Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn
1.1. Trong khoa học nghiên cứu văn học, nghệ thuật trần thuật là vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm. Là phương diện cơ bản nhất của tự sự học, trần thuật góp phần không nhỏ trong việc hình thành thế giới nghệ thuật và cho thấy được thế giới nhân sinh quan của tác giả. Tìm hiểu nghệ thuật trần thuật chính là nghiên cứu tác phẩm tự sự trong hệ hình chỉnh thể, từ cách tổ chức, kết cấu tác phẩm đến việc lựa chọn điểm nhìn, giọng điệu và xây dựng hệ thống hình tượng trong tác phẩm. Nghệ thuật trần thuật là chìa khóa mở ra những đường biên dẫn giải cho những tầng nghĩa – ý nghĩa từ nhiều điểm nhìn tham chiếu. Bởi vậy, nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm nghệ thuật là một hướng đi mới khẳng định đi đến giá trị của tác phẩm cũng như tài năng và phong cách của nhà văn.
1.2. Tiểu thuyết là thể loại trọng yếu, góp phần tạo nên khuôn diện cho đời sống của văn học. Trong tiến trình phát triển, ở mỗi giai đoạn, thể loại này luôn khẳng định được vai trò đáp ứng những nhu cầu của đời sống xã hội. Đặc biệt, giai đoạn 1945 – 1975, văn học cách mạng Việt Nam bước sang một giai đoạn mới, cùng với đó các nhà tiểu thuyết đã có bước ngoặc trong hệ hình tư duy, tìm kiếm cho mình lối viết vừa đáp ứng nhu cầu của thời đại, thị hiếu của công chúng, lại vừa thể hiện nét riêng trong sáng tạo của người cầm bút. Theo đấy, tiểu thuyết giai đoạn này đã đạt được những thành tựu nhất định ở cả phương diện nội dung phản ánh và hình thức biểu hiện, tạo tiền đề cho sự phát triển và thành công rực rỡ của tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn sau. Chính vì vậy, soi chiếu bản chất tiểu thuyết từ lí thuyết trần thuật, cho chúng ta thấy được sự vận động của thể loại trong quá trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.
1.3 Thu Bồn là một nhà văn luôn sống và cống hiến hết mình trên cả chiến trường và cả “mặt trận” văn chương. Xuyên suốt sự nghiệp sáng tác, với tâm huyết, nghị lực và tài năng, người nghệ sĩ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Đặc biệt với những thành tựu thuật nghệ thuật đạt được, ở mỗi địa hạt thể loại đã thực sự chạm thấu tâm hồn nhiều thế hệ độc giả. Nghiên cứu tiểu thuyết Thu Bồn từ phương diện nghệ thuật trần thuật là đi vào khám phá các yếu tố hình thức làm nên phẩm chất nghệ thuật cho bản mệnh tác phẩm. Trong đó, mỗi trang viết của nhà văn là cả một thế giới sống phong phú và đa sắc màu, tựa dẫn cho nhiều khung giá trị thẩm mĩ.
1.4. Chọn đề tài Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn nghiên cứu, chúng tôi mong muốn tri nhận những thành tựu nghệ thuật mang đậm cá tính của nhà văn được thể hiện ở cả mặt trước và mặt sau trong thế giới nghệ thuật tiểu thuyết. Đồng thời, qua đó ghi nhận sự đóng góp của Thu Bồn cho đường biên thể loại tiểu thuyết nói riêng và trong dòng chảy chung của bức tranh văn học Việt Nam hiện đại.
Đối với đề tài này, chúng tôi tập trung khám phá nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn qua các phương diện: Nghệ thuật xây dựng nhân vật, người kể chuyện và điểm nhìn nghệ thuật, nghệ thuật tổ chức kết cấu, xây dựng cốt truyện, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật. Từ đó thấy được đặc sắc của tiểu thuyết cũng như cá tính sáng tạo và tư duy nghệ thuật của Thu Bồn.
Nghiên cứu nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn cũng đóng góp một cách nhìn vào việc nghiên cứu về lí luận tự sự và đặc điểm của tiểu thuyết trong tiến trình văn học Việt Nam. Đồng thời cũng góp phần hoàn chỉnh bức chân dung về người nghệ sĩ tài năng Thu Bồn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng luận văn hướng đến là: Nghiên cứu tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc – Thu Bồn được Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2007.
Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc – Thu Bồn
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp tự sự học: Khám phá thế giới nghệ thuật nhà văn từ các yếu tố hình thức trong cấu trúc văn bản, qua đó tìm hiểu nghệ thuật trần thuật nổi bật của tác giả.
Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đi sâu phân tích cấu trúc truyện kể trong tiểu thuyết của Thu Bồn ở cả hai phương diện nội dung và hình thức nổi trội, sau đó tổng hợp, đánh giá lại những giá trị mang ý nghĩa quan trọng thể hiện được phong cách tác phẩm và tác giả.
Phương pháp cấu trúc, hệ thống: xem tác phẩm như một hệ thống bao gồm các yếu tố trong mối quan hệ thống nhất để qua đó hướng tới xác lập ý nghĩa của các yếu tố ấy với nhau.
Phương pháp liên ngành: Vận dụng tích hợp các lí thuyết thi pháp học, kí hiệu học nhằm làm sáng rõ hơn về bản bản chất và vai trò của tư duy nghệ thuật trần thuật trong tạo sinh những giá trị cho văn bản tiểu thuyết.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được triển khai gồm ba chương:
Chương 1: Điểm nhìn trần thuật và tổ chức hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc.
Chương 2: Cốt truyện và không gian, thời gian trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc.
Chương 3: Giọng điệu và ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc.

ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT VÀ TỔ CHỨC HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT DƯỚI ĐÁM MÂY MÀU CÁNH VẠC
Trong tác phẩm tự sự, cùng với các thành tố nghệ thuật khác, điểm nhìn trần thuật trở thành yếu tố quan trọng trong biểu hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn, góp phần thể hiện chiều sâu bản mệnh tác phẩm và đem lại cho người người tiếp nhận những “tầm đón” mới trước hiện thực của đời sống. Theo đó, đối với mỗi người nghệ sĩ, quá trình sáng tạo luôn được khởi đi từ cách thức tổ chức các điểm nhìn nghệ thuật gắn với nhiều giao diện nhìn, trường nhìn khác nhau. Trong đấy, “điểm nhìn trần thuật không chỉ là điểm nhìn thuần túy quang học như khái niệm tiêu cự, tụ điểm mà nó còn mang nội dung, quan điểm, lập trường tư tưởng, tâm lí của con người.” [52, tr.182]. Từ đó, mỗi hình thái điểm nhìn thể hiện “vị trí người kể dựa vào để quan sát trần thuật các nhân vật và sự kiện” [55, tr.61]. Như vậy, điểm nhìn nghệ thuật còn là cơ sở của cấu trúc trần thuật và trở thành phương tiện để chủ thể sáng tạo tạo dựng nên nhiều không gian thẩm mĩ cho khung truyện kể. Trong Dưới đám mây màu cánh vạc, Thu Bồn không chỉ lựa chọn các tiêu cự nhìn bên trong hay bên ngoài mà mà phối kết hợp trong đó nhiều giao tuyến nhìn khác nhau, làm nên một bức tranh đa màu sắc về cuộc sống trong tiểu thuyết.
1.1.1. Điểm nhìn bên ngoài, khách quan hoá cho mạch truyện kể
Trong cấu trúc truyện kể, điểm nhìn ngoại quan (ngoại tiêu điểm) còn được hiểu là điểm nhìn bên ngoài. Ở đấy, chủ thể trần thuật luôn tạo dựng sự giãn cách nhất định với đối tượng miêu tả. Tức, góc nhìn sao cho phù hợp với mạch tự sự, lại vừa chi phối được các sự kiện, tạo ra sức nặng cho từng cấp độ của nghệ thuật. Điều này có nghĩa, với điểm nhìn bên ngoài, cách dựng truyện không trực tiếp khai thác thế giới tinh thần nhân vật mà chú trọng trong xác lập các vị trí, phương vị nhìn, tiêu cự nhìn, góc nhìn, cách nhìn, cái nhìn từ các chỉ dấu bên ngoài. Song, từ những trường nhìn ngoại quan hóa, người thưởng thức vẫn được sống trong trường liên tưởng, được trải nghiệm, dõi theo các đối tượng dịch chuyển qua đường biên nghệ thuật. Đặc điểm này chứng tỏ, điểm nhìn bên ngoài luôn tồn tại, vận động trong nhiều mối quan hệ, vừa khu biệt hóa cho “người kể trần thuật, miêu tả sự vật từ phía bên ngoài nhân vật, kể những điều nhân vật không biết” [55, tr.104], vừa đem lại cái nhìn sinh động trong quá trình phản ánh hiện thực đời sống.
Đến với tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc cho ta thấy, nhà tiểu thuyết chú trọng gia cố vị thế cho hình thái điểm nhìn ngoại quan trong nhiều khu vực tiếp xúc khác nhau: “Trên những ngọn cờ đó là đàn quạ đen kịt, nó quần đảo nhiều vòng. Thấy không kiếm chác được gì, những con quạ bay về vườn người chết, lao xuống giành những chiếc xương với lũ chó” [9, tr.403]. Từ góc nhìn ngoại tiêu điểm, các lớp không gian, gắn với đối tượng trần thuật cứ thế hiện lên, chồng xếp trong nhiều phân đoạn tự sự và tựa dẫn trong các mối quan hệ phản ánh. Không trực tiếp miêu tả sự chết chóc, nhưng thông qua hình ảnh miêu tả “lũ quạ” và “lũ chó” tranh giành nhau “những chiếc xương người” trong âm thanh khô khốc của “tiếng súng, tiếng trống, tiếng mõ rền đất. Tiếng đại bác gầm. Tiếng rú của xe tăng rung chuyển quanh nó. Trong đầu nó vang lên tiếng chửi rủa, tiếng kêu khóc của hàng trăm con người” [9, tr.96]. Tất cả, khiến cho người đọc không thể không suy tư, đớn đau về một hiện thực thê lương mà con người phải hứng chịu trong tàn phá khốc liệt của chiến tranh. Theo đó, câu chuyện được trần thuật bởi người kể chuyện với tư cách cá thể hoá trong quan sát đối tượng từ góc nhìn bên ngoài, không ngoài mục đích để kể lại câu chuyện trong sự trải nghiệm một cách khách quan nhất có thể. Bởi vậy, tiêu cự nhìn được dịch chuyển khá linh động và có sự chuyển đổi trong việc nhận diện những mảnh đoạn của hiện thực đời sống. Ở đó mọi cự li nhìn đều theo sát biến cố và hoạt nhất qua nhiều khu vực hiện thực khác nhau. Như vậy, với cách khắc họa cho những lớp đời sống của tiểu thuyết xuyên thấu qua lối trần thuật ngoại tiêu điểm, chủ thể tự sự đã xâu chuỗi cho mạch truyện kể khách quan qua nhiều tiêu điểm hiện thực khác nhau. Từ bao quát đến cận cảnh, xác thực những góc nhìn hiện thực vốn như nó hằng tồn tại đã đem đến nhiều kênh đối thoại mở.
Với cách tạo điểm nhấn cho hình thức điểm nhìn bên ngoài, câu chuyện tiểu thuyết không còn dừng lại ở một vai trần thuật mà dòng chảy cuộc đời cứ thể “sinh thành” trong nhiều lưu vực đối âm cả ở trong và ngoài văn bản. Nó đan xen trong các lưu vực không – thời gian, giúp người tiếp nhận dễ dàng quan sát, ngược tìm về trú ngụ trong dòng ý thức của nhân vật. Ở đấy, ta còn bắt gặp được những mảng màu về cuộc sống thời chiến xoay quanh mối quan hệ giữa con người cá nhân và tập thể; giữa Tư và Thí; giữa Tâm và kẻ địch; giữa bà Tư và bà Đây; giữa Phúc, Cượng, Thó đại diện cho hình ảnh người lính chiến đấu vì lí tưởng cao đẹp, vì sự nghiệp độc lập, giải phóng dân tộc; giữa những bà mẹ anh hùng và kẻ thù xâm lược,… Và cũng bắt đầu từ đây, lần lượt các tình tiết, sự kiện gắn với mỗi số phận, cuộc đời, những con người mang vẻ đẹp chân chất, bình dị thôn quê nhưng có trái tim quả cảm, không ngại gian khó được phóng chiếu qua nhiều góc nhìn: khi thì khát khao trong dấn thân cho con đường lí tưởng, lúc thì căng thẳng, đau đớn chứng kiến sự tàn ác của kẻ thù xâm lược,… tất cả được tái hiện một cách chân thực qua nhiều trang viết của nhà văn. Tuy nhiên, một điều khá thú vị là những bóng dáng số phận của mỗi cá thể người trong tiểu thuyết được kể ở ngôi thứ nhất với điểm nhìn toàn tri và nhiều khi câu chuyện lấy chất liệu từ trên nền hiện thực đời sống, gắn với những biến cố lịch sử nhưng nó vẫn hiện lên trước mắt người đọc vô cùng sinh động, bởi nó được chuyển dịch qua những giao diện nhìn, điểm bên ngoài. Những gì đã từng diễn ra trong đời của nhân vật được quan sát từ góc nhìn ngoại quan đều trở thành điểm nhấn cho việc tổ chức trần thuật và cái nhìn bao quát trong trường nhìn ngoại tuyến đã đem cho người đọc nhận diện hiện thực đời sống từ khoảng cách, mối quan hệ của kiểu con người nếm trải.
