Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trênthếgiới hiện nay, xu hướng toàncầuhoá đang diễn ra ngày càng sâu rộng. Trong cuộc đua tranh phát triển kinh tế hiện nay, vấn đề tăng trưởng vàbềnvững đangđặt ra gay gắt đốivớitất cảcác quốc gia.Đốivớinhững nước đang phát triển, đặc biệt là đốivới những nước đi sau, yêu cầu này đặt ra như một đòi hỏi sống còn: hoặc là đuổi kịp và vượt lên trước hoặc là tụt lại sau và ngày càng xa rời các cơ hội phát triển. Vốn là chìa khoá, là điều kiện hàngđầu củamọiquá trình phát triển. Để có một khối lượng vốnlớn cho sựphát triển nền kinhtế đất nước cần phải đa dạng hoá các hình thức huyđộng vốncảtrong và ngoàinước.Sựcầnthiết phải đa dạng hoá các hình thức huy động vốn đã được khẳngđịnh trongVăn kiện Đại hội Đảngtoàn quốc lần thứVIII: “phát triển vốn bằng nhiều hình thức như thu hút tiền gửi trung, dài hạn qua ngân hàng và các công ty tài chính đểcho vayđầu tư phát triển”[2, tr.236]. Trong các hình thức huyđộngvốnphát triển ởViệt Nam hiện nay, hình thức thuê mua ngày càng có vai trò quan trọng. Thông qua hình thức thuê mua máy móc thiết bị và động sản khác, những mục tiêu đổi mới về chất lượng,mẫumã,sảnphẩm hàng hóa cũng như phương thức kinh doanh phục vụ đã đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam những lợi thế nhất định trên thịtrườngđầy sức cạnhtranh khốc liệt. Thuê mua nhà ở xã hội và thuê mua nhàở,công trình xây dựngsẽgiúp cho các doanh nghiệp,ngườidân đượcsửdụng tài sản- đáp ứngnhu cầu sản xuất kinh doanhvà đời sốngcủahọtrong giai đoạn hiện nay.
Thuê mua là một phương thức tín dụng nhằm huy động vốn tài trợ trung hạn và dài hạn cho các doanh nghiệp, cá nhân trongnước. Do những ưu điểm củamình, thuê mua là một hình thức huy độngvốn đãđang vàsẽđược áp dụngphổbiến ởViệt Nam. Ngày 7/11/2006 Việt Namđượckết nạp vào tổchức WTO, là thành viên chính thức ngày 11/1/2007,từ12/1/2007nướcta
1
bắt đầu được hưởngmọi quyền lợi và nghĩa vụ đối với WTO như đã cam kết.
Hoạt độngthuê mua được triển khai và thực hiện chủ yếu thông qua hợp đồng thuê mua. Hợp đồngthuê mua là một trong những công cụpháp lýđểbảo đảmcho hoạt độngthuê muađượcthực hiện tốt.ỞViệt Nam, thực tiễn hoạt động thuê mua nói chung và việc giao kết, thực hiện hợp đồng thuê mua trong nhiều năm đãquađãcó những thành côngbước đầu.Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, việc ký kết và thực hiện hợp đồng thuê mua đang gặp nhiều khó khăn. Nhiều hợp đồngthuê muabịvi phạm,bịchấm dứt trướcthời hạn đãđặt ra những vướngmắcvềmặt lý luận và thực tiễn,đặcbiệt làvềmặt pháp lý. Làm thế nào để tháo gỡ những khó khăn này? Câu trả lời cho câu hỏi này là phải cósựnghiên cứu đầy đủhơn vềhợp đồng thuê mua,đặcbiệt lànhững vấn đềpháp lývềhợp đồngthuê mua. Chính vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề pháplývềhợp đồngthuê mua là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Với tất cả những điều trình bày ở trên, Nghiên cứu sinh đã chọn vấn đề “Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam” làm đề tài cho Luận án tiến sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của Luận án 3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận án là trên cơ sở làm rõ những vấn đềlý
3
luận và thực tiễn pháp lý của hợp đồng thuê mua để trên cơ sở đó, luận án đềxuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật vềhợp đồng thuê mua ởViệt Nam,đáp ứngyêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinhtế quốc tế.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án có các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Thứnhất, Làm rõ những vấn đềlý luận cơbảnnhất liên quanđếnhợp đồngthuê mua như: khái niệm và nội dung của hợp đồng thuê mua, cách phân loại hợp đồngthuê mua,đặc điểmvàbảnchất pháp lýcủahợp đồngthuêmua.
Thứ hai, làm rõ những vấn đề pháp lý liên quan đến hợp đồng thuê mua như: Chủthểcủahợp đồng thuê mua,điều kiện hiệulựccủahợp đồng thuêmua, các nguyên tắc giao kết và thực hiện hợp đồng thuê mua…
Thứ ba, xác định những nhân tố ảnh hưởngđến sự điều chỉnhpháp luậtđối với quan hệ hợp đồng thuê mua.
Thứ tư, phân tích thực trạng pháp luật của Việt Nam về hợp đồng thuê mua, chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng thuê mua.
Thứ năm, đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồngthuê muaởViệt Nam, đáp ứngyêucầuCNH-HĐH đất nướctrongđiều kiện Việt Nam hội nhập kinhtế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Luận án 4.1. Đối tượng nghiên cứu của Luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là những vấn đề lý luận và pháp lý cơbảnvềhợp đồngthuê mua, các quyđịnhcủavănbảnpháp luật vàdướiluật của Việt Nam, của một số nước về hợp đồng thuê mua. Hợp đồng thuê mua tại Việt Nam không chỉ được điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong nước màcòn bị chi phối bởi các điều ước quốc tếhữu quan như: Các cam kết của Việt
4
Nam về thương mại và dịch vụ trong AFTA, các cam kết về thương mại dịch vụcủa APEC và của Hiệp định Thương mại Việt – Mỹ. Các văn kiện liên quan đến cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO- phần liên quan tới lĩnh vực ngân hàng và các cam kết về dịchvụtrong WTO. Vì vậy, những vấn đềnày cũng làđối tượng nghiên cứu của Luận án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của Luận án
Vì là Luận án Tiến sĩ Luật học nên Nghiên cứu sinh không đi sâu nghiên cứu khía cạnh kinh tế của hợp đồng thuê mua. Phạm vi nghiên cứu của Luận án giới hạn ở việc phân tích những khía cạnh pháp lý của hợp đồng thuê mua như chủ thể của hợp đồng thuê mua, bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua,
pháp luậtvềhợp đồng thuê mua…Thuê tài chính, thuê vận hành là hai hình thức cơ bản của thuê mua ở Việt Nam, vì vậy các quyđịnhcủa Việt Namvềcho thuê vận hành cũng được phân tích trong luận án.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của Luận án là chủ nghĩa Mác – Lêninvềduy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận án được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới về xây dựng và phát triển nền kinhtế thị trườngtheođịnh hướngXHCN. Luận án được thực hiện dựa trên việc áp dụng các phương pháp nghiêncứutổnghợpnhư: Phân tích, thống kê, tổng hợp, quy nạp và diễn giải. Đặc biệt phương pháp so sánh luật học được áp dụngnhiều trong quá trình nghiên cứu. Ngoài ra, tácgiảcũng có phỏng vấn trực tiếp ýkiếncủacác chuyên gia ởtrong nướcvàởnướcngoài khi đi nghiêncứutại Viện UNIDROIT tại Roma từ tháng 9 đến tháng 11 năm 2003.
6. Những đóng góp mới về khoa học của Luận án
Là luận án tiến sĩ luật học đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống những vấn đềpháp lý cơbảnvềhợp đồngthuê muaởViệt Nam trong thờikỳđổi mớivàhộinhập kinh tếquốctế.Cóthểcoi nhữngđiểmsauđâylà những

đóng góp mới về mặt khoa học của Luận án:
– Luận án đãphân tíchđểlàm rõsựkhác nhau giữa thuê muavớibán trảgóp, giữa hợp đồngthuê mua với hợp đồng mua bán hàng hoá,hợp đồng tín dụng, hợp đồng cho thuê, thuê mua trả góp.Đồngthời, luận án đã nêu bật bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mualà hợp đồngcấp tín dụng dưới dạng tài sản có ưu tiên quyền chọn mua cho bên thuê tài sản và đã nêu ra nhận định về tiền thuê và cách quiđịnhtiền thuê tối thiểu tronghợp đồng.
– Đã góp ý kiến trong quá trình hoàn thiện khái niệm thuê mua nhà ở, công trình xây dựng; quyền và nghĩavụcủacác bên trong hợp đồng; khái niệmhợp đồngthuê mua nhà ở công trình xây dựng trong Dự thảo luật Kinh doanh bất động sảnnăm 2006. Luật này đãđượcQuốchộithông qua ngày 29/6/2006
-Đãkhẳngđịnhđặc điểmpháp lýcủahợp đồngthuê mua là loại hợp đồngtín dụng mang tính thương mại.
– Đã làm rõ sự cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về hợp đồng thuê mua ởViệt Nam trong giaiđoạnhiện nay, cũng như việccầnthiết phải xây dựng môhình pháp luật phù hợp để điều chỉnh hợp đồng thuê mua, đáp ứng với điều kiện hiện nay của Việt Nam.
– Đã nêu lên những bất cập của pháp luật Việt Nam về hợp đồng thuêmua, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồngthuê muaởViệt Nam, đáp ứngyêu cầu củasựnghiệp CNH-HĐH đất nướctrong điều kiện hội nhập kinhtế quốc tế.
7. Kết cấu của Luận án
NgoàiLờinói đầu,Kết luận, Danhmụctài liệu tham khảo và cácPhụlục, nội dung Luận án gồm ba chương:
Chương 1: Nhữngvấn đề lý luận cơ bản về hợp đồngthuê mua Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam.
6
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ MUA
1.1. Hoạt động thuê mua trong nền kinh tế thị trường 1.1.1. Lược sử hình thành và phát triển của thuê mua
1.1.1.1. Lược sử hình thành hoạt động thuê mua
Từ những năm 2000 – 2800 trước Công nguyên, tại thành phố Sumerian củangườiUr [92, p. 912] sống ởphía Nam Mesopotania cổ[94, p.6-7] (gần vịnh Ba Tư thuộc lãnh thổ Iraq ngày nay) đã sử dụng hình thức cho thuê vận hành đối với các dụng cụ và công cụ cầm tay trong ngành nông nghiệp. Vớivịtrí gần vịnh Ba Tư, những người nông dân và chủ sở hữu tài sản đã đem công cụsảnxuất nông nghiệp, bò, nhà cửa, trang trại, ruộng đất canh tác, vào giao dịch thuê này. Các thày tugiữvai trò Bên cho thuê, Bên thuê là những nông dân tựdo [71, tr.2]. Những ghi chép mới nhất tìm đượcvào năm 1984 chỉra rằng vào khoảng năm 1700 trước Công nguyên, VuaxứBabylonnia làHamurabi đã tập hợp các quy định về cho thuê tài sản của người Sumerian vàngườiAchaian (vùng đất củangười Achaiancổsinh sống ngày nay thuộc nướcHy Lạp)đểban hành Đạo luật cho thuê tài sảntrongBộluật nổitiếng Hammurabi [100, p.4]. Nền văn minh cổ đại Ai Cập, Hy Lạp và La Mã đã ghi nhận những giao dịch cho thuê bất độngsản,động sản trong giai đoạn đó. Những người Phoenix cổ đại đã sử dụng việc thuê tàu rất giống với hình thức thuê thiết bịthuần tuý hiện nay. Vào khoảng năm 400 – 450 trướcCông nguyên, tại phía Đông Nam xứ Babylonia, tại thành phố Nipper cổ đại (nay làNuffer), gia đình Murashu thành lập cáigọilà trung tâm thuê mua (Leasing House) khá nổi tiếng về cho thuêđất,bò, công cụ sản xuất và hạt giống [94, p.8]. Hoạt động cho thuê ở Anh được pháp luật công nhận từ thế kỷ thứ XIII cho phép cho thuê tàisảncá nhân.Đếnnăm 1571 ởAnhđãthông quađạo luậtcấmlợidụng hình thức cho thuêđểchuyển quyền sởhữubất hợppháp
7
[100, p.5].
Những năm đầuthếkỷXVIII, cho thuêởMỹphát triển thựcsựnhờngành công nghiệp đường sắt.Đầunăm 1950, các loại máy bay, máy tính vàcác thiết bị chủ yếu đắt tiền khác lần đầu tiên được sử dụng trong ngành công nghiệp Mỹ. Cuối năm 1950, thuê mua ở Mỹ đã phát triển và Bên cho thuê thấy cần thiết phải mở rộng hoạt động này sang các nước khác. Ngành công nghiệp thuê mua hiện đại xuất hiện ở Mỹ vào năm 1952 [82, p.2] với sự thành lập của công ty mang tên“United States Leasing International Inc”[94, p.19-20]. Công ty này khởi nghiệp vớimột sốvốnkhông lớnnhưngđãnhanh chóng cung cấp thiết bịmáy móc cho khách hànglớnhơn nhiều so vớibảnthân Công ty.
