Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã và đang có những bước tiến vượt bậc trong công cuộc hội nhập sâu rộng với thế giới. Một trong những lĩnh vực then chốt trong việc đưa Việt Nam trở thành một điểm đến tin cậy, hấp dẫn cho các nhà đầu tư chính là tài chính Ngân hàng. Bên cạnh những thành tích nổi bật đã đạt được, các ngân hàng thương mại ở nước ta vẫn còn đang đối mặt với nhiều khó khăn thách thức đặc biệt là trong hoạt động tín dụng do sự chuyển đổi còn chậm, trình độ còn non kém chưa theo kịp những diễn biến ngày một phức tạp của tình hình quốc tế. Điều này đã làm nảy sinh ra một vấn đề hết sức nan giải đó là tình trạng nợ xấu.
Nợ xấu là một vấn đề không mới của các ngân hàng thương mại. Nó đã phát sinh từ lâu nhưng bắt đầu được quan tâm đặc biệt từ cuối năm 2011 sau cuộc khủng hoảng toàn cầu, gây nên sự sụp đổ hàng loạt các định chế tài chính lớn trên thế giới, rung động không chỉ nền kinh tế số một thế giới là Hoa Kỳ mà toàn bộ các khu vực khác cũng phải chịu hậu quả nặng nề từ nó. Từ đó đến nay, nợ xấu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng có những diễn biến khó lường. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh, tính cạnh tranh với nước ngoài của các ngân hàng khi làm giảm cũng như nền kinh tế của cả nước bởi hệ thống ngân hàng chính là cầu nối để chuyển vốn trong nền kinh tế đồng thời là công cụ vĩ mô để Chính phủ và Nhà nước có thể quản lý nền kinh tế.
Thời gian qua, các TCTD và VAMC đã tích cực rà soát, đánh giá toàn bộ danh mục tài sản trong toàn hệ thống TCTD và nợ đã mua bằng trái phiếu đặc biệt nhằm đánh giá nhận diện thực trạng nợ, nợ xấu, tài sản đảm bảo cho các khoản nợ xấu được xác định theo NQ 42, những khó khăn, vướng mắc trong quá trình xử lý để xây dựng các giải pháp xử lý phù hợp và triển khai, áp dụng các biện pháp nhằm xử lý nợ xấu. Theo đó, việc xử lý nợ xấu theo NQ 42 về cơ bản đã có kết quả và những thành công đáng kể, nhưng vẫn còn tồn tại một số khó khăn [14].
Nằm trong hệ thống các ngân hàng thương mại, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk không thể tránh khỏi những khó khăn trong công tác xử lý cũng như hạn chế tình trạng nợ xấu ngày một gia tăng.
Với mong muốn hiểu rõ hơn về nợ xấu và phân tích cụ thể thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk, từ đó đề xuất một số giải pháp giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu, góp phần lành mạnh hoá tình hình tài chính, tăng năng lực cạnh trạnh cho ngân hàng trong quá trình hội nhập, tác giả chọn chủ đề “Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk” làm đề tài đề án tốt nghiệp thạc sĩ quản trị kinh doanh vừa có tính khoa học và thực tiễn.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau đây:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến xử lý nợ xấu trong hệ thống NHTM.
- Phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk giai đoạn 2021-2023.
- Đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong thời gian tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk
Phạm vi nghiên cứu: Do khuôn khổ luận văn có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tình hình xử lý nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong giai đoạn từ năm 2021 – 2023.
Để thực hiện các mục tiêu và nội dung nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
- Phương pháp tổng hợp: nhằm kế thừa những lý luận cơ bản về nợ xấu tại các Ngân hàng, từ đó hình thành cơ sở lý thuyết cho đề tài luận văn.
- Phương pháp thống kê: thu thập số liệu về tổng quan tình hình hoạt động, thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.
- Phương pháp so sánh, phân tích dữ liệu và suy luận trên cơ sở số liệu thực tế đã thu thập và tổng hợp được và các chỉ tiêu căn cứ để đánh giá chất lượng các khoản vay.
Để có những kết luận chính xác hơn cần phải dựa vào một hệ thống các chỉ tiêu định lượng cụ thể bao gồm các chỉ tiêu lên quan đến hoạt động cho vay nợ của ngân hàng như: chỉ tiêu về dư nợ, các chỉ tiêu đánh giá tình trạng nợ quá hạn, chỉ tiêu đánh giá nợ xấu… Thực tế, xử lý nợ xấu là một vấn đề rất nhạy cảm liên quan đến rất nhiều các chủ thể: ngân hàng, khách hàng và nền kinh tế. Do đó để công tác xử lý nợ xấu mang lại hiệu quả thì cần phải có sự kết hợp linh hoạt các phương pháp trên.
• Nghiên cứu nước ngoài
• Tình hình nghiên cứu trong nước

Góp phần hệ thống hóa những lý luận cơ bản về công tác xử lý nợ xấu của NHTM; củng cố và cập nhật thêm những nội dung mới liên quan đến công tác xử lý nợ xấu của NHTM, làm phong phú thêm nguồn tài liệu nghiên cứu cho việc học tập của sinh viên và tài liệu tham khảo ngành ngân hàng.
Trong nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu các dữ liệu trong khoảng thời gian cập nhật đến thời điểm mới nhất có thể và từ nhiều nguồn khác nhau; nhận diện một cách khách quan nhất về công tác xử lý nợ xấu tại Agribank Bắc Đắk Lắk. Thông qua kết quả của nghiên cứu của đề tài này, tác giả đề xuất giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại Agribank chi nhánh Bắc Đắk Lắk. Qua đó giúp cho nhà quản trị ngân hàng nói chung và Chi nhánh nói riêng có thể áp dụng các giải pháp mang tính thực tiễn cao và khả thi trong quá trình điều hành các hoạt động cấp tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, giảm thấp nợ xấu, hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại.
Chương 2: Thực trạng công tác xử lý nợ xấu Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xâu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Khái quát về nợ xấu và xử lý nợ xấu trong ngân hàng thương mại
- Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non- performing loan”, “doubtful debt”, tức là những món nợ không có khả năng hoàn lại, những món vay không thực hiện đúng hợp đồng hoặc có thể là nợ khó đòi. Hiện nay có một số khái niệm về nợ xấu như:
- Khái niệm của Phòng Thống kê – Liên hợp quốc: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận, hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”.
- Theo một số tiêu chí của NHTW Liên Minh Châu Âu: nợ xấu trong hoạt động kinh doanh của NHTM không chỉ có những khoản vay quá hạn thông thường không có khả năng thu hồi theo hợp đồng mà còn có các khoản nợ chưa quá hạn nhưng tiềm ẩn các rủi ro dẫn đến việc có thể không thanh toán đầy đủ gốc và lãi cho ngân hàng.
- Khái niệm nợ xấu của Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF): trong Hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS), IMF đưa ra định nghĩa về nợ xấu như sau: “Một khoản vay ược coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”.
- Quan điểm của Việt Nam: Theo quy định tại khoản 8 Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của NHNN Việt Nam có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/6/2014 quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”.
Theo Quyết định số 22/VBHN – NHNN ngày 04/6/2014 của ngân hàng nhà nước ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng thì nợ xấu được xác định dựa trên cả yếu tố thời hạn nợ và khả năng thu hồi ở Việt Nam hiện nay phổ biến thực hiện phân loại nợ theo 5 nhóm như sau:
Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn), bao gồm :
- Các khoản nợ trong hạn và tổ chức tín dụng đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn.
- Các khoản nợ quá thời hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là cókhả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng thời hạn còn lại.
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 1 theo quy định tại Khoản 2, Điều 6.
Nhóm 2 (Nợ cần chú ý), bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 10 đến 90 ngày.
- Các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu (đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng có đánh giá khách hàng và khả năng về trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kì hạn được điều chỉnh lần đầu).
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.
Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), bao gồm :
- Các khoản nợ quá thời hạn từ 91 ngày đến 180 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kì hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b khoản này.
- Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.
Nợ xấu thuộc nhóm này được xem là các khoản nợ có khả năng thu hồi nợ cao nhất. Ngân hàng sẽ trích lập 1 tỷ lệ DPRR cho nợ xấu nhóm này là 20% dư nợ của nhóm.
Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ), bao gồm :
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ 2.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 3 Điều 6.
