NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
PHẦN MỞ ĐẦU
1- Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Tro ng NhànƣớcCộng hò a xãhội chủnghĩa (CHXHCN) Việt Nam quyền lực Nhànƣớclà thố ng nhất, có sự phân công, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà
nƣớctrong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Quyền tƣ pháp là một bộ phận của quyền lực Nhà nƣớc luôn gắn bó chặt chẽ vớiquyền lập pháp vàquyền hành pháp trong tổngthểquyềnlựcNhànƣớcthống nhất. Quyền tƣ pháp
đƣợcthực hiện thô ng quahoạt độngxétxử củaTò a án (TA) và hoạt động của các cơ quan tƣ pháp khác. HoạtđộngxétxửcủaTòa án nhân dân (TAND) làthểhiện tập trung nhất của quyền tƣ pháp, thể hiện nền công lý, sự công bằng và bình đ ẳng của các chủ thể trƣớc pháp luật.Vớiý nghĩa này, việc cải cách hệ thống Tò a ánvềtổchức, thẩm quyền và hoạtđộnglàđòihỏitựthân, xuất pháttừvịtrí, vai trò vàchức năng của TA trong bộ máy Nhà nƣớc.
Cùngvớisự đổi mớimạnhmẽbộ máy Nhànƣớc,vấn đề đổi mớitổ chứcvàhoạtđộngcủacác cơ quan tƣ pháp luô nđƣợcĐảngvà NhànƣớcCHXHCN Việt Nam quan tâm.Điềunày đƣợcthể hiện trong các văn kiệnĐạihội của Đảng Cộng sảnViệt Nam qua cáckỳĐạihộinhƣ: Nghị quyết 08 Ban chấphành Trung ƣơngĐảng(BCHTW) khóa VII; Nghị quyếtĐạihộiĐảngto àn quốclầnthứVIII, các Nghị quyết 3 và Nghị quyết 7 BCHTW Đảngkhó a VIII; Nghịquyết Đạihội Đảng toàn quốc lần thứ IX và Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị(sauđâygọilà Nghị quyết 08). ThựchiệnchủtrƣơngcủaĐảng,trong những năm quaviệc đổi mớitổ chức và hoạt động củahệ thống TAND đã đƣợc ti ến hành nhiều lầntrong lịchsửlậpphápởnƣớcta.Từsau Hiến pháp (HP) năm 1992, LuậtTổchức TAND đã đƣợc Quốc hội liên tục sửa đổi, bổ sung để phùhợpvà đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mớiđất nƣớccũng nhƣ cải cách tƣ pháp. Thông qua việc sửađổi, bổ sung đó mà vị trí, vai trò của TA từng bƣớcđƣợckhẳng định và nâng cao.
Tro ng những năm qua,hệthống TAND cùng các cơ quan tƣ pháp khác từng
bƣớcđƣợccủngcố,kiện toàn; Hoạtđộngcủacác cơ quan nàyđã“góp phần quan trọng vào việcgiữvững an ninh chính trị, trậttựan toàn xã hội,bảovệphápchế
3
XHCN, phụcvụtích cựccho công cuộcđổimới”[2 tr.1 ]. Tuy nhiên,tổchức vàhoạtđộngcủacác cơ quan tƣ pháp cònbộclộnhiềuhạnchế,đólà“Tổchứcbộmáy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế hoạt động của các cơ quan tƣ pháp còn nhiều bất hợp lý nhƣng chậm đƣợcđổi mớicho phù hợp”“Đội ngũ cánbộ tƣ pháp còn thiếu vềsốlƣợng,yếuvềtrìnhđộvà nănglựcnghiệpvụ,mộtbộphận tiêu cực, thiếu trách nhiệm, thiếubảnlĩnh, sa sútvềphẩm chấtđạođức.Chấtlƣợngcông tác tƣpháp nói chung chƣa ngangtầmvớiyêu cầuvàđòihỏicủanhân dân, còn nhiều
trƣờng hợp bỏ lọt tội phạm, làm oanngƣờivô tội, vi phạm các quyền tự do dân chủcủa cô ng dân, làm giảm sút lò ng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nƣớc và các cơquan tƣ pháp” [2. tr.2]. Vì vậy, cải cách hệ thống TA là đòi hỏi khách quan đáp ứng yêucầucủacảicách tƣ pháp,củacông cuộcđổimớiđấtnƣớcnhằm xây dựngbộmáy Nhànƣớctrong sạch, vững mạnh, có hiệulựcvà hiệuquảđểthực hiện mục tiêu “dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
HP 1992 nƣớc CHXHCN Việt Nam đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Quốc hội khó a X, kỳ họp thứ 10. Trên cơ sởHPsửađổi,Luậttổchức TANDđãđƣợcQuốchộithông qua ngày 02/4/2002, so vớiLuật tổ chức TAND năm 1992 đã có một số đổi mới nhất định nhƣ: bỏ Ủy ban Thẩm phán (UBTP) ở Tò a án nhân dân tối cao (TANDTC); Thay đổi về thành phần vàsốlƣợngngƣờitrongHộiđồngThẩm phán (HĐTP) TANDTC và UBTPcủa
TAND cấp tỉnh; Việc quản lý TAND địa phƣơng giao cho TANDTC…
Mặc dù Luật tổ chức TAND năm 2002 đã có những đổi mới nhất định trong tổchức và hoạtđộngcủaTAND nhƣng chƣathểkhẳngđịnhrằngtổchức và hoạtđộng củaTAND hiện nay đã hoàn thiện, đã đáp ứng đƣợcyêu cầu của cải cách tƣpháp theo định hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền (NNPQ) XHCN Việt Nam.
Xuất phát từ những đòi hỏi của công cuộc đổi mớiđất nƣớccủaviệc xây dựng NNPQ XHCNVN và từ thực trạng tổ chức, hoạt động của các cơ quan tƣ phá p nói chung và TA nói riêng nhƣ đã trình bày ở trên, đồng thời hàng loạt vấn đề lý luận, thực tiễn trongtổchức và hoạtđộngcủahệthống TANDở nƣớctavẫnđang tiếp tục đƣợcđặt ra và cần giải đáp.Bởivậy, việc nghiên cứu đề tài“Nhữngvấn đề lýluận và thực tiễnvềcảicáchhệthống TA Việt Nam theođịnhhƣớngxây dựng
4
NNPQ” là yêu cầukhách quan, cấp thiết cảvề lý luận và thực tiễn nhằm góp phần xây dựng các cơ quan tƣ pháp trongsạch, vững mạnh, hoạtđộngcó hiệuquảgóp phần xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
2- Tình hình nghiên cứu đề tài.
3- Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án.
Mục đích của luận án là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thốngvềmặt lýluận, đánh giámộtcách có căncứkho ahọcvềtổchức, thẩm quyền và thực trạng củahệthống TA. Trên cơ sở đóvàdựavào những quanđiểm,phƣơnghƣớngcải cách tƣ pháp củaĐảng để đềxuất những giải pháp tối ƣu nhằm góp phần cải cách hệthống TAở nƣớctađápứngyêu cầuđổimớitoàn diệnđấtnƣớcvà xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, luận án đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu là:
– Làm rõvềmặtlý luận nhữngvấnđềnhƣ:vịtrí, vai trò, chức năng và các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của hệ thống TA.
– Phân tích, đánh giá toàndiện quá trình hình thành, phát triển; thực trạngtổchức, thẩm quyền, hoạt động xét xử và thực trạng đội ngũ cán bộ của hệ thống TA ở
nƣớcta làm cơ sở thực tiễn cho quá trình cải cách.
– Dựa trên những quan điểm và phƣơng hƣớng cải cách tƣ pháp của ĐảngvàNhànƣớcta, tácgiả đãphân tích những yêu cầu củaviệc xây dựng NNPQ XHCN Việt Namđốivớihệthống TA vàđềxuất những giải pháp cơ bảnvềcảicáchtổchức và ho ạt động của TA theo định hƣớng xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
7
4- Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án.
Đốitƣợngnghiêncứucủaluận án là lĩnhvựctổchức, thẩm quyền và hoạtđộng của hệ thống TA trên cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn.
Phạm vi nghiên cứu: Luận án chủ yếu nghiên cứu về mặt lý luận vị trí, vai trò, chức năng của hệ thống TA qua các giai đoạn lịch sử; làm sáng tỏ những nguyên tắc tổchức và hoạtđộngcủaTAND.Đồngthời luận án nghiêncứuthực trạngvềtổchức và hoạtđộngcủaTA, thực trạngđộingũ cánbộđểcó cơ sởđánh giá khách
quan, toàn diện những ƣuđiểm,nhữnghạnchếvà nguyên nhâncủachúng làm cơ sở để xác định các quan điểm, phƣơng hƣớng, nội dung và đƣa r a những giải pháp sát thực, có hiệu quả để cải cách hệ thống TAND theo định hƣớng xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân.
5- Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
Cơ sở lý luận củaluận án là lý luậncủachủnghĩa Mác Lênin, tƣtƣởngHồChí MinhvềNhànƣớc,pháp luật và những quanđiểm,đƣờnglối, chính sáchcủaĐảngCộngsảnViệt Nam vàcủaNhànƣớctavềNNPQ,vềcảicáchbộmáy Nhà
nƣớcnói chung và các cơ quan tƣ pháp nói riêng,… luậnán đƣợcnghiên cứu dựa trên cơ sở các văn kiện của Đảng, HP, Luật tổ chức TAND và các văn bản pháp luật khác quiđịnhvềtổchức, thẩm quyền và hoạtđộngcủaTAND.Đểlàm sángtỏnhữngvấn đềvề nội dung của mình, luận án cũng tham khảo các công trình nghiên cứu của các nhà triết học, luật học trong và ngoài nƣớc trên quan điểm tính kế thừa và có chọn lọc.
Trê n cơ sở phƣơng pháp luậncủatriếthọcMác Lênin làchủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đồng thời luận án còn sử dụng các phƣơng pháp hệ thống, phân tích, tổng hợp, so sánh,kết hợpvới phƣơng pháp khảo sát thực tiễn, phƣơng phápđiềutra xãhộihọcđểlàm sángtỏnhữngnộidungcầnnghiên cứu của luận án.
6- Những đóng góp mới của luận án.
Đây là công trình nghiên cứumột cách có hệ thống và tƣơng đối toàn diệnvềcơ sở lý luận, pháp lý, thực tiễncủahệthống TAND,đƣợcthểhiệnở những nội dung cơ bản sau đây:
8
– Luận án đã phân tích, làm rõ những vấn đề về quyền tƣ pháp,về thẩmquyền xét xử của TA cũng nhƣ vị trí, vai trò, chức năng của TA để xác định vai trò“trọng yếu” củaTA trong bộ máy nhànƣớcở nƣớcta.Từ đây đƣa ra đƣợc những luận cứquan trọng góp phầnđểcó nhận thức đúngđắnhơnvềvịtrícủaTA và hoạtđộngđặc thù củaTA, tránh cách nhìn nhận TA nhƣ các ngành, các bộ khác trong bộ máy Nhà nƣớc lâu nay.
– Tác giả luận án đ ã trình bày và đánh giá to àn diện, có hệ thống về thực tiễn tổ chức, thẩm quyền và hoạt động của hệ thốngTA trong những năm qua thô ng qua sự tổnghợp các số liệu xác thực; Xác định rõ những thành tựu, những hạn chế yếu kém và những nguyên nhân của nó, làm cơ sở thực tiễn cho việc cải cách hệ thống cơ quan TA ở nƣớc ta.
– Luận ánđãhệthốngđầyđủvà tổnghợpcác quanđiểmcủaĐảngvà Nhà
nƣớcvềcảicách tƣ pháp,đãphân tích những yêucầucủaviệc xây dựng NNPQ XHCN Việt Namđốivớihệthống TA trong giaiđoạnđổimớiđấtnƣớchiện nay. Trên cơ sở đó xác định phƣơng hƣớng, những nội dung cơ bảnvà đề xuất các giải phápcảicáchhệthống TAở nƣớcta có căncứkho ahọcvà tínhkhảthi phù hợp vớichủtrƣơngcảicách tƣ phápcủaĐảng,đápứngyêucầuxây dựng NNPQ XHCN Việt Nam.
7- Ý ng hĩa khoa học và thực tiễn của luận án.
Kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phần quan trọng vào việc làm sángtỏnhững quan điểm củaĐảngvà Nhà nƣớc tavềvị trí của TA trong bộ máy nhà nƣớcở nƣớcta vàvềvai trò“trọngyếu” củaTA trong việc“giữvững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;bảovệpháp chế XHCN; phục vụ tích cực công cuộc đổi mới” [2. tr.1].Từ đây nâng cao nhận thứcvềvị trí vai trò của TAND trongbộmáy Nhà
nƣớcvà thấy đƣợctính chất đặc thù trong ho ạt động xét xử của TA.
Bằng việc phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động, thực trạng đội ngũ cán bộTA hiện nay, luận ánđãgóp phần khẳngđịnhtínhtấtyếu khách quancủacải cáchhệthống TA theođịnhhƣớngxây dựng NNPQ, góp phần xây dựng các cơ quan tƣ pháp trongsạch vững mạnh, hiệuquảhoạtđộngngàymộtnâng caođáp

ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đ ại hóa đất nƣớc.
Nhữngkếtluận, kiến nghịđềxuất trong luậnán cóýnghĩa quan trọng trong việc xây dựng hệ thống đồng bộ các giải pháp nhằm cải cách TA có hiệu quả trong giai đoạn hiệnnay. Luận án là tài liệu tham khảo cần thiết cho việc nghiên cứu vàgiảng dạy tại các cơ sở đào tạo khoa học pháp lý và cho nhữngngƣờiquan tâm tìm hiểu về tổ chứcvà hoạt động của hệ thống TA ở Việt Nam.
8- Kết cấu của luận án.
Ngo ài phầnMở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luậnán đƣợccơ cấu thành 3 Chƣơng với 8 Mục.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luậnvềToàán và cảicáchhệthống Toàán Việt Nam
theo định hƣớng xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN.
Chƣơng 2: Lịchsử hình thành, phát triển và thực trạngvềtổchức, thẩm
quyền, hoạt động xét xử của hệ thống Toà án ở nƣớcta.
Chƣơng 3: Những phƣơnghƣớngvà giải pháp cơ bảncủacảicáchhệthống Toàán Việt Nam theo địnhhƣớngxây dựng Nhànƣớc pháp quyền.
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÒA ÁN VÀ CẢI CÁCHHỆ THỐNG TOÀ
ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG
NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
1.1-VỊTRÍ,CHỨC NĂNG VÀ VAI TRÒCỦATÒA ÁN TRONGBỘMÁY NHÀ NƢỚC.
1.1.1- Vị trí của Tòa án.
1.1.1.1 Vị trí của Toà án trong các kiểu nhà nước
Sựkhác nhau về chế độ chính trị, chế độ kinh tế,vị trí địa lývà đặc điểm dân
cƣ… trongmỗikiểu Nhànƣớcdẫnđếnviệctổchứcbộmáy Nhànƣớccũng khác nhau.
Tro ng chế độ chiếm hữu nô lệ và pho ng kiến, quyền lập pháp, hành pháp và tƣphápđềudo nhà Vuanắmgiữ. Nhà Vua làngƣờiban hành pháp luật, là ngƣời quyết định tổ chức thực hiện và là ngƣời có quyền xét xử cao nhất. Bởi vậy trong bộmáy Nhà nƣớc chiếm hữu nô lệ và phong kiến thì TA chƣa đƣợctổ chức thành một hệ thống cơ quan rõ ràng tách biệt và hoạt động xét xử chƣa đƣợctrở thành một lĩnh vực hoạt động độc lập.
