Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà
1. Lý do chọn đề tài
Văn học Việt Nam từ sau đại thắng mùa xuân 1975 mà đặc biệt là sau Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã có những bước chuyển mình rõ rệt, đem lại những cách tân mới. Nhiều gương mặt tác giả đã xuất hiện trên văn đàn từ trước năm 1975 song đến giai đoạn này mới thực sự gặt hái được nhiều thành công, trong số đó phải kể đến hàng loạt cái tên nổi bật như Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Bảo Ninh…
Ở chặng đường này nhiều cây bút nữ xuất hiện và để lại những dấu ấn trong nền văn xuôi đương đại Việt Nam. Dù chỉ mới xuất hiện trên văn đàn vào cuối những năm 80 của thế kỷ trước, song Võ Thị Xuân Hà đã kịp tạo được chỗ đứng riêng trong lòng độc giả. Bằng lối viết vừa giản dị, vừa tinh tế, nhẹ nhàng song lại ẩn chứa nét mạnh mẽ; cùng với sự tìm tòi đổi mới không ngừng về đề tài, cảm hứng lẫn phương thức thể hiện đã làm nên một Võ Thị Xuân Hà không thể hòa lẫn giữa muôn vàn những gương mặt nhà văn nữ khác.
Từ tập truyện ngắn đầu tay Vĩnh biệt giấc mơ ngọt ngào (NXB Văn học, 1992) cho đến nay, Võ Thị Xuân Hà đã có một “bộ sưu tập” sáng tác với đa dạng thể loại từ truyện ngắn, truyện dài cho đến tiểu thuyết. Với 15 tập truyện ngắn, 2 tập truyện dài và 2 cuốn tiểu thuyết được xuất bản đã đem lại cho chị nhiều giải thưởng cao của giới chuyên môn: Tặng thưởng cuộc thi “Truyện viết cho thiếu nhi” với tập truyện Chiếc hộp gia bảo, Giải sách hay của Nhà xuất bản Hội Nhà văn với tập truyện Kẻ đối đầu, Giải Nhất truyện ngắn Báo Thiếu niên với truyện ngắn Bạn rừng và đặc biệt là Giải B Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam với tập Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà.
Tìm hiểu văn xuôi Võ Thị Xuân Hà từ góc độ phương thức trần thuật với hy vọng đem lại một cách nhìn hệ thống và sâu sắc hơn về sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, qua đó góp phần khẳng định những đóng góp của nhà văn đối với nền văn học nước nhà là lý do chúng tôi lựa chọn vấn đề Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi mong muốn sẽ góp phần tìm hiểu rõ nét hơn những đặc sắc của văn xuôi Võ Thị Xuân Hà qua góc nhìn nghệ thuật trần thuật. Từ đó thấy được những đóng góp của chị trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là những truyện ngắn, tập truyện ngắn và tiểu thuyết của Võ Thị Xuân Hà. Góc tiếp cận chủ yếu là những nét sáng tạo, đổi mới trong nghệ thuật trần thuật qua điểm nhìn trần thuật, thời gian trần thuật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những sáng tác đã xuất bản trong thời gian qua của nhà văn Võ Thị Xuân Hà:
* Tập truyện ngắn:
– Thế giới tối đen, NXB Phụ nữ (2009).
– Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, NXB Hội Nhà văn (2009).
– Chiếc hộp gia bảo, NXB Văn hóa thông tin (2010).
– Ăn trái đào hái hoa hồng đào, NXB Hội Nhà văn (2011).
– Vàng son thạch thủy khí, NXB Hội Nhà văn (2012).
– Café yêu dấu, NXB Văn học (2013).
– Những bông điệp cuối mùa, NXB Kim Đồng (2013).
* Truyện ngắn:
– Lúa hát, http://www.dutule.com/D_1-2_2-140_4-5287/vo-thi-xuan-ha-lua-hat.html (ngày truy cập 11/12/2013).
– Chuyện của con gái người hát rong, http://vietart.free.fr/index3.627.html (ngày truy cập 11/12/2013).
* Tiểu thuyết:
– Tường thành, NXB Văn hóa Sài Gòn (2006).
– Trong nước giá lạnh, NXB Văn học (2008).