Kểtừđầuthập niên 70, hình thức thuê muađãcóbướcphát triển đáng ngạc nhiên ởchâu Ávà nhiều khu vựckhác [94, p.20]. Vào những năm 80, hoạt động này đã lan tới các nước đang phát triển và họ đã củng cố nghiệp vụnày vào đầuthập niên 90 củathếkỷXX. Xét về tính ưu việt, thuê mua làphương thức tài trợ tín dụng có tính an toàn cao, thuận lợi cho các bên tham gia. Thuê mua là loại hình tín dụng thể hiện sự phát triển, sự đa dạng và phong phúcủaKTTT mà nguồngốclàdựavào những quyđịnhcởimởvà thông thoáng của pháp luật về quyền tự do kinh doanh, tự do khế ước, tự do hợp đồng của cánhân vàtổchức.Từđócho đếnnay, thuê muađãkhông ngừng phát triển vànhững quiđịnhpháp lý về thuê mua cũng thường xuyên được sửa đổi và hoàn thiện.
1.1.1.2. Quá trình phát triển của thuê mua
Thuê mua là loại hình tín dụng phát triển không ngừng và nayđãtrởthành phổbiến trong hoạt độngkinhtếquốctế.Nhưngởmỗimột quốc gia, mỗi khu vực, nóđềucó những đặc điểm riêng. Đây chính làsựđa dạng, phong phú nhưngđồngthời cũng là sự phức tạp của các giao dịch thuê mua. Thuê mua là một kỹ thuật đầu tư tài chính, là loại hình cấp tín dụng dưới dạng
8
tài sản. Thuê mua thật sựphát triển mạnhmẽsauthếchiếnthứhai [81, p.2] nhằm đáp ứngnhu cầuvềvốncho các công ty, các nhà kinh doanh.Vềquátrình phát triển, Thuê mua xuất phát từ thuê truyền thống (Traditional Lease) phát triển lên thành cho thuê tài chính(Finance Lease). Quá trình phát triển của thuê mua diễn ra theo chu trình trải qua 6 giai đoạn tính từ thời điểmbắt đầu cho thuê tài chính [94, p.35]; [71, tr. 4-9] Có thể tóm lược sáu giai đoạn phát triển của thuê mua như sau:
+ Giai đoạn 1: Cho thuê tài chính (Finance Lease). Các tài sản cho thuêtrong giaiđoạnnàychỉđượccoi là một hình thức tàitrợđểbán thiết bị.Vìvậy, việc tài trợ vốn dưới hình thức tài sản và mức độ cạnh tranh cho thuê tài chính trong giaiđoạnnày chưa gay gắt. Hợp đồng CTTCđượccoi là hợp đồng hoàn trả toàn phần (Full Payout Lease). Hợp đồng được thoả thuận phải có điều khoản quy định không được huỷ ngangvà đồngthời Bên thuê sẽ mua
lại tài sản cho thuê khi kếtthúc hợp đồng vớigiátượngtrưng. Bên thuê, thông thường, phải thanh toán mọi chi phí bảo hiểm, bảo trì, vận hành và các loại thuế được tính cho tài sản thuê. Bên cho thuê sẽ tài trợ 100% vốn đầu tưvào thiết bị, tài sản [71, tr.5].
Cho thuê tài chính có đặc điểm sau:
– Thoả thuận cho thuê tài chính cho phép Bên thuê có quyền ưu tiên mua tài sản thuê theo giá danh nghĩa thấp hơn giátrịthựctếcủatài sảnthuê tại thời điểm mua.
– Phần lớn các chi phí bảo trì, bảo hiểm, rủi ro, các lợi ích phát sinh trong quá trình sử dụng tài sản, thuế được chuyển từ Bên cho thuê sang Bên thuê.
– Tổng số tiền Bên thuê trả cho Bên cho thuê phải đủ để trang trải toàn bộgiátrịđầu tưcủatàisảnvà phần lãi hợp lýđượctính trênsốtiền đầutư ban đầu.
– Thời gian thực hiện cho thuê tài chính thường là trung và dài hạn, chiếm phần lớn thời gian sử dụng, vận hành tốt của tài sản và đặc biệt là hợp
9
đồngkhông thể huỷ ngang theo ý muốn của một bên.
+ Giai đoạn 2: Cho thuê tài chính mềm dẻo, linh hoạt (Flexible Finance Lease). Ở giaiđoạnnày, Bên cho thuê áp dụng mềm dẻo phương thức thanh toán phù hợp vớinăng lực tài chính của Bên thuê. Bên cho thuê có khả năng bảo trì, sửa chữa nhỏ tài sản cho thuê. Bên thuê có thể được lựa chọn mua tài sản theo giá trị của tài sản trên thị trường hoặc giá trị còn lại của tài sản theo thoả thuận.Đối vớiBên thuê đây làsựtiện lợi vềdịch vụvà ưu thếvềtài chính so với khi đi thuê tài sản thông thường cũng như so với cho thuê tài chính ở giai đoạn 1. Giá trị của nhữnghợp đồngđược ký kết ở giai đoạn này thường rất lớn. Vì vậy, việc tài trợ vốn cho nhữnghợp đồngnày thường phải là các công ty tài chính.
+ Giaiđoạn3: Thuêvậnhành (Operating Lease). Hoạt độngthuê mua lúc này đã có sự chuyên môn hoá cao hơn do có sự phân tầnghoạt độngcho thuê theo từng chủng loại thiết bị, tài sản [71, tr.7].Thuê vận hànhcó đặc điểm là rủi rođốivới giátrịcòn lại củathiết bịcho thuê thuộcvềBên cho thuê. Bên thuê cóthểhuỷngang hợp đồngvào bất cứthời điểmnào; vì vậy, Bên cho thuê phải có trình độ quản lý tài sản và phát triển các kỹ thuật tài chính, kỹthuật xây dựng điều khoản bảo hiểm tài sản trong hợp đồng thuê mua để phân bổ
rủi ro.
Thuêvậnhành rất gần gũivớithuê truyền thống “Traditional Lease”. Chính vì vậy, cho thuê vận hành có nhiều đặc điểm của cho thuê truyền thống nhưng tài sản tham gia vào hoạt động cho thuê có thay đổi theo nhu cầu của thị trường, của bên thuê trong mỗi giai đoạn phát triển của hoạt động này.
Thuê vận hành có đặc điểm sau:
– Quyền sởhữutài sảncho thuê không đượcchuyển giao cho bên thuêkhi kết thúc hợp đồng cho thuê vận hành.
– Hợp đồng cho thuê vận hành không quy định việc thoả thuận việc mua tài sản giữa bên cho thuê và bên thuê.
10
– Thờihạnthuêchỉchiếm một phần trong khoảng thời gianhữudụng của tài sản cho thuê.
– Tổng giá trị tiền thuê chỉ chiếm một phần trong giá trị tài sản cho thuê.
+ Giai đoạn 4: Thuê mua đổi mới (Innovative Lease). Giai đoạn này của thuêmua cóđặctrưngcủaphương thức tàitrợmang tính trọn gói, khép kín. Bên cho thuê cũng có nhiều phương thức linh hoạt để khai thác hiệu quả tài sản cho thuê của mình. Vì vậy, Bên cho thuê có thể hạ thấp giá cho thuê bằng nhiều hình thức phát triển theo quy mô lớn để tận dụng lợi thế kinh doanh. Thuê mua đổi mới hiện nayđang phát triển khá nhanh và được áp dụng phổ biến ở Nhật Bản [71, tr. 8].
+ Giai đoạn 5: Thuê mua hoàn thiện (Maturity Lease).Ởgiai đoạn này, hoạt độngthuê mua phát triển cả về quy mô, trình độ, kỹ thuật và sự phục vụ. Để tồn tạivà phát triển đòihỏi các công ty cần cải tiến khả năng phụcvụvàviệc cung cấp dịch vụ cho khách hàng phải được dần nâng cao và hoàn thiện. Thuê mua hoàn thiện ra đời đã đáp ứng những yêu cầu này. Sự phát triển của thuê mua hoàn thiện đãthúc đẩycác công ty thuê muamởrộng vềquy mô, phạm vi hoạt độngcủamình. Các hoạt độngthuê muaởHoaKỳđang từng bước tiến tới gần giai đoạn thuê mua hoàn thiện này [71, tr 8-9].
+ Giai đoạn 6: Thuê mua trên mức hoàn thiện (Beyond Maturity Lease) – thuê muađãphát triển đến“nghệthuật” cho thuê“đỉnhcao”. Hiện nay, trên thếgiới chưa có nước nào có ngành công nghiệp cho thuê phát triển đếngiai đoạn này. Trong tương lai, cùng với sự phát triển của các nghiệp vụ thuê mua thì loại hình này chắc chắn sẽ phát triển bởi sự sáng tạo của nhân loại.
Ởmỗigiaiđoạnphát triển, thuê mua cóđặc điểmvàđộdài thời gian khác nhau. Quy mô và trình độphát triển,nềntảng kinhtế,hệthống pháp luật, nhận thứcvềthuê mua vàvậndụng kỹthuật tàitrợsẽđượccácnước đang phát triển sau khi nghiên cứu,kếthừa kinh nghiệmcủacácnướcphát triển, rút ngắn thời gian hơn trước và sẽ cung cấp dịch vụ thuê mua tốt trên cảmứchoàn thiện. Sáu giai đoạnnói trên là quá trình phát triểncủathuê mua
11
được mô hình hoá theo hình xoáy trôn ốc [71, tr.5]. Điều này có nghĩa là thuêmua cũng có những đặc điểm của cho thuê tài chính – giai đoạn đầu của quátrình phát triển thuê mua – cũng như của các giai đoạn tiếp theo như cho thuêtài chính linh hoạt, cho thuê vận hành, thuê mua đổi mới, thuê mua hoàn thiện
và thuê mua trên mức hoàn thiện. Mỗi giai đoạn, hợp đồng thuê mua – Công cụ pháp lý để tiếnhành các hoạt động thuê mua giữa người cho thuê mua vàngườithuê mua cũng có những thayđổivềmặt nội dungđểphản ánh đúng mối quan hệ pháp lý giữa các bên.
1.1.2. Khái niệm thuê mua
Thuê mua là thuật ngữ dùngđể chỉ hoạt độngcho thuê tài sản có kèm theo ướchẹnmua tài sản [107]-đốitượngcủathuê mua – và vì vậy, nó liên quan đến vấn đề chuyển quyền sở hữu đối với tài sản này nếu như việc mua được đặt ra. Vì không phải bên cho thuê lúc nào cũng làsởhữu chủcủatài sảnthuêmua, nên trong thực tế, bên cho thuê có thể là bên tài trợ vốn để có được tài sản đócho ngườithuêsửdụng.Từkhi rađờicho đếnnay, thuật ngữ“Leasing” được hầu hết các quốc gia trên thế giới sử dụng để nói đến hoạt động cho thuêtài sản thông qua việc sử dụng các định chế tài chính để mua theo yêu cầu của Bên thuê tài sản. Hết thời hạn thuê, Bên thuê được phép đề nghị Bên cho thuêcho chuyển quyền sở hữu, cho mua lại hoặc cho tiếp tục được thuê tài sản đótheo các điều kiện đã thoả thuận. Vì vậy, thuê mua thực chất là một loại hình cấp tín dụng thông qua cho thuê tàisảndàihạn. Cùngvớithuê mua, các quy định chi tiết đểphân biệt thuê tài chính và cho thuê vận hành đãđượcngười Justiny đưa ra lần đầu tiên trong thời kỳ La Mã cổ đại và sau này cũng xuất hiện trong cuốn sách “Leasing” của David Wainman [81, p.21].
Hiệp địnhThống nhất Luật dân sự về tín dụng thuê muaQuốc tế được kýtạiOttawa (Canada) ngày 20/5/1998 đãcung cấp một cách hiểucụthểvềThuê mua. Tại khoản 1 Điều 1 Hiệp định này quy định .:
“Hiệp định này điều chỉnh các giao dịch thuê muađượcquyđịnh tại
12
đoạn 2, mà trong đó một bên (người cho thuê):
a- Căn cứ vào yêu cầu của bên kia (người thuê) thiết lập một thoả thuận (hợp đồng cung cấp) với một bên thứba (nhà cung cấp), theo đóngười cho thuê mua máy móc, tài sản, hay thiết bị theo những điều kiện mà người thuê đãchấp nhận trong phạm vi liên quan tới quyền lợi của họ thu được từ thiết bị đó, và
b- Thiết lập một thoả thuận (hợp đồng thuê mua) với người thuê, chuyển giao cho người thuê quyền sử dụng thiết bị để nhận được những khoản tiền thuê” .