Vào những năm cuối thếkỷ 17 đầu thếkỷ 18 giai cấp tƣ sản phát triển và lớn mạnh cảvề sốvà chất lƣợng,họ là đạidiện cho phƣơng thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho xu hƣớng chính trị tiến bộ. Đểhạn chếquyền lực vôhạn củanhà Vua vàlậtđổchế độphongkiếnđộcđoán, chuyên quyền, cách mạng tƣsảnvớimụctiêu xây dựngmộtNhànƣớcdân chủ, trong Nhànƣớcđótách quyền tƣ pháp ra khỏi quyềnlậppháp và quyền hành pháp, hoạtđộngxétxửđộclậpcủaTAđƣợcNhà
nƣớcbảo đảm.
S.L.Mo ntesquieu phân chia hoạtđộngcủaNhànƣớcthành ba nhánh quyền lực: Lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Học thuyết của Ông đã trở thành hạt nhân của họcthuyết “Tam quyền phânlập”.Montesquieu khẳngđịnhrằng phảitạora một “Chính phủ chừngmực”vàmột hệ thống cơ quan Nhànƣớcđảmbảo“quyềnhành
11
ngăn chặn quyềnhành”nhằm tạo ra cơ chế kìm hãm, đối trọng và chế ƣớc lẫn nhau củaba nhánh quyềnlựcvìlợiích chungcủatoàn xã hội, tránh tình trạng vô pháp luật, tránh sự tuỳ tiện và lạm quyền từ phía các quan chức Nhà nƣớc. Để khẳng định cho sự cần thiết của pháp chế và tuân thủ pháp luật nghiêm minhvà để chống lại sựchuyên quyền độc đoán, tuỳ tiện của Nhà nƣớc phong kiến, Mo ntesquieu viết:
…Sẽkhô ng có tự do nếu quyền xétxử không đƣợcphân biệtvớiquyền lậppháp và quyền hành pháp. Nếu quyền xét xử đƣợcsápnhập vào quyền lập pháp, thì sẽ không có tự do, nếu quyền xét xử đƣợc nhập vào quyền hành pháp thì Thẩm phán sẽ trở thành những kẻ áp bức [49. tr.81].
Montesquieu khẳngđịnhquyền tƣ pháp phải tách ra khỏi quyềnlậppháp vàquyền hành pháp:“Mọithứsẽ bị biếnmấtcả nếuchính một người, hay chính một tậpđoàn các thân hào hay các quí tộc hay bình dân hànhsựcảba quyền: Quyền làm luật, quyền thi hành các quyết nghị chung và quyền xét xử các tội phạm hay các vụ tranh chấp giữa các tư nhân” [49. tr.85].
Vềmột NNPQ, Immanuil Kant (1724 – 1804) – nhà triết học nổi tiếng ngƣờiĐức cho rằng NNPQ là một Nhà nƣớc có sự phân công quyền lực. Theo ông:“Chủquyềncủanhân dânchỉcóthểđượcthực hiện trên thựctếbằngsựphân công quyền lực như là một nguyên tắc tổ chức Nhà nước quan trọng nhất vì tính tối cao của chủ quyền nhân dân là điều kiện cơ bản cho tự do và bình đẳng của tất cả các công dân trong một Nhà nước” [41. tr.98].
Theo các học giả tƣ sản thì hệ thống các cơ quan Nhà nƣớc của các Nhànƣớcđềuđƣợchình thành trên cơ sở nguyêntắcphân chia quyềnlựctheo thuyết “tam quyền phân lập”. Mỗi cơ quan Nhà nƣớc phải có một vị trí xứng đáng, phải đƣợctổ
chức sao cho có tính độc lập trong cơ chế đối trọng– chế ƣớc– kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. Cũng nhƣ các cơ quan khác trongbộmáy Nhànƣớc,nếu TA khôngđƣợctổchứcmộtcách thỏa đángsẽtrởthành thảm hoạ cho quốc gia và cho ngƣời dân trong quốc gia đó. Điều này đã đƣợc
các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định: “Cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật, vừa cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể
12
đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ” [47. tr.87].
Theo quan niệmcủagiaicấptƣ sảnthì TA là cơ quan xétxử“tộiphạm hay các vụ tranh chấp”không đơn thuần đó là hành vi của con ngƣời mà còn bao gồm cảhoạtđộngcủacác cơ quan Nhànƣớcđạidiện cho công quyền.Đâylà việcthểhiện rõ nét nhấtsựđốitrọng giữa TAvớicơ quanlậppháp và hành pháp, giữa quyền tƣ phápvớiquyền lập pháp và hành pháp, đ ây cũng là điểm thể hiện rõ nhất tính độc lập của TA trong bộ máy Nhà nƣớc tƣ sản.
Vấn đề độc lập củaTA tách khỏi nhà Vua, cùngvớinhữngvấn đề khác
nhƣ Nghị viện, tự do dân chủ, trở thành khẩu hiệu phƣơnghƣớngvà động lực cho việclậtđổchếđộpho ng kiến thiếtlậpnênchếđộtƣ bản, phải nói một cách công bằng rằng chế độ tƣ bản và nhất là thời kỳ Cách mạng của nó bỏ rất nhiề u côngsứcvào việcđấutranh giànhđộclậpcho hoạtđộngcủaTA.Sựđộc lập củaTA khỏi lập pháp và hành pháp là một trong những đảm bảo quan trọng trong công việcbảođảm quyền bìnhđẳng, quyềntự nhiêncủacon
ngƣời, nhất là trong việc chống lại tình trạng tham nhũng, lợi dụng quyền lực củanhững nhà cầmquyền, vìđam mê quyền lực, vìvụlợimàhọxâm phạmđến quyền tự do, bình đ ẳng, quyền tự nhiên của quần chúng nhân dân lao động [12. tr.249].
Ở các nƣớctrên thế giới, HP và các vănbảnpháp luật về tổ chức các cơ quan
tƣ pháp (trong đó có TA) đều qui định cơ chế kìm hãm- chế ƣớclẫnnhau giữa ba
nhánh quyền lực lập pháp – hành pháp – tƣ pháp vớisự độc lập của TA.
Theo HP 1787 và đạo luật tƣ pháp năm 1789 củaHợpchủng quốc Ho a kỳ thìquyền tƣ phápđƣợcgiao cho TA. Qua nghiêncứuHP và luậtvềtổchứcbộmáy Nhànƣớcở Hoa Kỳ cho thấybộmáy Nhà nƣớc Ho akỳ đƣợctổ chức trên nguyên tắc phân chia quyền lực rànhmạch thành ba nhánh quyền lực: lập pháp, hành pháp,
tƣ pháp hoạtđộngđộclập, kiềmchếvà kiểm soátlẫnnhau. Theo pháp luậtnƣớc này, Quốc hội có quyền lập pháp docảhaiViện là Thƣợng Nghịviệnvà HạNghịviện cùng thực hiện nhƣng không phải hai Viện này có quyền lực vô hạn trong lĩnh vực lập pháp bởi vì Quốc hội không đƣợc phép ban hành một số đạo luật (ví dụ nhƣđạo luật cấm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tôn giáo hoặc đạo luật vềthiết lập
13
tôn giáo…)Tổng thống Hoa Kỳ có quyền phủ quyết các đạo luật, mệnh lệnh, nghịquyết mà cả hai Viện của Quốc hội thông qua. Khi bị Tổng thố ng phủ quyết, Quốc hội phải thảo luận lại dự án luật và Quốc hội chỉ có thể thông qua dự án luật khi cótừ 2/3 số phiếu thuận trở lên. Quyềnphủquyết củaTổng thống làm hạn chế quyền lập pháp của Quốchộivà góp phần nâng cao trách nhiệm của Quốc hội trong hoạtđộnglậppháp. QuốchộiHoaKỳcó quyền xem xét và buộctộiTổng thống cũng
nhƣ các quan chức Chính phủ khi họ lạm dụng công quyền theo thủ tục “Impeachmen”. Tức lànếuThƣợng Nghịviện tuyên bố nhữngngƣờinày có tội thìhọ sẽ bị cách chức vàbị xét xử trƣớcTA nhƣ nhữngngƣờidân khác.Thƣợng Nghịviện Ho akỳcó quyền phê chuẩn việcbổnhiệm Thẩm phán TAtốicaocủaTổng thống. Thƣợng Nghị viện có quyền khởitốvà xétxử đốivớiThẩm phán lạm dụng công quyền.NếubịThƣợng Nghịviệnkếttội, Thẩm phánsẽbịcách chứcvàsẽkhông đƣợcgiữ một chức vụ nào khác.
Ở Ho a Kỳ, TA tối cao có quyền giải thích HP, có quyền kiểm tra tính hợp hiến củacác vănbảnpháp luật do QuốchộihoặcTổngthống ban hành. TA có quyền tuyên bố những đạo luậtvi phạm HP là vô hiệu và không đƣợc áp dụng chứ không
đƣợcquyền tuyên bố huỷ bỏ đạo luật đó.
Ở Liên bang Nga, tại Chƣơng VII HP năm 1993 qui định quyền tƣ pháp thuộc vềTA và Viện kiểm sát.Hệthống các cơ quan TAcủaLiên bang Nga hoạtđộng trên cơ sởnguyêntắcđộclậpvớiquyềnlậppháp, hành pháp vàchỉtuân thủpháp luật. Theo qui định của HP thì quyền lập pháp thuộc về Quốc hội nhƣng quyền sáng kiến lập pháp cũng thuộcvềTA HP, TA tối cao và TA trọng tài tối cao Liên bang Nga với những vấn đề thuộc thẩm quyền của các TA đó.
HộiđồngLiên bang Nga (Thƣợng Nghịviện) thuộc Quốchộicó quyềnbổnhiệm và bãi miễn các Thẩm phán của TA HP, TA tối cao và TA trọng tài tối cao Liên bang Nga theo đề nghị củaTổng thống Liên bang Nga;Tổng thống Liên bang Nga có thể bị Hội đồng Liên bangphếtruất khỏi chứcvụnếuĐuma quốc gia (Hạnghị viện) thuộc QuốchộibuộctộiTổng thống trong trƣờnghợpphạmtộiphản quốc ho ặc phạm tội nghiêm trọng khác mà sự buộc tội đó đã đƣợcTA tối cao Liên bang Nga khẳng định bằngbảnkết luận. TA HP Liên bang Nga có quyền kiểm tra
14
tínhhợphiếncủacácđạoluật do cơ quanlậppháp và hành pháp ban hànhđồng thời đƣa ra những giải thích HP thố ng nhất và có tính bắt buộc chung.
Nhƣ vậy, TA cóvịtríđộclậpvớicác cơ quanlậppháp và hành pháp.Vịtrínày làmộtđiềukiện quan trọngđểđảmbảoquyền bìnhđẳngcủacon ngƣời,đảm bảonềncông lý chomỗiquốc gia vàchốnglạitình trạng tham nhũng, chuyên quyền độc đoán của giai cấp cầm quyền trong xã hội. Cơ sở pháp lý để đảmbảo sựđộc lập của quyền tƣ phápvớiquyền lập pháp và hành pháp đƣợc ghi nhận ở HP vàcácđạoluậtcủacác Nhànƣớc.Tuy vậy,sựđộclậpcủaTAở mỗiquốc giachỉmang tính tƣơngđối,bởinó cònphụthuộcrấtnhiều vào quanđiểm,tƣtƣởngchỉđạo của giai cấp nắm giữ quyền lực Nhànƣớc.Tuy nhiên cùngvớisự phát triển của nền dân chủ tƣ sản,vị trí độc lập củaTA ngày càng đƣợc xác lập, đối tƣợng xét xử, phạm vi và thẩm quyền xét xử của TA cũng càng đƣợc mở rộng hơn. Thiết nghĩ đây cũng là những kinh nghiệm tham khảocầnthiết trong công cuộccảicách tƣ pháp nói chung và cải cách TA nói riêng ở nƣớc ta hiện nay.
1.1.1.2-VịtrícủaTòa án nhân dân trongBộmáy NhànướcCộng hoà xãhội chủ ng hĩa Việt Nam.
Nhà nƣớc xã hội chủ nghĩa (XHCN) là Nhà nƣớc kiểu mới trong lịch sử xã hội loài ngƣời, là Nhànƣớccủa nhân dân lao động.Sứmệnh lịch sử của Nhànƣớcnày là thực thi quyền lực vì quyền và lợi íchhợppháp của nhân dân lao động. Bản chất củaNhà nƣớc XHCN đƣợc xác định không chỉbởicác nguyên tắc cơ bản của chủ
nghĩa xã hội đã đƣợccác nhà kinh điển của chủnghĩaMác –Lênin nêu ra mà còn bởicác mô hình Nhà nƣớc XHCN cụ thểvớinhững đặc điểm lịch sử riêngvềdân tộc truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển kinh tế xã hội và các đặc điểm của thờiđạiđƣợctiếp nhậnbởimỗiquốc gia riêng biệt. NhànƣớcCộng hò a XHCN Việt Nam là một mô hình cụ thể của NhànƣớcXHCN. Sứ mệnh lịch sử của Nhànƣớc nói chung và NhànƣớcXHCN nói riêngsẽkhôngthểthực hiệnđƣợctrong cuộc sống nếu khô ng có một hệ thống các cơ quan, các tổ chức Nhànƣớcđƣợcxây dựng một cách khoahọcvàhoạt độngnhịp nhàng trong một thể thống nhất. Hệ thống ấy làbộmáy Nhànƣớc,bộmáy NhànƣớcXHCN nói chung cũng nhƣbộmáy Nhà
nƣớcCộng hò a XHCN Việt Nam hiện nay có đặc điểm nổi bật là đƣợc tổ chức theo
15
nguyêntắctậpquyền -đâylàđiểmkhác nhau cơ bảnvớinguyêntắcphân quyền trongbộmáy Nhànƣớctƣ sản.Điềunày có nghĩa là trongtổchứcbộmáy Nhà
nƣớcXHCNmọiquyềnlựcđềutậptrung thống nhất vào nhân dân,bắtnguồ ntừnhân dân và thuộc về nhân dân. Nguyên tắc quyền lực thuộc về nhân dân là nguyên tắchiếnđịnhtrongtổchức và hoạtđộngcủaNhànƣớcXHCN.Điều2 HP 1992 (sửa đổi,bổ sung ngày 25/12/2001) của NhànƣớcCộng hò a XHCN Việt Nam quiđịnh:“NƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam là NNPQ XHCNcủanhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực Nhànƣớcthuộcvềnhândân”[31. tr.128]. Nhân dân thực hiện quyền của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân (HĐND)
– là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, do nhân dân trực tiếp bầu ra.
QuyềnlựcNhànƣớclàthống nhất, thiếu tính thống nhất thì quyềnlựcNhà
nƣớcsẽmấtđi hiệu lực.Ởnƣớcta,sựphân công, phốihợpgiữa ba quyền: Lập pháp, hành pháp và tƣ pháp là sự phân công giữa ba bộ phận của một hệ thống tồn tại dƣớidạng một chính thể các quan hệ quyền lực. Sự phân công, phối hợp giữa ba quyền và tƣơng ứngvớichúng là ba thiết chế quyền lực Nhà nƣớc, chính là sự phân
công có điều kiện – theo đó mỗi một thiết chế quyền lực chỉ thực thi một loại quyền lực và không thể có một thiết chế quyền lực nào lại thâu tóm toàn bộ quyền lực Nhà
nƣớcvào tay mình.Ởnƣớcta, Quốchộinắmgiữnhững quyền cơ bảnnhất của quyền lực Nhànƣớcnhƣ quyền lập pháp, quyền quyết định nhữngvấn đề cơ bảnvàquan trọng nhấtvềkinhtế,tài chính,tổchứcbộmáy, quyền giám sáttốicao việc thực hiện pháp luật. Các cơ quan khác trong bộ máy Nhànƣớcđềubắtnguồn từ cơquan quyền lực Nhà nƣớc và phải chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan quyền lực, phải chịutrách nhiệm và báo cáo công táctrƣớccơ quanđó.Trongbộmáy Nhà
nƣớcCộng hò a XHCN Việt Nam bên cạnh việcđảmbảosựtậptrungthống nhất quyền lực đồng thời phải bảo đảm sự phân biệt và phối hợp chặt chẽ giữa ba quyền:
Lậppháp, hành pháp, tƣ pháp và có sự phân công, phân cấp rõ ràngvềquyền hạn, trách nhiệm của mỗi cơ quan.
