu tố thành phần của nó, đó là hiệu quả cá biệt.

      1. 1.4.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả cá biệt

Để có thể xem xét, đánh giá một cách chính xác hiệu quả kinh doanh cá biệt, chúng ta xây dựng các chỉ tiêu chi tiết cho từng yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở so sánh từng loại phương tiện, từng nguồn lực với kết quả đạt được. Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cá biệt đối với từng loại phương tiện khác nhau thường được sử dụng với nhiều tên gọi như: hiệu suất, năng suất, tỷ suất…

a. Hiệu suất sử dụng tài sản doanh nghiệp

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng tài sản đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thì tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu. Giá trị của chỉ tiêu này cao có nghĩa là doanh nghiệp đã sử dụng tài sản một cách hiệu quả, tạo ra doanh thu lớn trên một đồng đầu tư vào tài sản.

Tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh mà chỉ tiêu này sẽ khác nhau. Do đó khi thực hiện phân tích chúng ta phải đối chiếu giữa các doanh nghiệp với nhau và với số bình quân toàn ngành. Một doanh nghiệp có chỉ tiêu này cao hơn các doanh nghiệp khác hay cao hơn mặt bằng chung của ngành chứng tỏ trình độ quản lý, phương thức tổ chức sản xuất và khả năng sử dụng tài sản một cách hiệu quả.

Trong công thức phát biểu trên, doanh thu bao gồm cả ba hoạt động đó là doanh thu từ hoạt động bán hàng và cung ứng dịch vụ, doanh thu từ hoạt động tài chính và doanh thu khác vì tài sản của doanh nghiệp được tạo ra đươc đầu tư từ kết quả của cả ba hoạt động trên. Mẫu số là giá trị bình quân, có thể là giá trị bình quân của đầu kỳ và cuối kỳ nếu sự biến động về tình hình tài sản là không đáng kể. Trong trường hợp có sự biến động tài sản lớn và liên tục thì để đảm bảo tính chính xác ta lấy giá trị bình quân của các tháng hoặc quý trong năm. Ngoài ra, có thể sử dụng giá trị sản xuất hoặc giá trị gia tăng để thay thế cho chỉ tiêu doanh thu thuần.

b. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định doanh nghiệp

Ý nghĩa: Chỉ tiêu này phản ánh 100 đồng nguyên giá TSCĐ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu thuần từ hoạt động bán hàng và cung cấp dịch vụ.

Tương tự như chỉ tiêu trên, chỉ tiêu này cũng cần được so sánh với các doanh nghiệp khác và so với bình quân ngành. Chỉ tiêu này cao cho thấy khả năng sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.

Với NG TSCĐ đầu kỳ (hoặc cuối kỳ) được xác định bằng NG TSCĐ đầu kỳ (cuối kỳ) trừ đi giá trị hao mòn lũy kế ở đầu kỳ (cuối kỳ).

Trong nền kinh tế hiện nay thì TSCĐ của các doanh nghiệp không chỉ bao gồm những tài sản có hình thái hiện vật (TSCĐ hữu hình) mà còn bao gồm những tài sản vô hình như: chi phí thành lập doanh nghiệp, chi phí mua bằng phát minh sang chế… Như vậy, TSCĐ của doanh nghiệp bao gồm: TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ thuê tài chính.

c. Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp

Hiệu suất sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp hay còn gọi là hiệu suất sử dụng vốn lưu động của doah nghiệp. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản ngắn hạn. Quá trình vận động của vốn lưu động bắt đầu từ việc dung tiền để mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, kinh doanh đến khâu tiến hành sản xuất, kinh doanh và cuối cùng là tổ chức tiêu thụ để thu hồi lại tiền mặt ở hình thái ban đầu. Quá trình vận động của vốn lưu động chính là quá trình doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Tùy theo hình thức kinh doanh của mỗi ngành nghề mà thời gian luân chuyển của vốn lưu động sẽ dài ngắn khác nhau. Để đo lường điều này ta dùng chỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động hay số ngày của một vòng quay vốn lưu động.

* Tốc độ luân chuyển vốn lưu động

Chỉ tiêu số vòng quay VLĐ thể hiện tốc độ luâna chuyển vốn lưu động hay hiệu suất sử dụng vốn lưu động. Trong công thức trên VLĐ bình quân được xác định bằng số trung bình của VLĐ đầu kỳ và cuối kỳ.

Số vòng quay VLĐ càng lớn tức là thời gian luân chuyển vốn lưu động càng nhanh thì được đánh giá là càng tốt. Điều này không chỉ cho thấy mức độ tiết kiệm vốn, sử dụng các khoản tiền và tương đương tiền có hiệu quả mà còn cho thấy doanh nghiệp có khả năng cân đối cao các khoản thanh toán ngắn hạn cần thiết trong hoạt động sản xuất kinh doanh để sử dụng tiền mặt hiệu quả nhất, chi phí thấp nhất.