Theo Hiệp định này, tham gia vào giao dịch thuê mua gồm Bên cho thuê, nhà cung cấp tài sản và Bên thuê. Bên cho thuê mua máy móc từ nhà cung cấp theo yêu cầu của (yêu cầu về thiết bị, máy móc) rồi sau đó mới ký kết hợp đồng để cho Bên thuê thuê máy móc đó. Giao dịch thuê muagồmhai hợp đồng cụthể là hợp đồng mua (hợp đồng cung cấp) thiết bị và hợp đồng cho thuê thiết bịđó (hợp đồng thuê mua).
Theo định nghĩa về “tiêu chuẩn hoá hạch toán kế toán” của Uỷ ban Tiêu chuẩn Kế toán Quốc tế (IAS 17, 1991/1992) thì thuê mua là sự thoả thuận, trongđóBên cho thuê chuyển cho người đi thuê quyềnsửdụng một tàisảnthuộc quyềnsởhữucủamình trong thời gian nhất định.Thuê mua là hình thức cho thuê tài sản dài hạn mà trong thời hạn đó, Bên cho thuê dự tính thu hồi vốn tài trợcùng với các chi phí tài chính có liên quan. Sau đó, tuỳ theo sự cam kết của các bên trong hợp đồng thuê mua, Bên cho thuê có thể bán lại tài sản đó cho Bên thuêvào bất kỳ lúc nào nhưng chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng thuê mua [85, p.235- 236].
Từ những phân tích trên đây, có thể hiểu thuê mua là một loại hình hoạt động cho thuê tài sản, theo đó người cho thuê, sau này thường là các công ty thuê mua, chuyển quyền sử dụng tài sản – đối tượng của thuê mua – cho người đi thuê trong một khoảng thời gian đủ để người cho thuê có thể thu hồi lại vốn tàitrợvà các chi phí tài chính có liên quan, còn người đi thuê phải trảcho
13
ngườicho thuê tiền thuê tài sản đótheo nhưđãthoả thuận. Trong quá trình thuê hoặc trước khi kết thúc quan hệ thuê mua, người cho thuê có thể bán lại tài sản này cho người đi thuê.
Từkhái niệmvềthuê mua này, cóthểthấy đốitượngcủathuê mua là tài sản bao gồm cả động sản và bất động sản. Thuê mua vừa là một kiểu cho thuêtài sản vừa là một kiểu mua bán tài sản. Đây là sự thoả thuận giữa Bên đi thuêvà Bên cho thuê, theo đó khi hết thời hạn thuê, bên đi thuê có thể mặc cả mua
lại hoặc tiếp tục thuê hoặc được phép chuyển quyền sở hữu tài sản đó theo điều kiện đã thoả thuận trong hợp đồng thuê mua.
1.1.3. Đặc điểm cơ bản của thuê mua
– Thuê mua kết hợp tính ưu việt của hình thức thuê và mua tài sản cùng với sự xuất hiện của người thứ ba.
Trong quan hệthuê mua thường có người cho thuê, người thuê và nhàcungứngtài sản.Ngườithuêsẽcó tài sản đểsửdụng theo yêu cầu, mong muốn mà không phảitrảtoànbộtiền ngay,chỉphảitrảtiền thuê.Ngườicho thuê thuđượctiền đầutư vào tàisảnvà các khoản lãi phát sinh khi cho thuê. Nhà cung ứng tài sản, thiết bị hay nhà sản xuất ra tài sản đó sẽ bán được hàng.
Tuy nhiên, so với quan hệ thuê tài sản thuần tuý hay quan hệ mua tài sản thuấn tuý, thuê mua cũng cóđặc điểmriêng. Thuê mua khácvới“thuê”và“mua” ở chỗ nếu “thuê” thì Bên cho thuê chỉ cho thuê những vật có sẵn; nếu “mua” thì người mua phải có đủ khả năng tài chính còn thuê mua lại kết hợp tính ưu việt của cả hai hình thức thuê và mua nhưng không phải đơn thuần chỉcó hai bên là bên cho thuê và bên thuê mà nó còn có một bênthứba là nhàcungứngthiết bị hay nhà sản xuất.
– Trong quan hệthuê mua, cósựdịch chuyển quyền sởhữu đối với tài sản từ Bên cho thuê sang Bên thuê.
Cho thuê tài sản (Renting, Hiring) là cho thuê ngắn hạn thường là dưới 3 năm [72, tr.355] là thoả thuận, theo đóBên cho thuê chuyển quyềnsửdụng
14
tài sản cho Bên thuê trong khoảng thời giannhất địnhvà đổilạiBên thuê cónghĩavụtrả tiền thuê hàng kỳ [80]. Khi hết hạn thuê, tài sản – đối tượngcủa cho thuêvẫnthuộc quyềnsởhữucủaBên cho thuê. Vì vậy, trong quanhệcho thuê, không có sự dịch chuyển quyềnsởhữu đối vớitài sảntừBên cho thuê sang Bên thuê. Trong khi đó,nhưđãphân tíchởtrên, trong quanhệthuê mua, nếu Bên thuê muốn, họ có thể đề nghị Bên cho thuê chuyển quyền sởhữu vềtài sản cho mình bằng cách mualạitài sản đótrướckhi quan hệthuê muahếthiệu lực. Những vấn đềnày luôn đượccác bên tham gia vào quan hệ “Leasing”đặt ra. TàisảnBên thuê đã thuêrồinếu có thoả thuậnsẽđượcmua theo giátượngtrưng. Bên cho thuê mua tàisảntheo yêu cầucủa Bên thuê rồi sau đó cho Bên thuê thuê.
Về điềunày, Tiêu chuẩnkếtoánQuốc tếsố17 năm 1997 (được sửa đổi và có hiệu lực thực thi từ ngày 01/01/1999) đã khẳng định: “Thuê mua là loại hình cho thuê tài sản có khả năng chuyển dịch về cơ bản mọi rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu tài sản. Quyền sở hữu tài sản cuối cùng được chuyển giao hoặc không được chuyển giao khi kết thúc hợp đồng thuê mua” [86, p.3].
– Thuê mua là hoạt động cho thuê mang tính phức hợp:
Nhưđãkhẳngđịnhởtrên, thuê mua có hai phương thức cơbảnlà cho thuê tài chính và cho thuê vận hành. Trong quá trìnhvận độngvà phát triển của nó,mỗigiaiđoạn kếtiếp làsựphát triển mang tính kếthừa những thành tựu của giai đoạn trước và được đánh dấu bằng một phương thức tài trợ điển hình. Các giao dịchđược cảitiến và hoàn thiện hơn. Nói cách khác, thuê mua hàm chứa và mang đầy đủ những đặc điểm của cho thuê tài chính và thuê vận hành. Tuy nhiên, khi các quan hệ cho thuê tài chính được thực hiện thì quyền sở hữu đượcchuyển giao khi hết hạncho thuê tài sảncủahợp đồng.Khi hoạt động cho thuê vận hành được thực hiện lại không có sự chuyển giao quyền sở hữu tàisảnkhi hết hạn cho thuêcủahợp đồng.Riêngđốithuê mua thì quyềnsởhữu tài sản cuối cùng được chuyển giao hoặc không được chuyển giao khi kết
15
thúc hợp đồngthuê mua tuỳ theo thoả thuận của các bên. Đây chính là điểm phứctạpcủathuê mua so với thuê tài chính và thuê vận hành. Sựphức tạp củathuê muađượcbiểu hiệncụthểquacấutrúccủathuê mua trong sơđồ1.1.
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc cơ bản về thuê mua
4
1
Bên thuê
2 6 8
Nhà cung ứng
7 5 3
Bên cho thuê
Nguồn: [Tài liệu tham khảo Hội thảovềLeasing (1995) Swedish SIDA/IBRD Projec for the Development of the Vietnamese Bangking Sector (18-22/10/1995) tại Hà Nội.]
Nhìntừsơđồtrên, cóthểthấysựliênhệcủacác bên trong hoạt độngthuêmua như sau:
1.Đàmphán giữa Bên thuê và Nhà cungứngtrongđónêu rõ các điềukiện mua.
2.Hợp đồngcho thuê thiết bị giữa Bên thuê và Bên cho thuê. 3.Hợp đồnggiữa Bên cho thuê và Nhà cung ứng.
4. Chuyển giao thiết bị giữa Bên thuê và Nhà cung ứng.
5. Nhà cungứngchuyển hoá đơn thanh toán đến Bên cho thuê. 6. Bên thuê tiếp nhận thiết bị chuyển giao từ Bên cho thuê.
7. Bên cho thuê thanh toán tiền cho Nhà cung ứng.
8. Bên thuê thanh toán định kỳ với Bên cho thuê (và hai bên xử lý tài sản thuê khi kết thúc hợp đồng tuỳ theo thoả thuận tronghợp đồngthuê mua giữa Bên cho thuê và Bên thuê).
Sơ đồ trên cũng cho thấy các giao dịch thuê mua thật phức tạp vì nó diễn
16
ra đan xen giữa ba bên là Bên thuê, Bên cho thuê và Nhà cung ứng thiết bị, tài sảntrong một mốiquan hệliên quanđến tài sản -đối tượngcủathuê mua -đến vấn đề chuyển giao tài sản cũng như việc thanh toán diễn ra, liên quan từnhà cungứngđến Bên cho thuê rồi Bên thuê.
– Thuê mua là một chế định tín dụng đặc thù.
Thuê mua là một chế định pháp lý đặc thù về tín dụng. Chế định tín dụng thuê mua là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến việc cấp tín dụng, tài trợ vốn dưới hình thức tài sản. Nó là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua hợp đồng thuê mua.Đặctính này đặt ra yêucầuxây dựng và hoàn thiện pháp luật vềhợp đồng thuê mua. Theo GS.TS. Lê Hồng Hạnh khiđưara quanđiểmcủamình“Vềcác biện pháp bảo đảmhợp đồngtíndụng” trên Tạp chí Luật học năm 1996(2) tại trang 13 đã nhấnmạnh“có thểđảm bảo hoạt động tín dụng bằng nhiều biện pháp khác nhau: kinh tế,pháp lý, chính sách…Hệthống chính sách tài chính, tiền tệổn định,chính sách phát triển, sản xuất phù hợp với nhu cầu xã hội chắc chắn phải được coi là những đảm bảo tốt nhất cho hoạt động tín dụng”.Chính vì hoạt độngtín dụng luôn tiềm ẩnrủiro màlạiliên quan đến quyền lợi của đại chúng nên cần được các quy phạm pháp luật điều chỉnh. Xét trên bình diện của nghiệp vụ tín dụng nói riêng và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nói chung thì yếu tố này chỉ ra yêu cầu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ngân hàng. Tiến sĩ Carsten Peter Claussen( Cộng hoà Liên bangĐức)tạitrang nhất trong cuốn“Bank Und Bosensrecht, C. H Beck” năm 1996 cũngđưara quanđiểm“Tất cảcác nghiệp vụngân hàngđềulànghiệp vụ pháp luật”.Như vậy, các qui phạm pháp luật điều chỉnhhợp đồng thuê mua cần bảo đảm sự tương thích vàđồng bộgiữa pháp luật ngân hàng với hệ thống pháp luật kinh doanh.
Mặc dù thuê mua là một loại tín dụng đặc thù của hoạt động tín dụng trung và dài hạn nhưng thuê mua cũng có sự khác biệt với các hình thức tín dụng khác.
17
Thứ nhất, thuê mua khác với tín dụng thông thường ở chỗ đối tượng của thuê mua là tài sản, là hiệnvậtcòn đối tượng củatín dụng thông thường làtiền. Trong thuê mua, lãi suất thường cao hơn so vớitín dụng thông thường, bởi lẽ Bên cho thuê là người chủ sở hữu tài sản nên phải chịu trách nhiệm vềvấn đề quảnlý tài sản cho thuê và họ phải chịu phí tổn cho việc quản lý nên lãi suất trong tín dụng thuê mua phải bao gồm cả những chi phí này.