Nợ xấu thuộc nhóm này được đánh giá là có khả năng thu hồi nợ thấp hơn sovới các khoản nợ của nhóm 3. Các khoản nợ này được xếp vào những khoản nợ mà ngân hàng có sự nghi ngờ về khả năng trả nợ. Tỉ lệ trích lập DPRR cho nợ xấu thuộc nhóm này là 50% tổng dư nợ của nhóm.
Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm :
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày.
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu.
- Các khoản nợ được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần hai.
- Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý.
- Các khoản nợ được phân loại vào nhóm 5 theo quy định tại Khoản 3 điều này.
Khả năng thu hồi nợ của nhóm này được coi như bằng 0, do vậy tỉ lệ trích lập DPRR tương ứng là 100% tổng dư nợ của nhóm. Còn riêng đối với các khoản nợ khoanh chờ chính phủ xử lý thì được trích lập dự phòng cụ thể theo khả năng tài chính của tổ chức tín dụng.
Theo quy định, nợ xấu là nợ được phân vào nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Trên cơ sở kết quả phân loại nợ, TCTD chủ động thực hiện hạch toán, trích lập dự phòng rủi ro theo quy định [11].
Tuy nhiên, trên thực tế các TCTD xem xét nợ xấu chủ yếu dựa trên các đánh giá về khả năng thu hồi các món vay.
Nợ xấu trong cho vay của NHTM gây hậu quả lớn đối với cả khách hàng vay và ngân hàng, nền kinh tế. Đối với khách hàng vay, nợ xấu tạo áp lực trả nợ buộc kháchhàng phải giải quyết nợ trong tình trạng tài chính không tốt, khách hàng bị mất uy tín (cá nhân khách hàng hoặc doanh nghiệp). Đối với NHTM, nợ xấu làm giảm thu nhập của ngân hàng, thua lỗ và ngân hàng rơi vào tình trạng phá sản vì mất uy tín hiệu ứng rút tiền ồ ạt… Nợ xấu còn ảnh hưởng đến nền kinh tế giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn, tăng chi phí sử dụng vốn hoạt động kinh doanh của khách hàng. Để hoạt động kinh doanh của các ngân hàng tốt, các NHTM cần có các giải pháp ngăn ngừa và xử lý nợ xấu.
1.1.3.1. Ảnh hưởng của nợ xấu tới Ngân hàng
Trước hết, nợ xấu làm giảm lợi nhuận của của ngân hàng. Lợi nhuận được hình thành từ những khoản thu của ngân hàng mà những khoản thu này chủ yếu thu từ lãi cho vay. Nếu những khoản cho vay không thu hồi được thì nợ xấu của ngân hàng sẽ càng cao. Khi đó, ngân hàng sẽ phải trích lập DPRR cho khoản vay đó tức làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận.
Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. Khi nợ xấu phát sinh, ngân hàng không thu được khoản tiền gốc và tiền lãi tín dụng, nhưng vẫn phải trả gốc và lãi cho các khoản vốn huy động đến hạn, điều này làm cho ngân hàng giảm lợi nhuận, rơi vào tình trạng mất cân đối thu chi và rủi ro thanh khoản. Mất khả năng thanh khoản mức độ nặng còn có thể dẫn tới phá sản ngân hàng.
Thứ ba, nợ xấu làm mất uy tín của ngân hàng. Tỷ lệ nợ xấu cao làm cho uy tín, niềm tin vào tiềm lực tài chính của ngân hàng bị suy giảm, dẫn tới làm giảm khả năng huy động vốn, điều này sẽ đẩy chi phí huy động của ngân hàng lên cao hoặc thậm chí dẫn tới rủi ro thanh khoản và đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Đây cũng là lý do tại sao các Ngân hàng việt nam hiện nay vẫn mập mờ trong cách tính tỷ lệ nợ xấu và công bố nợ xấu. Bởi tỷ lệ nợ xấu càng cao, càng chứng tỏ hoạt động tín dụng kém hiệu quả của ngân hàng, điều này làm mất niềm tin của nhà đầu tư, của người gửi tiền.
Thứ tư, nợ xấu có thể cản trở quá trình hội nhập của các Ngân hàng việt nam. Nợ xấu tác động trực tiếp tới khả năng tài chính của các Ngân hàng khi phân tích đánh giá tình hình tài chính hoạt động ngân hàng. Trong quá trình hội nhập mở rộng, sự xuất hiện của ngân hàng nước ngoài ngày càng nhiều thì sự cạnh tranh càng khốc liệt. Vấn đề về lành mạnh tài chính của ngân hàng được đặt lên để đảm bảo quá trình hội nhập không bị hòa tan.
Đối với nền kinh tế:
Hoạt động kinh doanh ngân hàng mang tính hệ thống, có mối quan hệ chặt chẽ với nhiều chủ thể trong toàn bộ nền kinh tế, do đó, nợ xấu có thể gây ra hậu quả đối với hệ thống tài chính quốc gia.
Hoạt động tín dụng ngân hàng dựa trên nguyên lý “đi vay để cho vay”, do đó, chỉ cần người gửi tiền mất niềm tin vào một ngân hàng họ tiến hàng rút tiền ồ ạt, tạo hiệu ứng tâm lý rút tiền ở các ngân hàng khác, hậu quả có thể khiến cho hệ thống ngân hàng sụp đổ hoàn toàn. Ngân hàng là một công cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất lưu thông hàng hóa. Việc sụp đổ cả một hệ thống ngân hàng sẽ làm ngưng trệ quá trình lưu thông vốn trong nền kinh tế và có thể dẫn tới khủng hoảng kinh tế.
Nợ xấu gia tăng có thể khiến ngân hàng dè dặt trong việc huy động và cung ứng vốn cho nền kinh tế, làm cho sản xuất bị đình trệ, tăng trưởng kinh tế chậm lại, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp gia tăng, xã hội mất ổn định và chất lượng cuộc sống giảm sút.
1.1.3.2. Vai trò của công tác xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là nhiệm vụ cấp bách, quan trọng hàng đầu trong chương trình các cải cách các hoạt động ngân hàng. Nó giữ vai trò rất quan trọng đối với sự tồn tại phát triển và uy tín dụng Ngân hàng. Xử lý nợ xấu của NHTM là một trong những vấn đề quan trọng mà bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm tới, kể cả các nước có nền kinh tế mới nổi hay các nước có nền kinh tế đã phát triển. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, quá trình hội nhập vào thị trường tài chính quốc tế và tự do hóa tài chính làm cho môi trường cạnh tranh khốc liệt và rủi ro hơn.
Thứ nhất, xử lý nợ xấu đảm bảo ngân hàng phát triển ổn định
Ngăn ngừa nợ xấu ngân hàng sẽ hoạt động ổn định và tiếp tục phát triển bền vững vì nợ xấu phát sinh sẽ làm giảm tốc độ quay vòng vốn của NHTM do số tiền gốc của các khoản vay này khó có khả năng thu hồi, dẫn đến giảm doanh thu và thu nhập của NHTM. Nợ xấu phát sinh làm giảm lợi nhuận của NHTM do ngân hàng không thu được hoặc thu không đủ các khoản lãi phát sinh của các món nợ xấu. Ngoài ra, nợ xấu khiến NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro cho khoản vay đó, làm tăng chi phí của ngân hàng đồng thời làm giảm lợi nhuận. Do đó, hầu hết các ngân hàng đều trú trọng đến công tác quản lý nợ xấu, bởi nếu không quản lý tốt dẫn đến phát sinh nợ xấu sẽ ảnh hưởng đến tính thanh khoản của ngân hàng và làm gia tăng thiệt hại.
Thứ hai, nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận khách hàng của ngân hàng
Những ảnh hưởng của nợ xấu dẫn đến lợi nhuận giảm, khả năng thanh toán giảm… có tác động sâu sắc đến tâm lý khách hàng bao gồm cả khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp hay các ngân hàng đối tác, làm mất uy tín dẫn đến giảm khả năng tiếp cận khách hàng vay vốn cũng như ảnh hưởng đến các hoạt động khác của ngân hàng như huy động vốn, các dịch vụ tài chính liên quan. Nợ xấu dẫn đến khủng hoảng nền kinh tế. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây tâm lý hoang mang cho người gửi tiền. Hiệu ứng rút tiền ồ ạt có thể sẽ làm cho ngân hàng mất khả năng thanh toán, có thể dẫn đến phá sản.