Quốc hội tổ chức ra Chính phủ trao quyền hành pháp, tổ chức ra các cơ quan
tƣ pháp (TA, Viện kiểm sát, Cơ quan điều tra…) trao cho quyền tƣ pháp. Nhƣ vậy,đặc điểm cơ bản nhất của bộ máy NhànƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam là dựa trên
16
nguyêntắcquyềnlựcNhànƣớclà thống nhất và nguyêntắctậptrung dânchủđểphân công chức năng, nhiệm vụcho từng loại cơ quan trongbộmáy Nhànƣớc nhằmtạođiềukiện phát huy tínhtựchủcủamỗicơ quanđồngthời phốikếthợp mộtcách có hiệuquảnhấtđểthực hiện quyềnlựccủanhân dân.Điều2 HP 1992 sửa đổi năm 2001 khẳng định“Quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất, có sự phân công, phốihợpchặtchẽgiữa các cơ quan Nhànƣớctrong việc thựchiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp” [31. tr.178]. Nhƣ vậy, quyền lực Nhà nƣớcđƣợcthực hiện trên cơ sởphân cô ng, phốihợpgiữa các cơ quanlậppháp, hành pháp và tƣpháp. Mỗi cơ quan có chức năng, nhiệmvụvà phƣơng thức ho ạt động khác nhau cótínhđộclậptƣơngđốinhƣng hoạtđộngtrongmộtchínhthểthống nhất, phối hợp chặtchẽvớinhau nhằmbảođảmthực hiện quyềnlựcNhànƣớc.Làmộtbộphận của quyền lực Nhà nƣớc, quyền tƣ pháp luô n gắn bó chặt chẽ với quyền lập pháp vàquyền hành pháp trong chỉnhthểquyềnlựcNhànƣớcthống nhất. Thông qua hoạtđộng tƣ pháp đƣợcqui địnhbởipháp luật, các cơ quan tƣ pháp có nhiệmvụ bảovệpháp luật, áp dụng pháp luật, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động chấphành pháp luật trong xãhộinhằmbảođảmtrậttựpháp luật, pháp chế,bảođảmhiệulựccủabộmáy Nhànƣớcvà quyền lực của nhândân đƣợcthực hiện trên thực tế. Phán quyết của TA chính xác, khách quan, đúng pháp luật thể hiện sự công bằng, bình đẳng của các chủ thể trƣớc pháp luật và phản ánh nền công lý của chế độ Nhà nƣớc.Vềvị trícủacơ quan tƣ pháp (trọng tâm là TAND),chủtịchHồChí MinhtạiHộinghị Tƣpháp toàn quốc tháng 2/1948đãkhẳngđịnh:“Cơquan tư pháp là cơ quan trọng yếu của chính quyền”[104. tr.10].
Lê nin viết: “TA là cơ quan của quyền lực, hoạt động của TA là một hình thức hoạtđộngcủaNhànước”[40. tr.197]. NhƣvậyTAND làmộthệthống cơ quan Nhànƣớccóvịtríđộclậptrongbộmáy Nhànƣớc,làmộtbộphận quan trọng khô ngthểthiếuđƣợccủabộmáy Nhànƣớc,thểhiện trực tiếpbảnchấtcủaNhà
nƣớcta là Nhà nƣớc của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Nhà nƣớc Việt nam dân chủ cộng hoà ra đời đã xác định rõ tầm quan trọng vàsựcầnthiếtcủaTA trongbộmáy Nhànƣớc.Ngày 13/9/1945Chủtịch Chínhphủlâm thời Việt Nam Dân chủ cộng hò a (VNDCCH) ký Sắc lệnh thành lập các Tòa án
17
quânsự (TAQS)vớitƣ cách là cơ quan xétxửvàbảovệpháp luật. Hơn 50 năm qua, Nhà nƣớc ta luô n quan tâm tới việc xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động củaTAND. Cácđạoluật cơ bảncủaNhànƣớctađềuquiđịnhvà ghi nhận những nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của TAND.
HP 1946–HPđầutiêncủaNhànƣớcVNDCCH(Điều22)đãquiđịnhhệthống TA là cơ quan độc lập bên cạnh hai hệ thống cơ quan Nhànƣớckhác là Nghịviện và Chínhphủ“Nghịviện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhấtcủanƣớc VNDCCH”.
Điều 43 quy định:“Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là ChínhphủVNDCCH”.
VàĐiều 63củaHP 1946 quyđịnh:“Cơ quan tƣ phápcủanƣớcVNDCCH gồm có: Toà án tối cao ; các TA phúc thẩm; cácTA đệnhị cấpvà sơ cấp”[5. tr.12; 18. tr. 21].
Ba cơ quan trên là những cơ quan đại diện cho quyền lực Nhà nƣớc, trong đóTA các cấp là cơ quan đại diện cho quyền tƣ pháp.Vớinộidung qui định này của HP 1946, NhànƣớcVNDCCH (nay là NhànƣớcCộng hò a XHCN Việt Nam)đãxác định TA là cơ quan có vị trí độc lập, làmột bộ phậnkhô ng thể thiếu đƣợc trong bộ máy Nhà nƣớc, là cơ quan đại diện cho quyền tƣ pháp có mối quanhệvà gắn bóchặt chẽ vớicác cơ quan lập pháp, hành pháp.
HP 1959 Điều 97, HP 1980 Điều 128 khẳng định đầy đủ hơn vị trí quan trọng củaTAND trongbộmáy Nhànƣớcở nƣớcta: “TANDTCnƣớcVNDCCH, các TANDđịaphƣơng, các TAQS là những cơ quan xétxửcủanƣớcVNDCCH” [31. tr.56, 115].
Luật tổ chức TAND năm 1960, Luật tổ chức TAND năm 1981 và Luật tổ chức TAND năm 1992 thể hiện đầy đủ hơn vị trí của TANDở nƣớcta, các văn bản pháp luật này đều khẳng định: “TAND tối cao, các TAND địa phƣơng, các TAQS và các TA khác do luật định là các cơ quan xét xử củanƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam” [59. tr.3] [60. tr.3 ] [61. tr.3].
Đất nƣớcta đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế ho ạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trƣờng, trƣớc yêu cầu của công cuộc đổi mới cũng những đòi hỏi của sự phát
18
triển kinh tế, củavấn đề dân chủ,kỷ cƣơng phép nƣớc, an ninh chính trị và an toàn xã hội thì vị trí của TA càng đƣợckhẳng định và nâng cao để thực hiện đƣợcmục tiêu mà Đảng và Nhànƣớcđã đặt ra là“dângiàu,nƣớcmạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”.
Điều 128 HP 1992 qui định vị trí của TAND trong bộ máy Nhànƣớcở nƣớc ta nhƣ sau: “TANDTC, các TAND địa phƣơng, các TAQS và các TA khác do luậtđịnh là những cơ quan xét xử củanƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam”. Luật tổ chức TAND đƣợc Quốc hội khóa Xkỳhọp thứ 10 thông qua ngày 02/4/2002 lại một lần nữakhẳngđịnhvịtrí củaTAND nhằmbảođảmvàtạomọiđiềukiệnđểTAND thực hiệntốtcác nhiệmvụmà HPđãquiđịnh,góp phần thực hiện thắnglợicông cuộc đổi mớiở nƣớcta.
Nhƣ vậy, trong bộ máy nhànƣớcta, TAgiữ mộtvị trí đặc biệt bởiTA là nơi thể hiện rõ nhất các nguyên tắc dân chủ và bình đẳng. Kết quả hoạt động củaTA lànơithểhiện sảnphẩm của to ànbộhoạt động của các cơ quan tƣ pháp. Vì thế bằng hoạtđộngcủamình, TA cònthểhiệncảchấtlƣợnghoạtđộngvà uy tíncủahệthống tƣ pháp trong Nhà nƣớc pháp quyền XHCN.
1.1.2- Chức năng, vai trò của Tòa án.
1.1.2.1- Chức năng, vai trò của Tòa án trong Nhà nước tư sản.
Nhƣđãtrình bàyởphần trên, quyềnlựcNhànƣớcgồmba loại: Quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tƣ pháp. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thốngtrịthông qua Nhànƣớcđểbiếnýchícủagiaicấpmình thành pháp luật vàbuộc các giai cấp khác trong xã hội phải tuân theo. Đây chính là hoạt động lập pháp là lĩnhvựcquan trọngthểhiện quyềnlựcNhànƣớcmộtcách rõ nét nhấtbởivậy bao giờ cũngđƣợccơ quan có quyềnlựccao nhất trongmỗiquốc gianắmgiữvàthực hiện. Pháp luật là ý chí củagiai cấp thống trị mà trong xã hội có giai cấp đối kháng thìýchí này luônđốilậpvớiýchícủanhân dân laođộngnên thƣờngbịchống đối và không đƣợcnhân dân tự giác thực hiện. Chính vì vậy giai cấp thống trịphải thành lập một bộ máy và giao cho nhiệm vụ tổ chức thi hành pháp luật.Đó là
hệ thống cơ quan hành pháp – một bộ phận quan trọng trong bộ máy Nhà nƣớc nắm giữ cảnhững điều kiện vật chấtvà sức mạnh cƣỡng chế để đảmbảo cho pháp luật
19
đƣợcthực thi trong cuộc sống. Đồng thờivớiviệc thiết lập hệ thống cơ quan hành pháp là việc thiếtlậphệthống cơ quan tƣ pháp giao cho cơ quan này thực hiện quyền tƣ pháp (quyền xétxử)mà hạt nhân của nó là TA: TA nhân danh quyền lực nhà nƣớc có nhiệmvụxét xử những hành vi vi phạm pháp luật của tất cả mọi ngƣời trong xã hội bất kể họ là ngƣời lao động hay các quan chức trong bộ máy Nhà nƣớc.
Nhƣ vậy, hoạtđộngxétxửlà hoạtđộngtấtyếucủamọiNhànƣớc,là chức năng khô ng thể thiếu đƣợccủabất kỳNhànƣớcnào. Chức năngnày đƣợcgiao cho một hệthống cơ quan cóvịtríđộclậptrongbộmáy Nhànƣớc-đó làTA. Tuy vậy,ởmỗikiểu Nhànƣớcvớisựkhác nhauvềchếđộchính trị,chếđộkinhtế,hệthống
quan điểm của giai cấp cầm quyền… nên việc tổ chức bộ máy Nhànƣớccũng khác nhau và vị trí của TA cũng khác nhau nhƣng đều có chung một chức năng là xét xử.
1.1.2.2- Chức năng, vai trò của Tòa án ở nước ta.
HP 1992 (sửa đổi, bổ sung ngày 25/12/2001) qui định “Quyền lực Nhà nƣớc làthống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nƣớc trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ pháp”. Đây là ba phạm vi của quyền lực Nhà nƣớc thống nhất ở Nhà nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, HP – đạo luật cơ bản củaNhànƣớcđã qui định việc phân công các phạm vi quyền lực này cho hệ thống các cơ quan khác nhau trong bộ máy Nhànƣớccùng phối hợp thực hiện. Trong đóTANDmộthệthống cơ quan cóvịtríđộclậptrongbộmáy Nhànƣớcthực hiện
chức năng xét xử – một hoạt động cơ bản của quyền tƣ pháp, một chức năng không thể thiếu đƣợccủa bộ máy Nhà nƣớc XHCN. Đây là chức năng riêng chỉ TA mới cóvà khô ng có cơ quan nào trong bộ máy Nhànƣớccó thể thay thế TA để thực hiện chức năng này.
V.I Lênin đã dạy:
Giai cấp vô sản cần có chính quyền Nhà nƣớc, cần có tổ chức sức mạnh tập trung, cần có tổ chức bạo lực để trấnáp sự phản kháng củabọnbóc lột vàlãnh đ ạo quảng đ ại quần chúng nhân dân.
… Nếukhô ng dùng đến cƣỡng bách thì nhiệm vụ đó tuyệt đối không thểhoàn thànhđƣợc,chúng ta cầncó Nhànƣớc,chúng tacầncócƣỡngbách.
TA…phải là cơ quan Nhànƣớcvôsảnthực hiệnsựcƣỡngbáchđó.[39.
20
tr.27].
Thấm nhuần lờidạy củaLênin, ngay sau khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, NhànƣớcVNDCCHđãthựchiện công việcđầutiên làkiện toànbộmáy Nhà nƣớc và ban hành các vănbảnpháp luật để thực hiện nhiệm vụ trọng yếu của cách mạng thời kỳ đó là chống thù trong giặc ngo ài, bảo vệ thành quả của cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.Bởivậy, trong thờikỳnày, TA là một trong những cơ quan Nhànƣớcđƣợcthành lập sớm nhất. Điềunày đƣợclịch sử hình thành và phát triển pháp luậtnƣớcta minh chứng. Ngay từ những ngày đầu rađờicủachính quyền cách mạng,ChủtịchHồChí Minhđãký nhiềuSắclệnh
nhƣ: Sắc lệnh số 33 ngày 13/9/1945; Sắc lệnh số 13 ngày 21/1/1946; Sắc lệnh số 21
ngày 24/1/1946… đểthànhlậphệthống TAởnƣớcta và quiđịnhvềtổchức–hoạt động của các cơ quan này. Cơ sở pháp lý của việc hình thành, phát triển TA làhệ thống các văn bản pháp luật đƣợc Nhà nƣớc ban hành: Đó là HP 1946, HP 1959, Luậttổchức TAND 1960; HP 1980, Luậttổchức TAND 1981; HP 1992, Luậttổchức TAND 1992; các Luật sửa đổi, bổ sungmột số điều củaLuật tổ chức TAND 1992 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 28/12/1993, ngày 20/10/1995 và Luật tổ chức TAND 2002.
Điều63 HP 1946–HPđầutiêncủaNhànƣớctađãquiđịnh:“Cơ quan tƣpháp củanƣớcVNDCCH gồm có: TA tối cao; Các TA phúc thẩm; CácTòa đệnhịcấp và sơ cấp.”
Theo tinh thầncủaĐiều 63 HP 1946 thì“cơ quan tƣpháp”đƣợchiểu là cơquan xét xử. Nhƣ vậy, các TA theo qui định trên của HP 1946 là hệ thống cơ quan duy nhất thực hiện quyền xét xử.
Kếthừa và phát triển những quiđịnhcủaHP 1946, HP 1959(Điều97) quiđịnh:“TANDTCnƣớcVNDCCH, các TANDđịaphƣơng, các TAQS là những cơ quan xét xử của nƣớc VNDCCH.
Tro ng trƣờng hợp cần xét xử những vụ án đ ặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập TA đặc biệt.”
HP 1980 (Điều128) củanƣớc Cộng hò a XHCN Việt Nam khẳngđịnh:
“TANDTC, các TANDđịaphƣơng, các TAQS là những cơ quan xétxửcủanƣớc
21
Cộng hòa XHCN Việt Nam.
Tro ng tình hình đ ặc biệt, hoặc trong những trƣờng hợp cần xem xét nhữngvụán đ ặc biệt, Quốc hội hoặcHội đồng Nhà nƣớccó thể quyết định thành lập TA đặc
biệt…”
HP 1992 (Điều 127) tiếp tục khẳng định: “TANDTC, các TAND địa phƣơng, các TAQS và các TA khác do luật định là những cơ quan xét xử của nƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam.