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, người viết chủ yếu sử dụng kết hợp một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
5.1. Phương pháp thống kê phân loại
5.2. Phương pháp phân tích tổng hợp
5.3. Phương pháp đối chiếu, so sánh
5.4 Ngoài các phương pháp trên chúng tôi còn sử dụng lý thuyết tự sự học, thi pháp học khi triển khai đề tài này.
6. Bố cục đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của đề tài được chia làm 3 chương:
Chương 1: Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà- dòng riêng giữa nguồn chung
Chương 2: Điểm nhìn trần thuật và thời gian trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà
Chương 3: Ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà
CHƯƠNG 1
VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ – DÒNG RIÊNG GIỮA NGUỒN CHUNG
1.1. DIỆN MẠO VĂN XUÔI VIỆT NAM SAU 1986
1.1.1. Sự đổi mới về tư duy sáng tác
Từ sau 1975, văn học đã có những chuyển đổi mang ý nghĩa như một sự chuẩn bị, một giai đoạn “bản lề” để đi tới công cuộc đổi mới toàn diện, sâu sắc đồng bộ với sự đổi mới của đất nước từ sau 1986.
Văn học giai đoạn này đã nêu bật được vai trò chủ thể của nhà văn. Đề tài mang âm hưởng sử thi không còn giữ vai trò độc tôn mà thay vào đó là mảng đề tài về thế sự đời thường và đạo đức cá nhân con người thời kỳ hậu chiến.
Trước hết, sự đổi mới thể hiện rõ trên phương diện tư duy nghệ thuật. Văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết.
Không chỉ dừng lại ở đó, văn xuôi sau 1975 còn khác văn xuôi giai đoạn trước ở sự đa dạng về giọng điệu, từ giọng trầm tĩnh, khách quan chuyển dần sang giọng điệu phê phán rồi dần lắng xuống hòa vào nhiều giọng điệu khác.
Con người trong văn học sau 1986 hiện lên hết sức phức tạp với sự đan xen nhiều tính cách khác nhau trong cùng một con người: Con người hiện lên như vốn có, không thần thánh hóa, không lý tưởng hóa, giúp cho độc giả có được những cảm nhận chân thực nhất về mọi thứ xung quanh mình.
Sự đổi mới về mặt tư duy, quan niệm đã dẫn đến những thay đổi về mặt cảm hứng. Hầu hết các nhà văn ở giai đoạn này đều giành nhiều bút mực cho cảm hứng thế sự, cảm hứng về thân phận con người… Đây là những cảm hứng mới, chiếm ưu thế trên văn đàn thời kỳ này.
Riêng ở phương diện cảm hứng nghệ thuật, nếu như văn học giai đoạn trước thường tập trung vào khuynh hướng sử thi – cảm hứng lãng mạn với việc đề cao tính chất tập thể, cộng đồng thì văn học thời kỳ sau đổi mới lại tập trung vào những cảm hứng như: cảm hứng bi kịch, cảm hứng thế sự, cảm hứng trào lộng, phê phán…
Văn học Việt Nam từ sau đổi mới đã thực sự chuyển mình một cách mạnh mẽ để theo kịp sự phát triển chung của đời sống, đặc biệt đã đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của công chúng và hội nhập ngày càng mạnh mẽ vào nền văn học chung của thế giới.

1.1.2. Sự đổi mới về nghệ thuật trần thuật
Có thể nói, nghệ thuật trần thuật trong văn học Việt Nam thời kỳ trước những năm 1975 thường thể hiện theo lối tương đối đơn nhất, chỉ tập trung miêu tả, hướng sự chú ý của độc giả đến bối cảnh thực tại mang đậm tính chất sử thi, mà bỏ qua hoặc rất ít chú trọng đến những suy tư, chiêm nghiệm về cuộc đời con người, cách biểu đạt diễn tả cũng vì thế mà trở nên nghèo nàn, đơn giản. Lẽ dĩ nhiên, các thủ pháp miêu tả cũng phần nào bị hạn chế: ngôn ngữ không tập trung vào ý thức đối thoại mà mang đậm màu sắc chính trị; giọng điệu ngợi ca sôi nổi, hào hùng; cốt truyện tiến triển theo đường thẳng dẫn đến những cái kết có hậu với cách xây dựng nhân vật giản đơn và không – thời gian được trần thuật thường được mô tả theo những mô típ định sẵn.
Sau Đại hội Đảng lần thứ VI, chính bối cảnh mới của đất nước đã tạo nguồn cảm hứng sáng tác cho đội ngũ những người cầm bút, thêm vào đó là sự tiến bộ trong lý luận, phê bình văn học cũng như công tác quản lý văn chương đã góp phần không nhỏ cho sự đổi mới của nghệ thuật trần thuật.