Thứ ba, ngăn ngừa được nợ xấu thì nền kinh tế đất nước phát triển ổn định, tăng trưởng kinh tế đời sống văn hóa xã hội phát triển
Quản lý nợ xấu không tốt dẫn đến tỷ lệ nợ xấu tăng cao sẽ gây nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng, từ đó có thể kéo theo khủng hoảng tài chính tiền tệ xảy ra. Khi đó làm giảm số dự trữ và vốn, làm tổn thất sức mạnh tài chính của Ngân hàng. Hơn nữa, các khoản nợ xấu tạo ra gánh nặng chi phí cho các ngân hàng và làm ngân hàng suy giảm khả năng huy động vốn, khả năng cho vay đối với nền kinh tế. Vì thế lòng tin của dân chúng cũng như uy tín quốc tế đối với hệ thống ngân hàng, nề kinh tế đất nước do đó cũng suy giảm theo.
Tóm lại, vai trò của quản lý nợ xấu là rất quan trọng; nếu quản lý không tốt không những tác động đối với khách hàng, nhân dân, hệ thống Ngân hàng mà còn nguy hại đối với cả nền kinh tế, trật tự xã hội. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới trong giai đoạn trước đây là một minh chứng rõ nhất về ảnh hưởng của nợ xấu.
Nhận thức được điều này, việc nâng cao hiệu quả công tác ngừa và xử lý nợ xấu trong hoạt động của NHTM là một vấn đề hết sức cần thiết và cấp bách trong giai đoạn hiện nay, quản lý nợ xấu không còn là việc riêng của các NHTM mà là sự quan tâm chung của cả NHNN, Chính phủ và xã hội.
Các tiêu chí phản ánh mức độ nợ xấu của một NHTM gồm có:
– Tiêu chí 1: Tổng nợ xấu là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ khoản nợ xấu của ngân hàng.
– Tiêu chí 2: Tỷ lệ giá trị các khoản nợ xẩu/tổng dư nợ (tỷ lệ nợ xấu): chỉ tiêu này cho biết mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu = x 100%
Tỷ lệ này phản ánh cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Theo Thông lệ và chuẩn mực quốc tế, tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 3%.
– Tiêu chí 3: Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ và nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng nợ xấu
| Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/Tổng dư nợ = | Nợ xấu nội, ngoại bảng | x 100% |
| Tổng dư nợ |
| Tỷ lệ nợ xấu nội, ngoại bảng/ Tổng nợ xấu = | Nợ xấu nội, ngoại bảng | x 100% |
| Tổng nợ xấu |
Các chỉ số này phản ánh chỉ tiêu tương đối của nợ xấu nội, ngoại bảng một cấu phần quan trọng của nợ xấu. Đây là những chỉ tiêu phản ánh khá trung thực về thực tế và nguy cơ mất vốn của NH. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng rủi ro mất vốn của NH càng cao. Cụ thể, với hai NH có cùng số nợ xấu thì NH nào có tỷ lệ nợ khó đòi/nợ xấu cao hơn sẽ có chỉ tiêu tuyệt đối về nợ khó đòi lớn hơn và tất nhiên là nguy cơ mất vốn sẽ cao hơn.
Tiêu chí 4: Tỷ lệ dự phòng rủi ro được trích lập/Số dư nợ xấu:
| Tỷ lệ trích lập DP/Dư nợ xấu = | Số DPRR được trích lập | x 100% |
| Dư nợ xấu |
Tỷ lệ này phản ánh quỹ dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp bao nhiêu cho các khoản nợ xấu. Nếu tỷ lệ này càng cao thì khả năng quỹ DPRR đủ bù đắp các thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng và ngược lại. Ngoài ra cũng tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngân hàng hoặc quốc gia trong từng thời kỳ mà có thể có thêm các chỉ tiêu khác để đánh giá, so sánh thực trạng nợ xấu nhằm xây dựng các biện pháp xử lý hợp lý.
Nội dung và quy trình xử lý nợ xấu
Việc xử lý nợ xấu được tiến hành theo một trình tự nhất định, bao gồm những vấn đề sau:
Việc xử lý nợ xấu được tiến hành theo một trình tự nhất định, bao gồm những vấn đề sau:
Nhận diện nợ xấu
Phòng ngừa nợ xấu
Xử lý
nợ xấu
Nhận diện nợ xấu là bước đầu tiên trong quá trình quản lý nợ xấu ngân hàng, mà trong đó NHTM sẽ căn cứ vào một số tiêu thức nhất định để nhận diện hoặc xác định khoản nợ đó có phải là nợ xấu hay không. Để nhận biết các khoản nợ xấu, mỗi quốc gia với sự phát triển của hệ thống ngân hàng và thị trường tài chính khác nhau sẽ có những quan điểm khác nhau. Một số tiêu chí thường được các NHTM sử dụng trong việc nhận diện nợ xấu là: Việc xác định nợ xấu cần được NHTM thực hiện định kỳ và đột xuất ngay khi khách hàng hoặc khoản vay có những biểu hiện nhất định:
– Dấu hiệu từ báo cáo tài chính
+ Nhận biết từ bảng cân đối kế toán:
Khách hàng gửi báo cáo tài chính chậm hoặc không gửi báo cáo tài chính thiếu lý do thuyết phục. Số liệu báo có không đầy đủ, rõ ràng và thiếu trung thực. Nguồn vốn chủ sở hữu giảm (trừ trường hợp chia tách doanh nghiệp). Thay đổi đáng kể trong cơ cấu bảng tổng kết tài sản. Nợ phải trả tăng đột biến trong khi nhu cầu SXKD không có sự thay đổi lớn, vốn lưu động ròng âm, các khoản nợ dài hạn tăng đáng kể. Các khoản phải thu tăng đột biến, thời gian thu hồi nợ phải thu trung bình tăng, tỉ lệ các khoản phải thu khó đòi/tổng các khoản phải thu tăng.
Hàng tồn kho, chi phí trả trước, tạm ứng, chi phí sản xuất dở dang tăng đột biến, nhiều công trình xây dựng cơ bản dở dang kéo dài, không quyết toán được. Tỉ lệ các khoản tồn kho kém chất lượng/tổng hàng tồn kho tăng.
Thay đổi tăng nhanh chóng của tài sản cố định (trừ trường hợp doanh nghiệp đầu tư phát triển sản phẩm mới).
Các chỉ tiêu hệ số thể hiện khả năng thanh toán, hiệu quả hoạt động, luân chuyển vốn giảm.
+ Báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh:
Doanh thu bán hàng giảm đột biến hoặc doanh thu bán hàng tăng lớn nhưng lợi nhuận giảm. Tổng doanh thu và doanh thu thuần chênh lệch lớn.
Tỷ lệ phần trăm của chi phí trên tổng doanh thu tăng lớn, mức lãi giảm.
Chi phí quản lý, chi phí tài chính tăng không cân xưng so với mức tăng của doanh thu bán hàng. Tốc độ tăng chi phí cao hơn nhiều so với tốc độ tăng doanh thu trong khi kế hoạch sản xuất kinh doanh không có sự thay đổi độ biến.
Giá vốn tăng cao. Không thực hiện trích lập dự phòng phải thu khó đòi theo quy đinh, công nợ dây dưa kéo dài.
Chi phí quản lý chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí.
Lợi nhuận cao nhưng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh âm, xuất hiện lỗ hổng từ hoạt động kinh doanh.
Thị giá cổ phiếu doanh nghiệp giảm hoặc thay đổi bất lợi. Thay đổi phạm vi kinh doanh. Nguồn cung cấp nguyên liệu bị giảm sút, giá đầu vào tăng đột biến. Thị phần sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp dần thu nhỏ trên thị trường, năng lực cạnh tranh thấp, tiền đề phát triển trong tương lai không nằm trong xu thế tiêu thụ của thị trường. Mất quyền phân phối sản phẩm hoặc nguồn cung cấp.
Giá trị từng đơn đặt hàng hoặc hợp đồng mua bán thay đổi đáng kể có thể làm mất cân bằng năng lực sản xuất hiện hành. Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ người bán, khách hàng mua chịu tăng lên. Hàng tồn kho kém chất lượng, cơ cấu tồn kho không phù hợp. Mất nhiều khách hàng có quan hệ lâu năm.