Tro ng tình hình đ ặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập TA đặc biệt.”
Nhƣ vậy, những qui định của HP năm 1946, 1959, 1980 và HP năm 1992 đều khẳngđịnh:TA là cơ quan duy nhất trongbộmáy Nhànƣớcthựchiện chức năng xét xử: “Xét xử là phương thức, là hình thức thực hiện quyền lực Nhà nước.Đó làhoạtđộngcủacơ quan (TA)đượcnhân danh quyềnlựcNhànước,thểhiệnýchícủaNhànướcđưaramộtphán quyết cuối cùng có hiệulựcbắtbuộcđối vớimột
tranh tụng cụ thể (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính…). Đó là sự biểu thị thái độ trực tiếp của Nhà nước về các vụ việc cụ thể trong các lĩnh vực hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính và lao động” [15. tr.37].
Vai trò của Toà án.
Thứnhất, TA có vai trò “thựchiệnchếđộpháp trị,giữvững vàbảovệ
quyền lợi của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta… ngăn ngừa, trừng trị những kẻâm mưu phá hoạichếđộta, phá hoạilợiíchcủanhândân”[104. tr.18]. Nhƣvậy, TA có vai trò quan trọng trong việc giữ vững trật tự, kỷ cƣơng pháp luật trong xãhội, bảo đảmvà bảovệ đƣợccác quyền và lợi ích cơ bản củ a công dân.Tro ng bài phát biểu của mình, đồng chíĐỗ Mƣời-Tổng bí thƣ BCHTW Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII đã khẳng định:
Tro ng điều kiệnnềnkinh tế thị trƣờng có sự quản lý của Nhànƣớctheođịnh hƣớng XHCN, vai trò của TA là rất quan trọng, góp phần tạo ra tình hìnhổn định, sự an toàn pháp lý cho mọi hoạt động kinh tếvà đờisống dân sự của công dân làm cho nền tƣ phápnƣớcta trở thành công cụ sắcbénbảovệ công lý,bảo vệchếđộ,bảo vệchính quyền,giữgìnkỷcƣơng phépnƣớc[21. tr.167].
22
Vai trò của TAND trong việc bảovệquyền, lợi íchhợppháp của cơ quan, tổchức, côngdân đƣợccụ thểhóa bằng pháp luật (Điều 71-72 HP 1992, Điều 5, Điều 10 BLTTHS năm 2003) của Nhànƣớcta nhƣ sau: Khô ng aibịbắt,nếu không có
quyết định củaTAND… Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chƣa
có bản án kết tội của TA đ ã có hiệu lực pháp luật….
Điều 4 BLTTDS năm 2004 qui định: “Cá nhân,cơ quan,tổ chức do Bộ luật này qui định có quyền khởikiệnvụ ándân sự, yêu cầugiải quyết việc dân sự tại TA có thẩm quyềnđểyêucầuTAbảovệquyền vàlợiíchhợppháp củamình hoặccủa
ngƣờikhác”.
Hoạt động xét xử của TA là ho ạt động nhân danh quyền lực Nhà nƣớcđể thực
hiện: Khi xétxửcácvụviệc hìnhsự,dânsự,kinhtế… Hộiđồngxétxử(HĐXX)
đƣara phán quyết cuối cùng bằngmộtbảnán(đốivớivụviệc hìnhsự)hoặcmột quyết định (đối vớicác vụ việc khác) khô ng phải nhân danh một HĐXX gồm những Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân (HTND) cụ thể nào, cũng không phải nhân danh
TAND huyện, tỉnh… cụ thể nào và càng không phải là nhân danh một cấp xét xử cụthể nào mà là nhân danh Nhà nƣớc CHXHCN Việt Nam để phán quyết.
Xét xử là hoạt động độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật, sự độc lập này thể hiệnở chỗkhi tiến hành hoạtđộngxétxử,TA khôngbịràng buộcbởisựtácđộngcủa bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Đây là sự khác nhau cơ bản vớihoạt động hành pháp, hoạtđộngxétxửkhô ng phải là sựphán quyết trong lĩnhvựcquản lýhành chính Nhà nƣớc của cấp trênvớicấp dƣớimà là hoạt động độc lậpkhô ngphụthuộclẫnnhau trong quá trìnhtốtụng. Xétxửđộclậptứclà khi tiến hành xét xử, HĐXX đƣợcđộc lập đánh giá chứng cứ đã thu thập đƣợc tại phiên tòa, độc lập xem xét các vật chứng, tài liệu có liên quan đếnvụviệc cần giải quyết, các tình tiết của vụviệc, dựa trên cơ sở đó áp dụng đúng, chính xác pháp luật để xét xử và phải chịu trách nhiệm cá nhân trƣớc những phán quyết của mình. Trong mọi trƣờng hợp, pháp luật bảo đảm cho ho ạt động độc lập của TA, căn cứ vào pháp luật để nhân danh Nhà
nƣớcđƣa ra các phán quyết công minh, phù hợpvớipháp luật vàvớichân lý khách quan củavụviệc. Điều 45 Bộ luật hình sự (BLHS) của nƣớc Cộng hò a XHCN Việt Nam qui định: “Khi quyết định hình phạt TA căn cứ vào BLHS” và Điều 17 Bộ luật
23
tốtụng hìnhsự(BLTTHS) năm 2003 quiđịnh:“Khi xétxửThẩm phán và HTNDđộclậpvàchỉtuân theo phápluật”.Nhƣvậypháp luật Nhànƣớctabảođảmđểkhô ng một cơ quan,một tổ chứcnào dù đó là cơ quan lập pháp, hành pháp hay cơ
quan tƣ pháp khác (Viện kiểm sát, Cơ quanđiềutra…) có quyền tácđộngđếnkết quả của phiên tòa và cũng không thể huỷ bỏ hoặc đảo ngƣợcbảnán sau khi HĐXXđãtuyê n.Đâylà những quiđịnhnhằmđảmbảotính khách quan, công bằng trong phán quyết của TA và cũng là đảm bảo quan trọng để quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đƣợc tôn trọng và mọi công dân đều bình đẳng trƣớc pháp luật.Tuy nhiên, pháp luậtnƣớcta có quiđịnhhình thức kháng cáo, kháng nghịvớinhữngbảnán, quyết định mà TA đ ã tuyên nhƣng phải theo một trình tự, thủ tục đƣợc pháp luật quiđịnh để đảm bảo công minh, chính xác, đ úng sự thật khách quan.
Căn cứ pháp lý làm cơ sở cho hoạt động xét xử của hệ thống các cơ quan TA ở
nƣớcta hiện nay là:
– HP, các đạo luật và nghị quyết của Quốc hội (Điều 84 HP 1992).
– Các pháplệnh, nghị quyếtcủaUỷban thƣờngvụQuốchội (UBTVQH)Điều 91 HP 1992.
– Lệnh, quyết định của Chủ tịch nƣớc(Điều 103 HP 1992).
– Các nghị quyết, nghịđịnhcủaChínhphủvà quyếtđịnh,chỉthịcủaThủ
tƣớng Chính phủ (Điều 115 HP 1992).
– Nghị quyếtcủaHộiđồngThẩm phán TANDTC (Điều 22 Luậttổchức TAND 2002).
– Các Thô ng tƣ liên ngành.
Nhƣ vậy, tính chất củahoạtđộngxétxửlà hoạtđộngnhân danh quyền lực Nhà nƣớc để đƣa ra phán quyết, là hoạt động mang tính độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật.
Quyền tƣ pháp đƣợc thực hiện thô ng qua hoạt động tƣ pháp của các cơ quan tƣpháp, trongđóhoạtđộngxétxửcủaTA làbiểu hiệnđặctrƣng nhấtcủaquyền tƣpháp. Hoạtđộngtƣ pháp là lĩnhvựchoạtđộngNhànƣớc,làmộtchỉnhthểthống nhất bao gồm tổnghợpcáchoạt độngkhởitố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
24
củacác cơ quan tƣ pháphợpthành.Ởđó,mỗicơ quan tƣ pháp: Cơ quanđiềutra, Viện kiểm sát, TA, thi hành án và các cơ quan bổ trợ tƣ pháp đều có một vị trí, chức năng, vai trò khác nhau “mỗi một khâu của hệthống tƣ pháp có vị trí độc lập, không thaythếđƣợccho nhau” [90. tr.30], nhƣng chúngđềunằmtrongmộttrìnhtựtốtụng có quanhệ chặt chẽvớinhau, nối tiếp nhau, bổ sung cho nhau nhằm đảmbảo cho việc giải quyết các tranh chấpxảyra trongđờisống xãhộiđúng pháp luật. Tro ng tố tụng hình sự, pháp luật qui định chỉ có cơ quan điều tra,Viện kiểm sát cóquyền khởitốvụán hìnhsự,khởitốbịcan, tiến hành các hoạtđộngđiềutra nhƣ
khám nghiệm hiện trƣờng,hỏicungbịcan,lấylờikhai, khám xét,bắt… chỉcóViện kiểm sátmớicó thẩm quyền truytốngƣờiphạmtộibằngbảncáo trạng ra
trƣớcTA. TA là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xétxửvụán hìnhsự,có quyền phán quyếtmộtngƣờicótộihay không cótộivà có quyền áp dụng hình phạtđối vớingƣờiphạm tội, “không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chƣa
cóbảnánkếttộicủaTAđãcó hiệulựcphápluật”;“… Hình phạtđƣợcquiđịnh trong BLHS và do TA quyết định”. [18. tr.90].
Đốivớicác lĩnhvựctốtụng dânsự,kinhtế,laođộng,ngo ài thẩm quyền xét xử,TA còn có thẩm quyền điều tra, thu thập chứng cứ để đảmbảo cho việc xétxửđúng đắn, khách quan, đúng pháp luật.
Khoản2Điều85Bộluậttốtụng dânsự(BLTTDS) quiđịnh: “… Tro ng
trƣờnghợpđƣơng sựkhô ng thể tự mình thu thập đƣợc chứng cứ và có yêu cầu thì
Thẩm phán có thể tiến hành một ho ặc một số biện pháp … để thu thập chứng cứ”.
Nhƣ vậy, để đƣa ra phán quyết cuối cùng đúng đắn, khách quan, công bằng vàphùhợpvớipháp luật, nhân danh Nhànƣớcvàthểhiện quyềnlựcNhànƣớc,TA phải sử dụng công khai các kết quả của hoạt động điều tra, công tố, bào chữa, giámđịnh (tuy nhiên các tài liệu chứng cứhợppháp thu đƣợctừhoạt động điều tra, cáo trạng truy tố củaViện kiểm sát khô ng phải là sự bắt buộc TA phải tuân theo), phải tuân thủ trình tự, thủ tục tố tụng của Nhànƣớcđồng thờicũng có thể trực tiếp thu thập, xác minh chứngcứkhicầnthiết. Chính vìvậybảnán, quyếtđịnhcủaTA khô ng phân biệt thẩm quyền xét xử đều mang tính quyền lực Nhà nƣớc cho nên nếu khô ng có kháng án, kháng nghị theo qui định của pháp luật thì có hiệu lực thi hành
25
trên toànbộ lãnh thổ của đất nƣớcvà đƣợcđảmbảo thi hànhbởisự cƣỡng chế của Nhànƣớc.Vấn đề này đƣợcHP 1992 (Điều 136) qui định nhƣ sau:“Các bảnán vàquyếtđịnhcủaTANDđãcó hiệulựcpháp luật phảiđƣợccác cơ quan Nhà nƣớc, các tổ chức kinh tế, tổ chứcxã hội, các đơnvịvũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng, những ngƣời và đơn vị hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành”.
Thứhai, TAvớivai trò“là ngƣời trung gian cho việc hòa giải và công nhận sựthỏa thuậncủacácđƣơngsựkhi hò a giải thành bằngmộtQuyếtđịnh” [29. tr.66].
Pháp luậtnƣớcta quiđịnhtrƣớckhi xétxửđốivớimộtsốtranh chấp nhƣtranh chấp kinh tế, lao động, dân sự, hành chính thì các đƣơng sự có quyền hòa giải và TA phải tiến hành tổ chức việc hòa giải giữa các bên tranh chấp. Pháp lệnh thủ
tục giải quyếtvụ ánkinh tế (Điều 2) qui định:“… các đƣơng sự có quyền hòa giải vớinhau”, Điều 5 qui định trách nhiệm hò a giải của TA nhƣ sau: “Trong quá trình giải quyếtvụán, TA có trách nhiệm tiến hành hò a giải để các đƣơng sự thoả thuận
vớinhauvềviệc giải quyếtvụán”và Điều 36 qui định: “… Khi các đƣơng sự thỏa thuận đƣợcvớinhauvềviệc giải quyết vụ án, thì TA lập biên bản hòa giải thành vàra quyết định côngnhận sự thỏa thuận của các đƣơng sựvà quyết định này có hiệu lực pháp luật”.
Pháp lệnhthủtụcgiải quyết tranh chấplaođộngcũng quiđịnhvề“Trách nhiệm hò a giảicủaToàán”(Điều4),về“Hòagiải”(Điều 38);về“Hộinghị hòa giải”(Điều97, 98, 99)đểgiải quyết cuộc đình công. Ngoài ra, các vănbảnpháp luậtvềthủ tụcgiải quyếtvụán dân sự, hành chính, phá sảndoanh nghiệp cũng quiđịnhvề thủ tụchòa giải tƣơng tự nhƣ trên. Theo qui định của pháp luật thì thủ tục hòa giải là bắt buộc khi TA giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, phá sản do anh nghiệp, laođộng,hành chính .Sựthỏa thuận thành củacác bênđƣợccông nhận bằng một Quyết định của TA và có hiệu lực pháp luật buộc các bên phải thi hành. Vì vậy, có thể nói rằng: “Trong quá trình hòa giải giữa các đương sự, ngoài vai tròlàngườihướngdẫn,địnhhướng, giải thích pháp luật cho các bên. TA còn có vai trò như một cơ quan nhân danh Nhà nước pháp luật hóa hay nói cách khác là ghi nhận sự thoả thuận của các bên trong quá trình hòa giải” [22. tr.6 ]
26
Thứ ba, bằng hoạt động thực tiễn của mình, TA có vai trò to lớn trong việc góp phần sửa đổi, bổ sung pháp luật nói chung và pháp luật hình sự, dân sự, kinh tế, lao
động, hành chính… nói riêng. Điềunày đƣợckhẳng địnhbởivì hoạt độngxét xử là
hoạtđộngáp dụng pháp luật“…Nóđượcxem như là nhữngbộphận chuyển tải quyềnlựcNhànướcchứađựngtrong pháp luật vàođờisống xãhội”[28. tr.78].Đây là hoạt động ápdụng pháp luật đặc trƣngvà rất phức tạp đƣợcthểhiện ở chỗ:
TA chỉ căn cứ vào pháp luật mà “Pháp luật là khuôn mẫu của hành vi, là đại lượng bằng nhau cho những cá nhân khác nhau” [47. tr.167] còn thực tiễn luôn phong phú,vận độngvàbiến đổikhô ng ngừng. Cácvụ ánhình sự, những tranh chấp dân
sự, kinh tế, lao động… khác nhau về chủ thể,vềvụviệc, về tính chất,về thờigian,
địa điểm… Bởivậy để có một bản án, một quyết định chính xác, có tính căn cứvàhợp pháp yêu cầu TA (các Thẩm phán) phảidựavào những qui định của pháp luật cùngvớisựphân tích, đánh giá chứngcứ,các tình tiếtcủavụánmộtcách khách quan,đầyđủđểxácđịnhsựthậtcủavụviệc. Thô ng qua hoạtđộngáp dụng pháp luật của TA vào thực tiễn xét xử và giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội sẽ phát hiện những hạn chế, thiếu sót thậm chí cả sự lạchậu của pháp luật để kiến nghị sửa đổi, bổ sung kịp thời, góp phần to lớn vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nƣớcta. Bằnghoạt độngxét xử, TA phát hiện kịp thời những sơ hở, yếu kém của các cơ quan Nhà nƣớc, các tổ chức trong hoạt động của mình, phát hiệ n nguyên nhânđiềukiện phát sinh, phát triểntộiphạmđểkiến nghịvớinhững cơ quan cóthẩm quyền đề ra các biện pháp khắc phục.