Thứ hai, thuê mua khác với bán trả góp và tín dụng trả góp.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu về vốn và mục đích tìm kiếm lợi nhuận, hoạt động thuê mua đã phát triển từ thấp đến cao,từđơngiản đếnphức tạp theo hướngngày càng thoả mãn nhu cầuthịtrường. Các phương thức tàitrợkết hợp, đan xen nhau tạo thành những biếnthểrất phong phú và đa dạng. Các phương thức này có những điểm tươngđồng và cảsự khác biệt. Thuê mua khác với tín dụng trả góp và bán trả góp ở 6 vấn đề làchủ thể cấp vốn, hình thức cấp vốn, tính chất pháp lý đối với tài sản tham gia giao dịch (Sởhữutàisản), thời hạnhoàntrảvốn,rủi ro phát sinh. Quan điểm của tôi có điểm tươngđồngvới Đào Hồng Hoa( Phụ lục số 5) về sự khác biệt này nhưng cũng cóđiểmkhác đượcso sánh, tổng hợp khái quát trong Bảng 1.1 dưới đây:
Bảng 1.1. So sánh thuê mua với tín dụng trả góp và bán trả góp
| Đối tượng | Thuê mua | Tín dụng trả góp | Bán trả góp |
| Chủ thể cấp vốn của hoạt động | – Ngân hàng; – Cty CTTC chuyên trách | Ngân hàng thương mại, Công ty tài chính, Quỹ tiết kiệm, tổ chức bán lẻ | Doanh nghiệp sản xuất (hoặc có thểthông qua công ty tài chính) |
| Hình thức cấp vốn tài trợ của hợp đồng | Vốn hiện vật | Vốn bằng tiền | Vốn hiện vật |
| Tính chất pháp lý đối với tài sản tham gia giao dịch(Sởhữu) | Bên cho thuê là chủsở hữu đối với tài sản | Người được cấp vốn sởhữu tài sản mua được từ vốn tín dụng | Người nhận được tài sản là người chủ sở hữu |
| Tính chất tài sản dùng trong hoạt | Tài sản, máy móc, thiết bị sản xuất có | Vốn tín dụng thường được sử | Hàng tiêu dùng: xe máy, ô tô, vật dụng |
18
| động | giátrịlớn và tuổi thọlâu dài | dụng cho việc tiêu dùng, mua ô tô, cho vay lưu thông, cho vay chuyển nhà | gia đình. |
| Thời hạn hoàn trả vốn tài trợtronghợp đồng | Thời hạn thuê dài chiếm ít nhất 60% thời gian hữu dụng của tài sản và cuối hợp đồngthuê, người đi thuê có quyền chọn mua, thuê tiếp hay trả lại tài sản | Thời hạn vay ngắn | Thời hạn vay ngắn |
| Vấn đề rủi ro đối với tài sản | Hình thức tàitrợít rủi ro vì tàisảncho thuêvẫnthuộcvềBên cho thuê (quyền sở hữu) Bên thuê khôngđược quyền sửa chữa làm giảm giá trị tài sản hay thế chấp nó. Nếu có vi phạm những quyđịnh ghi trong hợp đồng thìBên cho thuê thu hồi tài sản | Rủiro loại cho vay nàyrấtcao. Quyền sở hữu tài sản thuộc về người vay nên khó có thể kiểm soát được việc sửdụng tài sản. Khi người vay khôngtrảđược nợ,ngân hàng tịch thu tài sản đã sửdụng nên giá trị còn lại rất thấp trên thực tế | Rủi ro cao vì tài sản đã sử dụng nên giá trị còn lại ít. |
Nguồn: Do NCS tự tổng hợp và đúc rút từ tài liệu [108], [109] 1.1.4. Vai trò của thuê mua trong nền kinh tế thị trường
Thuê mua có tác độngmạnhmẽtớitoànbộhệthống tài chính củacác nước và Việt Nam nó có vai trò quan trọng trong việc huyđộngvốn.
Các vai trò của thuê muathể hiện ở:
Một là, thuê mua góp phần khai thác triệt để nguồn vốn trong nước hiện có. Chúng ta nhận thấy giữa tiết kiệm và đầu tư thường có một khoảng cách
khá xa, thuê mua nói chung và cho thuê tài chính, cho thuêvậnhành làphương thức truyềntảivốntừtiết kiệm sangđầutư. Chính vì mức độrủiro thấp, phạm vi hoạt động rộng (máy móc, thiết bịcông nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…) nên thuê mua có thể thu hút các thành phần kinh tế góp vốn tham gia. Thuê mua còn huy động được nguồn vốn nhàn rỗi trong nội bộnền kinh tế hay từ các lĩnh vực đầu tư khác. Vì vậy, các ngân hàng đã đứng ra thành lập những công ty thuê mua trực thuộc để thực hiện nghiệp vụ này.
19
Hai là, thuê mua góp phần thúc đẩy đổimới công nghệ, nâng caokhảnăng ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật áp dụng vào kinh doanh.
Sảnxuất luôncầncho rađờinhữngsảnphẩm có chất lượngcông nghệcao,mẫumã kiểu dáng mới đểđáp ứngnhucầucủakhách hàng. Cty CTTCđãcấp tín dụng cho các doanh nghiệp thuê, giúp cho các doanh nghiệp thay thế các loại máy móc thiết bị lạc hậu bằng hệ thống các trang thiết bị tiên tiến hiện đại đưavào các cơsởsảnxuất đểcảithiện và nâng cao chấtlượngsản phẩm. Như vậy, thuê mua có thể giúp Việt Nam đáp ứng nhu cầu đổi mới công nghệ trong giai đoạn tới.
Ba là, thuê mua là một kênh thu hút vốn đầu tư linh hoạt, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vốn cho nền kinh tế.
Thông qua việc thành lập Cty CTTC liên doanh với sự tham gia của các cổ đông nước ngoài có kinh nghiệm tronghoạt độngthuê mua, các nước sẽ cókhảnăng thu hút nguồnvốnrất lớn. TácgiảThái Minhđãviết:“Tíndụng thuê mua giải quyết vấn đềvốn đầutư cho nềnkinh tế. Đầutưbổsung,đổi mới máy móc, thiếtbị,hiện đạihoá công nghệ, cải tiến khoahọckỹthuật đang là một trong những mụctiêu quan trọng trong việc thực hiện chương trình kinh tế xãhộivà là yêu cầu có tính chất cấp bách sống còn đốivới các doanh nghiệp cóthểđược đầutưvốndướinhiều hình thức và nhiều nguồn vốn tàitrợcủangân sách, vốn tựbổsungcủadoanh nghiệp, vốn vay ngân hàng, vốn huyđộngtrên thị trường vốn trong nước và ngoài nước” [50, tr.30- 32].
Đểthực hiện thành côngsựnghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đạihoáđất nước,Việt Nam đang rất cầnvốnchođầu tư và phát triển. Các nguồn vốn trong nướchiện nay rấthạn hẹp. Nhànướccần tạo ra nhiều khảnăngđểkhuyến khích các nguồn vốn đầutư xây dựngđất nước.Thuê mua có nhiều ưu thế nhất định không phải chỉ đối với Việt Nam mà nó đã được trải nghiệm ở nhiều nước trên thế giới.
20
Như vậy, thuê mua có vai trò quan trọngđốivới nềnkinh tếcủaViệt Nam, đặc biệt là trong điều kiện Việt Nam đã gia nhập WTO.
Bốn là, thuê mua có vai trò tích cực đối với các bên có liên quan.
Đối với Bên thuê tài sản: thuê mua là biện pháp thay thế hữu hiệu cho việc vay vốn. Thuê mua tạo điều kiện cho Bên thuê giải quyết nhucầu về vốn lưu độngvà nhận đượchạnmức tín dụng ngân hàng. Ngay cả đốivớinhững thị trường vốn phát triển, hợp đồng thuê mua vẫn là công cụ hữu hiệu cho việc vay vốn. Do mức độrủiro thấp hơn so vớicác hình thức tín dụng khác nên việc đánh giá tín dụng ít gặp khó khăn hơn.Điềunày giúp cho doanh nghiệp vừavànhỏtiếp cậnvớicho thuêdễhơn vayvốnngân hàng. Các doanh nghiệp, nếu đi vay thông thường sẽgặp khó khăn do thiếu tàisảnthếchấp. Nếu áp dụng thuê mua, doanh nghiệp cóthểtừtay không màvẫnmuađược máy móc – thiết bị phục vụ yêu cầu sản xuất.
ĐốivớiBên cho thuê: Thuê mua tạo ra thu nhập vàlợinhuận cho người cho thuê. Thuê mua “là khoản tài trợ ít rủi ro vì trong suốt quá trình cho thuê, Bên cho thuêvẫnlàngười sởhữu tài sản, được quyền quản lý và kiểm soát tài sản, do vậyrất dễdàng thu hồilại. Bên cho thuê cung cấp cho Bên thuê những loại tài sản cụ thể đáp ứng được yêu cầu tín dụng đúng mục đích và có bảo đảm. Vốn được thu hồi dần cho phép Bên cho thuê linh hoạt trong kinh doanh.
Tín dụng thuê muađãđáp ứngđượcyêucầusửdụngvốnmột cách linh hoạt của Bên cho thuê” [50, tr.30-32]. Vốn tài trợ trong thuê mua thể hiện bằng hiện vật chứ không phải bằng tiền. Thuê mua cũng giúp cho việc tái đầu tư và nâng cao hiệu quả kinh doanh của Bên cho thuê. Bởi vì, vốn tài trợ được thu hồi dần trong thời hạn cho thuê, Bên cho thuê có thể đầu tư vốn vào mục đích kinh doanh khác, nâng cao hiệuquảquay vòng vốn,dễdàng thực hiện giao dịch.
Đốivớinhà cungứngvàngườitiêu dùng:Đốivớinhà cung ứng,
21
những máy móc được thuê mua sẽ đáp ứng được kế hoạch sản xuất cho doanh nghiệp,mẫumãsảnphẩm đượccảitiến, chất lượngvà giá thànhđượccải thiện, nguyên nhiên liệu được tiết kiệm tối đa, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra vớigiá thành giảm nhưng chất lượngđượctăng lên, đáp ứngthịhiếu người tiêu dùng, vì thế mà hàng hoá bán chạy và đương nhiên lương của người công nhân được cải thiện. Hàng hoá tới tay người tiêu dùng bền đẹp, giá cả hợp lý, nâng cao đời sống người lao động, đó chính là nhờ có nghiệp vụ thuê mua đáp ứngnhu cầu về vốn để trang bị đầu tư máy móc. Thuê mua nhà ở, văn phòng vàđặcbiệt là nhữngngườidân nghèo, sinh viên, công chứcmớira trường
chưa có điều kiện mua nhà, căn hộ… có thể có được chỗ ở, sinh hoạt phù hợp sẽnâng cao chấtlượngcuộc sống cho họnếu pháp luật củanướcsởtạicho phép sử dụng hình thức thuê mua nhà ở, thuê mua văn phòng hay bán nhà trảdần trong thời giantừ15 đến 20 năm.Vớinhàsảnxuất, thuê mua là biện pháp giúp nhà sản xuất thúc đẩybán hàng, tăng cạnh tranh trênthịtrường. Các nhàsảnxuất (hoặc nhà cung ứng) thiết bịcóthểbán thiết bịcũ, nhập thiết bị mới để đáp ứngnhu cầu sản xuất.
Đốivớingân hàng: Trong hoạt độngthuê mua, các ngân hàngsẽmở
rộngđược đối tượngphụcvụtới những khách hàng không đủđiềukiện vay vốn tín dụng ngân hàng theo loại hình khác. Do đó, nguồn vốn ngân hàng nếu được sử dụng cho thuê mua sẽ giảm được nhiều rủi ro hơn so với các loại hoạt động tín dụng khác. Bên cạnh đó, các loại hình dịch vụ thông tin, tư vấn, thanh toán, bảo lãnh… tất yếu sẽ phát triển. Tham gia thuê mua, ngân hàng có nhiều lợi thế và có đủ điều kiện cần thiết như nguồn vốn, bao gồm vốn tự có, quỹ dựtrữ và vốn huy động. Cũng vì những lý do này, các Cty CTTC hiện nay ở Việt Nam đều là Công ty trực thuộc hoặc liên doanh với ngân hàng.
Đối với các tổ chức tín dụng: Sự phát triển thị trường thuê mua là một điểm mạnh giúp cho các tổ chức tín dụng hoạt động thuận lợi. Vốn luôn được luân chuyển, lãivẫnthuđều đặn.Đa dạng hoá các hình thức vàkỹthuật tàitrợlà
22
một biện pháp có thể phân tán rủi ro, vì thế mà thuê mua có vai trò hữu hiệu trong việc phát triển kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới.