Mở rộng đề tài là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy sự đổi mới của nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Việt Nam hiện đại. Những mảng hiện thực bộn bề của cuộc sống đi vào văn học đã phá vỡ kết cấu cốt truyện theo hướng đường thẳng đơn nhất, đòi hỏi nghệ thuật xây dựng cốt truyện phải đổi thay: nhiều tác phẩm trong thời kỳ này đã xây dựng kiểu truyện không có cốt truyện, cốt truyện không thể hoặc rất khó có thể kể lại; một số tác phẩm lại có cốt truyện được xây dựng theo kết cấu phân mảnh tạo nên những mảnh vỡ được lắp ghép từ những sự kiện và tình huống riêng lẻ, mang cấu trúc mới, diễn đạt sáng tạo những hiện thực mới.
Chính sự mở rộng đề tài, sự phá vỡ những quan niệm truyền thống về cốt truyện, về sự điển hình hóa đã kéo theo sự thay đổi về cách miêu tả không gian, thời gian nhiều chiều. Bên cạnh đó, các nhà văn cũng đã kịp thời định hình cho mình một phong cách ngôn ngữ riêng. Tính đơn giọng dần nhường chỗ cho tính đa thanh, phức điệu, từ độc thoại chuyển dần sang đối thoại.
Tóm lại những thành tựu của nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Việt Nam sau đổi mới có thể được ghi nhận trên các bình diện sau: sự phong phú của đề tài; sự nổi bật của phong cách ngôn ngữ, giọng điệu; sự cách tân trong nghệ thuật xây dựng nhân vật và cốt truyện; sự mở rộng không gian và thời gian; sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật cũng đã tạo ra những sắc thái mới cho nghệ thuật trần thuật, làm cho nghệ thuật trần thuật ngày càng đa dạng theo chiều hướng hiện đại trên nhiều phương diện khác nhau.
1.2. HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA VÕ THỊ XUÂN HÀ
1.2.1. Võ Thị Xuân Hà- chân dung và tác phẩm
Võ Thị Xuân Hà sinh ngày 20 tháng 4 năm 1954, là một trong số những cây bút trưởng thành sau kháng chiến chống Mỹ, quê gốc ở Vỹ Dạ (Huế) nhưng chị lại sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.
Mang trong mình tình yêu sâu nặng với văn chương, nên dù xuất thân là một cô giáo dạy Toán- Lý nhưng chị lại bỏ ngang theo nghiệp văn chương. Với chị văn chương là nỗi niềm, là thân phận, là định mệnh, là những trải nghiệm cuộc đời và đôi điều suy ngẫm.
Nhắc đến Võ Thị Xuân Hà, người yêu văn thường liên tưởng đến một tác giả nữ với hàng loạt những truyện ngắn gây ấn tượng sâu sắc như Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Lúa hát, Café yêu dấu… nhưng trên thực tế, ngòi bút Võ Thị Xuân Hà còn mở rộng đến nhiều thể loại khác như tiểu thuyết, kịch bản phim… và với thể loại nào chị cũng đều đạt được những thành công nhất định. Hàng loạt giải thưởng đạt được là minh chứng rõ rệt cho điều này. Không chỉ dừng lại ở văn xuôi, Võ Thị Xuân Hà còn đặt chân đến với môn nghệ thuật thứ 7 bằng rất nhiều kịch bản phim như Kịch bản phim Chiếc hộp gia bảo; Kịch bản phim Chuyện ở rừng sồi – đạt Giải Khuyến khích (Cục Điện ảnh năm 1998); Kịch bản phim Đất lặng lẽ; Kịch bản phim Trăng nơi đáy giếng của Cục Điện ảnh năm 2003…
1.2.2. Quan niệm nghệ thuật
Văn chương Võ Thị Xuân Hà thu hút độc giả trước hết bởi lối kể chuyện hấp dẫn, nhiều nhận xét tinh tế, thâm trầm nhưng đậm chất triết lý xen lẫn giọng điệu pha chút dí dỏm hài hước, thêm vào đó là những quan niệm rất riêng của nữ văn sĩ về nghiệp văn chương của bản thân.
Với văn chương, Võ Thị Xuân Hà luôn khẳng định quyết tâm không để bản thân nghèo nàn khổ sở, và bản thân chị cũng chưa bao giờ cảm thấy mình khổ sở. Chị luôn giữ được sự tự tin, biết tin vào cái Đẹp và luôn giữ được nét tươi trẻ.