Hơn nữa, việc tạo ra điểm nhìn bên ngoài vừa bao quát, cụ thể, gắn số phận, tính cách cá nhân vừa mang âm hưởng của bản anh hùng ca đầy bi hùng, nhà tiểu thuyết đã thành công trong trong khắc tạc biến cố, cũng như hơi nóng về một hiện thực chiến tranh đầy khốc liệt. Ở đó, ta có thể dễ dàng bắt gặp những con người vẫn phải làm việc, nuôi sống gia đình và tìm cách sinh tồn giữa cảnh đạn bom, nuôi dưỡng ý chí quyết tâm đánh đuổi quân thù. Theo đấy, nhà văn đã đặt nhân vật trong những hoàn cảnh cụ thể, để nhân vật tự tìm đường sống, tìm đường đấu tranh và qua đó, người đọc thấu hiểu những đặc điểm tính cách, phẩm chất của nhân vật một cách khách quan chứ không quy chụp một cách chủ quan. Mỗi con người mang một dáng vẻ riêng, mang một màu sắc riêng độc đáo và mới mẻ. Thủy – cô gái mới chỉ hai mươi tuổi đầu – đã dũng cảm hi sinh thay Tâm, bảo vệ đồng đội và sự sống còn của phong trào để lại bao nỗi đau xót cho người yêu cô nhất: “Đứa nào tên là Tâm? – Tiếng một thằng lính già hỏi. Tao đây! Thủy đẩy Tâm ngã ra phía sau, cô dấn lên ba bước…Bắn! – Tiếng thằng chỉ huy hô lên!” [9, tr.87]. Cô bước ra một cách dứt khoát, hiên ngang. Cô lựa chọn ngã xuống khi đang ở thời thanh xuân tươi đẹp nhất, khi đang trong tình yêu đắm say nhất mà không hề do dự, luyến lưu. Sự lựa chọn của cô đã khiến cô trở thành bất tử trong lòng đồng đội và những người yêu quý cô. Hay đó còn là những con người đối mặt với cảnh đói, cảnh rét, giành giật với sự sống từng phút từng giây, không ngừng đấu tranh: “Vượt qua vòng vây dày đặc của quân thù và sóng dữ, họ về đúng mõm Nhái Bén. Rã rời và tuyệt vọng, họ như những chiếc thuyền bị tan ra (…) cái đói và cái rét cào cấu ruột gan, họ đành nằm im, co rúm chờ cái chết đến mang đi, cổ cháy khát và chân tay tê dại” [9, tr.293]. Mượn cách nhìn ngoại quan trong lột tả bản chất chân dung đối tượng, nhà tiểu thuyết đã gia cố cho hình thái nhìn này tiệm cận trong kĩ thuật quay phối cảnh, thấu dõi trực diện qua nhiều tiêu điểm khác nhau về hiện thực để cho các thị phần cuộc sống được in dấu trong nhiều kênh đối thoại. Với phương thức này, nhà văn đã tạo được độ giãn cách giữa nhân vật và người kể chuyện, khoảng cách giữa nhân vật và người kể chuyện không trùng khít, cũng là cách dẫn dụ người đọc khi cái tôi của chủ thể trần thuật – tác giả đã khoả lấp vào đối tượng. Điều này cho thấy, nhà tiểu thuyết mở rộng thêm đường biên cho điểm nhìn bên ngoài trong xây dựng hình tượng – tham chiếu trong quy tắc đa chiều của tiểu thuyết. Có lẽ, những khoảnh khắc ngưng đọng trên trang viết đó, cũng là thời khắc, người nghệ sĩ đem đến cho người tiếp nhận những cảm giác được sống cùng nhân vật, được soi chiếu con người trong nhiều trường nhìn, góc nhìn khác nhau.
Điểm ghi dấu trong xây dựng điểm nhìn ngoại quan hóa trong Dưới đám mây màu cánh vạc ở việc nhà văn đã tham chiếu các trường nhìn, góc nhìn bên ngoài thông qua việc để nhân vật tự khắc họa chân dung, sự việc và hành động trong các mối quan hệ của hiện thực đời sống. Đó là khi tác giả để nhân vật “tôi” xuất hiện với tư cách kể lại câu chuyện nhưng không đứng cùng bình diện với các nhân vật khác trong truyện và kể lại câu chuyện. Không ai biết nhân vật “tôi” như thế nào, tính cách ra sao nhưng câu chuyện được kể theo cách nhìn của anh ta: “Đám mây màu cánh vạc như một tấm màn khổng lồ, phủ kín cả bầy trời. Nó che khuất ánh sáng mặt trời, khiến cho bầu trời trở nên u ám và tối tăm… Mọi người xôn xao bàn tán về đám mây. Họ lo sợ không biết điều gì sẽ xảy ra. Tôi quyết định đi tìm hiểu bí ẩn về những đám mây” [9, tr.12-13]. Nhân vật “tôi” dường như vô can trước các con người và sự việc diễn ra xung quanh. “Anh ta” chỉ đứng nhìn từ xa và kể lại sự việc một cách bao quát và rõ nét nhất. Tuy đây chính là điểm nhìn mà trong đó, người kể chuyện là hình tượng ước lệ mang bóng dáng của nhà văn nhưng Thu Bồn đã linh hoạt, dịch chuyển điểm nhìn bên ngoài khiến cho tác phẩm vừa có được sự khách quan, vừa thể hiện được cái nhìn của nhà văn đối với thời cuộc. Từ đó, bạn đọc dường như cảm nhận về con người và sự kiện trong quá khứ nhưng không còn “đông cứng” mà đó là câu chuyện vừa mới xảy ra. Bởi, những suy tư của nhân vật “tôi” cho ta thấy đó là những cảm xúc, những nỗi buồn đâu đó mà những con người trong cuộc sống đời thường phải nếm trải.
Với việc tổ chức linh hoạt điểm nhìn ngoại quan hoá qua nhiều biến thể khác nhau, tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn đã có những thành công nhất định. Ở đó, với cách xử lí, tạo dựng điểm nhìn ngoại quan hóa trong nhiều giao diện nhìn, trường nhìn khác nhau, nhà tiểu thuyết đã đem lại những góc nhìn ngoại tuyến trên nhiều khu vực tiếp xúc cho đời sống xã hội trong tiểu thuyết. Điểm mới của tác giả là xây dựng các tiêu cự nhìn, trường nhìn bên ngoài không dừng lại ở việc miêu tả đối tượng mà còn soi chiếu, khắc họa chân dung cuộc sống con người trong nhiều mối quan hệ. Từ đặc trưng này, điểm nhìn bên ngoài gắn với dụng ý nghệ thuật của nhà tiểu thuyết không chỉ đem lại cho yếu tố hình thức này một vị thế nhất định khi tham gia vào vận hành khung truyện kể mà còn mở ra các lớp không gian khác nhau, đưa các tình huống truyện kết nối trong nhiều ngã rẽ. Bên cạnh đó, điểm nhìn bên ngoài đã góp phần gia tăng niềm tin cho người tiếp nhận trong hành trình trở về với quá khứ, được chạm vào những giá trị đời sống văn hóa, xã hội, lịch sử của một quá khứ đau thương của dân tộc. Đặc biệt, thông qua kĩ thuật dịch chuyển linh hoạt cho nhiều góc nhìn bao quát, cận cảnh, theo sát mọi biến cố, sự kiện lịch sử và số phận con người, nhà văn đã thực sự đem lại tính xác thực, đáng tin cậy trong chiều sâu phản ánh cho tác phẩm nghệ thuật. Qua đó đem lại cho cấu trúc tiểu thuyết vừa mang tính đa thanh vừa chạm sâu những mạch nguồn của hiện thực đời sống.
1.1.2. Điểm nhìn bên trong, xoáy sâu thế giới nội tâm của nhân vật
Nếu điểm nhìn ngoại quan chú trọng trong xác lập các vị trí, phương vị nhìn, tiêu cự nhìn, góc nhìn từ các chỉ dấu bên ngoài đem đến cách nhìn bao quát thì điểm nhìn nội quan (điểm nhìn bên trong) lại được kể “qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện các quá trình trong tâm hồn nhân vật” [26, tr.177]. Điểm nhìn bên trong phơi bày thế giới nội tâm phức tạp với những ẩn khuyết và bí mật, đầy ắp những ý nghĩ, cảm xúc, trải nghiệm và mối quan hệ sâu sắc, những xung đột và tình cảm ẩn sâu bên trong, để từ đó hiểu rõ hơn về những lựa chọn, hành động và quan điểm của nhân vật. Góc nhìn nội quan soi chiếu đến góc khuất sâu kín của nhân vật với những xung đột, giằng co giữa các lực lượng đối lập như lý trí và tình cảm, ước mơ và hiện thực, lương tâm và ham muốn, là nguồn gốc, lí giải nhiều hành động và quyết định của nhân vật.
Trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc, điểm nhìn bên trong cho phép người kể chuyện lại nhập thân vào một nhân vật cụ thể và nương theo góc nhìn, tư tưởng, thái độ của nhân vật để thuật lại sự việc xung quanh. Điểm nhìn bên trong được xác lập từ vị trí những lời độc thoại nội tâm, những dòng nhật kí và những đánh giá nhận định chủ quan của nhân vật về cuộc sống hoặc về các nhân vật khác trong tác phẩm. Những góc khuất ẩn sâu trong thế giới nội tâm của nhân vật được phơi bày qua những dòng độc thoại nội tâm. Trong nhiều trang viết tiểu thuyết, không ít lần Thu Bồn đã để cho Tâm- nhân vật trung tâm của tác phẩm tự bộc lộ nội tâm của mình ở ngôi kể thứ nhất. Khi rơi vào bước đường cùng, trong hoàn cảnh phải đối mặt trực diện với cái chết, ý chí cách mạng kiên cường, coi nhẹ cái chết, đặt sự sống còn của đồng đội và phong trào lên trên tính mạng của bản thân được thể hiện rõ nét qua những dòng độc thoại nội tâm: “Mình chết đúng vào tuổi hai mươi đây. Cái đó không sao, nhưng còn Mỹ Thủy, còn Thành, còn phong trào?” [9, tr.79]. Hay đó là thời khắc Thủy đứng ra nhận và hi sinh thay Tâm, kẻ địch tưởng rằng Tâm đã chết nên Tâm không thể trở về thăm mẹ. Đây là khoảng khắc tình cảm trong con người trào dâng trong sự giằng xé giữa nhiệm vụ và nỗi niềm nhớ mong được thể hiện một cách trực tiếp qua góc nhìn khắc khoải nơi thẳm sâu tâm hồn nhân vật: “Bây giờ mẹ ở đâu? Ai nấu nước cho mẹ uống, ai ngoáy trầu cho mẹ ăn?(…) Thế mà đêm nay con lại không thể về với mẹ được. Kẻ thù tưởng là con đã chết rồi. Cái đó có lợi cho hoạt động của con nhưng lại đau khổ cho tình cảm, tuổi tác của mẹ. Chắc bây giờ mẹ đương thắp hương cho con đây. Tội nghiệp mẹ quá!” [9, tr.115]. Với lối kể thông qua ngôi trần thuật với điểm nhìn bên trong, người kể chuyện ở đây đồng nhất với nhân vật, để nhân vật kể lại câu chuyện trong mối liên hệ cá nhân đời mình theo hành động của truyện kể. Tức khi chọn lối trần thuật đóng vai trò là nhân chứng – người chứng kiến xác tín cho mọi diễn biến xảy ra trong đời mình và kể lại bằng những dòng hồi tưởng. Tiếp đấy, với hình thức trần thuật theo điểm nhìn bên trong, hướng vào diễn biến tâm lý đối tượng, cái tôi chủ thể nhân vật sẽ đóng vai trò là người kể chuyện. Đó là khi chứng kiến Thí và Thó vừa thoát khỏi nanh vuốt của kẻ thù lại sắp rơi vào tay của thần chết, nỗi đau đớn và hối hận như bóp nghẹt trái tim của Tâm: “Chị đau đớn quá! Cái chết nó không rơi ngay vào tim mà nó từ đầu mấy ngón tay, ngón chân nó vào, chậm chạp và tàn nhẫn quá!” [9, tr.294]. Không chỉ khắc họa phẩm chất anh hùng cách mạng, sự quả cảm, ý chí kiên cường cùng lòng căm thù giặc của người nữ du kích, ngòi bút Thu Bồn cũng rất tinh tế trong việc lột tả những rung động của cô gái đang yêu. Như bao cô gái khác, Tâm cũng trải qua những giây phút nhớ mong đến xé lòng hay những khát khao thầm kín, bản năng bộc lộ vô cùng mãnh liệt như thiêu như đốt, như những con sóng cuồn cuộn trào dâng. Nhớ đến Thành, hai má Tâm nóng rực, cảm nhận “hơi thở của anh rực nóng bên tai Tâm” [9, tr.580]. Bằng phương thức trần thuật với điểm nhìn bên trong, dường như người đọc được chứng kiến cái tôi tự thuật hiển lộ rõ nét nhất trên bề mặt của đời sống văn bản. Ở đó, những diễn biến của hành động, trạng thái cảm xúc, yêu ghét, hờn giận,… của nhân vật như đồng vọng trong những sự kiện, hành động, trạng thái xúc cảm mà người đọc từng trải qua. Theo đó, hình ảnh nhân vật Tâm – người nữ du kích anh hùng hiện lên trên trang viết trong cảm hứng sử thi, nhưng vẫn gần gũi, chân thực, đời thường. Bởi vậy, khi hồi tưởng những gì đã trải qua trong quá khứ, lẽ dĩ nhiên có một khoảng cách nhất định về thời gian. Tuy nhiên, những gì hiện về trong hoài niệm, trong kí ức thẳm sâu đôi khi lại cơ hội cho người tiếp nhận được sống trong miền hiện thực trọn vẹn nhất của tiếng vọng nơi vô thức, tiềm thức. Như vậy, thông qua điểm nhìn bên trong, xoáy sâu vào vỉa tầng tâm hồn của nhân vật, cùng những khát khao, ước vọng được bộc lộ một cách tự nhiên và ánh lên từ những góc khuất sâu kín nhất – những khoảng lặng ngược sáng đã thực sự chạm thức tới rất sâu của hiện thực đời sống.