1.2. Hợp đồng thuê mua
1.2.1. Khái niệm hợp đồng thuê mua
Hợp đồnglàsựthoả thuận, theo đócác bên-chủthểcủahợp đồngxác địnhquyền và nghĩavụđốivớinhauvềmột vấn đềnào đó.Hợp đồngthuêmua cũng vậy. Hợp đồng thuê mua là sự thoả thuận giữa Bên cho thuê và Bên thuê( hay nhiều bên)vềviệc cho thuê và thuê một (hay nhiều) tàisảnnhất định – đối tượng của hợp đồng thuê mua – trong một thời gian nhất định thông qua nhà cung cấp tài sản. Hợp đồng thuê mua hàm chứa trong nó nhữngđiều khoảncụthể, xác địnhquyền và nghĩavụcủacác bên trong hợp đồng.Một khi các bên đã thoả thuận và đã ký vào hợp đồng thuê mua, nó trở thành Luật ràng buộc các bên, Bên cho thuê và Bên thuê, xung quanh tài sản cho thuê.
Thật vậy, hợp đồng là hình thức pháp lý phổ biến của các giao dịch dân sự, thương mại. Nền tảng của bất kỳ quan hệ hợp đồng nào cũng là sự tự do ýchí [59, tr.35-51], tự do thoả thuận trên cơ sở bình đẳng giữa các bên. Khi xác lập một quan hệ hợp đồng, các bên thoả thuận về quyền và nghĩa vụ với nhau. Những cam kết đã được thoả thuận thống nhất giữa các bên tronghợp đồngsẽmang tính ràng buộcvềmặt pháp lýđốivớicác bên tham gia giao kết hợp đồng [4, Điều 390 – 396]. Ngoài những điểm chung này,hợp đồngthuê mua có nhữngđặc điểm nhất định.
Hợp đồngthuê mua là hợp đồng cấp tín dụng dướidạng tài sản,được thoả thuận giữa Bên cho thuê và Bên đi thuê, theo đóhợp đồngnày được thanh toán gọn theo thời gian ký kết, Bên thuê có thể (thuê tiếp tài sản), mua hoặc không mualạitài sản đótheo thoả thuận củacác bên khi hết thời hạn tronghợp đồng.
1.2.2. Đặc điểm cơ bản của hợp đồng thuê mua
So với các loại hợp đồng khác,hợp đồng thuê mua có những đặc điểm
23
cơ bản sau đây:
1.2.2.1. Đặc điểm về bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua
Nghiên cứu bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua có ý nghĩa rất quan trọng trong lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật vềhợp đồng thuêmua. Có xác địnhrõbảnchất pháp lýcủahợp đồngnày thìmớicó phương hướngvà giải pháp hoàn thiện pháp luật vềhợp đồng thuê mua. Xétvềmặt bản chất pháp lý, hợp đồng thuê mua có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, phần lớn các hợp đồng thuê mua là hợp đồng mang tính chất thương mại.
Khi khẳng định đặc điểmvềbản chất pháp lý này củahợp đồng thuêmua, tácgiảcăncứvào nhữngđiểmsau đây:trướchết, hợp đồngthuê muađược ký kết nhằm tạo điều kiện cho Bên thuê có được tài sản để sử dụng vào mục đích hoạt độngcủamình. Tài sản -đốitượngcủathuê mua thường là
thiết bịnhư máy bay, tàubiển… hoặc những tàisảncó giátrịlớn. Như vậy, thường thì thuê mua phù hợp vớicác hoạt độngkinh doanh thươngmạicủa doanh nghiệp (hơn là hoạt độngdânsựcủangườidân). Tiếp theo, vì doanh nghiệp là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định,được đăng ký kinh doanh theo quyđịnhcủapháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt độngkinh doanh”(Điều4 Khoản 1 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005). Còn kinh doanh lại đượchiểu là“việcthực hiện liên tục một, một sốhoặc tất cảcác công đoạncủaquá trình đầutư,từsản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cungứngdịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”(Điều4 Khoản 2 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005). Ngoài ra, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực từ 1/1/2006) quyđịnh rõ
rằng hoạt động thươngmại là “hoạt độngnhằm mục đích sinhlời…” (Điều 3 Khoản 1). Đặc biệt, Pháp lệnh Trọng tài Thương mại (ban hành ngày 16/12/2002 và có hiệu lực ngày 1/7/2003) khi quy định về phạm vi điều chỉnh và thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về thương mại của mình đã mở rộng
24
vàcụthểhoá khái niệmvềhoạt động thương mại, theo đó,thuê mua cũng nằmtrong khái niệm Hoạt độngthương mại theo cách hiểu củaPháp lệnh này. Cụ thể, Điều 2 Khoản 3 của Pháp lệnh này ghi rõ: “hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại củacá nhân,tổchức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cungứngdịch vụ,phân phối,đại diện,đại lýthương mại, ký gửi, thuê, cho thuê, thuê mua, xây dựng, tư vấn,kỹ thuật, li-xăng, đầu tư, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, thăm dò, … và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”.
Điều4 khoản 12 Luật Kinh doanh bất độngsảnnăm 2006 đãnêu rõ: “Thuê mua nhà, công trình xây dựng là hình thức kinh doanh bất động sản, theo đóbên thuê mua trởthành chủsởhữu nhà, công trình xây dựng đang thuê mua sau khi trả hết tiền thuê mua theo hợp đồng thuê mua.”
Điều18 Nghịđịnh số64/NĐ-CPcủaChínhphủngày 9/10/1995 ban hành Quychế tạmthờivề tổ chứcvà hoạt độngcủa Cty CTTC tại Việt Namđã xác định rõ rànghợp đồngCTTC là một loại hợp đồng kinh tế nhưng trong Nghị địnhsố 16/ 2001/NĐ-CP của Chính phủ ngày 02/05/2001 về tổ chức vàhoạt độngcủaCty CTTC lại không đềcập bảnchất pháp lýcủahợp đồng CTTC là hợp đồng kinh tế hay hợp đồng dân sự. Điều 19 Quy chế tạm thời vềcho thuêvậnhànhcủacác Cty CTTC ban hành kèm theo Quyết địnhsố731/2004/ QĐ-NHNN ngày 15/6/2004 củaThốngđốcNgân hàng Nhànước cũng không đề cập bản chất pháp lý củahợp đồngcho thuêvậnhành. Thêm vào đó, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989 đã chính thức hết hiệu lực vào ngày 01/01/2006, do đó, tác giả cho rằng, không nên nói hợp đồng thuê mua là hợp đồngkinhtế mà là hợp đồngthương mại.
Cũng cần lưu ý rằng hợp đồng thuê mua không chỉ mang tính thương mại mà còn mang tính xã hội như: hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội. Trong Luật Nhàởnăm 2005 (được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 29/11/2005), tại Điều56 có quy định về giá trong hợp đồng thuê mua nhà ở xã hội phải thoả mãn yêu cầu “bảo toàn vốn” và “đủ bù đắp chi phí quản lý, duy trì, bảo dưỡng, duy tu” nhà ở
25
trong quá trìnhsửdụng. Vàđốitượngthuê mua nhàởxãhộiphải thoả mãn những điềukiện theo quyđịnhcủa Điều53 Luật này. Tuy nhiên, những đối tượng đượctham gia hợp đồngthuê mua nhàởxãhộirất ít ( Nghịđịnhsố90/2006/NĐ- CP ngày 06/09/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Nhà ở). Vì vậy, tácgiả cho rằng, xét về bản chất pháp lý, phần lớn các hợp đồngthuêmua là hợp đồngthương mại.Từnhữngđiểmtrình bày ởtrên, tácgiảkhẳng địnhhợp đồngthuê mua là hợp đồng thương mại. Đây là một trong nhữngđặc điểm đầu tiên về bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua.
Thứ hai, hợp đồng thuê mua là hợp đồng cấp tín dụng dưới dạng tài sản. Nhưđãnói ởtrên,đểcó tàisảncho Bên thuê thuê theo hợp đồngthuê
mua, người cho thuê phải tìm được tài sản phù hợp từ người cung ứng tài sản (người sản xuất,ngườicó tài sản). Vì tài sản -đối tượng củahợp đồng thuêmua thường có giátrịlớn, có thời gian thuêphụthuộc vào yêucầucủabên thuê mua nên chủ yếu là các tổ chức tín dụng, các ngân hàng mới đủ khả năng vềtài chính đểmua tàisảnnàytừnhà cung ứng. Vì vậy, theo pháp luật của các nước phát triển, Bên cho thuê tronghợp đồngthuê mua thường là tổ chức tín dụng đượcphép hoạt động kinh doanh lĩnh vựcnày.Đólà các Công ty thuê mua. Còn ở Việt Nam, đó là các công ty có tên gọi là Công ty CTTC. Sựxuất hiện cáctổchức tín dụng với tư cách là Bên cho thuê trong hợp đồng thuê muasẽlàm cho hợp đồng này mang bảnchấtcủamộthợp đồng tàitrợvốn(cấp tín dụng)dưới hình thức tài sản hơn làhợp đồng thuê tài sản hoặc mua tàisảnthuần tuý. Chínhđặc điểmnày lý giải vì sao các hoạt độngthuêmua cũng như việc giao kết và thực hiện hợp đồng này chịu sự điều chỉnhđặc biệt của các văn bản pháp luật về tín dụng.
Thứba, hợp đồng thuê mua là hợp đồng không được đơn phương huỷngang.Điềunày có nghĩa làHợp đồngkhông được phép huỷngangnếumột trong các bên không vi phạm hợp đồng thuê mua; tài sản không bị mất, hỏng không thểphục hồi,sửachữa; Bên cho thuê chấp thuận đểBên thuê thanh
26
toán toàn bộ tiền thuê trước thờihạn đãthoả thuận trong hợp đồng. Bên cho thuê đứng ra mua tài sản thuê, số tiền mua được xem như vốn đầu tư của Bên cho thuê. Vì vậy, Bên cho thuêsẽthu hồi tổng vốn đầutư cộng với tiền lãi trong thời gian cho thuê. Chính vì vậy, hợp đồngthuê mua phải đượcthanh toán trọn vẹn và không đượcphép đơnphương huỷngang. Đặc điểmnày đượcxác địnhxuất phát từbảnchất củagiao dịch thuê mua nhưngđồngthời đây chính là yếu tố an toàn của tín dụngđối với việc bảo đảm vốn đầu tư. Điều 17 Khoản 3 Nghị định số 16/NĐ-CP của Chính phủ ngày 2/5/2001 về tổ chức và hoạt động của Cty CTTC cũng quyđịnh về vấn đề này như sau: “Bên thuêvà Bên cho thuê không được đơn phương huỷbỏhợp đồng CTTC (trừ những trường hợp được nêu trong Điều 27 của Nghị định này”. Khoản 19.3 Điều 19 Quy chế tạm thời về hoạt động cho thuê vận hành của các Cty CTTC (ban hành kèm theo Quyết định số 731/2004/QĐ-NHNN ngày 15/6/2004 của Thốngđốc Ngân hàng Nhà nước) quy định: “Các bên không được đơn phương huỷ bỏ hợp đồng cho thuê (trừ trường hợp được nêu tại Điều 20 của Quy chế này”. Khác với hợp đồng thuê tài sản truyền thống, khi hết hạn thuê, Bên thuê phải trả lại tàisảncho Bên cho thuê.Nếuhọmuốn mua tàisảnnày thì Bên thuê và Bên cho thuê tài sản phải ký kết hợp đồngmới là hợp đồngmua bán tài sản. Đối với hợp đồng thuê mua, khi hết thời hạn, Bên thuê tài sản trong hợp đồng thuê mua cóthểmualạitàisảnnày mà không cầnký kết hợp đồngmua bánmớivới Bên cho thuê. Hết hạnhợp đồng,Bên thuê cóthểthuê tiếp hoặc mualạitài sản theo thoả thuận tronghợp đồng. Đâylà đặc điểm,là căn cứ để phân biệt hợp đồngthuê mua với các hình thức cho thuê khác.
Thứ tư, tài sản – đối tượng của hợp đồng thuê mua chủ yếu là tài sản cógiá trị lớn.
Đốitượngcủahợp đồngthuê mua thường rất đa dạng bao gồm: Máy móc thiết bị phụ tùng công nghiệp; Thiết bị Nông nghiệp; Thiết bị bảo vệ môi sinh; Thiết bị xây dựng; Thiết bị y khoa; Thiết bị xây dựng thương mại và văn
27
phòng; Thiết bị điện viễn thông; Thiết bị giao thông vận tải; Thiết bị khoa học
kỹ thuật chính xác… Có thể phân chia tàisản- đối tượngcủahợp đồngThuêmua thành hai loại chính, đó là:
+ Bất động sản: Nhà cửa, văn phòng làm việc, cửa hàng kinh doanh, nhàmáy, phân xưởng sản xuất, hầm mỏ,…
+ Động sản: Trang thiết bị văn phòng, trang thiết bị nhà xưởng… có thời gian hữu ích trên một năm hoặc là máy bay, tàu biển lớn, vệ tinh…
Tài sản được giao kết trong hợp đồng thuê mua chủ yếu là tài sản có giá trịlớn, đặc biệt lớn. Nếu tài sản không có giá trị lớn thì các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức có thể có đủ tiền để mua luôn tài sản đó và họ trở thành chủ sở hữu màkhông phải đi tìm kiếm nguồn tàitrợkhác. Trong thựctế,cũng có khi doanh nghiệp cóđủtiền nhưnghọvẫncóthểáp dụng hình thức thuê mua này vìhọ
muốn dùng tiền để đầu tư cho mục đích khác mà lợi nhuận đem lại có thể sẽ lớn hơn nhiều so với số tiền họ phải trả cho tài sản đi thuê trong hợp đồng thuê mua.