Bên cạnh đó, trong các sáng tác của Xuân Hà độc giả dễ dàng nhận thấy đó là sự tràn ngập của thông điệp yêu thương, đặc biệt ở mảng truyện ngắn.
Luôn tin, luôn yêu cái đẹp nên Võ Thị Xuân Hà luôn có chính kiến trong quan niệm sáng tác. Chị luôn ý thức rõ tính dân tộc và bản sắc văn hóa của người Việt.
Đối với yếu tố sex trong văn chương, Võ Thị Xuân Hà cho rằng sex là một trong những yếu tố mang bản năng tự nhiên của con người – nếu tước đi bản năng đó thì văn học sẽ mất tác dụng phản ánh đúng hiện thực cuộc sống như nó vốn có.
Chính những quan điểm nhất quán về sáng tác cùng với chiều sâu tư tưởng đã làm cho Võ Thị Xuân Hà không những không bị trộn lẫn với vô số những nhà văn khác mà những sáng tác của chị cũng đã tạo được những hiệu ứng thẩm mỹ tốt trong lòng người đọc.
CHƯƠNG 2
ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ THỜI GIAN TRẦN THUẬT TRONG VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ
2.1. ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT
Điểm nhìn trần thuật là vị trí, góc độ, khoảng cách chủ thể trần thuật dùng để quan sát đối tượng trần thuật. Điểm nhìn trần thuật có thể xuất phát từ bên ngoài, có thể xuất phát từ bên trong, có điểm nhìn từ một phía lại có điểm nhìn từ nhiều phía…
Khảo sát một số các sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, người viết nhận thấy sáng tạo của nữ văn sĩ ở đây trước hết được biểu hiện ở khả năng khai thác nhiều tình huống, từ đó tạo ra sự đa dạng của các điểm nhìn. Dưới ngòi bút của chị, điểm nhìn nghệ thuật vừa như một phương thức tổ chức văn bản, vừa là phát ngôn cá nhân của nhà văn trước xu thế thời đại đã được tác giả sử dụng một cách khéo léo, tạo nên hiệu ứng tốt trong lòng độc giả.
2.1.1. Điểm nhìn bên trong
Trong các sáng tác của Xuân Hà nhà văn sử dụng điểm nhìn bên trong để khám phá chiều sâu bên trong của tâm hồn con người hay để kể lại cuộc sống xung quanh, kể lại những biến cố bản thân đã nếm trải để chia sẻ cùng độc giả, như trong các truyện ngắn Ngôi sao chiếu mệnh, Cuộc chuyện với cụ Rùa, Giấc mơ…
Có thể thấy, ở cách trần thuật theo điểm nhìn bên trong, ngôn ngữ trần thuật thường mang đậm màu sắc chủ quan. Cùng với việc dẫn dắt các tình tiết, sự kiện, người trần thuật đã không ngần ngại thể hiện cảm xúc, quan điểm của mình. Nhân vật ở đây đóng vai trò định hướng tư duy, tư tưởng, tình cảm cho độc giả.
2.1.2. Điểm nhìn bên ngoài
Thông qua quá trình khảo sát một số truyện ngắn và tiểu thuyết của Võ Thị Xuân Hà, chúng tôi nhận thấy phần lớn các tác phẩm đều được trần thuật ở ngôi thứ ba – tức là điểm nhìn trần thuật ở bên ngoài câu chuyện. Như vậy so với cách trần thuật từ điểm nhìn bên trong, thì quan điểm trần thuật câu chuyện xuất phát từ điểm nhìn bên ngoài chiếm ưu thế rõ rệt trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà như trong các sáng tác: Tường thành, Vườn hài nhi, Thiên thần nhỏ, Một ngày muôn đời. Nữ văn sĩ đã hướng ngòi bút vào mạch cảm hứng thế sự, phản ánh cuộc sống đời tư và phanh phui những góc tối của cuộc sống bằng cái nhìn khách quan từ điểm nhìn bên ngoài – đó hoàn toàn là sự lựa chọn đầy hợp lý.