Bố trí nhà máy, thiết bị không phù hợp với quy mô, quy trình luân chuyền sản xuất kinh doanh và thị trường phân phối. Công suất của nhà máy giảm đáng kể hoặc một số dây chuyền phải ngừng hoạy động vì không có đơn hàng.
Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh, kế hoạch nhu cầu vay vốn lưu động ngày càng tăng lên không sát thực tế, thiếu cơ sở. Thời hạn xin vay vốn ngày càng kéo dài. Đề nghị vay vốn của khách hàng thể hiện nhiều nguồn trả nợ khác nhau nhưng trên thực tế lại khó có thể nhận thấy được.
Chất lượng và giá trị tài sản bảo đảm suy giảm.
Xuất hiện những chủ nợ khác, đặc biệt những chủ nợ nhận tài sản bảo đảm.
Thay đổi trong thái độ đối với cán bộ ngân hàng, ngài tiếp xúc với cán bộ ngân hàng, thiếu tính hợp tác trong cung cấp thông tin, tình hình sản xuất kinh doanh, tài sản bảo đảm cho ngân hàng.
Khó khăn trong việc thanh toán các khoản nợ đến hạn, chậm trả nợ gốc, nợ lãi, thường xuyên phải cơ cấu lại thơi hạn trả nợ. Thiếu tinh thần hợp tác trong việc thanh toán các khoản nợ với ngân hàng.
* Dấu hiệu liên quan đến quản trị doanh nghiệp
Doanh nghiệp sắp chuyển đổi hình thức sở hữu, thay đổi nhân sự, người điều hành, cổ đông lớn, có dấu hiệu mất đoàn kết trong nội bộ doanh nghiệp, xuất hiện các vụ kiện cáo từ nội bộ doanh nghiệp, chậm hoàn thiện hồ sơ pháp lý.
Trình độ quản lý doanh nghiệp của bộ máy lãnh đạo doanh nghiệp kém. Việc điều hành và phân công xử lý công việc thể hiện sự chắp vá không mang tính dài hạn và kế hoạch hóa cao. Sử dụng nguồn lực lãng phí, kém hiệu quả.
Mức độ tín nhiệm của ban lãnh đạo và doanh nghiệp giảm thấp.
Thái độ làm việc của nhân viên giảm sút, khó khăn về nhân sự, một số người có năng lực rời bỏ doanh nghiệp.
Không có khả năng thực hiện các kế hoạch hoặc các cam kết.
Mạo hiểm mua bán, thực hiện công việc kinh doanh mới tại khu vực kinh doanh mới hoặc với dây chuyền kinh doanh mới. Giá cả sản phẩm không phù hợp với giá thị trường.
Phản ứng chậm với sự đi xuống của thị trường hoặc các điều kiện kinh tế.
Có dấu hiệu nợ lương cán bộ, công nhân viên.
Khách hàng vay vốn, lãnh đạo chủ chốt, kế toán trưởng doanh nghiệp bị cơ quan có thẩm quyền thẩm tra, bắt hoặc tạm giam liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Khách hàng có dấu hiện bỏ trốn hoặc mất tích.
Dấu hiệu từ hồ sơ khoản vay:
+ Hồ sơ cho vay không đầy đủ, thiếu chặt chẽ, thông tin thiếu độ tin cậy.
+ Hồ sơ tài sản bảo đảm chưa đảm bảo tính pháp lý, tài sản nhận làm bảo đảm có tính đặc thù cao hoặc tính chuyển nhượng thấp trên thị trường.
+ Kế hoạch trả nợ, nguồn trả nợ không rõ ràng, tính khả thi thấp.
+ Khoản vay có dấu hiệu không trả nợ đúng hạn nhưng không có vật tư, công nợ tương đương làm bảo đảm.
Dấu hiệu liên quan đến công tác quản lý tín dụng:
+ Quy trình cho vay của ngân hàng không được nghiêm túc tuân thủ.
+ Quyết định cho vay không căn cứ vào tính khả thi của phương án sử dụng vốn vay của khách hàng mà chủ yếu dựa vào nguồn thu từ tài sản bảo đảm.
+ Coi nhẹ công tác đánh giá khách hàng, phân tích báo cáo tài chính, khả năng trả nợ của người vay hoặc bỏ qua cáo cáo của bộ phận thông tin tín dụng và những nguồn tham khảo tín dụng khác, bỏ qua ý kiến của các cấp thẩm định.
+ Kiểm tra sau giải ngân mang tính hình thức, chiếu lệ.
+ Cho vay thêm nhưng không có tài sản bảo đảm tương ứng.
+ Cho vay đảo nợ.
+ Cán bộ tín dụng có mối quan hệ đặc biệt với khách hàng.
+ Khách hàng có liên quan đến vụ án đang được cơ quan pháp luật điều tra, giải quyết.
+ Cơ quan chức năng có quyết định thay đổi, bổ sung hoặc rút bớt ngành nghề kinh doanh, thu hồi giấy phép kinh doanh của doanh nghiệp
+ Nợ nghãi vụ ngân sách Nhà nước
+ Kết quả kiểm toán có những điểm khác lớn so với các báo cáo của doanh nghiệp.
+ Cơ chế chính sách thay đổi ảnh hưởng không tốt đến hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, bạn hàng truyền thống, chiến lược của khách hàng
+ Giá cả thị trường thay đổi làm ảnh hưởng tiêu cực đến đầu vào, đầu ra của sản phẩm mà vốn vay của ngân hàng đang đầu tư
+ Tỷ giá ngoại tệ tăng ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay ngoại tệ.
+ Thiên tai, hỏa hoạn ảnh hưởng đến đối tượng vay vốn
Gồm 5 giải pháp như sau:
– Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
– Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng
– Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh
– Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng
– Kiểm tra giám sát hoạt động tín dụng
* Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng
Xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng là xây dựng cách thức quản lý rủi ro tín dụng tổng thể của một Ngân hàng, trong đó thể hiện được cách thức tổ chức quản lý, thực hiện quy trình tín dụng, nhận biết, đo lường, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm khống chế rủi ro trong một giới hạn cho phép theo nguyên tắc tối đa hoá lợi nhuận.
– Nâng cao sức mạnh tài chính nhằm quản lý nợ xấu.
– Môi trường pháp lý cho hoạt động quản lý nợ xấu. – Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý nợ xấu.
– Xử lý nợ xấu.
– Đo lường nợ xấu.
Hiện nay, nhiều Ngân hàng trên thế giới đã bắt đầu quan tâm đến việc xác định cho mình mô hình quản lý rủi ro thích hợp để nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro chứ không đưa ra các phương pháp quản lý rủi ro dàn trải như trước đây.
Việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng giúp cho Ngân hàng có sự nhìn nhận chính xác hơn về triển vọng kinh doanh của Ngân hàng trong tương lai, từ đó có khả năng hoạch định chính sách kinh doanh phù hợp. So với các chỉ tiêu phản ánh thực tế kinh doanh như doanh thu, mức sinh lời, các khoản lãi và phí… thì “rủi ro” lại mang tính “dự đoán”. Nói đến rủi ro tức là nói đến những biến cố xảy ra không chắc chắn. Và trên thực tế thì người ta có thể bỏ qua những kết quả xảy ra trong tương lai để chú trọng hơn vào những mục tiêu trước mắt. Việc xem nhẹ rủi ro như vậy có nghĩa là Ngân hàng có thể sẽ phải chịu những tổn thất nặng nề xảy đến trong tương lai. Chính bởi vậy, quan tâm đến việc áp dụng mô hình quản lý rủi ro có nghĩa là các nhà Ngân hàng đã đưa rủi ro vào thành một vấn đề cấp thiết trong hoạt động kinh doanh bên cạnh mục tiêu “lợi nhuận” ngay cả khi rủi ro chưa xảy ra.
Cụ thể trong việc xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng, cần phải giải quyết các vấn đề cơ bản là: Mô hình quản lý sẽ hoạt động theo phương thức nào (tập trung hay phân tán), cách thức đo lường rủi ro thế nào (định tính hay định lượng), và hệ thống kiểm soát rủi ro ra sao? (sử dụng mô hình kiểm soát đơn hay kiểm soát kép).