Thứtƣ,“Bằnghoạtđộngcủamình, TA gó p phần giáodụccông dân trung thànhvớiTổquốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng những qui tắc của cuộc sống xã hội,ýthứcđấutranhchống và phòng ngừatộiphạm, các vi phạm pháp luậtkhác”[62. tr.3]. Nhƣ vậy, hoạt động xét xử của TA khô ng chỉ nhằm trừng trị ngƣờiphạm tội mà còn nhằm giáo dục, cải tạo họ tuân theo pháp luật, tôn trọng các qui tắc của cuộc sống, ngăn ngừa tình trạng phạm tội và tái phạm.
Thứ năm, vai trò tích cực của TA còn thể hiệnở chỗ thông quahoạt độngxét xử,TA góp phầnphổbiến pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật làm cho mọi ngƣời hiểu biết các qui định của pháp luật, biết nếu không thực hiện đúng những qui định
27
của pháp luật thì sẽ phải gánh chịu hậu quả pháp lý nhƣ thế nào ?
Vai tròphổ biến, giáodụcpháp luật thông qua phiên tòa xétxử củaTA có nhiềuđiểmthuậnlợivàđạthiệuquảcao,bởilẽở đâynêu rõ những quiđịnh cụ thể của pháp luật đƣợcáp dụng, phân tích việc vi phạm pháp luật, cósựtranh luận khi áp dụng pháp luật, phạm vi xétxửcủaTA tƣơngđốirộng, thuộc nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Do vậy, đối tƣợng củaphổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt động củaTA cũng rất rộng, rất đa dạng và việc phổbiến giáo dục pháp luật ở đó đƣợc thực hiện thông qua việc giải quyết mộtvụviệc có thật trong cuộc sống. [19. tr.126].
Nhƣ vậy, hoạt động xét xử của TA gó p phần tích cực làm cho mọi ngƣời trong xãhộihiểu biết pháp luậtđểtựđiềuchỉnh hành vi củamình theo những quiđịnh hiện hành củapháp luật,đểtránh vi phạm pháp luật vàmỗingƣờiđềucóthểsửdụng pháp luật nhƣmộtvũ khí quan trọng trong cuộcđấutranh phòng chống tội phạm, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
1.2- CÁC NGUYÊNTẮCCƠ BẢN VỀTỔCHỨC VÀ HOẠTĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TOÀ ÁN.
1.2.1- Một số nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Toà án trong nhà nƣớc tƣ sản.
Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nƣớclà những tƣ tƣởng chỉđạobắtnguồntừbảnchấtNhànƣớc,tạothành những cơ sở cho việctổchức vàhoạtđộngcủatấtcảcác cơ quan Nhànƣớc,củatừngbộphậncủabộmáy Nhà
nƣớc. Một trong những nguyên tắc cơ bản của việc tổ chức bộ má y Nhà nƣớc tƣ sản là nguyêntắcphân chia quyềnlựcgiữahệthống các cơ quanlậppháp, hành pháp và tƣ pháp.Vớivị trí là cơ quan độc lập trong bộ máy Nhà nƣớc của các nƣớcđƣợc thành lập để thực hiện quyền tƣ pháp (quyền xét xử), TA đƣợctổ chức theo những nguyên tắc nhất định. Cơ sở của những nguyên tắc này xuất phát từ tính đặc thù của hoạt động xét xử, là một bộ phận của quyền lực Nhà nƣớc, TA nhân danh quyền lực Nhà nƣớc để xét xử, đƣa ra phán quyết nhằm bảo vệ trật tự pháp luật,bảovệ quyền vàlợiíchhợpphápcủaNhànƣớc,tậpthểvà công dân khi cósựvi phạm: Chính
28
những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống TA là điều kiện quyết định đểhoạt động xétxử củaTA đƣợccông bằng, khách quan. Nguyên tắc tổ chức và hoạtđộngcủaTAđƣợcpháp luậtmỗinƣớcquiđịnhcósựkhác nhau, song có những nguyên tắc phổ biến sau:
Thứnhất: Nguyêntắcđộclậpvàchỉtuân theo pháp luậtcủaTA trong hoạtđộng xét xử.
Nguyêntắcnày nhằmbảođảmtính khách quan, vô tƣ, công bằng và đúng pháp luật trong hoạt động xét xửvớimục đích tạo sự công bằng và bình đẳng trong mọi quan hệ xã hội của mọi ngƣờitrƣớcpháp luật.
Pháp luật cácnƣớcđảmbảonguyêntắcnày bằng cáchtạoramộtcơ chếđểkhô ng một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào từ phía cơ quan lập pháp hay hành pháp có thể can thiệp, tác động vào hoạt động xét xử của TA. Bởi vậy, muốn đƣa ra phán quyết công bằng,trƣớchếtTA phảiđộclậpvềmặttổchứcvớicác cơ quan khác. “Sự độc lập của TA đối với các cơ quan Nhà nước khác, với các nhóm áp lực xã hội
(đảng phái, tôn giáo…) là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của một chế độpháp trị, một NNPQ” [83. tr.3 ].
Cuộcđấutranhđểquyền tƣ phápđộclậpvớiquyềnlậppháp và quyền hành phápđãdiễn ratừthờikỳcách mạng tƣsảnnhƣngđếnnayvẫnchƣa chấm dứt:
“Dovậyviệcđấutranh chođộclậpcủaTA làmộtthành quá đáng“kínhtrọng” của chế độ tư sản. Và cho đến nay, cuộc đấu tranh để cho hoạt động xét xử của TA
hoàn toàn độc lập trước lập pháp và hành pháp vẫn còn đang tiếp diễn và… cũng gặp không ít những khó khăn” [18. tr.169].
Nguyên tắcbảo đảm sự độc lập củaTA đƣợcthể hiện trƣớc hết ở chỗ HP của các Nhànƣớctƣsảnđềuphânđịnhrõ ràng trách nhiệm và thẩm quyền giữahệthống các cơ quan: lập pháp, hành pháp và tƣ pháp, chínhnhờ sựphân định này màtínhđộclậpcủaTA càngđƣợcbảođảm.Điều64 HPcủaĐệngũ Cộng hò a Pháp quốc năm 1958 quiđịnh:“Tổngthống bảođảmsự độclậpcủacơ quan tư pháp” [36. tr.41]. Điều 3 kho ản 1 HP Hợp chủng quốc Ho a Kỳ 1787 ghi nhận:“Quyền tưpháp Hợp chủng quốc sẽ được trao cho một tối cao pháp viện”[12. tr.590]. Điều 61 HPThuỵ Điểnnăm 1974 qui định: “TA tối cao là cơ quan xét xử cao nhất vể pháp
29
luật chung” [37. tr.38].Điều10 HP Liên bang Nga quiđịnh:“Các cơ quan của quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là độc lập”[35. tr.5].
Nội dung thứ hai của nguyên tắc độc lập của TA trong hoạt động xét xử là HP và pháp luật củacácnƣớcđềuquiđịnhnhữngđiềukiệnbảođảmcho các Thẩm phán xét xử độc lập, khách quan, vô tƣ và chỉ tuân theo pháp luật. Điều 103 HP năm 1987 của Hàn Quốc qui định:“CácThẩm phán độc lập quyết định theo lương tâm củahọvà tuân theo HP, phápluật”.[33. tr.47].Điều76 HP NhậtBảnnăm 1946 cũng qui định nội dung tƣơng tự nhƣ trên: “Các Thẩm phán xét xử theo lương tâm và phải tôn trọng HP và pháp luật một cách triệt để” [12. tr.588]. Điều 64 HP củaĐệNgũ Cộng hòa Pháp Quốc năm 1958 khẳngđịnh:“Mộtđạoluật biênchếấnđịnh qui chế của Thẩm phán. Các Thẩm phán xét xử có tính cách bất di bất dịch” [36. tr.41]. Điều 97 HP Cộ ng hòa Liên bang Đức năm 1959 qui định: “Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [32. tr.65]. Để thực hiện nguyên tắcbảođảm quyền tƣ pháp độc lập với quyền lập pháp và hành pháp, khi xét xử Thẩm phánđộc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật đã đƣợc HP của các Nhà nƣớc qui định nhƣ trên,
thểchếhóa những quiđịnhcủaHP, pháp luật cácnƣớcđềucó quiđịnhnhững cơ chế khác nhau phù hợpvớiđiều kiện chính trị, kinh tế của mọi nƣớc.
Đểnâng cao tínhđộclậptrong hoạtđộngxétxử,pháp luật cácnƣớcđềucónhững qui định để bảo đảm cho cácvịThẩm phánmột chế độbổnhiệm và nhiệm kỳdài hoặc suốt đời. Ở Hàn Quốc, Thẩm phán TA tối cao do Tổng thống bổ nhiệm vớisựđồngýcủaNghịviện,ở Hợpchủng quốc HoaKỳthì Thẩm phán do Tổng thống đề cử, Quốc hội chuẩn y. Ở Nhật Bản, Chánh án TA tối cao do Nhật hoàng bổnhiệm, các Thẩm phán TAtốicao và Chánh án TA cao cấpdo Chínhphủcửvà
đƣợcNhật hoàng phê chuẩn. Thẩm phán TA cấp dƣớido Chínhphủbổ nhiệm trên cơ sở danh sách trích ngang của Hội đồng Thẩm phán TA tối cao.TạiVƣơng quốc Anh, theo đề nghị của Chính phủ, nhà Vua và Chủ tịch Thƣợng Nghị viện ra quyếtđịnh bổnhiệm Thẩm phán [42. tr.25].Ở nƣớcta Quốc hội bầu Chánh án TANDTC theo nhiệm kỳ của Quốc hội; Chủ tịch nƣớc bổ nhiệm Thẩm phán TANDTC. Chánhán TANDTCbổnhiệm các Thẩm phán TANDđịaphƣơng, TA quân khu và khu vực vớinhiệm kỳ 5 năm.
30
Vềnhiệmkỳ củaThẩm phán, pháp luật các nƣớc cũng có qui định khác nhau.
Ở HànQuốc, NhậtBản… Thẩm phán giữ chứcvụnày trong 10 năm. Bên cạnh đó,
một số nƣớcnhƣ Achentina, Brazin, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Hungari, Ba Lan… thì Thẩm phánđƣợcbổnhiệm vàgiữchứcvụsuốtđờinếukhô nglạmdụng công quyền vàvẫngiữđƣợcđạođứctốt.Điềunàyđƣợcthểhiện trong HPHợpchủng
quốc Hoa Kỳ (Điều 3 khoản 1):“… các pháp quan tối cao pháp viện và của những phápviện hạ cấp sẽgiữ chức vụ của mình vĩnhviễn nếu lúc nào cũng có một hành vi chính đáng vàgiữđƣợchạnh kiểm xứng đáng. Vàsẽcó quyềnhƣởngtrong những kỳ hạn nhất định một trợ cấp sẽ không bao giờ bị sút giảm suốt trong thờikỳtại chức”.Về điều này, các luật gia Hợp chủng quốc Hoa Kỳ giải thích rằng sự bổnhiệm các Thẩm phánvớinhiệm kỳ lâu dài là yếu tố quan trọng để duy trì tính độc lập của TA và để giúp các Thẩm phán có thời gian tích luỹ kiến thức, nâng cao trìnhđộ nghề nghiệpbởivì hoạt động xét xử của Thẩm phán là hoạt động tƣ duy và pháp luật ngày càng đa dạng và khô ng ít phức tạp. Mà tƣ duy của con ngƣời:“Thƣờng bịảnh hƣởng bởinhững ngo ại cảnh nhƣ dƣ luận xã hội, các sức ép của các thế lực Nhà
nƣớc, tôn giáo, đảng phái và gay gắt của các đƣơng sự. Công lý theo cách nói của
các luật gia La mã thì đó là tập quán của ý chí… Do đó nếu không có sự độc lập thìphán quyết củaThẩm phán có thể sẽ không khách quan, hành vi nói luật sẽ không thể là sự phân phát công lý [12. tr.261]. Tuy nhiên, ở một số nƣớc Thẩm phán đƣợc bầu theo nhiệmkỳ. ỞThuỵSỹ,Thẩm phán TA liên bang đƣợc nghị viện bầu trong nhiệm kỳ là 6 nămvà có thể đƣợcbầu lại. ỞTrung Quốc, Thẩm phán TA các cấp do HĐND cùng cấp bầu theo nhiệm kỳ của HĐND là năm năm.
Ngo ài ra, pháp luậtcủacácnƣớcquiđịnhtuổi nghỉ hƣucủaThẩm phán cao hơnở nƣớcta.ỞHàn Quốc, pháp luật có những quiđịnhkhác nhauvềtuổi nghỉ
hƣucủaChánh án và Thẩm phán (vídụ:Chánh án TAtốicao nghỉ hƣuở tuổi 70 , Thẩm phán TA tối cao nghỉ ở tuổi 65; Chánh án TA cấp cao nghỉ ở tuổi 63, những Thẩm phán khác nghỉ hƣu ở tuổi 60). Riêng ở Nhật Bản, Ba Lan lại qui định Thẩm
phán TAtốicao và TA caocấpnghỉ hƣuở tuổi 70; Thẩm phán TA cấpquận–huyện nghỉ hƣu ở tuổi 65. Bên cạnh đó pháp luật các nƣớc đều qui định Thẩm phán có đặc quyền là không thểbịbãi miễn, sa thải nếu khô ng có hành vi vi phạm công
31
quyền và đ ạo đức nghề nghiệp của ngƣờiThẩm phán.
Pháp luật một số nƣớc nhƣ Hàn Quốc, Liên bang Nga còn có cơ chế bảođảm sự độc lập củaThẩm phán trong hoạt động xét xử bằng việc qui định tính trung lập vềchínhtrịcủacác Thẩm phán TA và Cô ngtốviên,tứclàhọkhô ngđƣợcquyền tham giabấtcứmộtđảngphái chínhtrịnào.Điều11 khoản 3 HPcủaLiên bang Nga năm 1994 qui định về TA HP của Liên bang Nga; Điều 4 khoản 4 Luật về Viện kiểm sát Liên bang Nga năm 1995 đều qui định tiêu chuẩn phi chính trị đối với các quan chức làm việc trong lĩnh vực tƣ pháp.
Nhƣ vậy, việc qui định Thẩm phán độc lập và chỉ tuân thủ pháp luật khi thực hiện hoạtđộngxétxửlàđểtạođiềukiện giúp Thẩm phán tránhđƣợcmọiáp lực, mọi “sự điều khiển” từ phía các cơ quan lập pháp, hành pháp và các quan chức Nhà
nƣớckhác cũng nhƣ từ TA cấp trên trực tiếp của mình. Đồng thời, những qui định này còn làsựtácđộngđếncác Thẩm phán phải nâng cao nănglựcxétxử,tựchịu trách nhiệm cá nhân và cũng làđểhạnchếviệclợidụng quyềnlựcNhànƣớccủa các Thẩm phán.
Thứ hai, hệ thốngTA đƣợcthành lập theo nguyên tắc thẩm quyền xétxửhai cấp hoặc căn cứ vàođối tƣợng xét xử.