2.1.3. Sự dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật
Luân phiên, phối hợp nhiều điểm nhìn khác nhau về cùng một vấn đề; đưa các điểm nhìn của các nhân vật không hề liên quan đặt cạnh nhau; tạo sự lệch hướng trong cách nhìn của những người trong cuộc… đang là cách mà những tác giả sau đổi mới sử dụng cho tác phẩm của mình. Nhờ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho tinh thần đối thoại và tự đối thoại cởi mở, dân chủ. Trong một số tác phẩm nhà văn không duy trì trọn vẹn từ đầu đến cuối một điểm nhìn khách quan bên ngoài mà còn dịch chuyển vào điểm nhìn bên trong của nhân vật hoặc từ điểm nhìn của nhân vật này chuyển sang điểm nhìn của nhân vật khác, việc dịch chuyển này giúp nhà văn có thể phản ánh hiện thực đời sống một cách đa dạng, phong phú hơn. Nhờ sự dịch chuyển điểm nhìn, người đọc có thể tiếp cận với một thế giới nhân vật với đầy đủ mọi phương diện: cả hình thức bên ngoài và nội tâm ẩn giấu phía bên trong.
Khảo sát một số sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, người viết nhận thấy điểm mới ở đây là tác giả đã khai thác các tình huống truyện một cách đa dạng, từ đó có thể tạo ra sự đa dạng trong điểm nhìn trần thuật. Cách đan xen nhiều điểm nhìn trần thuật đã khiến cho văn xuôi Võ Thị Xuân Hà trở nên nhiều chiều, đa dạng và sinh động hơn. Có thể nói đây là sự tìm tòi, đổi mới thể nghiệm trên con đường sáng tạo nghệ thuật của nữ văn sĩ. Tuy yếu tố chính trong điểm nhìn trần thuật vẫn xuất phát từ phía bên ngoài, song sự đan xen nhuần nhuyễn nhiều điểm nhìn đã làm gia tăng độ tin cậy về tính khách quan cho mỗi câu chuyện mà tác giả mang đến cho người đọc, qua đó nhằm tạo thêm sức thuyết phục cho hiện thực đời sống.
2.2. THỜI GIAN TRẦN THUẬT
Đối với tác phẩm nghệ thuật nói chung và tác phẩm văn học nói riêng, thời gian nghệ thuật đóng một vai trò hết sức quan trọng, bởi nó chính là “hình thức nội tại của hình tượng nghệ thuật thể hiện tính chỉnh thể của nó” [15, tr.272]. Nếu như dòng thời gian tự nhiên diễn tiến một cách tuần tự theo chuỗi trước – sau, quá khứ – hiện tại – tương lai thì thời gian nghệ thuật “có thể đảo ngược, quy về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát lại có thể kéo dài cái chốc lát thành vô tận” [15, tr.272]. Nghiên cứu thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học chính là cái nhìn về một yếu tố thi pháp, vừa giúp chúng ta có thể cảm thụ một cách rõ ràng cụ thể về tác phẩm lại vừa định hình được quan niệm nghệ thuật và phong cách riêng của tác giả.

Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Và cái nhìn trần thuật bao giờ cũng diễn ra trong thời gian, được biết qua thời gian trần thuật” [15, tr.219].
Thời gian trần thuật chính là “thời gian vận động theo dòng vận động tuyến tính một chiều của văn bản ngôn từ. Thời gian được trần thuật là thời gian của sự kiện được nói tới”, là thời gian trật tự các sự kiện đã được phân bố lại trong truyện do sắp xếp chủ quan của người kể chuyện, theo đó người kể chuyện đã sử dụng thời gian như là một công cụ để xây dựng nên bối cảnh, sắp xếp diễn tiến các chuỗi sự kiện trong tác phẩm với đích đến cuối cùng là làm tăng hiệu quả nghệ thuật ở mức cao nhất.
Trong các tác phẩm tự sự, nhà văn đã sử dụng yếu tố thời gian như là một công cụ để góp phần làm nên giá trị nghệ thuật cho tác phẩm. Thời gian trần thuật trong tác phẩm tự sự là một phương diện quan trọng. Nó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn, đồng thời bộc lộ được quan điểm của tác phẩm.
2.2.1.Thời gian gắn liền với những biến cố trong cuộc đời nhân vật
Võ Thị Xuân Hà thường sử dụng thời gian như là một phương tiện đắc lực để phán ánh hiện thực. Trong những tác phẩm của chị, thời gian được miêu tả với nhịp độ nhanh, gắn với những biến đổi của số phận, tính cách của con người như Kẻ đối đầu, Những kẻ lãng mạn, Thiên thần nhỏ…
2.2.2. Thời gian tâm tưởng hướng về quá khứ
Trong một số sáng tác của mình, Xuân Hà còn đưa người đọc về với thời gian tâm tưởng trong cuộc đời của nhân vật qua truyện ngắn Xem mi- mô- za nở. Bằng bút pháp miêu tả thời gian tâm tưởng trong quá khứ, tác giả đã làm nổi bật sự trớ trêu của hoàn cảnh.