Thứ năm, quyền sở hữu tài sản thuộc Bên cho thuê trong suốt thời gian cho thuê tài sản, quyền sử dụng trong suốt thời gian thuê thuộc Bên thuê.
Bên cho thuê làchủsởhữucủatàisảncho thuê trong suốt thời gian thực hiệnhợp đồng. Điềunày có nghĩa là khi Bên thuê chưa trả hết tiền thuêtài sản hay Bên cho thuê chưa thực hiện việc chuyển giao quyền sởhữutài sảncho Bên thuê trong hợp đồng thuê mua thì Bên thuêchỉđượcquyềnsửdụng tài sản mà không có quyền sau đây:
– Bán, chuyển giao,thếchấp tàisảnthuê hay dùng thiết bịlàm vật thếnợ;
– Thay đổi hình dáng tài sản hoặc chuyển thiết bị thuê khỏi nơi mà thiết bị đã được lắp đặt đúngđịa điểm đã nêu trong hợp đồng đã ký kết mà không có thông báo bằng văn bản cho Bên cho thuê;
– Thay đổi hoặc huỷ bỏ xác nhận nguồn gốc của tài sản, thiết bị cho thuê; – Sử dụng thiết bị cho thuê với những mục đích không được thoả thuận.
28
Nếu Bên thuê tài sản vi phạm 4 quyđịnhtrên thì Bên cho thuê có quyền lấy lại tài sản với tư cách là chủ sở hữu về mặt pháp lý đối với tài sản cho thuê.
Thứ sáu, sự lựa chọn tài sản thuê của Bên thuê là cơ sở để Bên cho thuêlựa chọn mua tài sản từ nhà cung ứng.
Bên thuê tìm cách giao dịch với nhà sản xuất hoặc nhà cung ứng tài sản cho thuê. Bên thuê có thể tuỳ theo nhu cầu của mình để lựa chọn tài sản thuêtheo tính năng,đặc điểmcủatàisảnthuê. Nó làđặc điểmquan trọng trong hoạt độngnày. Bên cho thuê không phải có trách nhiệm trong trường hợp tài sảnbịhư hỏng, mất hoặc thiếu sót do lỗi củaBên thuê hoặccủanhà cung ứng. Bên thuê phải có trách nhiệm bồi thường cho Bên cho thuê nếu tài sản bịmất, hỏng trong thời gian thực hiện hợp đồng. Ngày giao nhận tài sản hay các vấn đề liên quan đến bảo lãnh của người cung cấp tài sản do Bên thuê đưa ra.
Thứ bảy, hợp đồng thuê mua phải được ký bằng văn bản và phải ghi rõviệc xử lý khi hợp đồng chấm dứt trước thời hạn.
Vềhình thức, hợp đồngthuê mua phải đượclập bằng vănbảnphù hợp với quy định củapháp luật.Đâylàđiều kiện bắt buộc và cũng chính là một trong những đặc điểmcủahợp đồngthuê muađểcóthểphân biệt hợp đồng nàyvớicác hợp đồngcó tính thươngmạikhác,đồngthời nó làđiềukhoản khôngthểthiếu đượctrong hợp đồng.Đối vớicảhợp đồngCTTC [13,Điều 17] và hợp đồngcho thuêvậnhành [27,Điều19.1] cũngđềuphải tuân theo quy định trên.ỞViệt Namđặc điểmnàycủahợp đồng thuê muađượcquy định cụ thể tại Điều 17 khoản 2 Nghị định số 16/NĐ-CP ngày 2/5/2001 về tổchức và hoạt độngcủaCty CTTC như sau:“Hợp đồng CTTC phải đượclập thành văn bản phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng phải ghi rõ việc xử lý khi hợp đồng chấm dứt trước hạn”.
Từ phân tích bản chất pháp lý của hợp đồng thuê mua có thể đưa ra định nghĩavềhợp đồngthuê mua như sau: Hợp đồng thuê mua làsựthoả thuận bằng văn bản giữa Bên cho thuê và Bên thuê theo đó, Bên cho thuê, thường là
29
các công ty thuê mua, phải chuyển quyền sử dụng tài sản – đối tượng của hợp đồng thuê mua, mà tài sản đó được mua từ nhà cung cấp – cho Bên thuê trong một thời gian nhất định,còn Bên thuê phải trảtiền thuê tài sản tính theo kỳhạn. Trong thời hạncho thuê, các bên không đượcđơn phương huỷbỏhợp đồng.Sau khi hếthạnhợp đồng,Bên thuê cóthểmua lại (hoặc không mua hoặc thuê tiếp) tài sản đó theo sự thoả thuận giữa hai bên hoặc theo quyđịnh của pháp luật và phù hợp với quyền và nghĩa vụ của các bên.
1.2.2.2. Sự khác nhau giữa hợp đồng thuê mua so với một số loại hợp đồng khác
– Hợp đồng thuê mua khác với hợp đồng mua bán hàng hoá.
Hợp đồng thuê mua khác với hợp đồng mua bán hàng hoá ở các điểm sau:
Thứnhất, hợp đồngmua bán hàng hoá cóthểgiaokếtbằnglờinói hoặc bằng văn bản. Hợp đồng bán hàng có thể được ký kết bằng văn bản hoặc bằng thoảthuận miệng hoặc một phần của hợp đồng được thoả thuận bằng miệng, một phần bằng bằng văn bản có thể được suy đoán căn cứ vào hành vi của các bên tham gia ký kết hợp đồng còn hợp đồng thuê mua phải được ký kết bằng văn bản.
Thứ hai,hợp đồngmua bán hàng hoá khác với hợp đồng thuê muaở vấn đề chuyển giao quyền sở hữu. Mua bán hàng hoá thì chuyển giao quyền định đoạt sốphậncủahàng hoá còn trong quanhệthuê mua tàisảnthì Bên cho thuêchỉchuyển giao quyền chiếmhữuvàsửdụngchứkhông chuyển giao quyền định đoạt tài sản. Như vậy, các tranh chấp liên quan đến hợp đồng thuêmua, hợp đồngchuyển nhượng vốn, tài sản… khôngđượcxem là tranh chấp về hợp đồngmua bán hàng hoá.
– Hợp đồng thuê mua khác với hợp đồng cho thuê tài sản thông thường. Tài sản cho thuê tronghợp đồngthuê mua về bản chất là việc tài trợ vốn
dướihình thức tài sản. Hợp đồngthuê mua không chỉđơnthuần làsựthoảthuận việc chuyển giao quyền sử dụng đối với tài sản, thuộc sởhữu củaBên cho thuê (trong thời gian ngắn) để lấy tiền thuê như trong hợp đồng cho thuêtài sản thông thường. Ngược lại, trong hợp đồng thuê mua, Bên thuê có trách
30
nhiệm nhận hầu hết mọi rủi ro và khai thác mọi lợi ích liên quan đến quyền sửdụng tài sản kể từ khi hợp đồng có hiệu lực. Khi hết hạn thuê, Bên thuê có thểnhận được quyền sởhữu về tài sản theo như thoả thuận trong hợp đồng thuêmua.Điềunày khôngthểcóđượctrong hợp đồngcho thuê tàisảnthông thường. Nhưng riêngvớihợp đồngthuê mua, vấn đềbảo hiểm tài sản được đưa vào trong hợp đồng thuê mua như một điều khoản. Vì vậy, không thể áp dụng các quy định của pháp luật về cho thuê tài sản trong giao lưu dân sự đểđiều chỉnhhợp đồngthuê muađược.
– Hợp đồng thuê mua khác với hợp đồng tín dụng thông thường.
Hợp đồngthuê mua và hợp đồngtín dụng thông thườngđềulàsựthoảthuận nhằm tài trợvốnnhưng chủ thể cung cấp vốn trong quanhệhợp đồng tín dụng là các tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng có đủ các điều kiện theo luật định,vớitư cách là bên cấp tín dụng. Vềđiềunày, ở Việt Nam, Luật các Tổ
chức tín dụng(đã được sửa đổi, bổ sungvào ngày 15/6/2004 – có hiệu lực từngày 1/10/2004) quy địnhnhư sau:“Hoạt động tín dụng là việctổchức tín dụngsửdụng nguồnvốntựcó, nguồn vốn huyđộng đểcấp tíndụng”(Điều 20 Khoản 8).Tổchức tín dụng là “doanh nghiệp đượcthành lập …đểhoạt động ngân hàng” (Điều 20 Khoản 1). Còn hoạt động ngân hàngđượchiểu là“hoạt độngkinh doanh tiềntệvà dịchvụngân hàng với nộidung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tíndụng và cung ứngcác dịch vụ thanh toán” (Điều 20 Khoản 7). Điều này có nghĩa là bên cấp tín dụng trong hợp đồngtín dụng là ngân hàng hoặctổchức tín dụng thực hiện các hoạt độngngân hàng. Trong khi đó, ởhợp đồngthuê mua,chủthểcấp tín dụngcủahợp đồngthuê mua là công ty thuê mua (Leasing Company). Tại Việt Nam, chưa có luật nào quyđịnhvề công ty thuê mua mà chỉ có công ty đượcmang tên là Cty CTTC. Cty CTTC làtổchức tín dụng phi ngân hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là “loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một sốhoạt độngngân hàng như là một nộidung kinh doanh thường xuyên,
31
nhưng không đượcnhận tiền gửi không kỳhạn, không làm dịch vụthanh toán. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuêtài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác” (Điều 20 Khoản 3 Luật cácTổchức tín dụng đãsửa đổingày 15/6/2004).Điềunày có nghĩa làchủthể cấp vốn trong thuê mua là các công ty CTTC – tổ chức tín dụng phi ngân hàng,chứkhông phải là ngân hàng haytổchức tín dụng. Những lợi ích của các bên như đã phân tích và trình bày thể hiện tính đặc thù của hợp đồng này. Sựkhác nhau giữa các hợp đồng trên làm phát sinh yêucầuphải cósựđiều chỉnh pháp luật phù hợp và yêu cầu này là yêu cầu có tính khách quan.
1.2.3. Phân loại hợp đồng thuê mua
1.2.3.1. Căn cứ theo bản chất pháp lý và hình thức hoạt động
Dựavào bảnchất pháp lý và hình thức hoạt độngcóthểphân loại hợp đồngthuê mua thànhhợp đồngcho thuê tài chính (Financial Lease Contract) và hợp đồngcho thuê vận hành (Operating Lease Contract). (xem phụ lục số 9, 10)
Hợp đồng cho thuê tài chính làsựthoả thuận, trongđó,Bên cho thuêđồngýtài trợ đểBên thuê sử dụng thiết bị trong một thời gian (thường bằng thời hạn khấu hao của tài sản cho thuê). Tại một số nước, hình thức cho thuênày còn gọilà thuê mua thuần. Thuê mua thuần (Net Lease) là phương thức tài trợ tín dụng trung hạn hay dài hạn không thể huỷ ngang [71, tr.19] (trừ khi cósựnhất trícủaBên thuê và Bên cho thuê). Bên cho thuê thường mua tài sản, thiết bị mà Bên thuê cần đã thươnglượngtừ trước các điều kiện mua tài sản đóvớinhà cung cấp hoặc Bên cho thuê cung cấp tài sản của họ cho Bên thuê. Thuê mua thuần khi thời hạn thuê mua chiếm phần lớn thời gian sửdụng vận hành tốtcủatài sản và giátrịcủatài sản,củatoàn bộcác khoản tiền thuê phải bùđắp đủhoặc tương ứng với sốtiền cóthểmua tài sản đó
tại thời điểm bắt đầu thực hiện hợp đồng.Bên thuêđượcthuê tiếp sau khi hợp đồng đãhếthạnlần đầutiên với giá thuê thấp hơn banđầu.Bên thuêcóthểtham gia trong quá trình phátmạitài sản đó.Bên cho thuê chuyển
32
quyền sở hữu tài sản cho Bên thuê trong lúc Bên thuê vẫn đang sử dụng tài sản (xem phụ lục số 1).