* Tốc độ luân chuyển khoản phải thu

Bên cạnh việc phân tích vòng quay VLĐ, chúng ta còn đi vào phân tích vòng quay khoản phải thu. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có doanh thu rất cao nhưng liệu có bị khách hàng chiếm dụng vốn hay không? Các khoản phải thu có khả năng thu hồi hay không? Thu hồi như thế nào và thu hồi trong bao lâu cũng là các câu hỏi đặt ra trong phân tích hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp.

* Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho

Số vòng quay hàng tồn kho là số lần bình quân hàng tồn kho luân chuyển trong kỳ, là tiêu chuẩn để đáng giá các doanh nghiệp đã sử dụng hàng tồn kho của mình hiệu quả như thế nào.

d. Hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp

Năng suất lao động là chỉ tiêu biểu hiện khả năng sản xuất, sức sản xuất của lao động trong doanh nghiệp. Chỉ tiêu này có thể được biểu hiện bởi nhiều đại lượng khác nhau như năng suất lao động năm (NSLĐ năm), năng suất lao động ngày (NSLĐ ngày) và năng suất lao động giờ (NSLĐ giờ) của công nhân trực tiếp sản xuất (CNSX), công nhân phục vụ và quản lý sản xuất. Chỉ tiêu về năng suất lao động được tính:

Các chỉ tiêu càng lớn chứng tỏ doanh nghiệp càng có hiệu suất sử dụng lao động cao. Khi tính chỉ tiêu trên, CNSX là công nhân trực tiếp sản xuất tại doanh nghiệp. Nếu ta dùng chỉ tiêu số lượng công nhân viên (CNV) thì có được năng suất lao động của công nhân viên. Tuy nhiên, khi phân tích phải xem xét tỷ trọng của CNSX trên CNV để thấy rõ hiệu quả công tác quản lý tại doanh nghiệp. Nếu tỷ trọng của CNSX trên CNV càng lớn chứng tỏ việc tổ chức lao động, khả năng quản lý lao động gián tiếp càng tốt.

Các chỉ tiêu trên chỉ mới cho biết một khái niệm rộng liên quan đến hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp. Để có ý niệm chính xác hơn cần xem xét từng loại hình hoạt động của doanh nghiệp cũng như từng loại nhân công. Trong khá nhiều trường hợp, để thấy rõ hơn hiệu suất sử dụng lao động doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh người ta còn dùng chỉ tiêu chi phí lương với doanh thu.

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng doanh thu cần bao nhiêu đồng tiền lương. Nếu chỉ tiêu này càng cao có nghĩa hiệu suất sử dụng lao đồng của doanh nghiệp càng thấp. Trị giá cả chỉ tiêu này thường nhỏ hơn 1 khá nhiều, nếu càng gần đến 1 chứng tỏ hiệu suất sử dụng lao động của doanh nghiệp chưa tốt, tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn.

Việc sử dụng các chỉ têu trên trong phân tích cho ta thấy được hiệu quả cá biệt của việc sử dụng lao động trong doanh nghiệp. Nghiên cứu các chỉ tiêu này cho phép đánh giá việc tăng giảm hiệu suất sử dụng lao động đối với kết quả của doanh nghiệp.

      1. 1.4.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh doanh tổng hợp

a. Phân tích khả năng sinh lợi từ hoạt động của doanh nghiệp

* Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần

Chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một bên là lợi nhuận, một bên là khối lượng cung cấp cho xã hội như giá trị sản xuất, doanh thu. Trị giá của chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hiệu quả của doanh nghiệp càng lớn. Đồng thời chỉ tiêu này còn cho biết ngành hàng nào có tỷ suất lợi nhuận cao hơn trong nền kinh tế. Khi sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận được xác định như sau:

Trong công thức này, lợi nhuận trong công thức này có thể là lợi nhuận trước thuế, lợi nhuận sau thuế hoặc lợi nhuận trước thuế và lãi vay. Tuy nhiên, vì tỷ suất thu nhập là không giống nhau đối với từng mặt hàng, từng loại hình kinh doanh nên để phản ánh đúng thành tích, khả năng sinh lời của doanh nghiệp, ta sử dụng lợi nhuận trước thuế là tốt nhất.

Như vậy, việc tính tỷ suất sinh lợi trên doanh thu bao quát cả ba hoạt động của doanh nghiệp đó là hoạt động sản xuất kinh doanh, hoạt động tài chính và hoạt động khác. Tuy nhiên, sức sinh lời của mỗi hoạt động là không như nhau và hoạt động sản xuất kinh doanh thường là hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp; đo đó chúng ta cần xem xét them chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lợi từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sau đây.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2015\LUAN VAN (Tran Lien Ha)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *