NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Quản trị vốn luân chuyển mà cụ thể là quản trị tài sản ngắn hạn và quản trị nợ ngắn hạn, là một trong những nội dung quan trọng trong thực tế quản trị tài chính của bất kỳ loại hình doanh nghiệp nào. Ở Việt Nam, quản trị vốn luân chuyển là một chủ đề không quá mới, vấn đề này đã và đang được xem xét hằng ngày trong các quyết định của giám đốc tài chính các công ty. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế đang gặp nhiều khó khăn, các doanh nghiệp VN đang phải đối mặt với những bất ổn và tiềm ẩn nhiều rủi ro như hiện nay thì việc nâng cao hiệu quả quản trị công ty trong đó có quản trị vốn luân chuyển lại trở thành một chủ đề thu hút sự quan tâm đặc biệt từ góc độ nhà quản trị doanh nghiệp. Đặc biệt, trong giai đoạn từ năm 2008 đến nay, khi mà hàng loạt những doanh nghiệp VN phải ngừng sản xuất, đóng cửa hoặc rơi vào tình trạng khốn khó, đã đặt ra dấu hỏi lớn về sự hữu hiệu của các chiến lược tài chính trước những thách thức cam go của nền kinh tế. Quản trị vốn luân chuyển như thế nào để gia tăng khả năng sinh lợi trong điều kiện kinh tế hiện nay vẫn là vấn đề nan giải đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiểu được tầm quan trọng của vấn đề này, mục tiêu của đề tài là xem xét tác động của các thành phần vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Đề tài nhằm đánh giá mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Qua đó rút ra kết luận có cơ sở khoa học để ứng dụng vào việc quản lý doanh nghiệp nhằm cải thiện và nâng cao khả năng sinh lời tại các doanh nghiệp niêm yết trên SGDCK Hồ Chí Minh nói riêng và Toàn bộ các doanh nghiệp Việt Nam nói chung.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE). Ta lần lượt làm rõ các vấn đề sau:
- Thứ nhất: Quản trị vốn luân chuyển có tác động đến khả năng sinh lời của công ty hay không?
- Thứ hai: Nếu có tác động nó có quan hệ cùng chiều hay ngước chiều
- Thứ ba: Kết quả nghiên cứu có gì khác so với các bài nghiên cứu trước ở thế giới và Việt Nam hay không?
- Thứ tư: Có thể dự đoán được tỷ suất sinh lời dựa vào cấu trúc vốn luân chuyển trong doanh nghiệp thông qua mô hình hồi quy.
- Cách tiếp cận: Để nghiên cứu mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của công ty tác giả tiến hành thực nghiệm trên dử liệu có trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sẽ áp dụng hai phương pháp nghiên cứu: phân tích tương quan và phân tích hồi quy (sử dụng phần mềm SPSS, EVIEWS, STATA…) cụ thể là phương pháp ước lượng bình quân tối thiểu, mô hình hiệu ứng cố định FEM, và bình quân tối thiểu tổng quát GLS…
- Phạm vi nghiên cứu: Các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Hồ Chí Minh, Việt Nam. Những công ty này không bao gồm những công ty tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…
Kết quả nghiên cứu này sẽ giúp ta xem xét quản trị vốn luân chuyển có ảnh hưởng và ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời. Để từ đó tìm ra giải pháp nhằm nâng cao khả năng sinh lời tại các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (Hose). Kết quả này có thể nhân rộng để áp dụng cho các doanh nghiệp khác niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của doanh nghiệp
Chương 2: Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE)
Chương 3: Kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh
- Tổng quan tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN
VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA DOANH NGHIỆP
Vốn luân chuyển là lượng tiền ứng trước để thỏa mãn nhu cầu về các đối tượng lao động nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục.
- Thành phần vốn luân chuyển
Vốn luân chuyển = Vốn lưu động ròng dương = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn
- Tài sản ngắn hạn
- Khoản phải thu
- Hàng tồn kho
- Tiền mặt
- Nợ ngắn hạn
- Khoản phải trả
- Chi phí phải trả
- Kết cấu vốn luân chuyển
Quản trị vốn luân chuyển là quản trị tiền mặt, quản trị khoản phải thu và quản trị hàng tồn kho, quản trị khoản phải trả.
Quản trị hàng tồn kho là là nhằm tối thiểu hóa các chi phí dự trữ tài sản tồn kho trong điều kiện vẫn đảm bảo cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường.
- Quản trị tiền mặt tồn quỹ: Là quyết định mức tồn quỹ tiền mặt cụ thể là đi tìm bài toán tối ưu để ra quyết định cho mức tồn quỹ tiền mặt sao cho tổng chi phí đạt tối thiểu mà vẫn đủ để duy trì hoạt động bình thường của doanh nghiệp.
- Quản trị chu kỳ tiền mặt
Chu kỳ tiền mặt là dòng chảy liên tục của nguồn vốn qua các tài khoản vốn lưu động khác nhau như: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, khoản phải trả và chi phí phải trả.
Kỳ luân chuyển tiền mặt = Số ngày thu tiền + Số ngày tồn kho – Số ngày trả tiền
Quản trị khoản phải thu gắn liền với việc xây dựng và thực thi chính sách bán chịu và thu hồi nợ nhằm đạt được mục tiêu công ty trong từng thời kỳ. hi tiêu đại diện cho quản trị khoản phải thu là ky thu tiền.
Các khoản phải trả, một trách nhiệm pháp lý trong ngắn hạn, đề cập đến tín dụng được cung cấp bởi công ty bán hàng. Chính sách quản lý các khoản phải trả của công ty cần phải cân nhắc giữa lợi ích và chi phí của việc thanh toán sớm để hưởng chiết khấu hay thanh toán muộn để sử dụng nguồn tài trợ đó vào các mục đích đầu tư của công ty. Tác giả sử dụng kỳ phải trả bình quân làm biến đại diện cho việc quản lý các khoản phải trả
Là thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nó là kết quả tổng hợp của hàng loạt biện pháp và quyết định quản lý của doanh nghiệp.
- Tác động của quản trị hàng tồn kho lên khả năng sinh lời
Các doanh nghiệp mong muốn tồn kho một lượng vừa đủ nhằm đáp ứng hoạt động kinh doanh vừa giảm thiểu chi phí lưu kho. Nếu hàng tồn kho lớn thì ưu điểm là sẽ đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng nhằm tăng doanh thu bán hàng và khả năng cạnh tranh tuy nhiên hạn chế là làm tăng chi phí bảo quản và lưu kho, chi phí cơ hội tăng do tài sản tồn tại ở dạng hàng tồn kho sẽ không có khả năng sinh lời, làm mất đi cơ hội đầu tư của doanh nghiệp, đồng thời làm gia tăng rủi ro, trong trường hợp doanh nghiệp không bán được hàng sẽ làm ứ đọng vốn và gây ra những hệ lụy khác, không những làm giảm khả năng sinh lời mà còn dẫn đến nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Còn nếu hàng tồn kho nhỏ sẽ làm mất đi cơ hội bán hàng, giảm khả năng cạnh tranh, do thiếu hụt hàng hóa không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, làm giảm doanh thu dẩn đến làm giảm khả năng sinh lời. Do đó, doanh nghiệp luôn muốn duy trì trạng thái hàng tồn kho “vừa đủ” để đảm bảo doanh thu và giảm được chi phí lưu giữ kho xuống tối thiểu.
- Tác động của quản trị khả phải thu lên khả năng sinh lời
Hầu hết các công ty đều phát sinh các khoản phải thu nhưng với mức độ khác nhau, từ mức không đáng kể cho đến mức không thể kiểm soát nổi. Việc bán chịu như con dao hai lưởi. Nếu không bán chịu hàng hóa thì sẽ mất đi cơ hội bán hàng, do đó, làm giảm khả năng cạnh tranh, làm giảm doanh thu dẫn đến làm cho lợi nhuận giảm. Nếu bán chịu hàng hóa quá nhiều, đồng nghĩa với doanh thu tăng, tuy nhiên chi phí khoản phải thu sẽ tăng như chi phí thu hồi nợ, chi phí cơ hội tăng, do lượng vốn khoản phải thu không có khả năng sinh lời, làm mất cơ hội đầu tư, đồng thời khoản phải thu tăng sẽ làm tăng nguy cơ phát sinh các khoản nợ khó đòi, do đó, rủi ro không thu hồi được nợ cũng gia tăng.
- Tác động của quản trị khoản phải trả lên khả năng sinh lời
Khoản phải trả được gọi là nguồn vốn nội sinh của doanh nghiệp vì nó được tạo ra từ hoạt động thường xuyên của công ty . Dễ dàng thấy được lợi ích của người mua khi mua chịu hàng hóa dịch vụ là sử dụng nguồn lực để tạo ra lợi nhuận mà không phải trả tiền ngay. Điếu đó là tăng cơ hội đầu tư của doanh nghiệp dẫn đến làm tăng khả năng sinh lời. Tuy nhiên khi các doanh nghiệp quá lạm dụng sẽ làm giảm uy tín công ty, làm cho tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng, dẫn đến làm giảm khả năng sinh lời.