Hệthống TAở hầuhếtcácnƣớctrênthếgiớiđềuđƣợcxáclậptrên nguyên tắcthẩm quyền xétxử:Sơ thẩm, phúc thẩm và giámđốcthẩm (phá án). Theo nguyên tắc này, hệ thống TA ở các nƣớcgồm có:
TA sơ thẩm (Tò a cấpthấp) có thẩm quyền giải quyết cácvụviệc ít nghiêm trọng và không phức tạp.
Tò ađệnhịcấp(Tò acấptrung) có thẩm quyền giải quyết cácvụviệc quan trọng, phức tạp và xét xử phúc thẩm (xét xử lại) đối với các bản án, các quyết định
chƣa có hiệu lực pháp luật của TA sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị.
Tò a thƣợng thẩm (Tòa cấp cao) là cơ quan xét xử cao nhất của mộtquốc gia, có thẩm quyền xétxửgiámđốcthẩm (phá án) cácbảnán, các quyếtđịnhcủaTA cấpdƣớicó hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và thực hiện chức năng hƣớng dẫn áp dụng pháp luật, thô ng thƣờng những quyếtđịnhcủaTò a thƣợng thẩm là chung thẩm.
32
Mô hình chungcủahệthống TA cácnƣớclàđƣợctổchức theo thẩm quyền xétxửphân thành nhiềucấptừthấpđếncao.Điều nàyđƣợcminh chứng bằng cơ cấu tổ chức hệ thống TA ở các nƣớc nhƣ sau:
Ở Trung Quốc:
– TAcấphuyệnđƣợcthànhlậpở tấtcảcác huyện vàcấptƣơng đƣơng, cóthẩm quyền xét xử cácvụán hình sự có mức hình phạtdƣới15 năm tù, trừ những vụ việc thuộc thẩm quyền của TA trung cấp;
– TA trungcấpđƣợcthànhlậpở tấtcảcác thànhphốthuộc tỉnh, có thẩm quyền:
+ Xétxửsơ thẩm nhữngvụán hìnhsựliên quanđến“cáctộixâm phạm an ninh quốc gia”.
+ Xét xử những vụ án mà bị cáo là ngƣờinƣớcngoài.
+ Xét xử những vụ án khác có mức hình phạt từ 15 năm tù trở lên.
+ Xét xử phúc thẩm những vụ án của TA cấp huyện có kháng cáo, kháng nghị. – TA cấpcaođƣợcthànhlậpở tấtcảcác tỉnh, thànhphốtrực thuộc Trung
ƣơng, khu tự trị, có thẩm quyền:
+ Xétxửsơ thẩm nhữngvụán hìnhsựmàhậuquảgâyảnhhƣởngnghiêm trọng trong khu vực.
+ Phúc thẩm nhữngbảnán sơ thẩm củaTA trung cấpcó kháng cáo, kháng nghị.
– TAtốicao xétxửsơ chung thẩm nhữngvụán hìnhsựcóhậuquảlớngây
ảnhhƣởngđếntoàn quốc; phúc thẩm nhữngbảnán sơ thẩmcủaTA cấpcao có kháng cáo, kháng nghị.
Ở Liên bang Nga:
Hệ thống TA ở Cộng hoà Liên bang Nga đƣợctổ chứcnhƣ sau:
– TA cấp quận, huyện có thẩm quyền xét xử mọi tội phạm trừ những tội phạm thuộc thẩm quyền xét xử của TA cấp trên hoặc TAQS;
– TA khu, tỉnh, thànhphốcấptỉnh, tỉnhtựtrị, khutựtrị,Cộng hòatựtrịcóthẩm quyền xét xử sơ thẩm những vụ án thuộc thẩm quyền và xét xử phúc thẩm các bản án của TA cấp quận, huyện bị kháng cáo, kháng nghị.
33
– TA tối cao Liên bang Nga có thẩm quyền:
+ Xét xử sơ thẩm nhữngvụán đặcbiệt phức tạp, hoặc có ýnghĩa xã hội đặc biệt mà TA tối cao tự lấy lên để xét xử hoặc theo đề nghị củaTổng kiểm sát trƣởng (Viện trƣởng), Phó Tổ ng kiểm sát trƣởng Viện kiểm sát nhân dân (Phó Viện trƣởng) Liên bang Nga.
+ Phúc thẩm cácvụán của TA tối cao cácnƣớccộng hòa tự trị, TA khu vực, TA tỉnh, TA thành phố; TA tỉnh tự trị.
+ Giám đốc thẩm các bản án đã có hiệu lực pháp luật [80. tr.58 -63]. Hệ thống TA ở Vƣơng quốc Anh gồm có:
– TA cấp thấp là TA cấp quận, huyện có thẩm quyền xét xử những tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt áp dụngvớicác loại tội phạm đó là dƣới 12 tháng tù giam. TA cấp thấp chỉ có thẩm quyền trong phạm vi địa hạt của mình, việc xét xửở Tòacấpnày chỉdomộtThẩm phánđảmnhiệmchứkhô ng cósựtham giacủađoàn bồi thẩm.
– Tò a hoàng gia là TA xét xử sơ thẩm tất cả cácvụán có cáo trạng và khi xét xử có đoàn bồi thẩm tham gia.
-ỞVƣơng quốc Anh, theo quiđịnhcủapháp luật thì Tò a phúc thẩm và TA cấp cao đều là TA cấp cao và Thẩm phán của hai Tò a này là tƣơng đƣơng nhau.
+ TA cấp cao (Tòa của Nữ Hoàng Anh) thụ lý kháng cáo, kháng nghịvềdân sự do Tò a cấp thấp (quận, huyện) chuyển lên. TA cấp cao khi xétxửbắt buộc phải có sự tham gia của đoàn bồi thẩm.
+ Tò a phúc thẩm (ở Vƣơng Quốc Anh chỉ có duy nhất một tòa phúc thẩm) cóthẩm quyền xétxửcácvụán có kháng cáo, kháng nghị do Tò a Hoàng gia chuyển lên trừ trƣờnghợpTò a Hoàng gia tuyên bị cáo vô tội thì Tòa phúc thẩm khô ng cóquyền sửabảnán mà chỉ đƣợcquyền hoặc là y án của Tò a Hoàng gia hoặc nếu cócăn cứ thì tuyên bị cáo phạm tội và trả lại toànbộ hồ sơ vụán để thụ lý, điều tra lại [71. tr.27-28].
Qua việc nghiên cứu hệ thống TA của một số nƣớcđã trình bày ở trên có thểthấyđiểmchung nhấtcủahệthống TA cácnƣớclàđềuđƣợctổchứcdựatrên nguyên tắc thẩm quyềnxét xử tức là đƣợcphân chia theo cáccấp độ khácnhau từ
34
cấp thấp đến cấp cao. Cấp thấp nhất bao giờ cũng đƣợc qui định có thẩm quyền xét xử cácvụviệc đơn giản hoặc giá trị tài sản bị xâm hại thấp; Cấp thứ hai phúc thẩm các bản án của cấp thấp khi có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm nhữngvụviệc phức tạp và quan trọng; Cấp cao nhất có thẩm quyền phúc thẩm các bản án của cấp thứhai khi có kháng cáo, kháng nghị và giám đốc thẩm tất cả cácbảnán đ ã cóhiệu lực pháp luật. Tuy vậy tuỳ thuộc mỗi quốc gia và thậm chí cả trong từng giaiđoạnphát triển của một quốc gia thì việc tổ chức bộ máy Nhànƣớctrong đó có hệthống cơ quan TA cũng có những thayđổinhấtđịnhđểphùhợpvớinhữngđiều
kiện kinh tế – chính trị – xã hội… ở thờikỳ đó.
Hệ thống TA ở cácnƣớckhông chỉ đƣợcthành lập dựa trên nguyên tắc thẩm quyền xét xử mà còn căn cứvào đối tƣợngvà lĩnh vực xét xử. Sở dĩ nhƣvậybởivìxã hội ngày càng phát triểnvềkinh tế thì Nhànƣớccàng phải quan tâm đến những
vấn đề nhƣdân chủ, văn hóa, trật tự an toàn xã hội… Các quan hệ xã hội ngày thêm phong phú,đòihỏipháp luật phảiđƣợcban hànhđểđiềuchỉnhkịpthời. Trong quátrình thực thi pháp luật không thể tránh khỏi những tranh chấp, khiếu kiện không chỉđơnthuần trong lĩnhvựchìnhsự,dânsựnhƣtrƣớc đâymà còn trong nhiều lĩnhvực
khác nhƣ kinhtế,laođộng,hành chính, thƣơngmại… Dovậycầnphải thành lập các Tòa chuyên tráchđểxétxửnhữngvụviệcở các lĩnhvựckhác nhaucủađời sống xã hội.
Việc thành lập các Tò a chuyên trách chủ yếu theo hai mô hình sau:
Thứnhất, bên cạnhhệthống TA tƣ pháp ngoài Tò a hìnhsự,Tò a dânsựcòn thành lập thêm các Tòa chuyên trách nhƣ Tò a kinh tế, Tò a hôn nhân gia đình, TA vị
thành niên, TA HP, Tò a hành chính… Các Tòa chuyên trách nàynằmtronghệthống Tòa tƣ pháp và do TA caocấptrực tiếp lãnhđạovà quản lý.Điểnhình của mô hình này là TA Trung Quốc, Vƣơng quốc Bỉ, Tây Ban Nha, Thuỵ sĩ và các nƣớc Châu Phi nói tiếng Pháp.
Thứ hai, Tò a chuyên trách (còn gọi là Tòa đặc biệt) đƣợcthành lập và tổ chứcđộc lập vớinhau và độc lập vớihệ thống TA tƣ pháp nhƣ ở Pháp, Đức, Áo , Hà Lan, Italia, Thuỵ Điển và một số nƣớc châu Mỹ La tinh nhƣ Mêxicô, Colombia, Uruguay, P anama.
35
ỞCộng hòa Pháp, bên cạnhhệthống TA tƣ pháp còn cóhệthống TA hành chính độc lập để chuyên xét xử cácvụ kiện hành chính. Cƣơng vị cao nhất của Tò a hành chính thuộcvềTham chính việngồmhơn một trăm Thẩm phán và nhân viên
đƣợcchia thành 5 ban: Một ban phụ trách việc kiểm soát hành chính và phán quyết, bốnbanphụtrách việc tƣvấnđểgiúp Chínhphủgiải quyết các công việc hành chính. Hiện nay (từ 1954 đến nay) ở Cộng hòa P háp có 23 TA hành chính, chủ yếu xét xử cácvụ kiệnhành chính. Tham chínhviện giữ vai trò phúc thẩm và kiểm soát các Tòa cấp dƣới. Tuy vậy với một số vấn đề liên quan đến quyền lợi của công chức thì Tham chính viện vẫn có thẩm quyền xét xử sơ thẩm. [81. tr.16].
ỞCộng hoà liên bang Đức thành lập 5 hệ thống TA độc lập, ngoài ra còn cóTA HP liên bang. HP Cộng hòa Liên bang Đức năm 1959 (Điều 95) qui định:“Đối với các lĩnh vực chung, hành chính, tài chính, lao động và xã hội, liên bang thành lập TA tối cao bao gồm TA liên bang tối cao, TA hành chính liên bang, TA tài chính liên bang, TA lao động liên bang và TA xã hội liên bang.” [32. tr.50].
Nhƣvậyhệthống TAở cácnƣớcđƣợctổchức theo nguyêntắcthẩm quyền xét xử hoặc căn cứ vào đối tƣợng, lĩnh vực xét xử.
Ở nƣớcta, Luật tổ chức TAND năm 2002 khẳng định mô hình TAND ở nƣớc ta vẫn theo cấp hành chính, đó là TAND cấp huyện, TAND cấp tỉnhvà TAND tối cao, tuyvậyviệc phânđịnhthẩm quyềncủaTAND cáccấphiện nay chƣa phải làđã phù hợp. Vấn đề này sẽ đƣợctrình bày ở các chƣơng sau.
1.2.2- Các nguyêntắctổchức và hoạtđộngcủahệthống Toàánởnƣớc ta.
Bộ máy NhànƣớcCHXHCNVN đƣợctổ chứcvà hoạt động dựa trên những nguyên tắc Hiến định cơ bảnnhƣ: Nguyên tắc Đảng lãnh đạo (Điều 4); nguyên tắc tập trung dân chủ (Điều 6) [31. tr.124]; nguyên tắc pháp chế XHCN (Điều 120) [29. tr.126]. TAND là một bộ phận quan trọng của bộ máy Nhà nƣớc CHXHCNVN, bởi vậyviệc tổ chức vàhoạt động củaTAND không thể khô ng tuân thủ những nguyên tắc chung và cơ bản nêu trên. Bên cạnh đó, việc tổ chức và hoạt động củaTAND cónhững nguyêntắcriêngđặcthù củamình. Những nguyêntắcnày có vai trò quan trọng trong việctổchức và hoạtđộngcủaTAND, trong việcbảođảmđểTAND
36
thực hiện tốt chức năng củamình và thực hiện có hiệu quả những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN Việt Nam. Các nguyên tắc đó là:
Thứ nhất: Nguyên tắc TAxét xử đảmbảomọi công dân đều bình đ ẳng trƣớc pháp luật.
Là NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân, tính dân chủ xuyên suốt trong mọi hoạtđộngcủabộmáy Nhànƣớc,trongđócó hoạtđộngxétxửcủaTA.Đâylànguyên tắchiến định thểhiện tính dân chủ XHCN ở nƣớcta. Bản HP đầu tiên của Nhànƣớcta (HP 1946 – Điều 7) đã qui định: “Tất cả công dân Việt Nam đều bìnhđẳngtrƣớcpháp luật,đềuđƣợctham gia chính quyền và công cuộc kiến quốctuỳtheo tài năng và sức mạnh của mình”. HP 1959 (Điều 22) qui định: “Công dân nƣớc VNDCCH đều bình đẳng trƣớc pháp luật”. HP 1980 (Điều 55) tiếp tục khẳng định:
“Mọicông dânđềubìnhđẳngtrƣớcphápluật”và HP 1992sửađổi,bổsung năm 2001 khẳng định một lần nữa vấn đề này tại Điều 52.
Luậttổchức TAND năm 2002thểchếhóa HP, quiđịnhcụthểnộidung nguyên tắc này tại Điều 8: “TA xét xử theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng
trƣớcpháp luật, khô ng phân biệt nam,nữ,dân tộc, tín ngƣỡng, tôn giáo, thành phần xãhội, địavịxã hội, cá nhân, cơ quan, tổ chức, đơnvịvũ trang nhân dân và các cơ sở sảnxuất kinh doanh thuộcmọithành phần kinhtếđềubìnhđẳngtrƣớcpháp luật”.Đểbảođảmnguyêntắcnàyđƣợcthực hiện, báo cáo chínhtrịcủaBCHTWĐảng Cộng sản Việt Nam tạiĐạihội Đảng cộng sản lần thứVI đã chỉ rõ: “Không ai được phép dựa vào quyền thế để làm trái pháp luật. Mọi vi phạm đều phải xử lý, bất cứ ai phạm pháp đều đưa ra xét xử không được làm theo kiểu phong kiến: Dân thì chịu hình pháp, quan thì xử theo lễ”.[21. tr.87].
Tro ng tố tụng hình sự, mọi hành vi phạm tội không phân biệt ngƣời phạm tội
là công dân hoặcnguyên là “quanchức”nhànƣớc… đềuđƣợcTA xétxửcông khai, nghiêm minh, khô ngđặcquyền chobấtkỳai. Cácbịcáođềucó quyền vànghĩa vụ nhƣ nhau trong việc khai báo cũng nhƣ phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của những tài liệu, chứng cứ đƣa ra.