2.2.3. Thời gian đan xen, đảo lộn
Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà thường thường có độ chênh giữa thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật. Thời gian trần thuật có khi là vài năm, vài tháng; có khi là vài ngày; một ngày thậm chí có khi chỉ là trong thoáng chốc nhưng nó lại chứa đựng thông tin về thời gian của cả một đời người hay một quãng thời gian có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời nhân vật. Chính sự tương quan này đã tạo ra kiểu thời gian nhiều bình diện và có sự đan xen, đảo lộn trong các bình diện thời gian với Không khóc ở Seoul, Bay lên miền xa thẳm, Ngôi sao chiếu mệnh, Ngày hội lúa…
Có thể nói sử dụng thời gian làm phương thức chuyển tải nội dung là điểm mạnh của ngòi bút Võ Thị Xuân Hà, từ thời gian gắn với những biến cố trong cuộc đời con người, thời gian tâm tưởng hướng về quá khứ đến sự đan xen xáo trộn các bình diện thời gian.
CHƯƠNG 3
NGÔN NGỮ VÀ GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT TRONG
VĂN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ
3.1. NGÔN NGỮ TRẦN THUẬT
Ngôn ngữ là yếu tố đầu tiên mà nhà văn sử dụng trong quá trình “thai nghén” và sáng tạo ra tác phẩm văn học; nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên khi người đọc tiếp cận tác phẩm, chính vì thế mà ngôn ngữ trở thành yếu tố không thể thiếu trong tác phẩm văn học. Ngôn ngữ của tác phẩm văn học cũng là ngôn ngữ của đời sống nhưng đã được khái quát hóa. Trong phương thức tự sự, ngôn ngữ trần thuật không chỉ đóng vai trò then chốt mà còn thể hiện phong cách, cái nhìn, giọng điệu, cá tính của tác giả.
Theo Từ điển thuật ngữ văn học thì “ngôn ngữ người trần thuật là phần lời văn độc thoại thể hiện quan điểm tác giả hay quan điểm người kể chuyện đối với cuộc sống được miêu tả” [15, tr.148]. Nó chẳng những đóng vai trò then chốt trong phương thức tự sự mà còn có tác dụng như là một yếu tố cơ bản trong việc tạo nên phong cách nhà văn bởi lẽ ngôn ngữ chính là cái nhìn, cá tính của tác giả trước cuộc sống.
Ngôn ngữ bao giờ cũng mang tính hệ thống nội tại, bên cạnh đó nó còn có mối quan hệ chặt chẽ với hiện thực, có thể nói mỗi khía cạnh của đời sống đều có một loại ngôn ngữ, một loại từ vựng đặc trưng, đúng như đánh giá của nhà văn Tô Hoài: “Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình xã hội lúc chữ ấy ra đời… người viết văn không thể ngồi bóp óc nghĩ cách trau dồi câu chữ mà phải đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho ngòi bút” [16, tr.47]
Có thể nói, một trong những phương diện đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1986 là sự cách tân về ngôn ngữ theo hướng đưa ngôn ngữ văn học đến gần hơn với ngôn ngữ đời sống, bên cạnh đó tăng dần thông tin và triết lý trong bản thân ngôn ngữ, và Võ Thị Xuân Hà đã khéo léo sử dụng lớp ngôn ngữ ấy làm phong phú hơn cho các sáng tác của mình.
3.1.1. Ngôn ngữ mang đậm phong vị Huế
Có thể thấy phần lớn các sáng tác của Xuân Hà đều tràn ngập âm vị Huế, như chính chị đã từng bộc bạch: “Với người Huế, những từ như mô, tê, răng rứa… vừa gần gũi, vừa giản dị thân thương vì nó đã ăn sâu vào trong nếp sống thường ngày của người dân Cố đô. Những câu từ đơn giản nhưng lại tạo nên sự kỳ lạ đối với du khách bốn phương”.
3.1.2. Ngôn ngữ mang màu sắc tâm linh
Trong một số sáng tác của chị như Ngàn xanh và gió, Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí…, yếu tố tâm linh, hình ảnh của nhà chùa, sư thầy kết hợp với ngôn ngữ Phật giáo đã làm cho các câu chuyện phảng phất không khí liêu trai, kỳ ảo. Thông qua một vài khảo sát, có thể thấy ngôn ngữ mang màu sắc tâm linh đã góp phần tạo nên một sắc điệu riêng cho văn xuôi Võ Thị Xuân Hà.