- Tác động của quản trị tiền mặt lên khả năng sinh lời
TỐM TẮT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả đã trinh bày một số nội dung cơ bản về vốn luân chuyển và quản trị vốn luân chuyển, khả năng sinh lời, tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời. Tác giả cũng chỉ ra các chỉ tiêu phản ánh quản trị vốn luân chuyển và các chỉ tiêu ảnh hưởng đến việc quản trị vốn luân chuyển để làm cơ sở lựa chọn các biến trong chương 2. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi trong các nghiên cứu trước đây nhằm cung cấp một cơ sở vững chắc, đồng thời cung cấp thêm những ý tưởng về quản trị vốn luân chuyển và các thành phần của vốn luân chuyển.
CHƯƠNG 2
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ
VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH (HOSE)
Dữ liệu nghiên cứu của đề tài bao gồm 70 công ty được niêm yết trên SGDCK TP Hồ Chí Minh (HOSE), Việt Nam. Những công ty này không bao gồm các công ty tài chính và các công ty tiện ích cộng đồng theo phân loại ngành của SGDCKHCM. Những công ty được đưa vào nghiên cứu phải có đầy đủ bộ dữ liệu trong giai đoạn 2010-2014, liên tục hoạt động trong giai đoạn này và tiếp tục hoạt động trong năm 2015. Trong 70 doanh nghiệp này có 43 công ty thuộc ngành Công nghiệp chế biến chế tạo, 9 công ty thuộc ngành xây dựng, 7 công ty thuộc ngành khai khoán, 7 công ty thuộc ngành bán buôn bán lẻ và 4 công ty thuộc ngành nông lâm thủy sản.
Vì đề tài là xem xét tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời, vì vậy các biến nghiên cứu được lựa chọn phải đại diện và phản ánh được các nội dung cần nghiên cứu. Trong bài thì có hai thành phần chính đó là khả năng sinh lời và quản trị vốn luân chuyển. Cụ thể tác giả lựa chọn ROA là biến đại diện cho khả năng sinh lời vì tác giả thấy ROA là biến tiêu biểu nhất, ROA là biến thể hiện 1 đồng tài sản sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Ngoài ra như đã biết quản trị vốn luân chuyển gồm có 4 thành phần chính đó là quản trị hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu, quản trị tiền mặt và quản trị khoản phả trả. Vậy cần lựa chọn biến đại diện cho 4 thành phần này thì có nghĩa là đại diện cho quản trị vốn luân chuyển. Cụ thể kỳ phải thu là biến đại diện cho quản trị khoản phải thu, kỳ lưu kho là biến đại diện cho quản trị hàng tồn kho, kỳ phải trả là biến đại diện cho quản trị khoản phải trả và chu kỳ luân chuyển tiền mặt vừa đại diện cho quản trị tiền mặt vừa là biến tiêu biểu nhất đại diện cho quản trị vốn luân chuyển.

Các chỉ tiêu dùng để tính toán các biến được thu thập từ các báo cáo tài chính đã kiểm toán của các công ty trong giai đoạn từ 2010-2014. Trong bài nghiên cứu này tác giả sử dụng các biến sau:
| Biến | Viết tắt | Công thức |
|---|---|---|
| Lợi nhuận trên tổng tài sản | ROA | Lợi nhuận sau thuế / Giá trị tài sản bình quân trong kỳ |
| Kỳ lưu kho | IP | (Số hàng tồn kho bình quân trong kỳ/ Giá vốn hàng bán) *365 |
| Kỳ thu tiền bình quân | RP | (Các khoản phải thu bình quân / Doanh thu thuần)*365 |
| Kỳ phải trả | PP | (Các khoản phải trả bình quân / Giá vốn hàng bán) *365 |
| Chu kỳ luân chuyển tiền mặt | CCC | RP + IP – PP |
| Tỷ lệ nợ | DR | Tổng nợ/ Tổng tài sản |
| Quy mô công ty | LOS | Ln (Doanh thu thuần) |
| Hệ số khả năng thanh toán hiện hành | CR | Tài sản ngắn hạn/Nợ ngắn hạn |
2.3.1. Các giả thuyết nghiên cứu
Với mục tiêu tìm hiểu tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh, tác giả đặt ra các giả thuyết sau:
- Giả thuyết chung: H0: Quản trị vốn luân chuyển không tác động lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán TPHCM.
- Giả thuyết chung trên được cụ thể hóa bằng 4 giả thuyết:
- Giả thuyết 1: Quản trị khoản phải thu (kỳ thu tiền RP) không tác động lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Mô hình (1)
ROA = β0 + β1 (RPit) + β2 (CRit) + β3(DRit) + β4(LNSit) + εit (1)
- Giả thuyết 2: Sự biến động của kỳ lưu kho (IP) không tác động lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Mô hình (2)
ROA = β0 + β1 (IPit) + β2 (CRit) + β3(DRit) + β4(LNSit) + εit (2)
- Giả thuyết 3: Sự biến động của kỳ phải trả (PP) không tác động lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Mô hình (3)
ROA = β0 + β1 (PPit) + β2 (CRit) + β3(DRit) + β4(LNSit) + εit (3)
- Giả thuyết 4: Sự biến động của kỳ lưu chuyển tiền mặt (CCC)không tác động lên khả năng sinh của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh
Mô hình (4)
GOP = β0 + β1 (CCCit) + β2 (CRit) + β3(DRit) + β4(LNSit) + εi (4)
- Mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Model, FEM)
- Mô hình ảnh hưởng ngẩu nhiên (Random Effects Model, REM).
- Sự khác nhau giữa REM và FEM
Cẩn thận lưu ý sự khác nhau giữa FEM và REM. Trong FEM, mỗi đơn vị theo không gian có giá trị tung độ gốc (cố định) riêng, tổng cộng có N giá trị như vậy cho toàn bộ N đơn vị. Mặt khác, trong REM, tung độ gốc β1 tiêu biểu cho trị trung bình của tất cả các tung độ gốc và số hạng sai số εi tiêu biểu cho sự sai lệch (ngẫu nhiên) của từng tung độ gốc so với trị trung bình này. Tuy nhiên, nên nhớ rằng εi không thể quan sát trực tiếp được; nó được gọi là biến không thể quan sát, hay biến ẩn.
- Kiểm định Hausman
Đây là kiểm định giúp ta chọn lựa giữa mô hình FEM và mô hình REM. Kiểm định Hausman nhằm lựa chọn mô hình FEM hay REM phù hợp cho hồi quy dữ liệu mẫu.
- Quá trình nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ tiên hành lần lượt qua các bước như sau:
Bước 1: Thu thập dữ liệu
Bước 2: Thực hiện thống kê mô tả các biến với toàn bộ mẫu .
Bước 3: Xây dựng ma trận tương quan.
Bước 4: Ước lượng mô hinh ban đầu
Bước 5: Kiểm định Hausman.
Bước 6: Kiểm định và phân tích mối quan hệ phi tuyến giữa quản trị VLC và khả năng sinh lời
Bước 7: Ước lượng và phân tích tác động của khả năng sinh lời lên việc quản trị VLC.
Bước 8: Thực hiện các kiểm định sau:
Bước 9: Kết luận và hàm ý
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Tác giả thực hiện nghiên cứu tác động của các chỉ tiêu quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh. Tác giả sử dụng Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là thước đo khả năng sinh lời của doanh nghiệp như là một biến phụ thuộc và các biến độc lập (biến giả thích và biến được giải thích), trong đó, biến được giải thích bao gồm kỳ thu tiền bình quân (RP), chu kỳ lưu kho (IP), kỳ phải trả (PP), và chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC); các biến như Logarit tự nhiên của doanh thu (LOS), tỷ lệ nợ (DR), và hệ số khả năng thanh toán hiện hành (CR) làm các biến được giải thích. Tác giả cũng trình bày về phương pháp nghiên cứu cũng như quy trình nghiên cứu sẽ được thực hiện ở chương 3.