Tro ng lĩnh vực kinh tế, khi tham gia vào các hoạt động kinh doanh các chủ thểđềucó quyền nhƣ nhauđểbảovệlợiíchhợpphápcủamình và có nghĩavụnhƣ
37
nhau trƣớc TA. TA tiến hành xét xử công bằng, đúng pháp luật, bảovệ đầy đủ,kịp thời quyền vàlợiíchhợppháp củacác bên tranh chấp,đảmbảomọithành phần kinh tế đều bình đẳng trƣớc pháp luật.
Thực hiệ n nguyên tắc To à án đảm bảo mọi công dân bình đẳng trƣớc pháp luật là để thực hiện nguyên tắc dân chủ XHCN, mọi sự vi phạm nguyên tắc này đều dẫnđến phávỡ tính thống nhất của nguyên tắc pháp chế XHCN và hậu quả tấtyếuxảy ra sẽ là sự xét xử không công minh. Đây chính là nguyên nhân dẫn đế mất niềm tin của nhân dân đối với hoạt động của Toà án và đối vớiNhà nƣớc.
Thứhai: Nguyêntắcviệc xétxửcủaTAND có HTND tham gia. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
NgaytừbảnHPđầutiên năm 1946(Điều65) nguyêntắcnàyđãđƣợcthểhiện nhƣ sau: “Tro ng khixửviệc hình thì phải có Phụ thẩm nhân dân để hoặc tham gia ýkiến nếu là việc tiểu hình hoặc cùng quyết địnhvớiThẩm phánnếu làviệc đại hình”.Đến HP 1959(Điều99), HP 1980(Điều130) và HP 1992 cũngđềukhẳngđịnh “Việc xét xử của TAND có HTND, của TAQS có Hội thẩm quân nhân (HTQN) tham gia theo quiđịnhcủapháp luật. Khi xétxử,Hộithẩm ngang quyền vớiThẩm phán”.
Vềnộidungcủanguyêntắc“khi xétxử,Thẩmphán vàHộithẩmđộclậpvàchỉ tuân theo pháp luật” đƣợc nhận thức theo những khía cạnh sau đây :
– Khi xétxử,Thẩm phán vàHộithẩmđộclậpvàchỉtuân theo pháp luật, khô ng chịusựchỉđạocủabấtkỳcơ quan Nhànƣớcnào. Các cơ quan Nhànƣớc khô ng can thiệp vào những vụ án cụ thể mà To à án xét xử.
– Trong quan hệ giữa Toàán các cấp, khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập, không chịu sự chỉ đạo củaToàán cấp trên. Đây là một tƣ tƣởng quan trọng, làcơ sở lý luận điều chỉnh mối quanhệgiữa To à án các cấpvớinhau khi xét xử các vụán. Trên phƣơng diện xây dựng pháp luật, đây chính là một trong những cơ sở lýgiải tại sao To à án cấp trên không có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với bản án vàquyết định sơ thẩm c hƣa có hiệu lực pháp luật của To à án cấp dƣới.
– Khi xétxử,Thẩm phán vàHộithẩmđộclậpvàchỉtuân theo pháp luật, khô ng bị chi phối bởi áp lực dƣ luận. Dƣ luận về vụ án mà To à án đ ang xét xử chỉ là
38
một cơ sở để Toà án xem xét khi ra bản án và quyết định.
– Khi xét xử, Thẩm phánvà Hội thẩm độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật, tínhđộclậpnàythểhiện trong quanhệgiữa các thành viên HĐXXvớinhau,thểhiện qua việc Hội thẩm có ngang quyền nhƣ Thẩm phán, mỗi thành viên trong HĐXX cóquyền độc lậpkhi quyết định cá nhânvề mỗivấn đề trongvụán, và mặc dù bản án
đƣợcban hành trên cơ sở ý kiến của đ a số nhƣng cácýkiến thiểu số đƣợcbảo lƣu bằng văn bản trong hồ sơ vụ án.
– Trongmốiquanhệgiữa các cơ quan tƣ phápvớinhau, nhất là giữa Toà án vớiViện kiểm sát, nguyêntắckhi xétxử,Thẩm phán vàHộithẩmđộclậpvàchỉtuân theo pháp luật có nội dung qui định khi xét xử, To à án khô ng lệ thuộc vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ ánmà phải xét xử công khai, toàn diện các vấn đề trên cơ sở các chứng cứ đ ã có và chứng cứ mớiphát sinh tại phiên toà. Khi đánh giávềvụán, To à án khô ng hoàn toàn bị lệ thuộc vào quan điểm củaViện kiểm sát (tất nhiên tuỳtheomỗiquanhệpháp luậttốtụng mà Toàán có quyền quyếtđịnhkhác nhau vềvụ án trong tƣơng quan với quan điểm của Viện kiểm sát).
Những nội dung nêu trên [87 tr.16-18] là những biểu hiện cơ bản của nguyên tắc khi xét xử, Thẩm phán vàHội thẩm độc lậpvà chỉ tuân theo pháp luật. Việc quiđịnh nguyên tắc này có ý nghĩa nhằm bảo đảm tính khách quan trong hoạt độngxét xử, bảo đảmviệc ban hành những bản án và quyết định của Toà án có căn cứ, hợp pháp, thông quađóbảovệquyền vàlợiíchhợpphápcủacông dân,bảovệtrậttựpháp luật XHCN. Việc quán triệt nguyêntắcnày cóýnghĩa trên phƣơngdiện xây dựng và áp dụng pháp luật.
Tuy nhiên cả trên phƣơng diện lý luận cũng nhƣ thực tiễn, đã và đ ang đ ặt ra vấnđềcầnnhận thức đúngvềnguyêntắckhi xétxử,Thẩm phán vàHộithẩm xét xửđộclậpvà chỉtuân theo pháp luật. Nguyêntắcnàycầnđƣợcnhận thứcđúng trong quanhệgiữa chức năng xétxửcủaToàánvớichức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát (trong quan hệ pháp luật TTHS) thể hiện qua chế địnhvề“giớihạncủaviệc xétxử”.Nguyêntắcnàycầnđƣợcnhận thức trong quanhệvới vấn đề hạn chế độc quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền hạn khi xét xử, nói cách khác là cầnbảo đảmnguyên tắc giám sát đối vớihoạt độngxét xử, nhất là trong quan hệ
39
giữa tính độc lập của Thẩm phán và Hội thẩm khi xét xửvớinguyên tắc Toà án cấp trên giámđốcviệc xétxửcủaToà áncấpdƣới,và trong quanhệvớichức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét xử củaViện kiểm sát. Không thể không thừa nhậnmộthiệntƣợnglà trong khi xétxử,mặcdù pháp luật không cho phép
nhƣng trƣớc khi xét xử, Thẩm phánvẫn cầmhồ sơ vụán lên “xinýkiến” củaToàán cấp trên, để đề phòng“nhỡ khi cóvấn đề” thìTo à án cấp trên khô ng lôivụviệcđó ra để“giám đốcviệc xét xử”. Pháp luật dù có nghiêm đến đâu nhƣng việc thực thi pháp luật lại qua những con ngƣờicụ thể đang sống trong những điều kiện kinh
tế – xã hội cụ thểnênvấn đề đặt ra là phải hạn chế xuhƣớng độc lậpdẫn đến độc quyền,lạmquyền. Pháp luật làđạilƣợngchung vàphổbiến chomọingƣờikhác nhau trong xã hội, pháp luậtđƣợcban hành khô ng phải làđểdành riêng cho từng
trƣờng hợpcụ thể.Thẩm phán phải áp dụng những điều kho ản đó cho từng trƣờng hợp cụ thểxảy ra trong đời sống xã hội. Việc áp dụng này mang tính sáng tạo chứkhô ng phải rập khuôn, máy móc. Do vậy, lƣơng tâm của Thẩm phán giữ một vai tròrất quan trọng trong việc đƣa ra phán quyếtvề mộthành vi haymộtvụviệc cụ thể. Chỉ có xét xử theo lƣơng tâm của Thẩm phánmớicó thể lấp đi cái hình thức, khôcứngcủaluật phápđểđƣaramộtphán quyết nhân danh quyềnlựcNhànƣớcmột cách khách quan, công bằng và chính xác.
Một con ngƣời, dù khô ngbịai can thiệp nhƣng lòng khô ng trong sáng, lƣơng tâm bị chi phối bởi những quanhệ cánhân, dù có độc lập trên danh nghĩa thì trong quyết định của mình cũng khô ng thể hiện đƣợc tính độc lập, tính khách quan và vô
tƣ. Vìvậy,đòi hỏingƣờiThẩm phán phải có một bản lĩnh vững vàngvƣợtlên trên cái tôicủamình, phải làngƣờichí công vô tƣ, phụng côngthủpháp, vìlợiích chung của xã hội để đƣa ra một phán quyết đúng.
Để thực hiệnnguyên tắc „Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lậpvà chỉtuân theo pháp luật”cần có những biện pháp bảo đảm để nguyên tắc này đi vào cuộc sống. Một số trong các biện pháp đó là:
– Pháp luật cần qui định nhiệm kỳ của Thẩm phán dài hơn chứ khô ng phải là 5 năm nhƣ hiệ n nay. Nhƣvậyvừa đảm bảo cho Thẩm phán tâm lý yên tâm công tác, vừa đảm bảo cho Thẩm phán thực hiện tốt nguyên tắc độc lập xét xử.
40
– Nhà nƣớc cần thiết kế thang bảng lƣơng riêng đối với ngạch Thẩm phán vàcó chế độ phụ cấp lƣơng, chế độ bồi dƣỡngxét xử phù hợp nhằm phục hồi vàtái sản xuất sức lao động.
– Cần áp dụng các biện pháp đảmbảo an to àn về tính mạng, sức khoẻ…cho Thẩm phánđểgiúphọthực hiệntốthơn nhiệmvụquan trọng củamình,yên tâm công tác, đấu tranh vì sự công bằng và công lý.
Trê nđâylà nhữngvấnđềcầngiải quyếtở tầmvĩ môtrƣớchếtlà trong lĩnh vực xây dựng pháp luật.
Thứ ba : Nguyên tắc TA xét xử công khai.
Đâylà nguyêntắchiếnđịnhđƣợcthểhiện trongtấtcảcácbảnHPcủaNhà
nƣớcCHXHCNVN bởi vì Nhà nƣớc ta mang bản chất nhân dân, đảm bảo cho nhân dân tham dự các phiên tòa xét xử – đây chỉnh là thực hiện sự giám sát của nhân dânđối vớihoạt động của các cơ quan trong bộ máy Nhànƣớcnói chung và của TAND nói riêng. Pháp luật đảm bảo nhândân đƣợctham dự vào phiên tòa xét xử cácvụ án
hình sự, giải quyết các tranh chấp kinh tế, lao động, dân sự… có tác dụngphát huy dân chủ rộng rãi, giáodụcý thức pháp luật trong nhân dân; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng chố ng tội phạm, vi phạm pháp luật.
Điều67 HP 1946 quiđịnh:“Cácphiên tòađềuphải công khai,trừnhững
trƣờng hợp đặc biệt” [31. tr.12].
Điều 10 HP 1959 khẳng định:“Việcxét xử tại các TAND đều công khai, trừnhững trƣờng hợp đặc biệt do luật định” [31. tr.66].
Điều 133 HP 1980 cũng qui định nội dung tƣơng tự nhƣ hai bản HP trên.
Điều131 HP năm 1992 quiđịnhvềnguyêntắcnày nhƣ sau: “TAND xétxửcông khai, trừ trƣờnghợp do luật định”[31. tr.172]. Nguyên tắc hiến định này còn
đƣợccụ thể hóa bằng Điều 7 Luật tổ chức TAND năm 2002 “TA xét xử công khai, trừ những trƣờng hợp xétxử kín đểgiữbímậtNhà nƣớc, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đƣơng sự theo yêu cầu chính đáng của họ”.
Theo tinh thần của Điều 7 Luật tổ chức TAND năm 2002 thì TA có thể xét xửkínmộtsốvụviệc nhƣngbảnán hoặcquyếtđịnhcủaHĐXX phảiđƣợcchủtọa phiên tòa công bố công khai để mọi ngƣời biết.
41
Nguyên tắc xét xử công khai trong thực tiễn đƣợc các TA thực hiện bằng cách niêm yết thời gian biểu xét xử ở trụ sở củaTA để nhân dân biết, trên cơ sở đó bố trícông việc để có thể tham dự những phiên tòa mà mình quan tâm. Bên cạnh đó,TA phải thô ng báo cho các bị cáo,ngƣờicó quyền và nghĩa vụ liên quan,ngƣờibị hại,
nguyên đơn,bị đơn… vềthời gian, địa điểm xétxử đểhọ thựchiện đƣợcquyền tựbào chữa hoặc mờingƣờibào chữa.
BLTTHS 2003 của Nhànƣớcta (Điều 183) qui định:“… Thẩm phán triệu tập những ngƣờicầnxét hỏi đến phiên tòa”. Nhƣ vậy trong giai đoạn chuẩnbịxét xử, TA phảigửigiấy triệutậpđếnbịcáo,bịhại,bịđơn, nguyênđơndânsự,nhân
chứng, nhữngngƣờicó quyền và nghĩa vụ liên quan. Ngo ài ra“… Quyết định đƣa vụ án ra xétxử còn phải đƣợcniêm yết tại trụ sở chính quyền xã, phƣờng, thị trấn nơi cƣ trú hoặc nơi làm việc cuối cùng của bị c áo” (Điều 157) [57. tr.104].
Nguyên tắc xét xử công khai tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân (từ 16 tuổi trở lên) đều có thể đến dự phiên tòa, mọi phiên tòa đƣợc diễn ra công khai trong giờhành chính. Nguyêntắcnàyvừathểhiện tính dân chủ, vừalà hìn h thức tuyên truyền phổ biến pháp luật và giáo dục ý thức pháp luật cho mọi ngƣời trong xã hội.
Thứ tư: Nguyên tắc TAND xét xử tập thể và quyết định theo đa số.
BLTTHS năm 2003(Điều 185) quiđịnh: “HĐXXsơ thẩmgồmmộtThẩm phán và hai HTND. Trong trƣờng hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thìHĐXX có thể gồm hai Thẩm phán và ba HTND.
Đối vớivụán mà bị cáo đƣa ra xét xử về tội theo khung hình phạt có mức cao
nhất là tử hình thì HĐXX gồm hai Thẩm phán và ba HTND…”.
Đồngthờivớiviệc quiđịnhthành phần HĐXX sơ thẩm, BLTTHS còn qui
địnhthành phần HĐXX phúc thẩm(Điều244)“… gồmba Thẩm phán và trong
trƣờnghợpcầnthiết cóthểcó thêm hai HTND”; quiđịnhthành phầnHộiđồng giámđốcthẩm, tái thẩm Toà chuyên trách TANDtốicao hoặc TAQS trungƣơng gồmcảba Thẩm phán(Điều281).NếuUỷban Thẩm phán hoặc HĐTP giámđốc thẩm, tái thẩm thìsốthành viên tham gia xétxửphải chiếm 2/3 tổngsốcác thành viêncủaUỷban Thẩm phán hoặc HĐTP. QuyếtđịnhgiámđốcthẩmcủaUỷban Thẩm phán hoặc HĐTP phải đƣợc quá nửa tổng số thành viên tán thành thìmớicó
42
giá trị.
HP 1992(Điều131) quiđịnh:“TAND xétxửtậpthểvà quyếtđịnhtheo đa số”.Đâylà nguyêntắcđƣợcquiđịnhthống nhất trong các HP và Luậttổchức TANDnƣớcta. Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất đặc thù củahoạt độngxét xửbởivì phán quyết của TA khô ng chỉ liên quan đến lợi ích của Nhà nƣớc, xã hội, màquyền và lợi ích hợp pháp của công dân còn đƣợc pháp luật qui định vàbảovệ. Do vậy trƣớckhi đƣa ra phán quyết phải có sự bàn bạc cụ thể, thận trọng, cân nhắc mọi vấn đề liên quan đến vụ việc nên phải huy động trí tuệ của tập thể HĐXX.