* Xây dựng chiến lược quản lý rủi ro
Cần có chiến lược quản lý rủi ro phù hợp với chiến lược kinh doanh của Ngân hàng trong từng thời kỳ và có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt tùy theo diễn biến thị trường tín dụng. Chiến lược quản lý rủi ro nói chung nhằm hạn chế nợ xấu phát sinh phải chỉ rõ điểm mạnh điểm yếu của Ngân hàng, các cơ hội cũng như các mối đe doạ từ môi trường kinh doanh… Chiến lược phải được hoạch định một cách nhất quán về các thứ tự ưu tiên cho đến các mục tiêu có sự xung đột trong hoạt động kinh doanh. Chiến lược phòng ngừa, hạn chế rủi ro phải đặc biệt chú trọng đến việc đa dạng hóa danh mục tín dụng trên cơ sở phân bổ hợp lý các nguồn vốn cũng như chi phí quản lý rủi ro sẽ được hình thành trên cơ sở là một bộ phận hữu cơ phù hợp và gắn chặt với chiến lược kinh doanh tổng thể của Ngân hàng.
Theo nguyên tắc 1 của ủy ban Basel về phòng ngừa nợ xấu:
– Mỗi Ngân hàng cần phát triển một chiến lược hay kế hoạch quản lý rủi ro tín dụng (chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu phù hợp), trong đó xây dựng các mục tiêu hướng dẫn cho các hoạt động cấp tín dụng của Ngân hàng và thực hiện các chính sách và thủ tục cần thiết để tiến hành các hoạt động này. HĐQT có trách nhiệm phê duyệt và định kỳ xem xét chiến lược quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng.
– Chiến lược hoạt động Ngân hàng phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của Ngân hàng với mức sinh lời nhất định mà Ngân hàng kỳ vọng. Cụ thể, chiến lược quản lý rủi ro cần thể hiện tuyên bố của Ngân hàng trong việc sẵn sàng cấp tín dụng dựa trên loại hình rủi ro tiềm năng, ngành kinh tế, vị trí địa lý, đồng tiền, kỳ hạn và mức sinh lời dự kiến. Chiến lược cũng có thể xác định thị trường mục tiêu và các đặc tính tổng quát mà Ngân hàng muốn đạt được trong danh mục tín dụng.
– Chiến lược chấp nhận một tỷ lệ nợ xấu cần được phổ biến hiệu quả trong toàn Ngân hàng. Mọi nhân viên Ngân hàng cần hiểu rõ và có trách nhiệm tuân thủ các thủ tục và chính sách đã đề ra. HĐQT giao Ban Giám đốc quản lý các hoạt động tín dụng do Ngân hàng tiến hành và các hoạt động này được thực hiện trong phạm vi chiến lược, chính sách và mức độ chấp nhận rủi ro đã được HĐQT phê duyệt.
* Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh
Như đã phân tích ở trên, nợ xấu phát sinh từ nhiều nguyên nhân: từ môi trường kinh doanh, những rủi ro từ phía người vay và cả sự yếu kém chủ quan của Ngân hàng cho vay. Riêng các nguyên nhân chủ quan về phía Ngân hàng dẫn đến nợ xấu thì hầu hết bắt nguồn từ công tác thẩm định, kiểm soát tín dụng không tuân thủ nguyên tắc 6 Cs trong thẩm định và kiểm soát tín dụng. Như vậy, khi những khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu thì các Ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với những khoản nợ này.
Đối với các khoản nợ, ngay từ những khoản nợ thuộc nhóm 2 đã cần phải sớm phân tích nguyên nhân và có biện pháp tín dụng, không để kéo dài thời gian qúa hạn, dễ dẫn đến nguy cơ nợ xấu. Quy chế cho vay của TCTD quy định khách hàng chỉ cần qúa hạn nợ gốc và/hoặc lãi vay một ngày thôi, cũng đủ để toàn bộ dư nợ gốc của hợp đồng tín dụng bị chuyển sang nợ qúa hạn, phân loại vào trạng thái nợ nhóm 2 (nợ cần chú ý). Đó là chưa nói đến việc phân tích định tính về khả năng trả nợ bị suy giảm, ước lượng mức tổn thất giá trị nợ gốc để phân vào nợ nhóm 2. Chính vì vậy, việc phân loại nợ phải được thực hiện tự động hóa một cách minh bạch trên phần mềm quản lý nợ toàn hệ thống khiến cho nợ quá hạn các nhóm tự động phát sinh trên hồ sơ quản lý món vay và cân đối kế toán.
Yêu cầu cảnh báo sớm nợ nhóm 2 đòi hỏi Ngân hàng cho vay phải kiểm tra trực tiếp và thu thập thông tin về khách hàng để giải đáp ngay câu hỏi:
Nguyên nhân nào dẫn đến chậm trả lãi và / hoặc gốc của khách hàng?
Nguyên nhân trực tiếp: do lỗ một phi vụ, do công nợ không thu được, do mất thị phần, do lô sản phẩm hỏng không bán được, do bị lừa đảo…
Nguyên nhân sâu xa: do thiếu vốn chủ sở hữu, lỗ kéo dài, dòng ngân qũy âm, đầu tư tràn lan, sử dụng vốn sai mục đích, dự án kém hiệu qủa, mất thị trường đầu vào, đầu ra, năng lực quản lý yếu…
Để phòng ngừa thủ thuật vay đáo hạn nợ như đã nêu thì kể cả trường hợp khách hàng có nguồn trả nợ nhóm 2, Ngân hàng cho vay cũng cần “viếng thăm” khách hàng để tìm hiểu xem nguồn trả nợ từ đâu. Nếu khoản nợ nhóm 2 quá hạn được khắc phục không qúa 30 ngày, nguồn trả nợ thực chất từ chu chuyển vốn kinh doanh lành mạnh thì có thể yên tâm về tình hình tài chính người vay. Ngược lại nếu việc chậm lãi / gốc được xác định là có dấu hiệu, nguyên nhân bất ổn trong kinh doanh thì rõ ràng không còn là tình huống chậm trả lãi tạm thời mà cán bộ tín dụng phải báo cáo lãnh đạo tín dụng và đề xuất xử lý. Lúc này việc phát hiện, cảnh báo sớm sẽ có tác động tích cực cho cả hai bên nhằm kịp thời khắc phục khó khăn. Nếu qúa hạn do một lô hàng thua lỗ, một khoản công nợ đọng,… cũng còn lời cảnh báo của Ngân hàng cho vay để người vay tìm nguồn trả nợ, đồng thời xem xét, sửa đổi quyết định kinh doanh nhằm phòng tránh rủi ro. Nếu quá hạn do những khó khăn tài chính sâu xa thì kết qủa này giúp cả hai bên cùng thống nhất về giải pháp trả nợ, thống nhất lộ trình xử lý nợ toàn diện. Riêng với Ngân hàng cho vay, cần xây dựng sẵn một ma trận xử lý RRTD hợp lý tùy vào thực tế.
Với ý nghĩa là nợ cần chú ý, nợ nhóm 2 được coi như chiếc nhiệt kế đo lường và cảnh báo sớm mức độ RRTD tại Ngân hàng. Cho dù là món vay lớn hay món vay nhỏ, cho vay doanh nghiệp nhà nước hay kinh tế dân doanh, cho vay có hay không có tài sản bảo đảm thì khả năng phát sinh nợ nhóm 2, nguy cơ chuyển từ nợ nhóm 2 sang nợ xấu là hết sức tiềm ẩn ở mọi Ngân hàng cho vay.
Như vậy, việc xây dựng một hệ thống cảnh báo sớm đối với các khoản nợ xấu phát sinh cần được đặc biệt quan tâm. Hệ thống này phải bao gồm các thủ tục và quy trình thích hợp để xây dựng một hệ thống cảnh báo toàn diện. Một quy trình cảnh báo sớm điển hình bao gồm rất nhiều các yếu tố cơ bản, trong đó tính đầy đủ, cập nhật và chính xác của thông tin là yếu tố then chốt.
* Thực hiện tốt quy trình quản lý tín dụng:
Bản thân hoạt động tín dụng luôn chứa đựng nguy cơ rủi ro tiềm ẩn, chính vì vậy, các Ngân hàng khi xem xét cho vay đều phải thực hiện nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng: từ khâu thẩm định, giải ngân cho vay đến các khâu kiểm tra trước và sau khi cho vay… Việc thực hiện và quản lý nghiêm ngặt quy trình quản lý tín dụng sẽ giúp cho Ngân hàng tránh được rủi ro các khoản nợ xấu phát sinh, phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm và các thiếu sót trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
Xuất phát từ yêu cầu này, việc xây dựng các trình tự và thủ tục đó sao cho có hiệu quả luôn là đòi hỏi bức xúc. Sổ tay tín dụng cần quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng thủ tục, quy trình, trình tự mọi công việc có liên quan đến hoạt động tín dụng, kể từ khi nhận đơn xin vay đến khi thu hồi được toàn bộ gốc và lãi của khoản vay đó. Việc xây dựng sổ tay tín dụng nhằm mục đích làm cho hoạt động tín dụng được thực hiện một cách quy củ và thống nhất.