CHƯƠNG 3
KIỄM ĐỊNH MỐI QUAN HỆ GIỮA QUẢN TRỊ VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỜI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT TRÊN SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN HỒ CHÍ MINH
3.3.1. Phân tích hồi quy cho toàn bộ mẫu
Kết quả mô hình ảnh hưởng cố định (FEM)
| Mô hình 1 | Mô hình 2 | Mô hình 3 | Mô hình 4 | |||||
| ROA | Prob | ROA | Prob | ROA | Prob | ROA | Prob | |
| C | 0.8491 | 0.0005 | 0.6968 | 0.0061 | 0.7263 | 0.0040 | 0.7617 | 0.0023 |
| RP | -0.0003 | 0.0000 | ||||||
| IP | -0.0001 | 0.0051 | ||||||
| PP | -0.0004 | 0.0003 | ||||||
| CCC | -0.0001 | 0.0000 | ||||||
| CR | 0.0030 | 0.4806 | -0.0003 | 0.9391 | -0.0025 | 0.5687 | 0.0020 | 0.6473 |
| DR | 0.0612 | 0.0885 | 0.0226 | 0.5417 | 0.0196 | 0.5908 | 0.0428 | 0.2444 |
| LNS | -0.0649 | 0.0016 | -0.0507 | 0.0178 | -0.0526 | 0.0133 | -0.0569 | 0.0069 |
| R-squared | 0.6370 | 0.5980 | 0.6055 | 0.6147 | ||||
| Adjusted R-squared | 0.5409 | 0.4917 | 0.5011 | 0.5127 | ||||
| S.E. of regression | 0.0692 | 0.0728 | 0.0721 | 0.0712 | ||||
| F-statistic | 6.6336 | 5.6250 | 5.8027 | 6.0310 | ||||
| Prob(F-statistic) | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | ||||
| Sum squared resid | 1.3199 | 1.4614 | 1.4343 | 1.4009 | ||||
| Durbin-Watson stat | 1.9085 | 1.6812 | 1.7036 | 1.7645 | ||||
Kết quả hồi quy theo mô hình với ảnh hưởng ngẩu nhiên (REM)
| Mô hình 1 | Mô hình 2 | Mô hình 3 | Mô hình 4 | |||||
| ROA | Prob | ROA | Prob | ROA | Prob | ROA | Prob | |
| C | 0.3335 | 0.0241 | 0.2468 | 0.0997 | 0.2580 | 0.0852 | 0.2885 | 0.0524 |
| RP | -0.0002 | 0.0000 | ||||||
| IP | -0.0001 | 0.0024 | ||||||
| PP | -0.0002 | 0.0014 | ||||||
| CCC | -0.0001 | 0.0000 | ||||||
| CR | 0.0075 | 0.0492 | 0.0058 | 0.1420 | 0.0042 | 0.2850 | 0.0075 | 0.0564 |
| DR | -0.0542 | 0.0420 | -0.0697 | 0.0116 | -0.0774 | 0.0042 | -0.0576 | 0.0349 |
| LNS | -0.0179 | 0.1544 | -0.0100 | 0.4316 | -0.0105 | 0.4083 | -0.0140 | 0.2690 |
| R-squared | 0.1169 | 0.0768 | 0.0774 | 0.1002 | ||||
| Adjusted R-squared | 0.1067 | 0.0661 | 0.0667 | 0.0897 | ||||
| S.E. of regression | 0.0724 | 0.0749 | 0.0746 | 0.0736 | ||||
| F-statistic | 11.4188 | 7.1798 | 7.2378 | 9.5994 | ||||
| Prob(F-statistic) | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | 0.0000 | ||||
| Sum squared resid | 1.8061 | 1.9349 | 1.9199 | 1.8709 | ||||
| Durbin-Watson stat | 1.3879 | 1.2941 | 1.2954 | 1.3408 | ||||
Ta có thể nhận thấy các kết quả ước lượng của cả hai phương pháp là khá nhất quán với nhau: Tất cả các biến giải thích RP, IP, PP, và CCC đều có quan hệ nghịch biến với tỷ lệ lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh.
Đối với mô hình 1, RP có quan hệ nghịch biến với ROA ở các mức hệ số tương ứng cho Pooled OLS và GLS là – 0,0003 và-0,0002. Các con số này cho thấy rằng một sự gia tăng hay sụt giảm số ngày thu tiền sẽ có ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của công ty. .Điều này giải thích rằng khách hàng càng thanh toán hóa đơn sớm, công ty càng có nhiều tiền mặt để tái đầu tư vào hàng tồn kho, do vậy doanh số đạt được càng cao, dẫn đến khả năng sinh lợi cao hơn. Đồng thời các mô hình 2, 3 và 4 cũng cho thấy IP, PP và CCC có quan hệ nghịch biến với ROA. Tương tự, chu kỳ luân chuyển tiền càng ngắn, tiền tái tạo ra tiền nhanh hơn nên khả năng sinh lợi nhiều hơn. Thời gian thanh toán càng dài, uy tín của công ty trên thị trường càng giảm, càng ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi.
Còn các biến CR, DR, LNS thì biến CR có quan hệ cùng chiều với ROA, còn DR và LNS có mối quan hệ nghịch chiều.
Kiểm định Hausman là công cụ để lựa chọn mô hình thích hợp nhất giữa REM và FEM.
Giả thuyết:
H0 : REM là mô hình thích hợp hơn FEM
H1 : FEM là mô hình thich hợp hơn REM
Nếu P<0.05, bác bỏ H0. Khi đó REM không thích hợp và tốt hơn xem ra ta nên sử dụng mô hình FEM.