NộidungcủanguyêntắcnàyđòihỏiHĐXX phải làmộttậpthể,họcùng nghiên cứu hồ sơ vụviệc, cùng tham gia thực hiện trình tự phiên tòa theo qui định củapháp luật, cùng tham gia thẩmvấnxác minh chứng cứ, cùng nghị án. Mọivấnđềliên quanđếnvụán phảiđƣợctấtcảcác thành viêncủaHĐXX thảo luận vàquyếtđịnhtheo đasốtừngvấnđềmột. Tro ng HĐXX sơ thẩm thì Thẩm phán là
ngƣờiquyết định sau cùng. Ngƣời có ý kiến thiểu số có quyền trình bàyýkiến của mình bằng vănbảnvà đƣợclƣu lại trong hồ sơ vụán. Chính nguyên tắc xét xử tập thểvà quyếtđịnhtheo đasốđãquyếtđịnhđếnsốlƣợngthành viên trong HĐXX luôn luôn là số lẻ.
Thực hiện nguyêntắcnày phát huyđƣợctrítuệtậpthểvàđảmbảocho việc xét xử củaTA thận trọng, khách quan, toàn diện, chống độc đoán. HĐXX làm việc tậpthể và chịu trách nhiệmtrƣớcnhững phán quyếtcủamình.Mọithành viên HĐXX ngang quyền nhau khi giải quyết những vấn đề phát sinh tại phiên tòa.
Tuy nhiên nguyêntắcnày trên thựctếhiện nay còn mang tính hình thức, HTND chƣađƣợctạonhữngđiềukiệntốtnhấtđểnghiêncứuhồsơ, bên cạnhđótrình độ pháp lý của Hội thẩm còn yếu chƣa đ ápứng đƣợcnhững đòi hỏi của công cuộcđổimớihiện nay.Bởivậycầnnghiêncứuđểcókếhoạchcụthểbồidƣỡng,đào tạo và tiêu chuẩn hó a đội ngũ HTND.
Thứ năm: Nguyên tắc hai cấp xét xử.
Theo nguyêntắcnày,mộtvụánđƣợcxétxửlầnđầu:xétxửsơ thẩm cóthể
đƣợcxem xétlạimộtlầnnữatheo trìnhtựphúc thẩm. Cơ sở củaviệc xem xét lại theo trìnhtựphúc thẩm là kháng cáocủađƣơngsự,ngƣờibịbuộc tội; kháng nghị
43
củacơ quan nhànƣớccó thẩm quyền. Khi có kháng cáo, kháng nghị,bảnán sơ thẩm chƣa có hiệu lực pháp luật, nghĩa là không đƣợc đem ra thi hành màphải đến hết thờihạnkháng cáo, khángnghị nếu các chủ thể khô ng thực hiện quyền này mới
đƣợcđem thi hành.
Theo nguyên tắc hai cấp xét xử,bảnán phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án vàđƣợcđem thi hành,ngƣờibịbuộc tội,cácđƣơngsựkhông cóquyền kháng cáo. Tuy nhiên,bản án phúc thẩm cóthểđƣợcxem xét theo trìnhtựgiámđốcthẩm, tái thẩm trên cơsở kháng nghịcủacơ quan nhànƣớccó thẩm quyền. Nhƣng giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử. Toà giám đốc thẩm chỉ xem xét quá trình áp dụng pháp luật của toà cấp dƣới (trong trƣờng hợp cóvi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới), nếu thấy đúng thìgiữnguyênbảnán, nếu thấy sai thì huỷ án và vụ án đƣợc xét xử lại hoặc đình chỉ vụ án.
Thứ sáu: Nguyên tắc bổ nhiệm Thẩm phán.
HP năm 1946 củanƣớcVNDCCH (Điều 64) qui định:“Cácviên Thẩm phánđều do Chính phủ bổ nhiệm”. Nhƣvậy chế độ bổ nhiệmThẩmphán đƣợcthực hiện
ngaytừgiaiđoạnđầuthànhlậpTAởnƣớcta vàđềudoChủtịchnƣớc–ngƣờiđứng đầu Chínhphủbổnhiệm. Từ năm 1959 (HP 1959) đến trƣớc khi có HP 1992 chếđộbầucửThẩm phánở TA cáccấpđãthaythếchếđộbổnhiệm Thẩm phán. Chế độbầuThẩm phán có những ƣu điểm là bảo đảm cho nhân dân lao động thực hiện quyền dânchủtrong việclựachọnnhữngngƣờicóđủtrìnhđộchuyên mô n,đạođứctốtđểthaymặtmình thựchiện việc xétxửcácvụán và nhân dân cũng
đƣợcquyền bãi miễnnếuThẩm phán khô ngđủtài,đứcvà không xứng đáng là
ngƣờiđại diện của mình. Tuy nhiên việc thực hiện chế độ bầu cử Thẩm phán hơn ba
mƣơi năm quađãbộclộnhiềunhƣợcđiểmnhƣ: Việc thực hiệnbầuThẩm phánởnhiềuđịaphƣơng cònrấthình thức, chƣa quán triệtđầyđủvà thống nhất các tiêu chuẩncủaThẩm phán theo quiđịnhcủapháp luậtbởivậyảnhhƣởngkhô ng ít tới việc lựa chọn đƣợcngƣờicó trình độ chuyên môn pháp lý, đạođức tốt để làm Thẩm phán xét xử; nhiệm kỳ của Thẩm phán ngắn làm cho họ chƣa yên tâm công tác; việcđào tạo, bồi dƣỡng Thẩm phán không đƣợcthƣờng xuyên, liên tục nên dẫn đến tình trạng thiếu cán bộ công tác trong ngành. Hoạt động củaTA không đƣợcđộc lậpvì
44
còn lệ thuộc vào chínhquyền địaphƣơng dẫn đến việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn xét xử chƣa đƣợcthống nhất.
Vì những lý do trên mà HP 1992(Điều128), Luậttổchức TAND năm 1992 (Điều 3) đã qui định chế độ bổ nhiệm Thẩm phán theo nhiệm kỳ để thay cho chế độbầu Thẩm phán. Luật tổ chức TAND năm 2002 (Điều 37) đặt ra tiêu chuẩn để tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán nhƣ sau:
Công dân Việt Nam trung thànhvới Tổquốc và HP nƣớcCộng hòa XHCN Việt Nam, có phẩm chất, đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảovệpháp chế XHCN, có trình độ cử nhân luậtvà đã đƣợcđào tạovề nghiệpvụxét xử, có thời gian làm công tác thực tiễn theo qui định củapháp luật, có nănglựclàm công tác xétxử,cósứckhoẻbảođảmhoàn thành nhiệmvụ đƣợcgiao thì có thể đƣợc tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán”.
Nguyêntắcbổnhiệm Thẩm phánmộtlầnnữađƣợckhẳngđịnhtạiLuậttổchức TAND năm 2002 (Điều 3): “Chế độ bổ nhiệmThẩm phán đƣợcthựchiện đối vớiTA các cấp”.Thựchiện nguyêntắcnàyđảmbảocho Nhànƣớcchọnđƣợc nhữngngƣờicó đủ điều kiệnvề trình độ chuyên môn nghiệpvụvà đạo đức pháp lýđể thực hiện chức năng xét xử của TA. Hơn nữa, Thẩm phán đƣợc bổ nhiệm sẽ yên tâm công tác, có điều kiện tích luỹ kinh nghiệm xét xử, tích cực nâng cao trình độchuyên môn và cóýthức trách nhiệm hơn góp phầnđểhoạtđộngxétxửbảođảm
đƣợctính công bằng, thố ng nhấtbảovệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà
nƣớc, tập thể và của mỗi công dân.
Ngo ài những nguyên tắc cơ bản trên, trong hoạt động xétxử,Toàán còn phải tuân theo các nguyên tăc khác nhƣ: nguyêntắctoà án phảibảođảmcho những
ngƣờitham giatốtụngđƣợcquyền dùng tiếng nói,chữviếtcủadântộcmình; nguyên tắc Toàán bảo đảmquyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền đƣợcbảovệ
quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự,…
1.3. XÂYDỰNG NHÀNƢỚCPHÁP QUYỀN VÀ NHỮNG YÊUCẦUĐẶT RA CHO CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN.
45
1.3.1. Vai trò của Toà án trong Nhà nƣớc pháp quyền.
NNPQ là cách thứctốchứcquyềnlựcnhànƣớcphúcđápmộtcáchđầyđủnhất các nhu cầu dân chủ trong xã hội.Để thấy đƣợcvai trò của tƣ pháp (của TA) trong NNPQ, trƣớc hết cần tìm hiếu các quan điếm về những dấu hiệu đặc trƣng của Nhà nƣớc pháp quyền.
Theo A.I. Kô valencô, NNPQ có các dấu hiệu là: dựa trên tính tối cao của pháp luật;Đòihỏiphải cósự chấphành vàsựtuânthủthƣờng xuyêncủapháp luật của tấtcảcác công dân, nhữngngƣờicó chứcvụ,các cơ quan vàtổchức; Quiđịnh trách nhiệm tƣơnghỗcủacông dân và nhànƣớctrong phạm vicủapháp luật hiện hành; Đảm bảo các quyền tự do của công dân. [7 tr. 44].
V. M. Xavitxki chỉ ra sáu đ ặc trƣng cơ bản của NNPQ là:Sựngự trị của pháp luật;Sựtốicaocủaluật; Co nngƣờilà giátrịcao nhất;Sựthừa nhận các quyền khô ngthểbịtƣớcđoạtcủacon ngƣời;Sựphân công quyềnlựcvớimụcđích hình thành cơ chứ kìm hãm và đối trọng; TA là ngƣờibảo đảm cao nhất các quyền của cánhân [7.tr 45].
Ibrahim Shihata cho rằng, trong khuô nkhổcủaluật hiến pháphiệnđạithìNNPQđƣợcxem nhƣ những nguyêntắclà quyềnlựcchính quyền phải tuânthủpháp luật; Các TA độc lập;Lậppháp rõ ràng minh bạch và xem xét lại bằng TAvềtính hợp hiến của pháp luật và những qui phạm khác ở thứ bậc thấp hơn [12.tr 24].
Giáo trình Lý luận chungvềNhànƣớcvà pháp luậtcủakho a LuậtĐạihọc Quốc gia Hà nội chỉ ra những đặc trƣng của NNPQ nhƣ: Vai trò tối cao của HP vàcác đạo luật; Quyền con ngƣời, các quyền dân chủ đƣợcpháp luậtbảo đảmvà bảo vệ; Giữa Nhànƣớcvà công dân cómốiquanhệbìnhđẳngvềquyền, nghĩavụvàtrách nhiệm; Nhànƣớctựhạnchếbởipháp luật;Sựphân cônghợplý ba nhánh quyền lực cho ba hệ thống cơ quan nhà nƣớc tạo thành một cơ chế đồng bộ bảo đảm sựthống nhấtcủaquyềnlựcnhànƣớc;Nền tƣ phápđộclập, phát triển và có hiệu quả; tôn trọng các điều ƣớc quốc tế mà Nhà nƣớc ký kết hoặc gia nhập [46 tr . 131- 132]
Nhƣ vậy, NNPQ là Nhà nƣớcđƣợctổ chức,hoạt độngdựa trên cơ sở những qui định của pháp luật, là Nhànƣớcthực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, là
46
Nhànƣớcđềcao các giátrịnhân văn, dân chủ,tôn trọng vàbảođảmquyền con
ngƣờitrong xã hội.
Trong những quanđiểmvềcácđặctrƣngcủaNNPQ nêu trên, có quanđiểmchỉrõ vai tròcủaTA, có quanđiểmkhô ngchỉra. Theo chúng tôi, nóiđến NNPQ là phải nói đến sự đề cao vai trò của TA. Hiệu quả, hiệu lực hoạt động của TA làmộttiêu chíđểđánh giámứcđộthành côngcủaviệc xây dựng NNPQ. Dùrằngngƣờita cóchỉra nhiều hay ít cácđặctrƣngcủaNNPQ thì “vai tròcủaTA chính là đặc trƣng có ý nghĩa đ ảm bảo thực hiện các đặc trƣng khác của NNPQ”[18. tr.35].Điềunày xuất pháttừbảnchấtcủaNNPQ, NNP Qđềcao vai tròcủapháp luật trongtổchức và thực hiện quyềnlựcnhànƣớccũng nhƣ trongđờisống của công dân. TA thực hiện hoạtđộngphânxửvà phán xét tính đúngđắn,tính hợp pháp của hành vi của các chủ thể pháp luật. Do đó TA có vai trò quan trọng trong việc đ ảm bảo cho pháp luật đƣợc thực hiện trong cuộc sống. Tro ng NNPQ thì mọi công dân và xã hội đều coi TA nhƣ công cụ bảovệquyền và lợi íchhợppháp của mình cho nênngƣờidânchủđộngtrong việc tìm công lý nơi TA.Từđâycóthểkhẳngđịnhrằng TA có vai tròđảmbảothực hiện các yêucầucủaNNPQ. Trong NNPQ, TA phải thực hiện sự kiểm soát cần thiết đối vớilập pháp và hành pháp, đặc biệt là trong trƣờnghợplậppháp hoặchành pháp có những hoạtđộnglàmtổnhại tớitự do dân chủ, tới các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Đồng thời, TA phải
thực sự là ngƣời trọng tài công minh, ngƣờibảovệquyền, lợi ích chính đáng–hợp phápcủacông dân cóhiệuquảnhất. Muốn vậy, quyền tƣ pháp trong NNPQ phải
đƣợccoi trọng, tínhđộclậpcủaTA phảiđƣợcbảođảm,TA phảidễtiếp cậnvà
“…Mọi công dân phải đƣợcphép yêu cầu thực hiện các quyền của mình tại một TAđộc lập”[83 .tr 50].Bởivậy,việc xác định đúng vị trí, vai trò của TA trong NNPQ cóýnghĩa quan trọng,tứclàtạocho TA nhữngkhảnăng thực hiệnđầyđủquyền năngvốn cócủanó làm cho quyềnlựcnhànƣớc trở lênđầyđủ,mạnhmẽvà cóhiệu lực cao hơn.
Tro ng NNPQ, ngƣời laođộng từ địavị nô lệvà lệ thuộc trở thànhngƣờilàm chủtrongđờisống xãhộivàđờisống nhànƣớc,từđốitƣợngđènén ápbứccủa quyền lực trở thành chủ thể của quyền lực, có quyền định đoạt quyền lực nhànƣớc.
47
Tro ng NNPQ, Nhànƣớctừvai tròcủacôngcụbạolực, kìmkẹpvà trói buộc con
ngƣờitrong vò ng áp bức và bóc lột trở thành công cụ phụng sự các giá trị nhân bản của con ngƣời. Chính vì vậy đặc trƣng cơ bảnvà bao trùm nhất trong mối quan hệqualạigiữa NNP Q và công dân làsựbìnhđẳngthựcsựvàsựtôn trọnglẫnnhau giữabộmáy thực hiện công quyề n và cá nhân.Sựgắnbó giữa cá nhân và NNPQ
đƣợcthực hiện thô ng qua các tác động qua lạivớinhau trên cơ sở bình dẳng và tôn trọng lẫn nhau đã tạo ra cho cá nhân nhữngkhảnăng to lớn để phát triển nh ân cách và tự do, đồng thời làm cho nhà nƣớc không ngừng đƣợc củng cố và hoàn thiện.
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẢI CÁCH HỆ THỐNG TOÀ ÁN VIỆT NAM THEO ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