Điểm nhìn nội quan đi sâu khám phá những nỗi niềm sâu thẳm của thế giới bên trong, đi vào lí giải những hành động, lựa chọn của nhân vật, đồng thời cho thấy những mặt tính cách của nhân vật. Không chỉ có Tâm, nội tâm của những nhân vật khác trong tác phẩm cũng được thể hiện bằng những dòng độc thoại nội tâm hay những dòng nhật kí. Đó là Mạo trong giây phút thức tỉnh lương tri đã tự dằn vặt trong đau đớn khi trót đi sai hướng, phản bội bà con, phản bội đồng đội: “Mẹ ơi, chúng nó lại bắt con cầm súng bắn vào bà con làng xóm. Chúng nó bắt con bắn vào những cái ngực đầy vết răng cá, bắn vào những bàn tay suốt đời làm giàu cho chúng nó! Con chán lắm rồi! Con chán lắm rồi!” [9, tr.134]. Khi buộc phải cầm súng chống lại những con người thân thuộc đã gắn bó với hai mẹ con Mạo, hắn mới cảm thấy thật sự đau đớn, áy náy, mới nhận ra con đường mình đi sai lầm đến mức nào, sai lầm đến mức bản thân hắn cũng không chấp nhận nỗi mình. Theo đấy, với lối trần thuật mang hình thức độc thoại trong đối thoại qua điểm nhìn bên trong được lựa chọn, cũng là cách chủ thể sáng tạo tiểu thuyết hóa câu chuyện của sự kiện đời sống xã hội trong góc nhìn của đời tư. Từ lối trần thuật này, nhà tiểu thuyết dẫn người đọc trực diện với bóng dáng cuộc đời mỗi con người. Đấy cũng chính là thời khắc chủ thể tiếp nhận được sống, được đau với nỗi đau đớn xé lòng của nhân vật Thành khi nghĩ rằng mình đang mất đi người yêu thương nhất: “Ôi, sao nước mắt tôi nhiều thế? Nó chảy tràn cả mắt Tâm, chảy xuống má Tâm, chảy trên mái tóc đen nhánh của Tâm. Tôi cắn môi. Nước mắt tôi như có pha mùi biển, nó mặn đắng.” [9, tr.106]. Từ điểm nhìn đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật, những rung cảm tinh tế trong tâm hồn, những nỗi niềm trăn trở của nhân vật cũng được bộc lộ một cách rõ nét. Người đọc đồng cảm với nỗi đau như xé da xé thịt của mụ Dệu – mẹ của Mạo khi thấy con mình lầm đường lạc lối. Sự đau đớn khiến cho “mụ thấy người đau nhức nhối, mê mẩn. Mụ thấy như bao nhiêu gai góc trong làng này đều dồn vào cái bướu ấy. Mụ ngẩng mặt lên nhìn trời.” [9, tr.135]. Hay những nỗi niềm lo lắng, suy tư của ông Dòn khi trước khi quyết định trao tấm bản đồ cho Phúc và Tâm: “Ông nấc lên từng hồi, ông già rồi, mấy đứa con vẫn chưa thấy về, chừ trao cho ai cái của kín: “sống để dạ” nhưng chết không thể mang theo được. Trao cho con Tâm hay trao thằng Phúc? Bọn nó làm ăn khá đấy nhưng có trung thành được không? Đến như thằng Mạo còn làm phản. Nhưng không thể so thằng Mạo với bọn con Tâm được.” [9, tr.425]. Như vậy, bằng điểm nhìn bên trong, ngòi bút của nhà văn dường như khắc sâu đến tận cùng để khai phá những nỗi niềm sâu kín của nội tâm, cùng với đó là những mâu thuẫn, xung đột kịch tính được đẩy lên đỉnh điểm trong hoàn cảnh cụ thể, giúp người đọc cảm nhận đời sống tuôn chảy, va siết ở nhiều chiều kích của dòng chảy cuộc đời.
Điểm ghi nhận trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc cho chúng ta thấy, những nhân vật và sự việc không chỉ mang những dấu chỉ từ điểm nhìn bên ngoài mà còn được thâu nhận, soi chiếu từ điểm nhìn bên trong. Nói cách khác, trong nhiều trạng huống ngữ cảnh giao tiếp của đời sống, nhà văn trao vai cho nhân vật mang thẩm quyền đánh giá, phán xét, luận triết về mối quan hệ con người nhân – con người xã hội trong nhiều mối quan hệ khác nhau. Đó là hình ảnh nhân vật Tâm được miêu tả qua cái nhìn đầy cảm xúc của Thủy: “Mái tóc Tâm dài đến gối. Khuôn mặt thon dài, nước da rám nắng, đôi mắt đen ánh lên dưới hàng mi dài chớp” [9, tr.90]. Hay đó là hình ảnh em bé Tự qua mắt nhìn của bà mẹ của em – Cửu Xéo lúc nào cũng hiền hậu, đáng yêu với nước da “trắng như bánh bột lọc (…) Cái thằng Tự có đôi mắt hiền như mắt chó con đó” [9, tr.639]. Mỗi góc nhìn được cá thể hoá, cá tính hoá qua dòng cảm xúc và tự thức hiện lên trong trang viết của nhà văn vừa chân chất, hồn hậu lại vừa toát lên vẻ đẹp trong chan chứa yêu thương. Đối lập với hình ảnh những chiến sỹ du kích và dân làng, hình ảnh của lũ bán nước cầu vinh cũng được khắc họa một cách châm biếm, mỉa mai qua cách nhìn mọi người. Chẳng hạn, qua cái nhìn căm thù lẫn khinh thường của Tâm, thằng cha Bỉ “có cái cổ trắng núc, mặt như bánh dày trắng, hai bàn tay trắng, cổ chân cũng trắng. Còn lại thì đen tuyền, tuồng như gan ruột hắn cũng đen” [9, tr.46]. Không chỉ có vậy, hình ảnh của bọn “lòng lang dạ sói” còn được khắc họa thông qua sự khinh miệt lẫn nhau giữa bọn chúng. Qua cái nhìn của Lếch, Tư Quéo “người vượn mới chuyển từ lượm hái qua săn bắn”. Còn tên Đạm thì “mặt mày trơn chuội, người ta có cảm giác nó chui đâu cũng lọt” [9, tr.432]. Trong tâm lí của hai tuyến nhân vật nhận ra được sự khác biệt rõ rệt. Tâm và đồng đội luôn gắn bó, có cái nhìn hảo cảm về nhau, trong khi đó lũ bán nước cầu vinh cùng chung chiến tuyến lại bộc lộ sự ganh ghét và coi thường, mỉa mai nhau. Có thể thấy, Thu Bồn đã sử dụng điểm nhìn bên trong một cách khéo léo để các nhân vật tự bóc trần nhau và qua đó bộc lộ tính cách, quan điểm của mình.
Trở lên, từ những giao tuyến nhìn bên trong, cuộc sống hiện thực được tái hiện qua lăng kính của mỗi nhân vật đều mang những mảng màu khác nhau, soi thấu vào nơi rất xa trong đời sống tinh thần nhân vật. Cùng là bức tranh thiên nhiên ở làng Mỹ Thủy, nhưng soi chiếu qua lăng kính của mỗi nhân vật lại khác nhau, bộc lộ những tâm trạng khác nhau. Thiên nhiên gợi thức ánh nhìn của đôi lứa đang thì thầm cũng trở nên dịu dàng, thẳm sâu hơn. Cũng có khi thiên nhiên gợi thức qua đôi mắt nhớ thương trong sự gấp bội của một nỗi niềm chất chứa bao niềm chua xót lưu dấu nơi hồn người: “Tâm biết trong rìa làng, dưới những hàng dương, bên những lùm gai lưỡi long, dứa dại, đôi mắt Thành đương nhìn Tâm. Núi rừng như cũng theo anh đổ xuống tận ngàn khơi. Con sông Mỹ Thủy vẫn đêm ngày tuôn ra biển mang theo tất cả buồn vui đau khổ của làng này” [9, tr.715]. Đại thi hào Nguyễn Du đã từng viết: “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Quả thực như vậy, khung cảnh thiên nhiên được khúc xạ qua cái nhìn của nhân vật cũng phản ánh những tâm tư thầm kín. Lão gù trong khói thuốc cũng cảm nhận từng hàng dương, cây thông cùng chung nỗi niềm nhớ Tâm, nhớ Thủy giống như lão vậy: “Sao đến cây dương nó cũng khổ, nó nhớ ai mà xót xa cả lá cành vậy?” [9, tr.496]. Viết về những năm tháng của kí ức lòng mình, nhà tiểu thuyết đã chọn lối trần thuật khá quen thuộc khi gia cố trong mạch truyện kể gắn với yếu tố thiên nhiên. Việc lấy cảnh vật làm điểm giãn cách cho ngôi trần thuật, nhà tiểu thuyết đã đứng trên lập trường của “cái tôi” chính mình để gọi thức kỉ niệm trong trăn trở – cay đắng – đau đớn – xót xa,… Cứ thế, những đường viền kí ức, lọc chảy qua lăng kính của người nghệ sĩ đã dễ dàng xác lập điểm nhìn trần thuật bên trong. Đồng thời qua những giao tuyến nhìn đó, nhà tiểu thuyết dẫn dụ người đọc đi sâu khai thác những diễn biến tâm lý đầy phức tạp, cùng những giãi bày tâm tư của nhân vật với các ngôi vai chủ thể trong trường đối thoại.
Với sự dịch chuyển điểm nhìn bên trong theo sát sự kiện của mạch trần thuật, Thu Bồn đã đạt những hiệu quả nghệ thuật nhất định. Đó là lúc điểm nhìn nội quan được trao vai qua cái nhìn của chủ thể sáng tạo ở nhiều biên độ, giao thoa với đối tượng phản ánh. Hơn nữa, việc lựa chọn, tạo dựng điểm nhìn bên trong một cách linh hoạt, nhà tiểu thuyết đã tái hiện chân dung cuộc sống tinh thần của con người trong nhiều cung bậc cảm xúc. Từ khái quát đến cụ thể, mở ra những mối quan hệ không hoàn kết, dẫn dụ bạn đọc nhịp bước trên không gian thẩm mĩ của tác phẩm.
1.1.3. Phối điểm nhìn, mở rộng biên độ tiếp xúc cho các trường nhìn
Văn học phản ánh hiện thực cũng là hướng tới khám chiều sâu của cuộc sống dựa trên những tiêu điểm hoá của trường nhìn nghệ thuật. Sự gia tăng, gấp bội điểm nhìn trong nhiều giao diện nhìn được hiểu là quá trình phối điểm nhìn, mở rộng biên độ tiếp xúc cho các góc nhìn. Ở đó “điểm nhìn được chuyển từ tác giả sang nhân vật, từ nhân vật này sang nhân vật khác, mở rộng khả năng bao quát, đánh giá của trần thuật” [68, tr.176]. Như vậy, bản chất của sự giao thoa, mở rộng biên độ tiếp xúc cho các tiêu cự nhìn chính là quá trình chuyển hoá giữa các ngôi vai trần thuật. Trong đó, chủ thể nghệ sĩ linh hoạt nối kết các tuyến truyện, đem lại phẩm chất nghệ thuật cho cấu trúc truyện kể. Như vậy, những giao thoa thẩm mĩ trong các tiêu cự nhìn đã tạo sinh “tầm đón” mới cho đối tượng phản ánh. Trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn chúng tôi nhận thấy, nhà văn không lựa chọn một điểm nhìn trần thuật cố định mà có sự đan xen điểm nhìn với nhiều ngôi kể khác nhau. Cách trần thuật này vừa xác lập cho sự tồn tại của các yếu tố của đời sống văn bản, đồng thời thể hiện quan điểm nghệ thuật của nhà văn trong hành trình sáng tạo thế giới thẩm mĩ cho tác phẩm.
Thực nghiệm tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn chúng tôi nhận thấy, với lối kể chuyện hấp dẫn, nhà tiểu thuyết đem đến cho tác phẩm những góc nhìn đa dạng về hiện thực. Trong đấy, thông qua sự dịch chuyển linh hoạt các góc nhìn giữa quá khứ và hiện tại, giúp cho chủ thể trần thuật vừa bao quát được đối tượng miêu tả vừa nối kết cho các tuyến mạch truyện kể trong nhiều mối quan hệ với đối tượng miêu tả. Trước hết, từ điểm nhìn hiện tại quay về quá khứ và cùng nhịp bước tới tương lai, người kể chuyện dẫn chiếu mạch trần thuật đến câu chuyện của những người lính Nghiên, Thành, Tâm, gắn với biểu hiện của cuộc sống trong thời kì chiến tranh. Đây chính là những giao diện nhìn chủ đạo, xuyên suốt mạch cảm hứng trong tác phẩm. Và từ góc nhìn này, cho phép người trần thuật vừa điểm xuyết qua tâm trạng đối tượng miêu tả vừa tái hiện đời sống nội tâm của nhân vật một cách sâu sắc: “Ngày mai bạn vào Nam ra Bắc trong một chuyến xe tốc hành, chỉ cần mấy phút bạn đã đi qua dải đất này rồi – dải đất bé nhỏ mà chúng tôi đã phải giành giật 25 năm trời vẫn chưa toàn vẹn…” [9, tr.108]. Việc phối hợp và di chuyển điểm nhìn bên ngoài và bên trong sẽ giúp cho nhà văn có điều kiện khám phá đời sống từ nhiều góc độ khác nhau: “Họ đi qua những cánh đồng lúa đã bị bom Mỹ tàn phá. Lúa đã bị cháy sém, chỉ còn lại những tro tàn. Họ đi qua những ngôi làng đã bị bom Mỹ san phẳng. Chỉ còn lại những đống đổ nát.” [9, tr.207]. Ở đây nhà văn không chỉ dùng ống kính thấu triết cho những góc quay từ khái quát đến cận cảnh mà còn dẫn giải về một thực tại nghiệt ngã, đầy đau thương mà cuộc chiến tranh đã đem lại cho mảnh đất bé nhỏ này. Sự linh hoạt trong các điểm nhìn trần thuật diễn ra theo hướng phát triển của mạch truyện kể trong nhiều không gian đối thoại:“Chúng tôi không thể tin được rằng những người lính Việt Nam lại có thể kiên cường như vậy. Chúng tôi đã ném bom xuống họ, bắn vào họ, nhưng họ vẫn không hề lùi bước. Họ chiến đấu dũng cảm, ngoan cường. Chúng tôi biết rằng, nếu chúng tôi không tìm cách đánh bại họ nhanh chóng, chúng tôi sẽ thua cuộc.” [9, tr.250]. Bằng dịch chuyển linh hoạt, phối hợp các điểm nhìn, nhà tiểu thuyết vừa vạch trần bộ mặt tàn ác của kẻ thù, vừa khắc tạc lên chân dung những con người mang tâm thế hào hùng cho cả một dân tộc tuy bé nhỏ nhưng kiên định, dũng mãnh khiến kẻ thù phải khiếp sợ.