Nếu P> 0.05 Chấp nhận Ho. Lúc này mô hình được sử dụng trong bài nghiên cứu là REM
Bảng 3.5. Kết quả kiểm định Huasman
| ROA | |||||||
| RP | IP | PP | CCC | ||||
| Chi-Sq. Statistic | Prob. | Chi-Sq. Statistic | Prob. | Chi-Sq. Statistic | Prob. | Chi-Sq. Statistic | Prob. |
| 36.670631 | 0.0000 | 24.420365 | 0.0001 | 28.434946 | 0.0000 | 27.590836 | 0.0000 |
| Mô Hình FEM thích hợp | Mô Hình FEM thích hợp | Mô Hình FEM thích hợp | Mô Hình FEM thích hợp | ||||
Chúng tôi đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi từ hoạt động kinh doanh ở 70 công ty niêm yết trên hai Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) từ năm 2010 đến năm 2014. Kết quả nghiên cứu bằng các phương pháp khác nhau đều đã chứng minh cho thấy quản trị vốn luân chuyển được đo lường bằng chu kỳ luân chuyển tiển (CCC) có tác động âm lên tỷ suất sinh lợi hoạt động kinh doanh của công các công ty. Chúng tôi cũng tìm thấy mối quan hệ nghịch biến và có ý nghĩa về mặt thống kê giữa kỳ thu tiền (RP) và kỳ lưu kho (IP) và kỳ phải trả (PP) với tỷ lệ lợi nhuận hoạt động từ hoạt động kinh doanh (ROA). Điều này hàm ý rằng các công ty có thể gia tăng lợi nhuận của mình bằng cách rút ngắn kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và kỳ phải trả. Tuy nhiên, mức độ tác động không lớn. Kết quả này hoàn toàn nhất quán với rất nhiều công trình nghiên cứu trước đó.
Nhìn chung, kết quả phân tích của chúng tôi cho thấy rằng các công ty có thể xem xét hoạt động quản trị tài chính của mình để có thể nâng cao khả năng sinh lợi và qua đó gia tăng giá trị tài sản cho cổ đông. Một cách để thực hiện điều đó chính là tối ưu hóa chu kỳ luân chuyển tiền, hay nói khác đi quản trị vốn luân chuyển một cách có hiệu quả, ban quản trị công ty có thể cải thiện khả năng sinh lợi cho công ty. Một mặt, giảm kỳ phải thu, kỳ lưu kho và kỳ phải trả sẽ làm tăng khả năng thanh khoản cho công ty, nhờ đó tác động tích cực đến vị thế tài chính của công ty. Mặt khác, quản trị vốn luân chuyển tốt có thể giúp phát triển các hình thức tài trợ khác bởi vì các tổ chức tín dụng, những người sẽ xem xét và đánh giá cơ cấu bản cân đối kế toán của công ty khi đưa ra quyết định tài trợ sẽ đầu tư thêm vào những công ty có vị thế tài chính mạnh và rút bớt vốn hoặc giảm cho vay với những công ty có vị thế tài chính không tốt.
- Xem xét tính phù hợp với các hiện tượng đa công tuyến, tự tương quan trong mô hình, tính phù hợp của mô hình, kiểm tra tính dừng của phần dư
- Kiểm định sự tồn tại của mô hình
Bảng 3.7. Kiểm định sự tồn tại của mô hình
| ROA | |||||||
| Mô hình 1 | Mô hình 2 | Mô hình 3 | Mô hình 4 | ||||
| R-squared | 0.6370 | R-squared | 0.5980 | R-squared | 0.6055 | R-squared | 0.6147 |
| Các biến độc lập trong mô hình 1 giải thích được 63,7% sự thay đổi của biến ROA | Các biến độc lập trong mô hình 2 giải thích được 59,8% sự thay đổi của biến ROA | Các biến độc lập trong mô hình 3 giải thích được 60,55% sự thay đổi của biến ROA | Các biến độc lập trong mô hình 4 giải thích được 61,47% sự thay đổi của biến ROA | ||||
| F-statistic | 6.6336 | F-statistic | 5.62501 | F-statistic | 5.8027 | F-statistic | 6.031 |
| F tra bảng | 2.630716 | F tra bảng | 2.63072 | F tra bảng | 2.6307 | F tra bảng | 2.63072 |
| Mô hình 1 có tồn tại ý nghĩa thống kê | Mô hình 2 có tồn tại ý nghĩa thống kê | Mô hình 3 có tồn tại ý nghĩa thống kê | Mô hình 4 có tồn tại ý nghĩa thống kê | ||||
- Kiểm định sự tồn tại của đa cộng tuyến
Để phát hiện sự tồn tại của đa cộng tuyến, xem xét tương quan cặp giữa các biến giải thích bằng sự trợ giúp của phần mềm EVIEW ta nhận thấy hệ số tương quan cặp giữa biến giải thích trong mô hình 1, mô hình 2, mô hình 3, mô hình 4 đều nhỏ hơn 0.8. Vậy chứng tỏ không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra.