Đối với từng giai đoạn trong quy trình, Ủy ban Basel đều đưa ra các nguyên tắc để quản lý.
Các nguyên tắc quản lý RRTD của Basel II.
Basel II đã đưa ra 17 nguyên tắc vàng trong hoạt động quản lý RRTD của các NHTM. Các nguyên tắc này được áp dụng cụ thể như sau:
Trong Giai đoạn 1 “Đề nghị cấp tín dụng”, nguyên tắc 8 đã chỉ rõ:
Hồ sơ tín dụng cần đủ mọi thông tin cần thiết để xác định tình hình tài chính hiện hành của khách hàng vay. Các bộ phận xem xét khoản vay cần xác định được hồ sơ tín dụng là hoàn chỉnh và có đủ các phê duyệt và văn bản cần thiết khác.
Theo nguyên tắc 4, các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh phải được xác định rõ ràng. Những tiêu chí này cần chỉ rõ thị trường mục tiêu của Ngân hàng và đồng thời Ngân hàng phải hiểu biết rõ về khách hàng vay vốn cũng như mục đích và cơ cấu của khoản tín dụng.
Việc xây dựng các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh là cực kỳ quan trọng để phê duyệt tín dụng. Các tiêu chí cần chỉ rõ đối tượng khách hàng đủ tiêu chuẩn được cấp tín dụng, các loại hình tín dụng và các điều khoản và điều kiện cấp tín dụng. Các Ngân hàng cần nhận được đầy đủ thông tin để cho phép đánh giá toàn diện về hồ sơ rủi ro của khách hàng vay. Tuỳ theo loại hình RRTD và mối quan hệ tín dụng hiện tại, các yếu tố cần được cân nhắc và đưa vào quá trình phê duyệt tín dụng.
Nguyên tắc 6, Ngân hàng cần có quy trình rõ ràng trong việc phê duyệt các khoản tín dụng mới cũng như sửa đổi, gia hạn và tái tài trợ các khoản tín dụng hiện tại. Nhiều cán bộ trong Ngân hàng tham gia vào quá trình cấp tín dụng. Những cán bộ này có thể là những người từ bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng.
Để có được danh mục đầu tư tín dụng lành mạnh, Ngân hàng phải xây dựng quá trình đánh giá và phê duyệt trong quá trình cấp tín dụng. Việc phê duyệt cần được thực hiện theo các hướng dẫn bằng văn bản của Ngân hàng và được đưa ra bởi cấp lãnh đạo thích hợp. Cần có bằng chứng kiểm tra rõ ràng thể hiện sự tuân thủ các thủ tục phê duyệt và xác định rõ cá nhân hoặc tổ chức cung cấp số liệu đầu vào cũng như ra quyết định tín dụng.
Nguyên tắc 7, việc cấp tín dụng cần được thực hiện trên cơ sở giao dịch công bằng giữa các bên. Đặc biệt, các khoản tín dụng cho các công ty và cá nhân có liên quan phải được phê duyệt trên cơ sở ngoại lệ cần theo dõi cẩn thận và triển khai các bước cần thiết để kiểm soát nhằm loại trừ rủi ro.
Các giao dịch quan trọng với các bên có quan hệ phải được HĐQT phê duyệt, và trong một số trường hợp phải được báo cáo cho cơ quan giám sát Ngân hàng. Giai đoạn 2 “Phân tích và thẩm định hồ sơ tín dụng” và Giai đoạn 3 “Phân tích và thẩm định hồ sơ tín dụng – rủi ro liên quan đến khách hàng”, cần tuân theo nguyên tắc 10, khuyến khích Ngân hàng phát triển và sử dụng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ trong phân tích. Hệ thống xếp hạng cần nhất quán với bản chất, quy mô và mức độ phức tạp của các hoạt động Ngân hàng. Điều quan trọng là sự thống nhất và chính xác của các mức xếp hạng được kiểm tra định kỳ bởi một bộ phận như nhóm xem xét tín dụng độc lập.
Giai đoạn 4 “ Đánh giá và đo lường rủi ro các khoản vay”, các Ngân hàng có thể đo lường rủi ro khoản vay thông qua các mô hình cho điểm tín dụng, mô hình điểm số Z, và mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ theo Basel II. Nếu các mô hình cho điểm tín dụng đánh giá rủi ro của khách hàng trên cơ sở cho điểm doanh nghiệp đó, xem doanh nghiệp đang ở mức độ rủi ro nào thì theo Basel II có thể tính được xác suất rủi ro dự kiến hay tổn thất dự kiến EL.
Còn đối với Giai đoạn 5 “Xây dựng hạn mức tín dụng”, nguyên tắc 5 đã chỉ ra: Ngân hàng cần xây dựng các hạn mức tín dụng cho từng loại khách hàng và nhóm khách hàng để tạo ra các loại hình RRTD khác nhau nhưng có thể so sánh và theo dõi được ở trong sổ sách kế toán Ngân hàng.
Các giới hạn này thường dựa một phần vào xếp hạng tín dụng nội bộ đối với khách hàng vay, với các khách hàng có xếp hạng cao hơn sẽ có giới hạn rủi ro tiềm năng cao hơn. Cũng cần xây dựng giới hạn đối với các ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý và các sản phẩm cụ thể. Để có hiệu quả, các giới hạn này cần mang tính ràng buộc và không đi theo nhu cầu của khách hàng.
Theo nguyên tắc 2 của ủy ban Basel khi quy trình tín dụng được xây dựng và thực hiện tốt sẽ cho phép Ngân hàng: (i) Duy trì các tiêu chí cấp tín dụng lành mạnh; (ii) Theo dõi và kiểm soát rủi ro tín dụng; (iii) Đánh giá đúng các cơ hội kinh doanh mới; (iv) Xác định và quản lý các khoản tín dụng có vấn đề.
Đặc biệt, khi Ngân hàng tham gia vào hoạt động cấp tín dụng quốc tế, ngoài các RRTD thông thường, họ còn chịu thêm các rủi ro kèm theo các điều kiện ở nước chủ nhà hay đối tác. Các Ngân hàng tham gia vào quá trình cấp tín dụng quốc tế phải có đầy đủ các quy trình để xác định, đo lường, theo dõi và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển nhượng trong các hoạt động cho vay và đầu tư quốc tế. Việc theo dõi các yếu tố về rủi ro quốc gia cần kết hợp (i) tiềm năng vi phạm của các đối tác thuộc khu vực tư nhân phát sinh từ các yếu tố kinh tế theo từng nước, (ii) hiệu lực pháp lý của các hợp đồng vay và thời điểm cũng như khả năng xử lý tài sản thế chấp trong khuôn khổ luật quốc gia. Chức năng này thường thuộc trách nhiệm của các chuyên gia có kinh nghiệm về các vấn đề này.
* Kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng
Kiểm tra, giám sát để đảm bảo chắc chắn rằng khách hàng vay không làm những việc rủi ro bằng món tiền của Ngân hàng cho vay. Ngân hàng thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ. Đây là một yêu cầu bắt buộc trong quy trình tín dụng của bất cứ một NHTM nào.
Các Ngân hàng sử dụng rất nhiều các biện pháp khác nhau để kiểm tra, giám sát khoản vay, bao gồm:
– Tiến hành kiểm tra, giám sát tất cả các khoản tín dụng theo định kỳ nhất định, đồng thời cũng tiến hành kiểm tra bất thường đối với những khoản tín dụng có dấu hiệu rủi ro cao.
– Xây dựng kế hoạch, chương trình, nội dung quá trình kiểm tra một cách thận trọng và chi tiết, bảo đảm rằng những khía cạnh quan trọng nhất của mỗi khoản vay phải được kiểm tra.
– Quản lý chặt chẽ và thường xuyên các khoản tín dụng có vấn đề, tăng cường kiểm tra giám sát khi phát hiện những dấu hiệu không lành mạnh liên quan đến khoản vay.