3.1.3. Ngôn ngữ đời thường, giản dị
Với lối hành văn giản dị, phản ánh trung thành cuộc sống như những gì nó vốn có, nhà văn đã tái hiện chân thực cuộc sống qua những trang viết của mình bằng tiểu tuyết Tường thành…, phần lớn các sáng tác của chị đều phản ánh những vấn đề có tính thời sự nóng bỏng như Vườn hài nhi, Tường thành, Ngọa sinh, Không khóc ở Seoul…
3.2. GIỌNG ĐIỆU TRẦN THUẬT
Khảo sát văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, người viết nhận thấy những sắc thái giọng điệu cơ bản mà chị thường sử dụng trong các tác phẩm của mình đó là: giọng trữ tình; giọng suy ngẫm, triết lý; giọng mỉa mai, cợt nhã.
3.2.1. Giọng điệu trữ tình
Chất trữ tình trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà trước hết được thể hiện ở những rung cảm tinh tế của đời sống nội tâm và được diễn đạt bằng một thứ ngôn ngữ, giọng điệu tràn ngập sắc thái trữ tình thông qua Café yêu dấu, Đi qua mùa đông giá lạnh, Một ngày muôn đời, Ngày hội lúa
Bên cạnh đó, nhắc đến giọng điệu trữ tình trong những trang văn của Võ Thị Xuân Hà không thể không kể đến những lời tự hào ngợi ca khi nhắc đến quê hương, cả nỗi nhớ khắc khoải của người con xa quê thể hiện qua Trôi trong sương mù, Chuyện của người con gái hát rong…
3.2.2. Giọng suy ngẫm, triết lý
Văn xuôi của Xuân Hà thường có dung lượng rất nhỏ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực cuộc sống với những mảnh đời, những số phận. Trong lúc đối thoại, tranh luận, các nhân vật trong sáng tác của Xuân Hà thường bộc lộ trực tiếp quan niệm, chính kiến của mình về vấn đề mà nhà văn quan tâm, vì thế vấn đề tranh luận thường được nhìn nhận dưới nhiều chiều kích khác nhau.
3.2.3. Giọng mỉa mai, cợt nhã
Giọng mỉa mai cợt nhã xuất hiện trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà không vì mục đích tạo tiếng cười bỡn cợt mà đơn giản chỉ như một lối kể chuyện thuật lại những gì đang xảy ra quanh mình. Ẩn chứa sau những lời bông đùa giễu cợt lại là những suy ngẫm, những trăn trở về cuộc đời và con người với Ngọa sinh, Lá bùa…
Có thể nói, giọng trữ tình êm ái, giọng suy chiêm nghiệm triết hay giọng mỉa mai cợt nhã là ba trong số những giọng điệu đa dạng độc giả có thể tìm thấy trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà nói riêng cũng như trong văn xuôi Việt Nam sau đổi mới nói chung. Đến với những sáng tác của chị, người đọc cảm nhận giọng kể đầy chất thơ khi miêu tả về tình yêu đôi lứa hay quê hương xứ sở, trầm xuống đầy suy ngẫm trước những số phận không may mắn, ẩn chứa đằng sau mỗi con chữ là những chiêm nghiệm đau đáu về cõi nhân sinh và trên hết đó là tấm lòng của một người phụ nữ luôn hết mình vì cuộc đời, hết mình vì con người.
KẾT LUẬN
Văn học Việt Nam sau 1975, nhất là sau thời kỳ đổi mới đã chứng kiến sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút nữ như Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân… Thông qua những sáng tác của mình, họ đã và đang góp phần tạo nên một giai đoạn mới cho văn học nước nhà, và Võ Thị Xuân Hà cũng là một trong số đó. Văn xuôi của chị nhẹ nhàng nhưng lại có cách chiếm lĩnh hiện thực cuộc sống rất riêng của người con gái xứ Huế. Luôn mang trong mình ý thức về một thế hệ nhà văn mới, bằng niềm đam mê và tình yêu đối với nghiệp văn chương, chị luôn mê mải tìm tòi, khám phá, sáng tạo nên những cái mới mẻ. Với chị, tạo hóa ban tặng cho con người thiên chức gì thì họ phải nỗ lực để hoàn thành tốt thiên chức ấy.