- Hiện tương tự tương quan
Để phát hiện tương tự tương quan ta dùn phương pháp kiểm định Durbin- Watson
| Mô Hình 1 | Mô Hình 2 | Mô Hình 3 | Mô Hình 4 | |
| Durbin-Watson stat | 1.9085 | 1.6812 | 1.7036 | 1.7645 |
Dựa trên kết quả Durbin-Watson ta có: DL < D <Du. Nên ta có thể kết luận không có hiện tượng tự tương quan.
3.3.2. Phân tích hồi quy theo ngành
Bảng 3.10. Kết quả hồi quy theo ngành
| Mô hình 1 | Mô hình 2 | Mô hình 3 | Mô hình 4 | |
| ROA | ROA | ROA | ROA | |
| C | 0.060764 | 0.052474 | 0.069815 | 0.048293 |
| Kỳ phải thu (RP) | -0.000182 | |||
| Kỳ lưu kho (IP) | -0.0000858 | |||
| Kỳ phải trả(PP) | -0.000202 | |||
| Chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC) | -0.0000984 | |||
| Tỷ lệ thanh toán hiện hành (CR) | 0.015045 | 0.01334 | 0.01207 | 0.015133 |
| Tỷ lệ nợ (DR) | -0.053036 | -0.062449 | -0.072552 | -0.049574 |
| Quy mô công ty (LNS) | ||||
| Ngành Xây Dựng (A) | ||||
| Ngành Khai Khoán (B) | 0.106326 | 0.069738 | 0.079815 | 0.085605 |
| Ngành bán buôn bán lẻ, sửa chửa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cợ khác (E) | ||||
| Ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (F) | 0.08417 | 0.084511 | 0.083723 | 0.085091 |
Theo kết quả hồi quy theo ngành, ảnh hưởng của biến ngành đến khả năng sinh lời trong FEM và REM có kết quả tương đối giống nhau. Các ngành xây dựng và ngành bán buôn bán lẻ, sửa chửa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cợ khác không có ý nghĩa thống kê. Còn ngành khai khoán và ngành nông nghiệp, lâm nghiệp thủy sản có tương quan dương với mức ý nghĩa thống kê cao (α = 1%).
CHƯƠNG 4
KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH
Bài nghiên cứu mang nhiều hàm ý cho nhà quản trị trước tình hình kinh tế khó khăn như hiện nay. Trước tiên nên tập trung vào quản trị vốn luân chuyển nhằm tránh trường hợp phải gánh chịu chi phí khi dịch chuyển ra xa mức vốn luân chuyển tối ưu, tránh tác động ngược chiều lên hiệu quả công ty thông qua mất doanh thu và mất khoản chiết khấu cho các khoản trả sớm hoặc chi phí tài trợ tăng thêm. Bên cạnh đó, có thể tăng hiệu quả tài chính công ty bằng cách tối ưu hoá chu kỳ thương mại thuần hay nói cách khác là quản trị vốn luân chuyển sao cho có hiệu quả có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Một mặt quản trị vốn luân chuyển tốt sẽ làm tăng khả năng thanh khoản nhờ đó tác động tích cực đến vị thế tài chính của công ty. Mặt khác, quản trị vốn luân chuyển tốt có thể gia tăng các hình thức tài trợ khác bởi vì các tổ chức tín dụng sẽ xem xét và đánh giá cơ cấu bảng cân đối kế toán của công ty khi đưa ra quyết định tài trợ hoặc đầu tư thêm vào công ty, tất nhiên sẽ ưu tiên dành nguồn tài trợ cho công ty có vị thế tài chính mạnh thay vì những công ty có vị thế tài chính không tốt.
4.2. HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI
Bài nghiên cứu đã đưa ra những kết luận có cơ sở khoa học về tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh tuy nhiên nghiên cứu này cũng có những hạn chế nhất định đó là thời gian nghiên cứu chưa dài và số công ty trong mẫu chưa đủ lớn so với nghiên cứu trước đây, đồng thời cũng chưa đủ lớn để phản ánh tác động của quản trị vốn luân chuyển lên khả năng sinh lời của toàn thị trường chứng khoán. Ngoài ra, khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến hiệu quả công ty chỉ dừng lại ở yếu tố nội bộ của công ty mà chưa xem xét yếu tố vĩ mô của nền kinh tế cũng có thể tác động đến hiệu quả tài chính của công ty.