– Trong trường hợp tốc độ phát triển của nền kinh tế suy giảm hay các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong danh mục cho vay của Ngân hàng phải đối mặt với những vấn đề lớn thì Ngân hàng cần phải tăng cường các biện pháp kiểm soát tín dụng.
Một khía cạnh khác của hoạt động kiểm tra, giám sát hoạt động tín dụng là công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ. Hoạt động kiểm tra, kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi một bộ phận độc lập với hoạt động tín dụng đó là phòng kiểm tra nội bộ, có chức năng đưa ra các đánh giá một cách khách quan đối với hoạt động tín dụng. Trên cơ sở đó, bộ phận kiểm tra nội bộ thực hiện chức năng tư vấn cho bộ phận nghiệp vụ và là công cụ quản lý của ban lãnh đạo Ngân hàng.
Khi một khoản nợ đã được xác định là nợ xấu, các NH có các biện pháp sau để xử lý:
Quy trách nhiệm đòi nợ đối với cán bộ tín dụng
Đối những khoản nợ xấu phát sinh có nguyên nhân chủ quan từ cán bộ tín dụng, ngân hàng kiên quyết sử dụng biện pháp quy trách nhiệm cho người đó. Trong trường hợp không thể đòi nợ được, người làm sai sẽ phải bồi thường cho ngân hàng và còn phải chịu các hình thức kỷ luật khác.
Nếu các khoản nợ xấu phát sinh do nguyên nhân khách quan, các ngân hàng cũng có thể áp dụng biện pháp gắn việc đòi nợ với trách nhiệm của cán bộ tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả thu hồi nợ. Ngoài ra, các ngân hàng có thể xây dựng cơ chế thưởng phạt trong việc thu hồi nợ nhằm phát huy động lực sáng tạo của những người có trách nhiệm.
Cơ cấu lại nợ
Biện pháp này được áp dụng với những khoản nợ xấu có khả năng thu hồi. Ngân hàng xem xét khả năng phục hồi của khách hàng, sau đó sẽ tiến hành thương lượng với khách hàng về giải pháp thực thi cũng như yêu cầu cam kết của khách hàng. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể thực hiện các phương án sau:
Gia hạn nợ: Đây là phương án có lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Khách hàng có thể tránh được áp lực trả nợ để tiếp tục kinh doanh, còn ngân hàng thì giảm được nợ xấu. Tuy nhiên, biện pháp này bị giới hạn bởi thời hạn được phép cho vay của ngân hàng.
Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ: Việc điều chỉnh kỳ hạn nợ thông thường được thực hiện thông qua việc hoãn hoặc/và giảm khối lượng nợ gốc phải thanh toán của kỳ hạn trả nợ, nhưng không được giảm tổng số nợ phải trả.
Chuyển nợ thành vốn góp cổ phần
Chuyển các khoản nợ xấu thành vốn cổ phần với các doanh nghiệp cổ phần. Ngân hàng áp dụng biện pháp này khi khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh do nguyên nhân khách quan song có triển vọng phục hồi. Trong thực tế, các ngân hàng hay sử dụng biện pháp này đối với những doanh nghiệp tạm thời sa sút, gặp sự cố đột xuất không nghiêm trọng trong kinh doanh hoặc đối với các khách hàng có nợ lớn mà vẫn còn cơ hội hồi phục.
Xử lý tài sản bảo đảm, đòi nợ bên bảo lãnh
Ban đầu, khi khách hàng vay vốn, để hỗ trợ cho việc thực hiện hợp đồng, ngân hàng thường yêu cầu khách hàng cam kết thế chấp, cầm cố hay bảo lãnh của bên thứ ba. Khi đến hạn thanh toán nợ, khách hàng chây ỳ không chịu trả nợ hoặc không có khả năng trả nợ được nữa, ngân hàng sẽ tiến hành thanh lý tài sản bảo đảm. Ngân hàng bán tài sản bảo đảm trên thị trường, hoặc qua trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản bảo đảm hay bán cho công ty mua bán nợ hoặc khách hàng vay tự bán tài sản dưới sự giám sát của ngân hàng và số tiền thu được sẽ trả nợ ngân hàng.
Bán các khoản nợ
Biện pháp này được ngân hàng sử dụng nhằm tận thu nợ xấu, khắc phục và xử lý nợ tồn đọng, làm trong sạch, lành mạnh bảng cân đối kế toán, đảm bảo ngân hàng hoạt động an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững. Thông thường các khoản mua bán nợ hiện nay của các NH là các khoản nợ xấu, nợ tồn đọng đã lâu, khó xử lý bằng các biện pháp thông thường. Ngân hàng đánh giá biện pháp bán toàn bộ khoản nợ là biện pháp hiệu quả nhất giúp ngân hàng nhanh chóng thu được tiền về để thực hiện quay vòng vốn, mặt khác nhằm giảm nợ xấu, cơ cấu lại danh mục tín dụng, giảm chi phí quản lý các khoản nợ xấu này.
Khi bán các khoản nợ xấu, ngân hàng thường chấp nhận bán thấp hơn mệnh giá để thu hồi vốn nhanh và tránh ảnh hưởng tới những khoản nợ còn lại. Để thực hiện có hiệu quả biện pháp này, bên cạnh việc nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản, các NH thường thành lập một tổ chức có tính chuyên môn hoá cao gọi là Công ty quản lý nợ và khai thác tài sản. Công ty này sẽ tiếp nhận các khoản nợ và thực hiện mua bán tiếp theo. Hiện nay, Việt Nam đã thành lập Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các Tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) để thực hiện mua các khoản nợ xấu.
Bù đắp bằng quỹ Dự phòng rủi ro
Khi các biện pháp thu hồi khác không có hiệu quả, ngân hàng có thể dùng quỹ DPRR tài sản để bù đắp thiệt hại của khoản nợ xấu. Do tính chủ động cao nên biện pháp này thường được các NHTM vận dụng tối đa nhằm xử lý nợ nhanh chóng. Nhưng thực chất của biện pháp này là dùng nội lực của ngân hàng để khắc phục gánh nặng nợ xấu nên sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của ngân hàng. Việc sử dụng quá nhiều giải pháp này làm giảm thu nhập của ngân hàng trong khi vốn cho vay vẫn không thu hồi được. Vì vậy, ngân hàng nên chú trọng vào các biện pháp thu nợ có tính triệt để hơn hoặc kết hợp biện pháp này cùng các biện pháp khác.
Sử dụng giải pháp pháp lý để đòi nợ
Biện pháp kiện khách hàng ra tòa để đòi nợ được ngân hàng lựa chọn khi các biện pháp trên không khả thi. Ngân hàng có thể nhờ tòa án can thiệp buộc khách hàng trả nợ, chuyển giao tài sản bảo đảm tiền vay hoặc nếu khách hàng là doanh nghiệp không trả được nợ thì ngân hàng với tư cách là chủ nợ có thể làm đơn xin tòa mở thủ tục tuyên bố phá sản theo luật phá sản. Trên thực tế, việc phải sử dụng đến giải pháp này thường không đem lại hiệu quả cao cho việc đòi nợ của ngân hàng vì thủ tục rắc rối, khách hàng thường không còn khả năng trả nợ, TSBĐ có tranh chấp về pháp lý hoặc không đủ giá trị bù đắp cho khoản vay…
Sự trợ giúp của Chính phủ
Đối với những khoản nợ xấu phát sinh do các khoản vay theo chính sách của Chính phủ, các Ngân hàng phải trông chờ vào nguồn bù đắp từ Ngân sách Nhà nước. Thực chất các khoản vay theo chính sách có thể coi như khoản vay có bảo lãnh của bên thứ ba là Chính phủ. Do vậy, khi Ngân hàng không thể thu hồi được nợ từ khách hàng thuộc đối tượng này thì Chính phủ phải đứng ra giải quyết cho Ngân hàng. Chính phủ có thể sử dụng Ngân sách mua toàn bộ số nợ xấu của NHTM để xử lý dần trong một số năm nhằm giải thoát cho các NHTM không bị sa lầy vào khủng hoảng nợ xấu, giúp Ngân hàng tập trung vào hoạt động kinh doanh. Biện pháp này có hạn chế là thủ tục, trình tự xử lý phức tạp, kéo dài, có sự tham gia của nhiều cơ quan chức năng, không thể áp dụng thường xuyên vì vốn ngân sách có hạn, việc xử lý một khối lượng lớn nợ xấu rất tốn kém làm giảm ngân sách đầu tư cho các lĩnh vực khác, gây ảnh hưởng toàn bộ nền kinh tế.