Bắt nguồn từ cách nhìn đổi mới từ cuộc sống thấm đẫm chất nhân văn cao cả, nữ văn sĩ đã không ngừng tìm tòi, phát hiện ra những bất ngờ ẩn chứa đằng sau mỗi trang văn từ đó tạo nên nét mới lạ cho nghệ thuật sáng tác nói chung và nghệ thuật trần thuật nói riêng. Thông qua quá trình khảo sát nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, chúng tôi nhận thấy rằng:
Văn xuôi Võ Thị Xuân Hà đã thể hiện một lối viết sắc sảo, đậm tính nhân văn, tiếp cận với những sáng tác của chị, người đọc có thể tìm ra những suy ngẫm của một cây viết luôn đáu đáu trước những biến chuyển của đời sống khiến cho số phận con người vì thế cũng bị biến đổi.
Trong những sáng tác của mình, Võ Thị Xuân Hà luôn lựa chọn điểm nhìn trần thuật phù hợp với nội dung tư tưởng và ý đồ của bản thân. Theo đó, việc lựa chọn điểm nhìn từ bên ngoài đã giúp nhà văn phản ánh hiện thực cuộc sống một cách chân thực và khách quan nhất như những gì nó vốn có. Bên cạnh đó, điểm nhìn bên trong cũng được nữ văn sĩ sử dụng để khắc họa nội tâm con người. Đối tượng trần thuật vì thế không chỉ được tiếp cận bằng hình dáng với những biểu hiện bên ngoài mà còn được soi rọi tận những góc khuất của chiều sâu tâm hồn. Một điểm đặc biệt nữa khi tiếp cận văn xuôi của Xuân Hà, người đọc dễ dàng nhận thấy là sự dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật trong cùng một tác phẩm, điểm nhìn trong trang viết của chị không hẳn được duy trì xuyên suốt từ đầu đến cuối truyện mà linh hoạt thay đổi, tạo nên sự hấp dẫn cho câu chuyện mà chị hướng đến, qua đó giúp Xuân Hà phân tích diễn biến tâm lý nhân vật một cách kỹ càng, tinh tế hơn.
Thời gian trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà cũng góp phần thể hiện rõ cá tính sáng tạo và ý đồ nghệ thuật của nhà văn. Từ thời gian gắn liền với những biến cố trong cuộc đời nhân vật, thời gian tâm tưởng hướng về quá khứ cho đến thời gian đan xen đảo lộn, nhà văn đã tạo cho nhân vật của mình những khoảng thời gian thích hợp để bộc lộ tâm trạng, hồi ức. Chính sự khai thác các bình diện thời gian một cách độc đáo đã tạo nên những dấu ấn riêng trong nghệ thuật thể hiện của Võ Thị Xuân Hà.
Giọng điệu trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà cũng có nhiều tìm tòi, đổi mới. Bằng sự kết hợp khéo léo giữa các giọng điệu với nhau đã đem đến cho văn xuôi của nữ tác giả những nét hấp dẫn riêng. Chính điều này đã góp phần rút ngắn khoảng cách giữa người trần thuật và đối tượng được trần thuật, tạo cho tác phẩm tiếng nói đa thanh, giàu xúc cảm.
Là một nhà văn luôn không ngừng tìm tòi và tự đổi mới, ngôn ngữ văn xuôi của Xuân Hà cũng có những tìm tòi riêng. Bên cạnh lớp ngôn ngữ đời thường giản dị, nhà văn còn sử dụng chuỗi hệ thống ngôn ngữ giàu chất thơ, phong phú hình ảnh và biểu cảm. Cùng với lớp nhà văn cùng thời, Xuân Hà là một tác giả rất có ý thức trong việc lựa chọn câu chữ cho những sáng tác của mình. Sống hết mình, trải lòng trước cuộc đời, Võ Thị Xuân Hà đã mang đến cho tác phẩm hệ thống ngôn ngữ đa dạng, phong phú, chính điều này đã góp phần thể hiện quá trình lao động nghệ thuật hết sức say mê, bền bỉ của chị.
Với những sáng tác đã xuất bản trong thời gian qua, không thể phủ nhận văn xuôi Võ Thị Xuân Hà đã góp phần làm nên diện mạo của văn học nữ nói riêng và văn học của nước nhà nói chung. Thông qua đề tài nghiên cứu Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà, người viết mong muốn góp phần đưa người đọc đến gần hơn với những “đứa con tinh thần của chị”, cùng suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc đời và số phận nhân vật, cùng cười và cùng đau với chị.
Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà. Nghệ thuật trần thuật trong văn xuôi Võ Thị Xuân Hà
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KHXH&NV\TRUONG THI MAI PHUONG