Trong quá trình sáng tạo, việc xác lập cho hình thái điểm trần thuật phối kết trong trường nhìn khác nhau là vô cùng cần thiết. Bởi, qua cách tổ chức điểm nhìn như vậy, cho phép chủ thể trần thuật tái hiện và tái tạo cuộc sống cụ thể, sinh động, lại thoả mãn cho tính năng đa diện của bản chất thể loại. Chẳng hạn, trong cuộc thoại dẫn sau cho ta thấy, điểm nhìn dịch chuyển liên tục giữa các nhân vật và các đối tượng miêu tả qua nhiều âm vực thoại chồng chéo lên nhau:“- Ngài nói như vậy là thế nào? – Thằng Đạm ngồi thẳng dậy, mặt tái đi. – Làm ăn như vậy à? Ở đây số lính còn đông hơn số dân, mà mấy năm rồi các anh làm ăn cái gì?
– Mọi cái căn cứ của Việt cộng trên mặt đất này tôi đều hủy diệt được cả, chỉ trừ cái căn cứ nó nằm sâu trong đáy lòng bọn người ở đây thì đến trời cũng chịu, thưa ngài!- Tư Quéo hoạt bát hẳn lên.
– Không thể nói như thế được. – Thằng Đạm đứng phắt lên. – Anh không được trốn tránh trách nhiệm. Công việc chính của các anh là phải tìm cho ra những cái hầm và đánh đổ nó đi.
– Cái hầm gì vậy, thưa ngài? – Tư Quéo cũng đứng dậy.
– Cái hầm là cái… hầm – Thằng Đạm hơi lúng túng. Nó nghĩ bụng: có thể thằng này chưa biết xơ múi gì về những cái hầm ngầm và nó không được trên giao nhiệm vụ chăng? Nếu để lộ cho nó biết thì hỏng; thằng này ở đây lâu nó dễ tìm ra hơn mình. Thôi, thôi đấu dịu với nó vậy! Thằng Đạm chuyển hướng. – Không, tôi hỏi là hỏi những cái có tính chất bí mật chứ còn công việc hành chính thì giao hẳn cho địa phương người ta làm” [9, tr.255-256]. Việc phối hợp và di chuyển điểm nhìn về hoạt động của đối tượng sẽ giúp cho nhà văn có điều kiện khám phá, phản ánh đời sống từ nhiều góc độ khác nhau. Điều này cũng có nghĩa, miêu tả nhịp sống qua các điểm nhìn khác nhau, dường như nhà tiểu thuyết đã khéo léo khắc hoạ chân dung cho tinh thần nhân vật.
Bên cạnh đó, trong Dưới đám mây màu cánh vạc còn có sự phối hợp, đan cài giữa các điểm nhìn trần thuật đặt nhân vật trong cái nhìn đa chiều, phong phú. Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba đôi khi lấp lửng khiến người đọc tò mò muốn khám phá câu chuyện. Điểm nhìn toàn tri giúp nhà văn kể lại sự việc với cái nhìn thông tỏ, “góc nhìn biết hết có mặt khắp nơi, hầu như không bị hạn chế nào” [56, tr.191]. Điểm nhìn toàn tri có sự dịch chuyển linh hoạt trong không gian và thời gian, mang đến một góc nhìn rộng vừa bao quát bên ngoài, vừa thấu suốt bên trong bản chất của sự vật, sự việc. Nhân vật được đặt trong những bối cảnh khác nhau để người đọc hình dung được nét tính cách, tâm lí nhân vật, từ đó khám phá được tận cùng bản chất của nhân vật. Chẳng hạn như nhân vật Tâm được đặt trong nhiều hoàn cảnh, thử thách gay gắt để từ đó giúp người đọc càng thêm khẳng định những phẩm chất cao đẹp của nhân vật. Ngay cả khi Thành muốn ở lại với Tâm thì Tâm cũng dứt khoát từ chối mặc dù trong lòng cô yêu và nhớ mong anh đến dường nào, từ đó, người đọc nhận ra tính kỉ luật và sự mạnh mẽ của người con gái nhỏ bé này. Đặt Tâm trong trận bão cát kinh khủng, người đọc càng thán phục sự bình tĩnh, mạnh mẽ, kiên cường khi Tâm cùng mọi người vượt qua thử thách. Và phải đặt Tâm trong mối quan hệ với mẹ, với người cô yêu nhất, người đọc mới nhận ra khía cạnh tình cảm của Tâm sâu sắc đến dường nào: “Anh Thành ơi, giờ anh đang ở đâu, anh có biết em đang sống và nhớ thương anh như thế nào không?” [9, tr.297]. Không chỉ có Tâm, các nhân vật khác cũng được miêu tả ở góc quay đa chiều, chuyển biến linh hoạt. Người đọc như được sống trong không gian với nhiều sắc màu thú vị khi khám phá bản chất của nhân vật chứ không cần đến một lời giải thích hay nhận xét khiên cưỡng nào. Điểm nhìn toàn tri đã đem đến cho người đọc những góc nhìn đa chiều, từ cái nhìn sâu bên trong ý thức của nhân vật đến góc nhìn ngoài cuộc. Hơn nữa, nhân vật hiện lên một cách toàn diện thông qua sự soi chiếu của các nhân vật khác nhau, kết hợp đan xen nhiều giọng điệu, tạo nên sự phức hợp trong điểm nhìn, trở nên chân thực hơn. Đây cũng là điều văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng luôn quan tâm tới cách phối kết, cộng sinh các điểm nhìn như một nguyên tắc trong tổ chức, xây dựng hình tượng. Do vậy, từ các trường nhìn theo ngôi vai chủ thể khác nhau trong khắc họa nhân vật và bức tranh đời sống, tác giả Thu Bồn đã khiến bạn đọc cảm nhận về con người và sự kiện lịch sử trong độ lùi của quá khứ không còn đông cứng mà hiện lên với đầy đủ sắc màu của cuộc sống đời thường như vốn nó hằng tồn tại.
Trong Dưới đám mây màu cánh vạc, điểm nhìn không gian, thời gian cũng có sự vận động, dịch chuyển linh hoạt. Đó là không gian thực – không gian kì ảo, thời gian thực – thời gian ảo. Không gian hiện thực ở làng Mỹ Thủy – Hải Lăng – Quảng Trị được đan cài, lồng ghép với không gian kì ảo mở ra khoảng không đa chiều vừa hư vừa thực. Cùng là ánh trăng ở làng Mỹ Thủy, lúc hiện lên rất đỗi chân thực: “Trăng còn chìm vào trong mây. Trời rất tối.” nhưng có lúc lại hiện lên với dáng vẻ đầy ám ảnh của cái chết như “lưỡi hái của thần chết đỏ lòm.” [9, tr.97]. Không gian hiện thực tang thương, đẫm máu với màu khói bom xám xịt, màu đỏ rực của máu, nước mắt đau đến xé lòng phơi bày hiện thực trần trụi của một thời chiến tranh. Không gian hiện thực đó có lúc được dịch chuyển sang không gian ma quái đến rợn người. Không gian như đang đông cứng, tất cả chìm trong im lặng, không gian đã nhường chỗ cho những bóng đen chuyển động: “Những bóng đen từ trên ngọn thông, dưới những bụi gai sừng trâu, dứa dại cùng ập đến một lần.” [9, tr.83]. Khung cảnh làng quê giờ đây dường như tràn ngập bóng đêm, lạnh lẽo, u ám. Và cái không gian nặng nề, ghê rợn đó còn được thể hiện qua sự cảm nhận của người dân: “Cái gì nặng nề bây giờ đều dồn vào trong làng. Mây và bóng đen ngoài này cũng đương dồn vào trong làng (…) Những bàn tay vấy máu đương rửa vào những giếng cát trong làng” [9, tr.100]. Không gian sống – chết dường như không có khoảng cách, cõi âm – dương như hòa làm một, không còn phân biệt rõ nó được nữa. Cả không gian chỉ toàn là những con chó sủa vào bóng đêm, lũ quạ kêu “quà quà” bay rợn trời, những khúc ruột quấn vào cát… Tất cả đã tạo nên một không gian ghê rợn, một không khí u ám hiu quạnh. Chỉ điểm xuyết qua một vài góc nhìn, dưới hình thức của lời kể nhưng khiến cho người đọc không thể không tham gia vào giao tiếp với đối tượng. Do vậy, qua cách đan xen điểm nhìn trong lời văn tự sự, Người trần thuật đã dẫn chỉ hoạt động đối thoại qua cách kết nối các điểm nhìn khác nhau. Tức lời văn hoà thấm vào cáo các giao tuyến nhìn – Lời tác giả, lời người trần thuật, lời nhân vật lẫn vào nhau, tạo nên những tính tranh biện. Thu Bồn đã sử dụng lời người trần thuật đan xen với lời thoại nhân vật, nhằm tăng hiệu quả biểu đạt không gian giao tiếp. Đây là lối trần thuật xen lẫn trong cái nhìn giữa các nhân vật. Rõ ràng, kiểu tổ chức điểm nhìn diện hình dưới hình thức trần thuật “nhiều giọng” đã giúp độc giả thâm nhập sâu hơn vào thế giới nội tâm nhân vật.
Như vậy, sự luân chuyển điểm nhìn qua các biên độ khác nhau, nhà tiểu thuyết đã cơi nới cho mạch trần thuật theo sát được các sự kiện của đời sống, đồng thời, đem lại “khoảng trống” cho khung truyện kể. Hơn nữa, việc phối hợp, đan xen, dịch chuyển linh hoạt giữa các điểm nhìn còn giúp người đọc có thể hiểu sâu sắc hơn về đời sống xã hội và các hình thái con người trong các độ lùi của thời gian. Điều này góp phần đem lại tính đa chiều và âm hưởng đối thoại cho trang viết của nhà văn. Hơn nữa, việc sử dụng nhiều điểm nhìn sẽ giúp tác giả thể hiện được thái độ, bộc lộ các quan điểm trước hiện thực cuộc sống, con người trong chiến tranh. Chính những góc nhìn này, nhà văn đã giúp người thưởng thức được đồng vọng trong âm hưởng đối thoại sâu vào với hiện thực đời sống.
1.2. Tổ chức hình tượng nhân vật
“Văn học là nhân học” (M. Gorki). Văn học bao giờ cũng thể hiện cuộc sống của con người. Theo đó, nhân vật chính là con người trong văn học, là kết quả in đậm dấu ấn cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Trong tác phẩm văn chương, nhân vật là phương tiện để chủ thể sáng tạo phản ánh và khái quát về hiện thực đời sống. Bởi vậy, mỗi hình thái nhân vật đều hướng tới bóng dáng con người ngoài cuộc đời, đồng thời gắn với những quan điểm, tư tưởng thẩm mĩ của nhà văn. Việc nghiên cứu cách thức tổ chức nhân vật lưu trú trong các khu vực của đời sống tiểu thuyết sẽ giúp người đọc hiểu thêm về những giá trị của cuộc sống. Do vậy, lấy con người làm đối tượng khám phá, nhà văn Thu Bồn đã đặt cuộc sống con người trong nhiều mối quan hệ phức tạp như chính hơi thở đời sống. Trong đó kiểu hình tượng nhân vật người lính đã thực sự chạm tới những khát vọng vốn tiềm tại trong ý thức đối diện của chính con người và bên cạnh đó còn có sự xuất hiện của kiểu nhân vật đám đông, nhân vật kì ảo vừa mang ý nghĩa, vừa cộng sinh những mối quan hệ làm nên chiều sâu hiên thực thẩm mĩ cho tác phẩm.
1.2.1. Hình tượng nhân vật người lính
Trong dòng chảy văn học Việt Nam qua các thời kì, đặc biệt là giai đoạn các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, hình tượng người lính luôn trở thành nguồn cảm hứng bất tận, giữ vị trí quan trọng trong các thể loại sáng tác văn học. Ở đó, bức tượng đài người lính hiện lên với những phẩm chất kiên cường, anh dũng trong chiến đấu, giản dị trong đời thường, mang trong tim tình yêu với đất nước, với nhân dân, sống và hi sinh vì lí tưởng cao đẹp đã được tỏa sáng, tôn vinh trong nhiều trang viết của các nhà văn. Bởi vậy, không ngoại lệ, hình tượng nhân vật người lính trong các sáng tác của Thu Bồn nói chung và trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc nói riêng đã tiếp nối những giá trị về nghệ thuật xây dựng hình tượng người lính trên nguồn cảm hứng sử thi. Tuy nhiên, bên cạnh những trang viết ngợi ca bức chân dung về người lính được nhà văn khắc chạm trong chiều sâu tinh thần đối thoại, tạo nên bức tranh đa diện về con người trong mối quan hệ với hiện thực đời sống.