Hợp đồngcho thuê vận hành là sự thoả thuận bằng văn bản về việc tài trợ theo phương thức cho thuê vận hành. Mọi rủi ro và lợi ích đem lại đối với quyềnsởhữutàisảncho thuêvẫnthuộc Bên cho thuê. Muốn thu hồi được toànbộvốn đãbỏrađầutư vào thiết bịcho thuê và lãi, trong thời giansửdụng của máy móc, thiết bị, Bên cho thuê phải cho nhiều Bên thuê hoặc phải đem bán giá trị còn lại của thiết bị trên thị trường. Cho thuê vận hànhđược áp dụng đối vớinhững tài sản thiết bị có thời hạn sử dụng tương đối lâu và các thiết bị có nhiều chức năng. Đốivớiviệc thuê máy bay, tàu biển thì thời hạn có thể kéo dài. Cho thuê vận hành luôn đòi hỏi Bên cho thuê phải có trìnhđộhiểu biết cao đối với thiết bị và thị trường để có thể phán đoán được rủi ro của hao mòn thiết bị và cung cấp thiết bị bảo trì, bảo hiểm. Hợp đồng cho thuê tài chính và cho thuêvậnhành có nhữngđiểmkhác nhau (xem: Bảng 1.2 vàphụ
lục số 2).
Bảng 1.2: Sự khác nhau giữa hợp đồng cho thuê tài chính và hợp đồng thuê vận hành
| Hợp đồng cho thuê tài chính | Hợp đồng cho thuê vận hành |
| – Quyền sở hữu được chuyển giao khi hết hạn cho thuê của hợp đồng. – Hợp đồngthuê có quy định quyền mặc cả mua. – Thờihạnthuê bằng phầnlớntài sản hữudụngcủatài sản.Sẽthuậnlợihơn nếuBên cho thuê có liênhệmậtthiết với doanh nghiệp chuyên sản xuất, cung cấp thiết bị chuyên dụng. – Giátrịhiện thời của các khoản tiền | – Quyền sởhữu không chuyển giao khi hết hạn cho thuê của hợp đồng. – Hợp đồngkhông có quy định mặc cảmua. – Thời hạn cho thuê ngắn chiếm tỉ lệ nhỏso với thời gian hữu dụng của tài sản. Thời gian thu hồi vốn rất lâu trong khi thời gian hữu dụng của tài sản rất dài. – Giá trị của tiền thuê không bằng giá trịcủa tài sản. Phát sinh nhiều chi phí bảo |
33
| thuê tối thiểu lớn hơn hay bằng giá trịcủa tài sản – Mức thu hồi vốn của hợp đồnggần bằng giá trị của tài sản, nhất là đối với thuê động sản. – Hợp đồng thuê tài chính không được phép huỷ ngang. – Trách nhiệm bảo dưỡng, bảo hiểm và đóng thuế tài sản Người thuê chịu trách nhiệm. – Người đi thuê chịu phần lớn rủi ro kểcảnhững lỗi do người thứba gây ra (Không do mình gây ra ) | trì ngoài dự kiến ban đầu. – Mức thu hồi vốn nhỏ hơn nhiều so với giá trị tài sản. – Hợp đồngthuê vận hành cóthểbịhuỷngang. – Người cho thuê chịu trách nhiệm bảo dưỡng, bảo hiểm, đóng thuế tài sản. Khótìm được những khách hàng thuê tiếp theo, nhất là đối với tài sản chuyên dụng. – Người cho thuê chịu rủiro,trừdo lỗi của người đi thuê gây ra trong quá trình thực hiện hợp đồng. |
Nguồn: Tác giả tập hợp và đúc rút qua các tài liệu:[52], [64], [71], [81]
1.2.3.2. Căn cứ vào chủ thể của hợp đồng thuê mua
Hợp đồngthuê mua được phân thành các loại sau [108]:
– Hợp đồngthuê mua trongnướclà hợp đồngđượcký kết khi Bên cho thuê và Bên thuêđều đặt trụsởkinh doanhtạimột nướcnhất định.Tài sản hiện có trong nước và các chủ thể thống nhất giao kết hợp đồng thuê mua.
– Hợp đồngthuê mua qua biên giới (Export Lease/Cross-border Lease Contract) là hợp đồng theo đócác bên tham gia cótrụsởkinh doanh ởcác quốc gia khác nhau.Ởhợp đồngnày cósựdi chuyển thiết bịrathịtrường ngoài nước (để xuất khẩu). Đây là hình thức đặc biệt của thuê mua. Ngày nay, nghiệp vụ thuê mua ở cả phạm vi quốc gia lẫn phạm vi quốc tế đều phát triển rất nhanh. Các mối quan hệ cũng như vấn đề thuế và vấn đề luật pháp sẽ phức tạp hơn đối với cho thuê trong nước.Thuê mua qua biên giới thường là thuêmuatrảhết. Bên thuê cóthểbịđánh thuế hailầnnếu thoả thuận không rõtronghợp đồngvề các vấn đề liên quan đến thuế, rủi ro, tỷ giá thanh toán, bảo
34
hiểm… Những rủi ro pháp lý cũng cần xem xét đối với tình huống này. Về mặt luật pháp cũng như trên thực tế trong cho thuê xuất khẩu, đặc biệt về quyền của Bên cho thuê trong việc lấy lại tài sản từ Bên thuê ở nước ngoài, thông thường Bên cho thuê yêu cầu có bảo lãnh ngân hàng để đảm bảo cho việc thanh toán tiền thuê chưa trả hết. Hai hình thức hợp đồng trên ra đời xuất phát từ nhu cầu giao lưu quốc tế và nhu cầu tài trợ vốn đầu tư từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển. Đặc biệt là hiện nay cùng với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, hai hình thức hợp đồng trên được áp dụng rất phổ biến.
– Hợp đồngthuê mua quốctế(International Leasing Contract) là hợp đồng được ký kết khi chủ sở hữu và người sử dụng tài sản thuê mua cư trú ởnhữngnướckhác nhau tham gia vào hoạt độngthuê mua nhưng không hoàn toàn là thuê mua qua biên giới. Bởi lẽ, một công ty thuê mua quốc tế là thành viêncủaHiệp hộicác công ty Leasing quốctếthường hay có chi nhánh của mình ởnướcngoài nên mọi giao dịch giữa các bênsẽthuậnlợihơn nhiều. Khi tiến hành thuê mua quốc tế, Bên thuê trong hợp đồng (nhập khẩu) liên hệvớicông ty Leasingnướcmình, công ty nàyvớisựtrợgiúp củacác công ty thành viên của Hiệp hội thuê mua tìm kiếm Bên cho thuê (xuất khẩu) để cung cấp tàisảncần thuê cho Bên thuê. Nhà xuất khẩu cóthểtrực tiếp bán sản phẩm của mình cho công ty cho thuê nước ngoài nói trên, hoặc có thể bán cho công ty Leasing củanướcmình (nướcxuất khẩu), sau đó công ty này sẽ bán lại cho công ty Leasing của nước nhập khẩu. Chính vì là thành viên của Hiệp hội thuê mua, Công ty Leasing của nhà xuất khẩu sẽ đảm đương việc này trên cơsởgiúp đỡCông ty Leasingcủanhà nhập khẩu.Họcóthểnhận phí hoa hồng trong giao dịch này. Hợp đồng này được thực hiện khi có ba nước tham gia. Hợp đồngthuê mua quốctếcòn đượcgọilà hợp đồngthuê mua đa biên (Foreign-to-Foreign Lease Contract). Hình thức này giúp cho việc tiêu thụ máy móc, thiết bị được khai thác và sử dụng có hiệu quả trên thương trườngquốc tếvà cácnướctrong khu vực.Đặc điểmcủahợp đồngnày là cóyếutốnước
35
ngoài tham gia. Nó chịusựđiềuchỉnh không chỉcủapháp luật quốc gia màcòn cả pháp luật quốc tế.
1.2.3.3. Căncứtheo tổng sốtiền thuê mà Bên thuê nhận đượctrong thời hạn thuê của hợp đồng
Có thể phân loại thuê mua thuần thành hai loại:
– Hợp đồng thuê mua hoàn trả toàn bộ. Đây là hợp đồng mà tổng số tiền thuê mà Bên cho thuê nhận được trong thời hạn cơ bản của hợp đồng đủ trang trải toàn bộ chi phí mua sắm tài sản, lãi suất vốn tài trợ, các chi phí quản lý, hao mòn vô hình đủ đem lại lợi nhuận cho Bên cho thuê [71, tr.31]. Hợp đồng này thuận tiện, thoả mãn lợi ích cho cảhai bên tham gia hợp đồng nên kháphổ biến trên thị trường. Tại HoaKỳ, số hợp đồngthuê mua hoàn trả toàn bộchiếm 90% các giao dịch thuê mua thuần [71, tr.32].
– Hợp đồng thuê mua hoàn trả từng phần (Non – Full payout Lease Contract). Theo hợp đồng này, sau khi kết thúc thời hạn cơ bản của hợp đồng, tổng
số tiền gốc nhận được từ hợp đồng này không hoàn trả đủ chi phí ban đầu đãbỏrađểmuasắmtài sản. Vì vậy,đểthuhồivốnvà cólợinhuận, Bên cho thuê sẽ tiếp tục cho thuê. Từ đây, có thể nhận thấy 4 đặc trưng của thuê mua hoàn trả từng phần như sau:
Một là, tiền thu hồi vốn rất cao tronggiai đoạn đầu được sử dụngvào các hoạt động đầu tư khác để thu lợi nhuận. Một phần lợi nhuận sẽ trích đưa vào quỹ phòng ngừa rủi ro của công ty.
Hai là, do hợp đồngthực hiện ngắn hạnvà tính không chắc chắn của việc tiếp tục cho thuê tài sản nên thông thường các công ty cho thuê đã tăng tốc độkhấu hao đểthuhồivốnnhanhởgiaiđoạn đầunênsốtiền thuê cao. Nếuhợp đồngcàngđưara cho Bên thuê nhiều sựlựachọn khi đáo hạnhợp đồng thì tiền thuê càng cao. Số tiền tăng thêm này sẽ nhiều lên vì thu được từnhiều hợp đồng tiếp sau. Chính vì vậy, nó sẽ bù đắp những thiệt hại cho công ty khi có tài sản hết hạn sử dụng và không được khai thác nữa.
36
Ba là, khi hết thờihạnthuê cơ bản, các bên có quyềntựdo thoả thuận lựa chọn tiếp tục thuê tài sản đó hay mua lại chúng theo giá cảhợplý. Song sự khác nhau cơ bản về mặt pháp lý đối với cho thuê toàn bộ và cho thuê từng phần ởchỗ: Đốivớithuê mua hoàn trảtừng phần, trong trường hợp tiếp tục thuê tài sản sau khi kết thúc thời hạn cơ bản thì Bên thuê có quyền huỷ ngang hợp đồngnhưđốivớihợp đồngcho thuêvậnhành. Nhưng trong thời gian thuê thì các bên khôngđược đơn phươnghuỷ bỏ hợp đồng.
Bốn là, phương thức thuê mua hoàn trảtoànbộvà thuê mua hoàntrả
từng phần mang nét đặc trưng pháp lý của loại hình cho thuê tài chính: trong thời hạn cơ bản của hợp đồng, các bên không có quyền huỷ ngang nếu không có sự nhất trí chung hoặc do điều kiện bất khả kháng xảy ra [71, tr .33].
1.2.3.4. Căn cứ vào sự tham gia của các bên trong hợp đồng thuê mua Có thể phân loại thành:
– Hợp đồngthuê mua trực tiếp (Direct Lease, Direct Financing Lease Contract), theo đó, có sự tham gia trực tiếp của hai bên.Hợp đồngnày là sựkết hợp cho thuê vận hành và cho thuê tài chính trên cơ sở trả hết (full payout basis), Bên thuê có quyền lựa chọn mua tài sản vào cuối thời hạn thuê. Trong phương thức này, tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của Bên cho thuê (nhàsảnxuất có thiếtbị,các địnhchếtài chính hay công ty Leasing). Hoặc trong phương thức bán và thuê lại, Bên cho thuê mua tài sản của doanh nghiệp rồi lại cho chính doanh nghiệp thuê. Đặc điểm cơbản củahợp đồngnày là chỉ có hai bên tham gia. Họ là Bên thuê và Bên cho thuê, trong đó nhà cung cấp, thường cóchức năng kép là Bên cho thuê [108], [71, tr.36] (xem phụ lục số 6).