Ngoài ra về nguồn dữ liệu, mặc dù nguồn dữ liệu được lấy từ những báo cáo tài chính của công ty, đáng tin cậy tuy nhiên không tránh khỏi trường hợp sai lệch nguyên nhân có thể do các doanh nghiệp cố gắng làm đẹp báo cáo tài chính và điều này khiến kết quả nghiên cứu là chưa chính xác so với thực tế.
Ngoài ra, yếu tố ngành là yếu tố quan trọng tác động lên tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp, tuy bài nghiên cứu có xem xét yếu tố ngành tuy nhiên còn nhiều hạn chế nguyên nhân là trình độ của tác giả chưa đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu, thứ 2 là dữ liệu nghiên cứu còn rất hạn hẹp, số công ty của từng ngành không đồng đều và số lượng nhỏ không đủ để phản ánh được đặc điểm của ngành nên kết quả nghiên cứu còn chưa chính xác còn nhiều thiếu sót. Vì vậy các nghiên cứu trong tương lai nên chú trọng vấn đề này. Nhằm đưa ra những kết luận chính xác hơn.
4.3. KIẾN NGHỊ
Qua những hạn chế nêu trên, để có thể có những nghiên cứu mang lại kết quả chính xác hơn, tôi khuyến nghị 2 hướng nghiên cứu mở rộng trong chủ đề này, đó là:
- Mở rộng mẫu dữ liệu:
Việc mở rộng dữ liệu về cả số lượng công ty và thời gian nghiên cứu là cực kì quan trọng để đưa đến kết quả chính xác hơn và nắm bắt được những thay đổi trong mối quan hệ này một cách sớm nhất.
- Tăng thêm nhiều biến
Đưa thêm vào mô hình một số biến cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của công ty. 2 nhóm biến có thể thêm vào đó là nhóm biến vĩ mô ví dụ như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát và nhóm biến liên quan tới tình hình công ty như tỷ lệ thanh toán nhanh hay tỷ lệ vốn cổ phần trên tổng tài sản…
KẾT LUẬN
Đề tài nghiên cứu tác động của quản trị vốn luân chuyển lên tỷ suất sinh lợi của các doanh nghiệp Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu gồm 70 công ty đựợc niêm yết trên sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) trong giai đoạn 2010-2014, hình thành nên dữ liệu bảng với 350 quan sát. Đề tài đã phân tích tác động của các thành phần vốn luân chuyển như kỳ thu tiền bình quân (RP), kỳ lưu kho (IP), kỳ phải trả (PP), chu kỳ luân chuyển tiền mặt (CCC), tỷ số nợ (DR), tỷ số thanh toán hiện hành (CR), quy mô công ty (LNS) lên tỷ suất sinh lợi đại diện bởi tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phân tích thống kê mô tả, tương quan Pearson, và hồi quy các mô hình FEM và REM với dữ liệu bảng (panel data), với RP,IP, PP, CCC, CR, DR, LNS là biến độc lập và ROA là biến phụ thuộc.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra mối tương quan giữa các thành phần vốn luân chuyển với tỷ suất sinh lợi (ROA) là tương quan âm có ý nghĩa thống kê, khá phù hợp với những nghiên cứu trước. Điều này thể hiện rằng, doanh nghiệp có thể gia tăng tỷ suất sinh lợi bằng cách giảm kỳ thu tiền bình quân, kỳ lưu kho, kỳ phải trả và chu kỳ luân chuyển tiền mặt.
Tuy nhiên, bài nghiên cứu cũng mắc phải một số hạn chế. Thứ nhất, thời gian nghiên cứu còn tương đối ngắn do hạn chế về số liệu của các công ty cổ phần trên thị trường. Thứ hai, bài nghiên cứu chỉ thực hiện trên phạm vi sở giao dịch chứng khoán TPHCM nên mẫu nghiên cứu đáp ứng mục tiêu chỉ có 350 quan sát. Số mẫu của từng ngành qua nhỏ không đủ để phân ánh hiện trạng của từng ngành trong nền kinh tế. Hơn nữa, nghiên cứu chỉ đề cập đến các yếu tố nội bộ, chưa xem xét đến các yếu tố bên ngoài như mức độ hoạt động của nền kinh tế và nhiều yếu tố bên ngoài khác nữa. Cuối cùng, bài nghiên cứu chỉ sử dụng dữ liệu thứ cấp, dựa trên những thông tin có sẵn trên báo cáo tài chính của các công ty cổ phần được công bố trên các báo cáo tài chính của công ty được đăng tải trên trang Wed của Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, mặt khác, các số liệu thu thập trong trang web này đã được làm tròn đến hàng triệu nên các tính toán trong bài nghiên cứu sẽ có sai số so với thực tế.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\QUAN TRI KINH DOANH\NGUYEN THI CHINH\SAU BAO VE