Bước vào thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc cho ta thấy, hình ảnh của những chiến sỹ du kích được Thu Bồn khắc họa một cách tỉ mỉ. Đó là những nhân vật như Tâm, Thủy, Thành, Phúc, Nghiên,… Họ sớm giác ngộ cách mạng, dũng cảm chiến đấu vì nhân dân. Họ có lí tưởng cao đẹp và kiên định với lí tưởng của mình, có lập trường giai cấp vững vàng. Họ mang những phẩm chất tốt đẹp của những người lính bộ đội cụ Hồ. Họ sống chan hòa giữa bà con nhân dân, hiểu rõ nhân dân là căn cứ địa vững chắc nhất của cách mạng. Họ đùm bọc nhau, yêu thương nhau, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, gian khổ và hơn hết họ luôn hướng đến cuộc sống tốt đẹp tin tưởng vào tương lai phía trước, biết chấp nhận hi sinh vì quê hương đất nước. Qua ngòi bút của Thu Bồn, hình tượng những chiến sỹ du kích được hiện lên rất trang trọng, mang đậm chất sử thi và cảm hứng lãng mạn.
Có thể thấy, Thu Bồn dành rất nhiều tình cảm cho nhân vật Tâm. Trong tác phẩm, Thu Bồn đã nhiều lần miêu tả vẻ đẹp của Tâm ở nhiều góc độ. Có lúc vẻ đẹp của Tâm được đánh giá ở điểm nhìn bên ngoài đầy khách quan: “Trong bóng tối mờ mờ, Tâm đưa tay lên búi lại tóc. Những ngón tay thon thon, mềm mềm lần gỡ những món tóc dài” [9, tr.80]. Hình ảnh của người con gái miền Trung hiện lên chân thực và tỉ mỉ đến từng chi tiết như tóc, bàn tay, nét mặt, cử chỉ,… mang vẻ đẹp bình dị, nữ tính, đáng yêu như bao cô gái khác. Nhưng bên cạnh vẻ dịu dàng ấy, tác giả cũng khéo léo lồng ghép những chi tiết cho thấy vẻ đẹp rắn rỏi của cô gái ở dải đất miền Trung đầy nắng gió, chịu nhiều vất vả: “Dưới lớp áo mỏng bạc màu là vết chiếc đòn gánh tre đã nghiến đến chai dày.” “Thành hôn lên vai Tâm, chỗ quần áo bị nắng gió làm bạc màu, nói khẽ: – Vai em tròn quá!” [9, tr.251]. Vẻ đẹp của Tâm còn được thể hiện gián tiếp qua cái nhìn của Thủy: “Thủy bỗng thấy Tâm đẹp quá – Mái tóc Tâm dài đến gối. Khuôn mặt thon dài, nước da rám nắng, đôi mắt đen ánh lên dưới hàng mi dài chớp” [9, tr.90]. Hình ảnh người lính hiện lên ở đây không chỉ đẹp về tâm thế, về sự rắn rỏi trước những khắc nghiệt của cuộc sống thời chiến mà trong mỗi con người còn ánh lên nét đẹp đời thường. Họ là những con người còn rất trẻ, là những tâm hồn mười chín đôi mươi, họ cũng mang những nét đẹp, sự trẻ trung như bao con người tuổi trẻ khác. Tuy nhiên, bên cạnh những vẻ đẹp của tạo hoá ban tặng, trong tinh thần mỗi con người còn luôn cháy bỏng ý thức của tuổi trẻ là chiến trường, là xông pha nơi lửa đạn, là gánh vác trách nhiệm tổ quốc trên đôi vai nhỏ bé của mình. Bởi vậy, đứng trước hiện thực khốc liệt, trước những nhiệm vụ cao cả, những con người này luôn sát cánh, tựa vững để ca lên bài ca chiến thắng và cả những lời ca mang nỗi niềm khát vọng trong hữu thể người.
Không chỉ riêng Tâm, hình ảnh những chiến sỹ du kích anh hùng như Thủy, Cượng, Phúc, Nghiên, Thành,… cũng được nhà tiểu thuyết miêu tả khá rõ nét qua bút pháp tả thực. Hình ảnh Thủy hiện lên xinh đẹp với “khuôn mặt trái xoan trắng hồng. Đôi mắt Thủy tròn xoe mở to sau làn tóc bị gió đánh rối tung.” [9, tr.87] “Hai cánh tay tròn trắng, chắc nịch”, “Cô bước đi thong thả” [9, tr.9], “Đôi mắt cô gái nhấp nháy một cách hóm hỉnh” [9,tr.10], “Khuôn mặt ửng hồng, mớ tóc xòa trên trán”[9, tr.15-16], “Chiếc áo đỏ của cô chói rực trong nắng. Cô đưa hai tay bị còng lên vẫy các em. Cổ tay cô rất tròn và mềm” [9, tr.18]. “Thủy mặc chiếc áo tắm màu đỏ lặn xuống biển như một bó lửa lặn xuống nước” [9, tr.20]. Hình tượng người lính trong tác phẩm mang vẻ đẹp tự nhiên, hiều dịu như hơi thở gần gũi của đất trời trong những giây phút thiên nhân hợp nhất, một vẻ đẹp trong sáng trong cái đẹp toàn bích. Khỏa lấp trong vẻ đẹp ngợi ca mang khuôn mẫu lí tưởng của thời đại ấy còn là hình ảnh Thành được khắc họa qua nỗi nhớ của Tâm, toát lên một cái rắn rỏi, sương gió của một người đàn ông trải qua mưa bom bão đạn, qua bao khắc nghiệt của chiến tranh nhưng vẫn ấm áp vô cùng: “Da anh ngăm đen, gương mặt không còn non trẻ nữa. Bàn tay chai sạm đầy những vết cắt của lau sậy, đương nằm gọn trong lòng bàn tay mềm mại của Tâm. Con người anh cái gì cũng rắn chắc, hơi có phần khắc khổ; nhưng trong tiếng nói ấm áp nhẹ nhàng Tâm lại gặp Thành năm xưa.” [9, tr.580]. Hình ảnh các chiến sỹ cách mạng hiện lên vừa chân thực, vừa sinh động, mang âm hưởng sử thi và lãng mạn. Có thể nói, bút pháp tả thực nhưng không hề tô vẽ nên hình thái mỗi nhân vật hiện lên qua trang viết của nhà văn hết tự nhiên và sức tinh tế. Dù chỉ là góc quay bề ngoài nhưng vẫn thấu suốt những đường nét, dáng vẻ khơi vào chiều sâu cảm xúc cho người đọc cảm nhận, hiểu được sự lan toả trên từng câu chữ của nhà văn và điểm đích hướng tới chính là mĩ cảm về cái đẹp.
Bên cạnh việc miêu tả ngoại hình, nhân vật người lính còn được khắc họa qua tính cách, được biểu hiện thông qua hành động, lời nói, suy nghĩ. Hình tượng nhân vật được đặt trong mối quan hệ tương quan với các nhân vật khác, với sự việc, biến cố diễn ra. Khi đối mặt với sự việc, biến cố, hành động của nhân vật cho thấy được sự phát triển tâm lí, tính cách, từ đó bộc lộ những phẩm chất cao quý của người chiến sỹ cách mạng. Những biến cố trong tác phẩm có tác dụng thử thách tinh thần, ý chí, là cơ hội để nhân vật tỏa sáng, là sự khẳng định chắc chắn về những giá trị tốt đẹp của nhân vật. Chẳng hạn, những hành động của Tâm trong quá trình chiến đấu bộc lộ sự dứt khoát, điềm tĩnh, chín chắn. Tâm luôn hành động một cách cẩn trọng, bảo vệ cho đồng đội và bảo toàn cho phong trào. “Nằm xuống! Tâm vít đầu nó xuống đất” [9, tr.506]. Sự nhanh trí, gan lì và gai góc của Tâm được thể hiện qua hành động hóa thành “con quỷ tóc vàng”. Đứng trước nhiệm vụ phải ngăn cản bà con, “không cho họ xông vào cái họng súng ác độc của bọn Ó đen trên Ngàn Khơi” [9, tr.542] nhưng không được nói ra làm mất tinh thần và khí thế của quần chúng, Tâm đã hóa trang thành “con quỷ tóc vàng” đưa bà con vào chùa, đồng thời gây li gián trong lòng địch. Sự gan lì, gai góc, kiên trung của người nữ du kích cũng được thể hiện qua những hành động chiến đấu, sự chịu đựng gian khó. Hình ảnh nhân vật Tâm được tác giả khắc họa vừa mạnh mẽ, can trường nhưng cũng có lúc rất đỗi ấm áp và dịu dàng. Đối với các em trong đội du kích, Tâm như một người chị dịu hiền, luôn chăm sóc và bảo vệ các em được thể hiện qua những hành động đầy yêu thương. “Tâm vừa nói vừa đỡ Thó nằm ngả xuống đùi mình” [9, tr.140], “Tâm đút cho Thó một mảnh.” [9, tr.141]. Hơn hết, Tâm còn là con người đầy lòng vị tha, luôn sẵn lòng tha thứ cho những con người lầm đường lạc lối muốn quay đầu như Mạo: “Biết rồi! Chị biết hết cả rồi, nhưng em ạ, mình đi làm cách mạng không phải làm chém, giết mà chủ yếu là làm cho những người lầm đường cải tà quy chính. Cách mạng xóa bỏ hận thù, sẵn sàng cứu vớt con người. Giết hắn ta là chuyện dễ, nhưng làm hắn sống lại mới là việc khó” [9, tr.382]. Bằng lối viết tựa vững trên nền tảng những giá trị thẩm mĩ không chỉ được khởi đi cái đẹp tự nhiên mà còn lưu trú trong tâm hồn, tính cách mỗi con người. Bởi vậy, đặt hình ảnh người lính song hành cùng dòng sự kiện, tác giả không lấy không gian đó tô vẽ, khắc hoạ chân dung người lính. Họ là Thành, Phúc, Thủy, Nghiên cũng được tác giả miêu tả mỗi người mỗi vẻ, với những tính cách riêng, hoàn cảnh sống riêng nhưng họ gặp gỡ nhau ở lí tưởng, dũng cảm chiến đấu vì quê hương, vì nhân dân. Thành là bạn học với Phúc, Thành được làm lãnh đạo huyện nhưng trong lòng anh luôn mong muốn trực tiếp chiến đấu ở vùng giới tuyến quân sự. Thành dũng cảm, hăng hái trong chiến đấu. Anh ao ước được cùng ngồi hầm với Phúc để rồi tối đội hầm lên đi đánh mìn, diệt ác đòi lại công bằng cho nhân dân, để tối tối bàn chân còn được đi ngang qua bãi cát lạnh lẽo chỗ Tâm đã nằm xuống mãi mãi tuổi hai mươi. Phúc cũng thể hiện lòng dũng cảm trong chiến đấu khi ở dưới hầm một năm, chịu thương, chịu khó, thiếu thốn đủ điều. Chính vì vậy, ông Dòn đã tin tưởng và trao tấm bản đồ cho Phúc: “Ôi, máu lửa đã nhiều rồi, bão táp đã nhiều rồi; bọn nó vẫn trơ như đá, vững như đồng; không trao cái mật đồ này cho tụi nó còn trao cho ai được nữa” [9, tr.382]. Ngòi bút của nhà tiểu thuyết đặt vẻ đẹp toả sáng trong mỗi hữu thể người cũng là ngưỡng vọng về những giá trị của thời đại. Từ đó, bắt nhịp với dòng thời gian của lịch sử cũng là để ghi dấu những dư chấn ám ảnh của chiến tranh, là đối thoại và đối diện với những thử thách nghiệt ngã giữa cái sống – cái chết, giữa cao cả – thấp hèn và cả những hồi ức – kỉ niệm, tình bạn – tình yêu hay chính nghĩa – phi nghĩa. Đấy cũng chính là thời khắc Nghiên với dáng vẻ thư sinh nhưng cũng dũng cảm không kém ai. Nghiên cũng trốn khỏi nhà lao ra giới tuyến. Nghiên sớm rời ghế nhà trường lao vào cuộc chiến vì không nỡ để các mẹ các chị phải khổ. Đội du kích là một tập thể anh hùng ở mọi lứa tuổi, trong đó có những em bé rất dũng cảm, can trường. Thí, Tự đã sớm giác ngộ và đi theo cách mạng, trở thành những người truyền đơn nhiệt tình, hăng hái khi ở độ tuổi vẫn còn nhiều nét hồn nhiên, vô tư : “Để em đi rải truyền đơn dán vào trong trụ sở cho, đừng rãi ở ngoài mưa ướt hết! – Thí nói, mắt nó long lanh.” [9, tr.321]. Như vậy, mỗi phân khúc tiểu thuyết của Thu Bồn, lúc này như thước phim âm bản, khơi lật những mẩu, mảnh giá trị tiềm ẩn, tiềm tàng trong tâm hồn, trong ý chí của người lính cách mạng biết yêu quý tự do, biết ứng xử nhân đạo và biết trân quý cuộc sống nhân sinh sẽ luôn là cứu cánh làm nên vẻ đẹp của con người và thời đại.