– Hợp đồng có sự tham gia của ba bên (Bên thuê, Bên cho thuê, nhà cung cấp) [71, tr.153]. Hợp đồng này cho phép Bên thuê có quyền lựa chọn tài sản với nhà cung cấp phù hợp với yêu cầu của mình. Đây là loại hình cho thuê tài chính, được áp dụng phổ biến nhất trong hoạt động thuê mua. Đặc điểm pháp lý cơbảncủaloại hợp đồngnày là: Khi chuyển giao tàisảntrực tiếp giữa nhà
37
cung cấp và Bên thuê hai bên cùng phải chịu trách nhiệm pháp lý về hoạt động của tài sản cũng như việc bảo hành, bảo dưỡng tài sản. Bên cho thuê không chịu trách nhiệmvềviệc tiếp nhận tài sản,vậnhànhcủatài sản. Nhữngrủiro liên quan đến vận chuyển, nhận hàng và giao hàng, sự nhầm lẫn về kỹ thuật… do nhàcung cấp và Bên thuê chịu trách nhiệm giải quyết. Bên cho thuê không phải mua tài sản trước để cho thuê nên họ quay vòng vốn sẽ hiệu quả hơn và không phải dự trữhàngtồnkho. Bên cho thuê có thể tài trợ cho nhiều đối tượng cùng một lúc mà không phụ thuộc vào tài sản Bên thuê (xem phụ lục số 1).
– Hợp đồng thuê mua có sự tham gia của bốn bên [71, tr.155]. Tham gia vào loại hình thuê mua này gồm các bên: Bên thuê, Bên cho thuê, người cho vay, nhà cung cấp. Phương thức này giống như cho thuê tài chính nhưng khác ở điểm tổ chức cho thuê mua tài sản không hoàn toàn bằng vốn của mình màmột phần từvốnvay ởngười cho vay (cáccổđông hay ởchính nhà cung cấp). Hợp đồng này còn được ký kết trong trường hợp có tài sản cầm cố, thếchấp hay cósựbảolãnh củamột cá nhân, một tổchức hay mộtngân hàng. Tuy nhiên, hợp đồngbảo lãnh cũng cóthểtồntạidướihình thức một điều khoản tronghợp đồngnày (xem phụ lục số 5).
1.2.3.5. Căn cứ vào điều kiện ưu đãi, các điều kiện bảo đảm giá trị tài sản trong thuê mua, hợp đồng thuê mua có thể phân loại:
– Hợp đồng thuê mua kèm theo điều kiện ưu đãi.
– Hợp đồng thuê mua có bảo lãnh về giá trị tài sản (Guaranteed Residual Lease Contract).
– Hợp đồng thuê mua chuyển giao (Novated Lease Contract):
– Hợp đồng thuê mua cập nhật (Update Lease Contract).
– Hợp đồngthuê mua phát sinh theo hợp đồngthuêgốc(Master Lease Contract).
– Hợp đồng thuê mua đóng (Closed Lease Contract).
– Hợp đồng thuê mua mở (Open-ended Lease Contract). [108]
38
– Hợp đồng thuê mua ướt và thuê mua khô (Wet and Dry Lease Contracts). Hai loại hợp đồng này được các bên ký kết áp dụng cho phương thức cho
thuêvậnhành. Cáchợp đồngnày được các bên ký kết rất nhiều đốivới hoạt độngcho thuê máy bay, tàu thuỷ trong thời gian qua trên thế giới.
– Hợp đồng thuê muaướt (Wet Lease Contract) là hợp đồng, theo đó Bên cho thuê cung cấp phi công, thuyền trưởng, tài chính, dịchvụbảo hành, bảo dưỡngvà đôi khi cả nhiên liệu cho Bên thuê.
Hình thức thuê uớt này đượcsửdụng trong thời giandưới12 tháng do nhu cầu vận chuyển tăng nhanh và các hãng hàng không thiếu máy bay và phi hành đoàn (xem Điều 36 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 vềthuê, cho thuê tàu bay cótổbay). Hình thức này cóthểáp dụng cho các chuyến bay nhỏ,lẻ,không thường xuyên. Các chuyến bay này thường phục vụ cho các “đại gia”, khách du lịch nhiều tiền hoặc các nhân vật quan trọngđểđảm bảo bímật, an toàn của người đi và chuyến bay. Hãng hàng không phải mua bảo hiểm cho hành khách trên chuyến bay vìhọlàngườivận chuyển. Còn Bên cho thuê máy bay phải muabảohiểm cho máy bay và chịu chitrảbảo dưỡngmáy bay.
– Hợp đồng thuê mua khô (Dry Lease Contract) là hợp đồngtheo đó, Bên cho thuêchỉcung cấp tài chínhđơnthuần đượcthểhiệndướidạng tài sản.
Thuê khô thì Bên cho thuê chỉ cung cấp máy bay cho Bên đi thuê. Bên đi thuê tự vận hành máy bay, khai thác hết tính năng, tác dụng của máy bay bằng phi hành đoàn của mình. Bên đi thuê lại chịu trách nhiệm bảo dưỡng và mua bảo hiểm cho máy bay, hàng hoá và hành khách và chịu trách nhiệm với ngườithứba (nếu có). Thời gian thuê tàisản thường làtừ12 thángđến36 tháng (xem Điều 37 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 2006 về thuê, cho thuê tàu bay không có tổ bay).
– Hợp đồng thuê mua tổng hợp (Synthetic Lease Contract).Đặctrưng
39
pháp lý củahợp đồngnày là Bên thuê muốn lợi dụng các lợi ích về thuế nên Bên thuê kết hợp đểsao cho cóthểhạch toán các khoản thuê như là một khoản vay, vì Bên thuê muốn hạch toán ngoại bảng các tàisảncóđượctừnguồn tài trợ bên ngoài nhưng vẫn có lợi ích từ việc sở hữu tài sản sau này.
– Hợp đồngthuê muatrảgóp (Hire – Purchase Arrangement or Lease – Purchase Arrangement) [71, tr.47 – 49]. Hợp đồngthuê muatrảgóp là hợp đồng đượcký kết dựatrên cơsởBên cho thuê haytổchức cho thuêsẽtiến hành mua tài sản mà người đi thuê yêu cầu để cho thuê (khi đó Bên cho thuêvẫn là chủ sở hữu của tài sản và người đi thuê vẫn chỉ được quyền sử dụng tài sản mà thôi). Sau khi cho thuê một thời gian nhất định, Bên cho thuê đã hoàn vốn bằng tiền thuêđượcthanh toán từng kỳđến một tỷlệphù hợp. Bên thuêphải thực hiện những điều khoản trong hợp đồng tức là vẫn phải thực hiện bảo dưỡng và thanh toán đủ số tiền còn nợ lại trong khi đã được chuyển giao quyền sở hữu. Đây là hình thức tài trợ có sự lai tạo giữa hai hình thức thuê mua và trảgóp. Theo phương thức này Bên cho thuê haytổchức cho thuêsẽtiến hành mua tài sản mà người đi thuê yêu cầu để cho thuê (Xem phụ lục 4). Đặc trưng pháp lý cơbảncủahợp đồngnày là người bán cóthểchuyển giao quyền sở
hữu cho người mua ngay từ khi hợp đồng có hiệu lực. Người bán cũng có thểgiữ lại quyền sở hữu đối với thiết bị thay vì nhận vật thế chấp của người mua. Người bán trong hợp đồng cho phép người mua thanh toán tiền mua làm nhiều kỳ, theo thời gian đã quyđịnhcụ thể và số tiền trả mỗi lần bao gồm một phần giá trị tài sản và tiền lãi. Hợp đồng này được ký kết đối với tài sản có thế chấp hoặc không có thế chấp. Bên thuê có thể bị mất quyền sở hữu tài sản vào thời điểm kết thúc hợp đồng nếu không thực hiện đúng tiến độ thanh toán.
Trên đây là một sốloại hợp đồng thuê muađãđược áp dụng trênthếgiới. Tácgiảnêu một sốloại cơ bản đểlàm rõvềnghiệp vụthuê mua cũng như đặc điểm và sự phức tạp của hợp đồng thuê mua cũng như các nghiệp vụthuê mua. Trong khuôn khổ của luận án tiến sĩ này, để có thể đi sâu phân tích
40
chúng tôi giới hạnnghiêncứuvềhợp đồng thuê mua thuần (cho thuê tài chính) và hợp đồngcho thuêvậnhànhđượcphân tích và so sánhđểlàm rõnhững vấn đề nghiên cứu được đưa ra.
Tóm lại,đểtiến hành thuê mua, các bên cóthểsoạn thảo ra những hợp đồng sao cho thoảmãn đượcnhu cầu của nhau một cách tốt nhất. Việc phân loại các hợp đồngthuê mua như trên cho thấy tính phức tạp cũng nhưđặc điểm riêng của hợp đồng thuê mua. Nhữngđặc điểm đó sẽ là cơ sở để nghiên cứu, phân tích trong chương 2 vàđềxuất giải pháp hoàn thiện pháp luật vềhợp đồngthuê mua ở Việt Nam tại chương 3 của Luận án.
1.2.4. Các yếu tố pháp lý của hợp đồng thuê mua 1.2.4.1. Chủ thể của hợp đồng thuê mua
Trong quá trình giao kết hợp đồng thuê mua, việc xác định chủ thể của nó cóvai trò quan trọng, góp phần xác định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn của các bên. Chủ thể hợp đồng thuê mua gồm: Bên cho thuê, Bên thuê và nhà cung cấp.
– Bên cho thuê (The Lessor): Làchủsởhữuvềmặt pháp lýcủatài sản hay thiết bị được dùng làm đối tượngcủahợp đồng thuê mua. Bên cho thuê, nhưđãnêu ở trên, thường là có tổ chức đủmạnh về tài chính để có thể mua tài sản từ người cung ứng và dùng tài sản đó cho Bên thuê thuê lại. Bên cho thuê ở các nước phát triển thường là các công ty thuê mua (Leasing Company). Bên cho thuê có thể cho thuê tài sản của mình thì khi đó Bên cho thuê đóng vai trò là nhà cung ứng tài sản.NềnKTTT càng phát triển, hoạt độngthuê mua càng đa dạng thì địa vị pháp lý của các công ty thuê mua ngày càngđược củngcố. Do đó, pháp luật về các công ty thuê mua cũngphải được ban hành nhằm tạo điều kiện cho các công ty này hoạt động.
– Bên thuê (The Lessee): Làngườisửdụng tàisảnhay thiết bịdo Bên cho thuê chuyển giao.Bên thuê cóthểlà bất kỳai,tổchức hoặc cá nhân cónhu cầu thuê tài sản. Tuy nhiên, ngày nay, trong cơ chế thị trường, Bên thuêthường là các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đứng ra thuê tài sản đểphục
41
vụ cho các hoạt động kinh doanh của mình. Họ thường không đủ tài chính đểmuađứt toàn bộ tài sản ngay từ đầu, mà chỉ cókhảnăng chi trả tiền thuê tài sản đó.Bên thuêđượcsửdụng tài sản, khai thác những lợi ích mà tài sản mang lại.
– Người cung cấp, nhàchếtạo (Manufacturer or Supplier): Là người cung cấp tài sản, thiết bị theo thoả thuận với Bên thuê và thực hiện hợp đồng mua bán thiết bị đã ký kết với Bên cho thuê. Người cung cấp đóng vai trò cầu nối giữa Bên thuê và Bên cho thuê.
– Trong một số trường hợp đặc biệt có thể có Bên cho vay tham gia hợp đồng thuê mua. Bên cho vay cóthểtham gia cùng vớiBên cho thuêđầutưmua tài sản để cho thuê theo yêu cầu của Bên thuê.
1.2.4.2. Đối tượng của hợp đồng thuê mua
Đối tượng của hợp đồngthuê mua là tài sản, máy móc, thiết bị nếu thiếu nó thìhợp đồngsẽ bịvô hiệu. Tín dụng thuê mua là phương thức tài trợ vốn dướihình thức tài sản. Tài sản dùng trong hoạt động nàyphổbiến làđộng sản, có thời gian sử dụng lâu dài (như máy móc, trang thiết bị, ô tô, xe lửa, tàu thuyền, máy móc trong xây dựng,kỹthuật, thông tin máy bay, thiết bịvăn phòng…) [71, tr.24]. Đối với thuê mua thì tài sản tham gia giao dịch phải là tài sản hữu hình. Thời hạn cho thuê động sản thường ngắn từ 1- 10 năm, khác với thờihạncho thuê bất độngsảnthường dài từ20-30 năm [71, tr.29] hoặc lâu hơn nữa. Thuê mua cũng có thể thực hiện để xây dựng các toà nhà văn phòng hiện đại,siêu thịlớn, khách sạn, khu công nghiệp, nhàở,khu dân cư tập trung, công trình xây dựng…Đốivớiloại tàisảnnày Bên thuê thường chọn tàisảnthuê vàlựachọn nhàsảnxuất, nhà xây dựng hoặc nhàđầutư thật kỹlưỡngđể đáp ứngchất lượng tài sản.
1.2.4.3. Nội dung của hợp đồng thuê mua
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ HỢP ĐỒNG THUÊ MUA Ở VIỆT NAM
Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam Những vấn đề pháp lý về hợp đồng thuê mua ở Việt Nam