Điểm khác biệt so với các nhà văn khác trong khắc hoạ chân dung về người lính, ngòi bút Thu Bồn luôn đặt nhân vật trước những tình huống gay cấn nhất, thậm chí phải lựa chọn giữa sống còn để khẳng định những giá trị của nhân vật chứ không trực tiếp ngợi ca. Đó là khi nhân vật Thủy khi đứng trước sự uy hiếp, đe dọa của kẻ thù đã đứng ra nhận thay Tâm và chấp nhận đối diện với cái chết, hi sinh cá nhân mình cho mục đích chung, vì cô hiểu rằng, trong hoàn cảnh của cuộc chiến, Tâm còn thì phong trào còn. Đó cũng chính là thời khắc Cượng Rỗ chọn đứng ra đối diện với kẻ thù, chọn là người tiên phong, chọn là người hi sinh thay đồng đội: “Anh đứng ngoài này với Nghiên để tui vô cho” [9, tr.143]. Ở đây, Cượng Rỗ đã hiện lên trong tác phẩm với vai trò là một người lính dạn dày kinh nghiệm trong chiến đấu, quyết đoán trong hành động, gan dạ trong những giờ phút hiểm nguy. Đó còn hình ảnh Phúc bằng hành động của mình đã chứng tỏ rằng anh là người lãnh đạo điềm tĩnh, sáng suốt, nhưng cũng anh dũng vô song. Khi thấy Cượng chọn cách đánh liều lĩnh, bằng sự điềm tĩnh của mình, Phúc đã phân tích cho Cượng thấy rằng dũng cảm là cần thiết trong đấu tranh cách mạng nhưng phải đi kèm với tính toán khoa học, kiên trì bám trụ trong nhân dân và nhen nhóm ngọn lửa căm thù giặc, ý chí chiến đấu đánh đuổi kẻ thù của nhân dân mới đi đến thắng lợi cuối cùng. Không kém gì Cượng, Thó cũng là một chiến sỹ dũng cảm. Thó chuyên dùng những viên đạn xuyên thép để bắn mấy thằng đi xe có mặt kính dày và những thằng chui trong xe bọc thép và Thó bắn bia thì trăm phát trăm trúng. Những ngày Thó bị thương phải chui hầm nóng bức và đau đớn quá, anh đòi Tâm cho lên vì nghĩ trước sau gì mình cũng chết “Tui còn mười viên đạn xuyên thép để dành đây. Chị cứ cho tui lên” [9, tr.143], cũng như Cượng, Thó thà chiến đấu, thà hi sinh chứ không chấp nhận sống chui lủi trong đau đớn vì bị thương. Đối diện với kẻ thù, chấp nhận sự hi sinh chứ không đầu hàng địch. Qua đó cho ta thấy, họ là những người lính can trường, góp phần làm kẻ địch lùi bước nhưng cũng để lại trong trái tim mỗi người đọc sự đau đớn khôn xiết về sự mất mát mà chiến tranh đã gây ra. Đọc đến đây, người đọc không thể không suy tư những gì khốc liệt nhất mà người lính đã phải trải qua. Do vậy, viết về người lính với những đối thoại rộng hơn mà nhà văn Thu Bồn muốn nói tới – số phận con người. Tuy nhiên, vượt lên và xuyên suốt tác phẩm, quan niệm của nhà văn luôn nhất quán trong tạo dựng hình tượng nhân vật. Và ở đó, người lính hiện lên mang sắc màu lí tưởng và mang tâm thế của thời đại. Họ là những người anh hùng đại diện cho một thế hệ anh hùng.
Tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn đã dựng lên cả một quá trình trưởng thành và lớn mạnh của quân giải phóng miền Nam. Trong đó, vượt qua tất cả, quân và dân ta sống trong lòng địch, âm thầm và lặng lẽ nhóm lên trong mỗi con người là ngọn lửa của ý chí, ngọn lửa của niềm tin. Niềm hi vọng vào ngày mai tươi sáng:“Đội du kích đương tiến vào gần suối cát nỗng ngàn khơi, bổng năm ngọn đèn pha như năm cái bẫy chụp bằng ánh sáng phát ra. Ánh đèn pha soi rõ từng cây gai trên bản xương rồng (…) đội du kích đứng chôn chân trên bãi cát đầy gai xương rồng, lưỡi long” [9, tr.35]. Giặc Mỹ đã tàn sát dã man, chúng huy động biết bao vũ khí, đạn dược cày xéo quê hương và chúng tưởng rằng sẽ không thể có sự sống nào có thể nảy mầm trên mảnh đất chúng đã băm vằm chảy máu, làm cho thui chột ấy. Thế nhưng, những người con ưu tú của Mỹ Thủy đã đi qua cái chết, tìm gặp nhau và kết lại với nhau thành một khối: Tâm, Phúc, Cượng, Nghiên, Thó, Thí, Tự… Thu Bồn đã thể hiện một cách tỉ mỉ cái gian khổ, khốn cùng mà người dân Mỹ Thủy phải gánh chịu, phải vượt qua để nuôi dưỡng hạt giống cách mạng. Bằng bút pháp hiện thực sinh động, Thu Bồn đã chạm khắc lên những hình tượng người con ưu tú quê hương, của nhân dân anh hùng sẵn sàng xả thân vì nghĩa lớn. Cuộc chiến đấu kiên cường đầy tài trí thông minh, từng bước tiến công kẻ thù, diệt địch để bám dân, bám lấy dân mà diệt địch để tiến tới đợt công kích toàn diện, đánh tan sự kìm kẹp của địch, giành một thế đứng mới của đội du kích và dân làng Mỹ Thủy. Chân thực đến từng chi tiết mà vẫn đầy sức lãng mạn, bay bổng; chính xác đến từng thành tích cụ thể của người anh hùng mà vẫn đủ sức khái quát, có ý nghĩa tiêu biểu cho cả một thời kì thử thách khó khăn. Đội du kích đã phải sống hàng tháng trời ngoài bãi ngàn khơi trên người chỉ có mảnh vải che thân, họ phải đối diện với cái đói, cái rét, khổ sở:“Vượt qua vòng vây dày đặc của quân thù và sóng dữ, họ về đúng mõm Nhái Bén. Rã rời và tuyệt vọng, họ như những chiếc thuyền bị tan ra (…) cái đói và cái rét cào cấu ruột gan, họ đành nằm im, co rúm chờ cái chết đến mang đi, cổ cháy khát và chân tay tê dại” [9, tr.293]. Cuộc sống chiến đấu thiếu thốn đủ bề, thế nhưng tinh thần của những người con du kích đâu chịu khuất phục:“Đối với chúng mình cái căn cứ chính vẫn là lòng dân, tụi nó dù có ném hàng vạn tấn bom cũng không bao giờ đánh bật chúng mình ra khỏi cái căn cứ đó được” [9, tr.218]. Bản anh hùng ca về người lính không chỉ diện hình sau mỗi lớp chữ, sau mỗi trang viết mà còn khơi lên cho chúng ta những nhận thức sâu sắc về cuộc sống chiến đấu, về tình yêu lí tưởng, về danh dự, về sự hi sinh. Đồng thời qua đó cũng cho ta hiểu thêm giá trị sống đích thực là gì, sống như thế cho đáng sống, cho xứng đáng với với tổ quốc, với nhân dân và với chính lòng tự trọng trong mỗi hữu thể người.
Như vậy, từ phản ánh hiện thực đến những nghiền ngẫm về hiện thực, nhà văn Thu Bồn đã thành công trong tái hiện chân dung người lính trong nhiều giới hạn của dòng chảy cuộc đời. Theo đó, hình tượng người lính hiện lên trên phông nền của mạch nguồn cảm sử thi, lãng mạn. Họ là những người anh hùng sống và chiến đấu cho lí tưởng cao đẹp của thời đại. Nhưng đồng thời, các anh cũng giống như bao con người bình thường khác mang trong mình những cảm xúc tươi mới và cả những dư vị đắng chát của cuộc đời. Viết về hình ảnh người lính với những khoảng cách sử thi, nhưng được cơi nới trong âm hưởng của đời tư, nhiều trang viết của tiểu thuyết đã khiến cho bạn đọc vừa được sống trong cảm xúc ấn tượng trước vẻ đẹp cao cả, lại vừa được đối thoại với những thanh âm của cuộc sống đời thường. Chính vì vậy, bản hợp âm về hình tượng người lính trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn xứng đáng được ghi nhận về một lối viết giàu cá tính sáng tạo.
1.2.2. Hình tượng nhân vật đám đông
Trong tác phẩm, ngoài tuyến nhân vật người lính và tuyến nhân vật kì ảo, nhân vật đám đông cũng được tác giả tập trung miêu tả. Họ là những con người hiếu kì, tò mò, không có nét tính cách riêng mà được mang tâm lí chung của tập thể quần chúng nhân dân trong thời điểm đó. Họ không chỉ là những con người vô danh mà còn là biểu tượng cho những thế lực, những quan niệm lạc hậu trong xã hội, có tác dụng làm nổi bật cho những mâu thuẫn, xung đột trong mạch trần thuật. Do vậy, nhân vật đám đông vừa phản ánh thực trạng của xã hội, vừa thể hiện tư tưởng, thái độ của nhà văn, cũng như thông qua đó gửi gắm những thông điệp cho tác phẩm. Đồng thời, qua hệ thống hình tượng này, các nhà văn khái quát hoá bản chất của hiện thực cuộc sống được khởi đi tâm thức cộng đồng, từ con người thời đại.
Xây dựng hình tượng nhân vật đám đông trong nhiều mối quan tương tác giữa con người xã hội với sự việc, sự kiện lịch sử, Thu Bồn đã xử lí thành công các chất liệu đời sống trên trục dẫn tư duy hình tượng – tức, đặt con người cộng đồng trong nhiều phức thể mâu thuẫn như chính cái thực tại đang diễn ra của đời sống. Theo đấy, nhân vật đám đông trong Dưới đám mây màu cánh vạc là những con người đáng thương, là nạn nhân của chiến tranh, của tận cùng những nỗi khổ đau:“Những người bị thương lấy tay bụm máu trên ngực mình, chạy ra biển. Họ kêu la đã kiệt sức, họ ngã vật xuống biển. Những viên đạn nổ lẻ tẻ phía những con người chạy đi.” [9, tr.98] “Trên đường đi, họ gặp nhiều người dân đang tị nạn. Họ mang theo những gì còn sót lại sau trận bom. Mặt họ lộ rõ vẻ đau khổ, tuyệt vọng. Họ không biết tương lai sẽ ra sao”. Họ căm thù chiến tranh: “Dân làng phải rào chặt cái ấp lại. Rào bằng chông, bằng mìn, bằng sự nghi ngờ và thù hận do bọn chiến tranh tâm lý đêm ngày gieo rắc.” [9, tr.133]. Hệ thống hình tượng con người đám đông trong tác phẩm đại diện cho tầng lớp nhân dân, tầng lớp biểu hiện cho nhiều nỗi thống khổ, lại vừa là những tiếng nói chất chứa trong đó nhiều mâu thuẫn và chịu nhiều sự biến động của đời sống xã hội.
Họ cũng là nạn nhân của sự thiếu hiểu biết về thế giới tự nhiên, tin vào những biến đổi kì lạ của môi trường: “Khi đám mây màu cánh vạc xuất hiện, mọi người xôn xao bàn tán. Họ sợ không biết điều gì sẽ xảy ra. Có người nói rằng đây là điềm báo của một thảm họa. Có người lại nói rằng đây là sự trừng phạt của thần linh.” “Mọi người ngày càng lo sợ khi cây cối héo úa, lá rụng tả tơi. Sương muối phủ trắng xóa mọi vật. Họ không biết phải làm gì để thoát khỏi tình trạng này.” Chính sự thiếu hiểu biết, họ cũng đã có những hành động tiêu cực: “Lũ người hung hãn xông vào nhà tôi, đòi tôi phải trả lời cho những điều họ không hiểu.”. Họ tin vào sự hiện diện của thế giới tâm linh, những thế lực siêu nhiên. Tin rằng chính oan hồn của mụ Khờ Thứ đã gây ra cả trận dịch cho dân làng, họ vội vàng xây miếu thờ mụ rồi lại kéo nhau đi xin thuốc Thánh gần nhà thờ Bái Sơn: “Các liên gia trưởng vội vàng đi thu tiền từng nhà để mua vôi gạch xây miếu thờ mụ Khờ” [9,tr.45]. Với quan niệm “rất riêng” trong khám phá hiện thực, các mô hình nhân vật đám đông trong tiểu thuyết Thu Bồn dường như “lược giản” tối đa trong những “mẫu thức” nhưng lại dung chứa tính năng “không hoàn kết”. Tức, bóng dáng con người đó được lặp lại nhiều lần nhưng mỗi khi xuất hiện lại mang một tinh thần “mới”. Đặc trưng cho nét cá tính sáng tạo này được chảy tràn trên nhiều sáng tác, hình thành nên lối tư duy hình tượng vô cùng độc đáo
Họ tin rằng chỉ có thế lực siêu nhiên như Thánh thần mới có thể cứu được họ thoát khỏi trận dịch. Theo đấy, họ không ngại đường xa, dậy từ rất sớm để đi từ Hải Khê đi Bái Sơn để cầu thần cầu thánh: “Cả làng, rồi cả huyện kéo nhau đi xin thuốc Thánh gần nhà thờ Bái Sơn” [9,tr.46]. Họ trở thành nạn nhân của mê tín dị đoan, của những kẻ buôn thần bán thánh thừa nước đục thả câu, kiếm lợi trên sự đớn đau thân xác của người khác: “Các hàng quán hai bên đường niềm nở chìa tay ra mời đoàn người khốn khổ ấy. Mới đầu họ mời vào nhà uống nước. Mỗi chén nước ở đây đều có mùi vị của Thánh phải đưa từ năm cắc đến một đồng. Hàng quán đủ các thứ bánh trái, xôi, chè, gà, vịt. Nhưng ở đây từ hạt gạo đến con gà trống đều uống nước của Thánh nên không thể mang cái giá thường được.” [9, tr.45]. Miêu tả về nhân vật đám đông trong nhiều sắc thái âm thanh khác nhau, ngòi bút trần thuật của nhà tiểu thuyết tỏ ra hết sức khách quan khi soi chiếu bóng dáng đám đông trượt trên những u mê của sự khôi hài. Đến đây, người đọc như được tham gia vào kênh đối thoại với tác giả, với nhân vật. Như vậy có thể thấy, quá trình dẫn dắt câu chuyện, nhà văn chủ động trao điểm nhìn cho các nhân vật, để họ tự nhiên bộc lộ, qua đó, những tồn tại còn khuất lấp trong mặt sau của đời sống xã hội cũng tự chưng ra cái vẻ khôi hài của nó.
Hình tượng nhân vật đám đông trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc còn biểu hiện cho những con người chân chất, hiền hậu, mang những nét văn hóa của người dân Quảng Trị qua cách sinh hoạt hàng ngày. Trong lời kể của lão gù, đó là “mấy con mụ trong xóm đã tra có hột rồi mà còn nhởn nhơn, cười xì cả nước trầu vào mặt người ta” [9, tr.9]. Hay những con người chăm chỉ làm ăn, trồng khoai và đi biển “Người ta lại đi trồng khoai và đi biển. Con gái và con trai đi cắt bối về lót vồng cho khoai. Người già ra biển.” [9, tr.49]. Họ đã sống một cuộc sống hết sức đơn sơ và mộc mạc, gắn bó hết mình với mảnh đất quê hương. Cuộc sống của họ rất vất vả, cực nhọc thế nhưng họ không hề than phiền gì về sự thiếu thốn về vật chất mà ngược lại họ còn thỏa mãn với những gì họ đã sống và cống hiến cho quê hương của họ. Nhưng từ trong tâm can của mỗi một người dân nơi đây họ đều mong muốn có được một cuộc sống hạnh phúc, hòa bình trên mọi miền đất nước:“25 năm Quảng Trị chưa có một ngày tự do. Họ khao khát lá cờ Tổ Quốc đương tung bay bên kia cầu Hiền Lương” [9, tr.456]. Những người dân bình thường với những cảnh sống cơ cực cùng những ước mơ nhỏ bé như vậy nhưng họ đâu có được. Chỉ mong sao có một cuộc sống thanh bình không giặc giả để họ làm ăn lương thiện, cống hiến và gắn bó hết mình với mảnh đất tình yêu của họ. Thế nhưng, lũ cướp nước và bán nước kia đâu chịu để cho bà con yên ổn, chúng đã làm đảo lộn cuộc sống của bà con nơi đây. Vì thế, ở họ luôn có một lòng căm thù giặc sâu sắc. Họ hăng hái lao động, sản xuất và luôn sẵn sàng cầm súng chiến đấu vì quê hương. Ngay cả tên Lếch cũng phải thán phục trước sự cần cù, kiên cường của bà con Mỹ Thủy: Làm sao chơi lâu dài với những người du kích miền biển, chịu cực khổ và gan dạ vào loại nhất nhì thế giới” [9,tr.31]. Như vậy, tham chiếu nhân vật đám đông trong bối cảnh khốc liệt của chiến tranh, nhà văn đã khéo tạo ra điểm nhấn vừa đủ cho sự đối thoại trong nhiều trang viết của mình. Ở đó, hình ảnh nhân dân không chỉ hiện thân cho cái đẹp kiêu hùng trong mưa rơi bão đạn mà còn là những con người đóng vai trò quan trọng trong thời khắc cam go của lịch sử, tất cả đều đồng lòng như một, tạo nên sức mạnh khiến cho kẻ thù phải khiếp sợ. Soi chiếu hình ảnh nhân vật đám đông qua lăng kính của những giá trị, người viết muốn tri nhận vẻ đẹp về một thời hào hùng.
Hình tượng nhân vật đám đông trong tác phẩm có vai trò quan trọng, góp phần thể hiện chủ đề tác phẩm. Đồng thời, qua hình thái nhân vật này, tác giả đã phản ánh thực trạng xã hội đương thời, lên án tố cáo tội ác của chiến tranh và những hủ tục, sự mê tín dị đoan, sự thiếu hiểu biết của con người. Hơn nữa, thông qua những hành động của nhân vật đám đông, Thu Bồn còn cho thấy những con người giàu lòng yêu thương, luôn chở che, đùm bọc cho nhau lúc khó khăn, hoạn nạn. Họ còn là biểu tượng cho hồn cốt văn hoá làng quê, mang trong mình những phẩm chất: thật thà, chất phác, chịu thương, chịu khó và thắm đượm tình quê hương xứ sở. Đó cũng là những nông dân yêu nước, thương nòi và căm thù giặc sâu sắc. Vì thế, họ đã trở thành lực lượng nòng cốt, là hậu phương vững chắc cho công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước.
1.2.3. Hình tượng nhân vật kì ảo
Cá tính sáng tạo chính là tiền đề xác lập “cái tôi” sáng tạo. Đồng thời, nó còn là sự lựa chọn điểm nhìn nghệ thuật độc đáo trong xây dựng hình tượng. Theo đấy, nhà văn Thu Bồn thành công trong sử dụng bút pháp huyền thoại như một thủ pháp trong kĩ thuật sáng tạo hình tượng. Trên cơ sở đó, nhà tiểu thuyết đã dùng cái “siêu thực” để lột tả cái hiện thực trần trụi, không ngoài mục đích thể hiện khát vọng được chạm tới cái chân thực trong đời sống nghệ thuật. Đến tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc cho ta thấy, trong đó là cả một thế giới sống với những biểu hiện của thế lực siêu nhiên, kì ảo trên nền hiện thực chiến tranh tàn khốc. Và hoà cùng với những tiếng nói của các loại nhân vật khác, những nhân vật kì ảo đã góp phần hiện thực hoá cho nhiều khu vực thẩm mĩ trong tác phẩm, tạo sinh trường ý nghĩa cho văn bản.
Xuyên suốt tác phẩm, hình ảnh nhân vật kì ảo được hiện lên qua bóng dáng “con quỷ tóc vàng” đã thực sự gây ám ảnh với người đọc. Biết bao nhiêu câu hỏi đặt ra xung quanh nhân vật bí ẩn này. “Con quỷ tóc vàng” rốt cuộc là ai? Ban đầu, người ta nghĩ đến sự liên quan giữa “con quỷ tóc vàng” và mụ khờ Thứ. Người ta gọi là mụ Khờ Thứ nhưng thật ra mụ là người đàn bà còn rất trẻ. “Hồi còn trẻ, mụ Khờ cũng là loại được gái trong làng” [9, tr.41]. Nhưng có lẽ vì thất tình nên mụ bị điên, sống trong hoang tưởng, lang thang, sống nhờ vào đồ cúng của dân làng ở các bụi tre. Do lâu ngày không tắm rửa nên người của mụ bốc mùi và toàn chấy rận. Mụ xuất hiện trong tác phẩm với những hành động kì quặc. Người ta đồn rằng mụ có con với lão Mãn nhưng không ai rõ đứa con ấy ở đâu, chỉ thấy mụ hay hát những lời ai oán ru đứa con trong tưởng tượng: “Ôm một bọc giẻ rách, đêm đêm hát lên những lời ai oán. Mụ ru đứa con tưởng tượng cho đến khi chấy rận đầy cả bọc giẻ. Lũ trẻ con giật túm giẻ trên tay mụ ném vào lửa. Mụ nhào vô đóng lửa. Lũ trẻ con phải nắm tay mụ kéo đi thật xa. Từ đó mụ có thêm động tác rờ rẫm trên mặt đất. Mụ làm y như là đương xếp từng cái xương của đứa con. Khi xếp xong mụ ôm chầm lấy bộ xương tưởng tượng đó vào lòng rồi vừa chạy vừa hú cho đến lúc khản cả tiếng” [9, tr.43]. Mụ lang thang vào ban đêm. “Cả người mụ thường chập choạng vào những đêm trăng có quầng. Xung quanh mụ vàng rực một màu. Có người gọi mụ là con quỷ tóc vàng” [9, tr.44]. Điều kì lạ mà không ai giải thích được chính là từ sau khi mụ chết, biết bao điều kì lạ xảy ra cho dân làng. “Trong làng có những người con gái chết”, “Hai đứa con lão Mãn bị ổ gà nổi hạch, ngã lăn ra chết” [9, tr.45-46], “Còn lưng lão Mãn gù xuống. Người ta nói mụ đã rút mất mấy đốt xương sống của lão” [9, tr.41]. Cả làng phải đi xin thuốc thánh rồi mới khỏi. Người ta tin rằng hồn ma của mụ rất thiêng đi gây biết bao tai họa cho dân làng, chính vì vậy mà người ta đã lập cho mụ một cái miếu thờ.
Hình ảnh “con quỷ tóc vàng” như sợi dây kết nối âm – dương, thực – ảo, có tác dụng liên kết các sự kiện chính trong tác phẩm. Ai cũng tin rằng oan hồn của nó chưa siêu thoát, vẫn còn xuất hiện trên dương gian nên khi có hiện tượng kì bí, người ta lại nghĩ ngay đến “con quỷ tóc vàng”. Điều đó khiến người ta giật mình thon thót. Khi bóng đen xuất hiện ở nhà mụ Chín Chè: “Một cái bóng đen vừa mới lách vào đứng bên giường mụ. Mụ giật thót mình. Một tiếng sét đánh ở góc vườn, khét lẹt (…) con ma đứng sững tóc rũ rượi, mình mẩy nó choàng một thứ giẻ rách mướp như làm bằng cánh con dơi. Mụ nghe như trên mái tôn nhà mụ có muôn nghìn con quỷ đương nhảy câng cẫng (…) một bàn tay ướt lạnh đầy nhớt giơ ra nắm vào cổ tay mụ” [9, tr.230 – 231]. Ai cũng tin vào sự hiện diện của “con quỷ tóc vàng” khi xảy ra các hiện tượng bí ẩn. “Con quỷ tóc vàng” không chỉ ám ảnh dân làng mà còn ám ảnh cả bè lũ tay sai bán nước. Cả đám cứ tin rằng chính “con quỷ tóc vàng” đã gây ra biết bao rắc rối cho bọn chúng: “Cái con quỷ tóc vàng thường nổ súng trên bãi cát đêm đêm, kêu hú trong giấc ngủ những người lính chúng ta” [9, tr.197]. Trong thư gởi Râu giơ, Lếch kể lại câu chuyện về đội xe tăng của hắn bị phục kích như sau: “Nghe một tiếng thét rất lạ, tớ nghiêng mặt lại nhìn thì chao ôi: một con quỷ tóc vàng – Lạy chúa, tớ không tin là mắt tớ bị hoa đâu. Đầu tóc nó vàng rực, quần áo nó rách bươm – một thứ giẻ rách thì đúng hơn. Nó cầm một cây tiểu liên cũng rách nát như nó, quạt không thương xót vào những tên lính đang bò lổn ngổn trên mặt cát (…). Trong buổi chiều nhợt nhạt của hoả châu và cát xám lạnh, con quỷ ấy cứ hiện ra trên các ngọn cây” [9, tr197]. Những lời đồn đoán và sự bí ẩn xung quanh câu chuyện về “con quỷ tóc vàng” đã tạo điều kiện cho Tâm thuận lợi thực hiện kế hoạch, khiến cho kẻ thù kinh hoàng bạt vía. Là người duy nhất sống sót trong vụ thảm sát, dân làng đều nghĩ Tâm đã chết, Tâm đã hóa trang thành “con quỷ tóc vàng” chỉ huy “Đảng khăn xô” trong cuộc đấu tranh chính trị, giúp bà con dân làng không bị chết oan dưới họng súng của địch. Cái tài tình của Thu Bồn trong việc xây dựng hình ảnh “con quỷ tóc vàng” chính là đã gợi cho người đọc rất nhiều liên tưởng và buộc người đọc phải tự tìm ra những nút thắt và tự trả lời cho câu hỏi “con quỷ tóc vàng” là ai. Có rất nhiều chi tiết trong tác phẩm chỉ ra mối liên hệ giữa “con quỷ tóc vàng” và Tâm. Trong lần nấu cơm trong hầm bị cháy, mái tóc Tâm trở nên vàng và rối. Tâm cũng xuất hiện vào ban đêm lấy mấy cái xà lét cúng ma, nên mọi người càng tin đây chính là mụ Khờ hiện hồn và con quỷ tóc vàng là chuyện có thật. Và sau khi ở đám tang mẹ Mạo về thì lão gù thấy Tâm nghĩ là mụ Khờ hiện hồn về đòi nợ lão: “Dưới ánh sáng hỏa châu lão nhìn thấy người con gái đầu tóc vàng rực bờm xờm, áo rách tả tơi, chiếc quần cọc trắng thùng thình, đương chồm lên lấy mấy cái xà lết cúng ma”, khi lão về đến nhà lại một phen thất kinh vì thấy “trên bàn thờ có con quỷ tóc vàng…mụ Khờ Thứ hiện hồn!”. Đến cuối tác phẩm, người đọc càng thêm khẳng định đó là Tâm: “Tâm đưa tay vén lại mái tóc. Mái tóc cộc lốc vàng rực xù ra quanh đầu như bờm một con sư tử (…). Gió ơi! Sao gió không kéo cho mái tóc Tâm dài ra và óng mượt như những năm xưa.”. Hình tượng “con quỷ tóc vàng” được xây dựng trên nền tín ngưỡng dân gian, giúp tác phẩm trở nên li kì, huyền bí hơn.
Có thể nói, hiện thực và kì ảo được đan xen và có tác dụng tương hỗ trong tác phẩm. Kì ảo được xây dựng trên nền của hiện thực làm cho thế giới nhân vật hiện lên sống động, ảo diệu khôn lường. Tuy nhiên, thế giới nhân vật kì ảo không làm cho hiện thực bị phai nhòa đi hay tô lấp hiện thực mà trái lại, nó còn làm cho hiện thực chiến tranh tàn khốc hiện lên sáng rõ trước mắt người đọc. Ngoài hình tượng con quỷ tóc vàng được thể hiện xuyên suốt tác phẩm, trong thế giới nhân vật của tiểu thuyết ta còn gặp những con người kì dị, khác thường. Hiện thực chiến tranh khắc khổ, thiếu thốn với những trận dịch hoành hoành đã tạo nên những con người với những đường nét kì quái, biến hóa phức tạp. Trước hết là lão Mãn gù được khắc họa với những đường nét quái dị: “Ngồi thu lu như con chàng hiu trên giàn trầu. Mắt lồi ra” [9, tr.28], “Hàm răng chiếc nào cũng to, vàng ởn, cười sẵn từ trong mồm” [9, tr.8], “Lúc nào đứng cũng cắm mắt nhìn xuống đất với cái gù đè trên lưng” [9, tr.9]. Thế giới nhân vật kì ảo trong tiểu thuyết là những con người bình thường nhưng mang nặng vết tích của chiến tranh nên không một ai hoàn mỹ: đui, chột, què, điếc, không có bướu thì cũng gù. Mụ Dệu – mẹ của Mạo thì mang cái bướu to tướng ở cổ vì giọng hát của bà khiến thần linh ghen ghét. Thằng Thí thì bị chột một mắt vì khi bị địch tra tấn, một cây viết của tên sĩ quan đã bắn vào mắt Thí, máu văng tung tóe. Ông Dòn thì nghễnh ngãng. Thằng Lưu Vong vừa hói lại vừa trọc… Thằng cha Bỉ đội lốt nhà sư thì trông giống như một mụ phù thủy: “Một con ắc là chứ không phải con quạ. Con quạ đen tuyền – còn con ắc là thì có những phần trắng. Thằng cha bỉ có cái cổ trắng núc, mặt như bánh giầy trắng. Hai bàn tay trắng, cổ chân cũng trắng. Còn lại thì đen tuyền. Tuồng như gan ruột lão cũng đen.” [9, tr.48]. Thằng Tư Quéo có ngoại hình khá kì lạ, khiến ngay cả thằng Đạm cũng phải khiếp sợ: “Nó thấy cánh tay Tư Quéo nhiều lông quá, bỗng nhiên nó rờn rợn. Nó quay mặt nhìn ra ngoài nhưng bỗng nó thấy đôi lông mày rậm dày có những sợi dài quá cỡ vểnh ra phía trước như vòi con ong của Tư Quéo đương chọc vào gáy nó” [9, tr.144]. Thậm chí trong tác phẩm, ta thấy thế giới loài người không chỉ có những nhân vật hiện diện sẵn có mà còn có những nhân vật mơ hồ, không rõ là ma hay quỷ, không rõ là còn sống hay đã chết. Nhiều lần thằng Đạm hỏi Tư Quéo có biết bơi không nhưng Tư Quéo không trả lời. Do đó, không ai rõ Tư Quéo bơi sang sông hay nhảy xuống sông tự tử, và rốt cuộc là Tư Quéo thật hay chỉ là hồn ma hắn hiện lên chỉ chỗ thằng Đạm đang trốn cho du kích bắt Đạm. Hành động của Tư Quéo cũng lạ thường đến khó tin: “Máu đông một cục trên tóc. Nó vất cục máu xuống đất và như một người điên, nó giơ hai bàn tay chùi vào ánh trăng, ánh trăng như vấy máu từ hai bàn tay nó, đỏ choé.” [9, tr.101]. Hình tượng hồn ma, hồn quỷ, thánh thần,… được nhắc đến nhiều lần trong tác phẩm: “Hai bóng đen ngồi xuống ngạch cửa (…)mụ vừa gọi được cái hồn của con mụ về, ai ngờ quỷ sứ đã kéo đến đầy cửa (…). Hai con quỷ đặt bút cho con mụ ký vào tờ trát đòi của Diêm vương (…) Hai con quỷ bước ra ngoài sân, ngửa mặt nhìn trời cười, răng trắng loá.”
Không chỉ có con người, hình tượng loài vật trong tác phẩm cũng hiện lên khác thường. Trong tác phẩm, những con vật cũng có linh hồn, cũng biết nói, biết suy nghĩ như con người. Đông nhất có lẽ là quạ – biểu tượng cho sự chết chóc. Ở đâu có xác chết, có đàn quạ xuất hiện, mổ rỉa những cái xác ghê rợn. “Những con quạ mắt long lanh đỏ rực, chúng bị đỏ mắt.” [9, tr.109]. Chiến tranh chết chóc nên lũ quạ càng ngày càng đông trong khi con người càng ngày càng ít đi. Chúng ăn thịt, rỉa xác con người nhiều đến nỗi thành nghiện, “lũ quạ lại vào làng kêu vang đòi thịt”. Khi nghe mùi lạp xưởng là chúng xông tới. Hình ảnh lũ quạ cũng qua ngòi bút của tác giả cũng hiện lên quái dị và đáng sợ với “đôi mắt đỏ như máu, đầu nó trọc lóc”. Chúng “cười khà khà” mừng rỡ khi cướp được những miếng lạp xưởng và cả một “phân đội” quạ bay theo như để “hộ tống” chiếc lạp xường đó bay vào hoàng hôn”. Bên cạnh lũ quạ, “nhân vật” con chó Sác cũng được tác giả miêu tả đầy đủ như một nhân vật thông thường, tức nó cũng có một lai lịch, tính cách và cả những ưu nhược điểm. Nó là con chó được lai mang dòng máu Phi-líp-pin của mẹ , dòng máu Mỹ của cha, và lớn lên ở Ca-li-phóc-ni-a, tốt nghiệp trường đào tạo chó của cục tình báo CIA và được đưa sang Việt Nam với sứ mệnh tiêu diệt cộng sản. Con chó Sác đã lập “chiến công” khi phát hiện hai cái hầm giấu vũ khí của du kích và được phong hàm thiếu úy hẳn hoi. Nó cũng giống như con người, sở thích của nó là được hút thuốc lá Sa lem loại hảo hạng và nếu không được mời thì sẽ tự ái ngay. “Nó để điếu thuốc bên mép trông như một tay nghiện sành sỏi, đểu giả”. Khi hút, nó cũng biết “phì khói ra đằng mũi” và phả khói thuốc vào mặt bọn lính. Nó khá là khinh người: “khi đi nó vênh mặt lên trời (…) mắt nó nhìn lúc nào cũng vênh váo, kẻ cả (…) nó đưa chân trước cho tụi lính bắt một cách trịnh trọng”. Trong đêm con Sác đang ngủ chung với mụ Cửu Xéo trên giường, nó đã táp vào tay lão Ó-bốn-hoa trong khi tên này mò sang rờ rẫm mụ Cửu Xéo và bị kỉ luật. Nhiều hành động của con chó Sác khiến người đọc không thể rùng mình vì nó không phải là con chó bình thường mà là con quái vật.
Hình tượng thiên nhiên cũng hiện lên một cách quái dị. Những hình tượng thiên nhiên như bãi cát – những cơn bão cát, biển – những trận gió biển, mây mù và những vầng trăng, ánh sao…được kì ảo hóa thành những sinh thể có hồn và có tâm trạng, mang dáng dấp của con người, có lúc rất hiền hòa, dịu êm nhưng cũng có lúc rất ma mị. Những đám mây mang màu cánh vạc của khói lửa đạn bom dường như cũng có linh hồn, cũng sợ hãi và trốn chạy khỏi hiện thực, biến hóa khôn lường: “Những đám mây xanh màu cánh vạc móc xích nhau như những toa xe nặng nề kéo ù trên nền trời xám(…)Chỉ có những tia nắng dù rất yếu ớt và nhợt nhạt cũng làm những đám mây sợ hãi cuốn nhau chạy nhanh hơn” [9, tr. 613]. Đến cả ánh trăng thơ mộng thường thấy trong thơ văn, trong tác phẩm của Thu Bồn cũng mang màu máu đỏ lòm, ghê rợn: “Trăng như lưỡi hái của thần chết đỏ lòm ghê rợn hiện ra sau đám mây úa.” [9, tr.97]. Hay ngay cả đến gió cũng hiện lên một cách ma quái, rùng rợn đến ghê người: “Nửa đêm gió chạy vào những khoảng đất trống của làng… cơn gió lồng lên phá cửa, tiền vàng cứ giãy đành đạch dưới những cái lư hương. Gió sờ soạng cái then cửa, sờ vào tấm mành. Gió ra vườn xé te tàu chuối. Gió như thằng mù cứ đi quanh quẩn. Tiếng gió chui qua ống thổi lửa vo vo làm tung những tiếng tro cho những than lửa hấp háy con mắt. Lúc đầu, những than lửa còn ngái ngủ, cứ mở rồi nhắm một lúc nó thức dậy hẳn, liếc con mắt xanh rồi cứ phóng mình lên đột vào lòng bóng đêm” [9, tr.296]. Con đường đưa người ta đến những cái bẫy có gài mìn, có những con mắt độc ác dòm ngó. Mặt trời không nhẫn nhục được với mây mù đã chín bầm trên đỉnh núi phía tây, tức giận đốt cháy lung tung. Nó sẽ vác một bó đuốc đi vòng quanh đêm đen, để ngày mai thắp lên phía đông một ngọn lửa mới. Thằng Đạm trong lúc trốn chạy đã cảm thấy những con sóng biển như những hồn ma: sóng xập xoả vào bờ như cả thiên binh vạn mã từ đâu kéo đến, họ đương lội ngoài biển chốc nữa sẽ tràn vào; hàng nghìn cái chân lội ào ào trong nước. Trong lớp sóng biển dường như Đạm cảm nhận được có những oan hồn Mỹ Thuỷ cũng thoi thóp trườn lên. Đạm sợ biển sẽ giết mình, khiến cho biển trước mắt Đạm trở nên rùng rợn, mang bóng dáng của những con người Mỹ Thủy chết oan hiện về đòi nợ máu phải trả bằng máu. Ám ảnh bởi cái chết của vợ con, Tư Quéo khi đang trốn chạy những tiếng kêu khóc trên Ngàn Khơi, hàng tã phơi trong mắt Tư Quéo cũng hiện lên đáng sợ: “Giật mình, Tư Quéo co giò chạy. Những chiếc tã bị gió đưa đưa như những chiếc cánh rời dây phơi đuổi theo mà thắt cổ nó. Nó càng chạy nhanh, những cánh tã rượt theo ù ù rật rật” [9, tr.163].
Những nhân vật kì ảo trong tác phẩm tạo nên màu sắc kì bí, lôi cuốn, đưa người đọc vào thế giới ma mị, đồng thời cũng tố cáo hiện thực một cách mạnh mẽ. Hiện thực chiến tranh tàn khốc, tội ác của giặc và bè lũ tay sai khiến cho thiên nhiên phải căm giận, phẫn nộ. Những con người vốn lành lặn, bình thường nhưng vì những di chứng của chiến tranh mà trở thành những con người quái đản, kì dị, sống trong thân xác người không ra người, quỷ không ra quỷ. Cái tài tình của Thu Bồn chính là kì ảo và hiện thực vừa đan xen nhau, vừa tương phản làm nổi bật hiện thực khốc liệt của chiến tranh.
Chương một chúng tôi cố gắng đưa cái cái nhìn bao quát về hai phương diện cơ bản ghi dấu trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn là điểm nhìn trần thuật và tổ chức xây dựng hình tượng. Ở khía cạnh thứ nhất cho thấy, với việc tổ chức linh hoạt các hình thái điểm nhìn đã góp phần đem lại mối quan hệ cộng sinh cho đời sống văn bản được hoạt nhất trong tính chỉnh thể. Đồng thời, các tiêu điểm nghệ thuật của điểm nhìn bên ngoài, bên trong và phối điểm nhìn, nhà văn đã dẫn giải cho nhiều mạch nguồn ý nghĩa. Trong đó, thông qua các điểm nhìn ngoại quan, nhà văn đã đem đến cho người đọc cái nhìn bao quát về các sự kiện và đời sống của con người ở nhiều khung ngữ cảnh. Kết hợp với đó là điểm nhìn bên trong, đi sâu vào những vách ngăn tinh thần các hữu thể. Đồng thời, sự dung hợp trong gấp bội điểm nhìn đã cho phép nhà tiểu thuyết tổ chức đời sống cho văn khu trú trong nhiều không gian thẩm mĩ. Ở khía cạnh thứ hai cho thấy, với cách tổ chức nhân vật trong nhiều khu vực tiếp xúc của trục tư duy nghệ thuật, nhà văn đặt nhân vật trong cái nhìn đa diện, gợi thức cho những góc khuất của đời sống. Đặc biệt trong xây dựng nhân vật kì ảo đã có những bước chuyển trong tư duy chủ thể sáng tạo – khi để bối cảnh hiện thực chảy trong nguồn mạch cảm hứng siêu nhiên. Điều đó cũng có nghĩa, nhà tiểu thuyết mong muốn biện giải nhiều hơn cho đối tượng phản ánh. Tuy nhiên, điều quan trọng, với cách tổ chức trần thuật này, tác giả đã đưa nhân vật soi chiếu qua nhiều trường đoạn kịch tính, mở ra những góc nhìn mới trong trục tư duy hình tượng.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG DE AN 2024\Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Dưới đám mây màu cánh vạc của Thu Bồn