Yếu tố ảnh hưởng đến công tác xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu của Ngân hàng đòi hỏi phải có các giải pháp đồng bộ, từ nhiều phía cả Nhà nước, Ngân hàng và bản thân khách hàng. Việc xử lý nợ xấu của các NH chịu sự tác động của các yếu tố chủ yếu sau:
Môi trường pháp lý và môi trường kinh tế
Hệ thống pháp luật hay hành lang pháp lý là cơ sở để điều tiết các hoạt động trong nền kinh tế. Hành lang pháp lý phải thuận lợi, rõ ràng và đủ mạnh thì sẽ góp phần làm lành mạnh hoạt động của các doanh nghiệp và hỗ trợ ngân hàng trong việc ngăn ngừa và xử lý nợ xấu. Nếu luật về thủ tục thế chấp, tịch thu tài sản, phá sản NH mà không được chặt chẽ thì sẽ dẫn đến những tác động tiêu cực tới nền kinh tế do các khoản nợ xấu gây nên. Cơ chế pháp lý có hiệu quả thì cần phải có những biện pháp hợp lý, chặt chẽ thống nhất, xử lý nợ có hiệu quả để tránh tình trạng thủ tục rườm rà, phức tạp, kéo dài quá lâu.
Ngoài môi trường pháp lý thì môi trường kinh tế lành mạnh, minh bạch với sự phát triển đầy đủ của các thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản cũng là nhân tố ảnh hưởng rất mạnh đến hoạt động quản lý nợ xấu của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu của ngân hàng
Xử lý nợ xấu một cách triệt để đòi hỏi NH phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh, mà cụ thể ở đây là quy mô vốn chủ sở hữu. Thực tế trong số các biện pháp xử lý nợ xấu thì việc trích lập và sử dụng quỹ DPRR vẫn chiếm tỷ trọng đáng kể. Tuy nhiên, không phải NH nào cũng có thể trích đủ DPRR theo quy định của pháp luật vì số thực trích DPRR tín dụng được tính vào chi phí và trực tiếp ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của ngân hàng. Thực tế đã có những NH lâm vào tình trạng năng lực tài chính quá thấp có khi phải mất đến mấy chục năm mới có thể xử lý hết nợ tồn đọng. Vì vậy, nâng cao năng lực tài chính, tăng quy mô vốn chủ sở hữu là điều kiện quan trọng giúp cho NH chủ động hơn trong công tác quản lý nợ xấu của mình. Các ngân hàng với tiềm lực tài chính mạnh cũng sẽ vững vàng hơn khi gặp phải khoản tổn thất lớn do nợ xấu gây ra. Tuy nhiên, ở các quốc gia đang phát triển còn cần có sự hỗ trợ từ phía chính phủ nhằm nâng cao năng lực tài chính cho Ngân hàng.
Sự phát triển của công nghệ ngân hàng
Trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, ngân hàng luôn là những người đi đầu trong việc ứng dụng các tiến bộ trong công nghệ để nâng cao hiệu quả hoạt động. Sự phát triển của công nghệ ngân hàng tác động đến hệ thống thông tin và kế toán trong ngân hàng, sẽ dẫn đến thay đổi các thủ tục kiểm soát và góp phần quản lý nợ xấu có chất lượng.
Nguồn nhân lực thực hiện công tác quản lý nợ xấu
Sự phát triển của ngân hàng luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên, họ là nhân tố quan trọng nhất trong môi trường quản lý cũng như đóng vai trò là chủ thể trực tiếp thực hiện mọi thủ tục trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Các NH hoạt động có hiệu quả cao bao giờ cũng quan tâm đến việc tuyển chọn cán bộ tín dụng có trình độ, năng lực và tâm huyết. Các ngân hàng thường phải có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo và đào tạo lại để cán bộ ngân hàng thích ứng với yêu cầu thực tế. Do vậy, việc tuyển chọn và xây dựng nguồn nhân lực nhanh nhạy, có phẩm chất tốt, đáp ứng đòi hỏi của thị trường, phát hiện xử lý kịp thời các vướng mắc trong quá trình cho vay là vô cùng quan trọng.
1.4. Bài học kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Agribank Việt Nam:
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN, Agribank đã chủ động xây dựng đồng bộ các giải pháp, quyết liệt triển khai các phương án xử lý nợ xấu trong từng năm.
Việc xử lý nợ xấu đòi hỏi Agribank phải áp dụng và kết hợp đồng bộ nhiều giải pháp như: nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu phát sinh; cơ cấu lại
thời hạn trả nợ cho KH; nhận tài sản bảo đảm thay thế nghĩa vụ trả nợ; chuyển nợ vay thành vốn góp; sử dụng dự phòng để xử lý nợ xấu; xử lý, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ; bán nợ xấu cho các tổ chức khác và Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).
Đặc biệt, đối với các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC, để tháo gỡ khó khăn cho KH, Agribank đã hỗ trợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi đối với các khoản nợ của KH có đủ điều kiện, có phương án sản xuất kinh doanh khả thi, hiệu quả giúp KH vượt qua những khó khăn trong giai đoạn hiện nay và phục hồi khả năng trả nợ.
Trong quá trình cơ cấu lại nợ, Agribank luôn quán triệt phải thực hiện đúng tính chất khoản vay theo quy định của Chính phủ, của NHNN. Song song với việc áp dụng các biện pháp cơ cấu nợ xấu, Agribank vẫn phải bám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, kiểm soát dòng tiền của KH, đảm bảo thu hồi vốn vay đối với các khoản nợ được cơ cấu lại.
Xác định xử lý nợ xấu là nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu trong số các mục tiêu của Đề án tái cơ cấu, Agribank đã triển khai đồng bộ và quyết liệt nhiều biện pháp nhằm kiểm soát chất lượng tín dụng, từng bước kiềm chế và giảm dần nợ xấu. Chỉ tính riêng từ tháng 11/2013 đến nay, đã có gần 300 văn bản về cơ chế, quy định, quy trình nghiệp vụ được Agribank ban hành, trong đó có trên 150 văn bản về lĩnh vực tín dụng.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng quản trị, điều hành, củng cố hệ thống kiểm tra kiểm toán nội bộ, Agribank cũng đã hết sức nỗ lực chỉ đạo các chi nhánh trong toàn hệ thống tập trung xử lý nợ xấu, tăng cường cán bộ hỗ trợ các các chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu cao. Hàng trăm cán bộ chủ chốt, có kinh nghiệm về công tác tín dụng của toàn hệ thống đã được Trụ sở chính trưng tập. Các đoàn công tác do các thành viên Hội đồng Thành viên, thành viên Ban điều hành trực tiếp phụ trách được phân công làm việc tại từng chi nhánh, thực hiện phân tích từng khoản nợ có vấn đề, làm việc với từng KH để bàn biện pháp tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ KH duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu trả nợ ngân hàng, quyết định phương án xử lý nợ đảm bảo hài hòa lợi ích, từ đó động viên KH hợp tác trả nợ vay. Agribank cũng luôn là ngân hàng tiên phong trong việc chủ động điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhằm chia sẻ khó khăn với KH, đặc biệt là KH hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ…
Xử lý nợ xấu là một vấn đề rất khó khăn đối với toàn ngành NH nói chung và đối với Agribank nói riêng. Quá trình xử lý nợ cần phải có giải pháp, kế hoạch cụ thể, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng. Với thực trạng tài sản bảo đảm phần lớn là bất động sản, trong khi thị trường này vẫn còn trầm lắng, nên việc xử lý nợ cần có thời gian và phải hài hòa lợi ích đối với các bên liên quan.
Hiện nay, mặc dù khuôn khổ pháp lý liên quan đến xử lý nợ xấu về cơ bản đã đầy đủ, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn còn nhiều vướng mắc như: vướng mắc trong quá trình xử lý nợ, xử lý tài sản bảo đảm, trách nhiệm của người đi vay, quyền hạn của chủ nợ… là nguyên nhân quan trọng dẫn tới việc không xử lý kịp thời được nợ xấu. Điều này khiến các cơ quan hữu quan gặp nhiều vướng mắc trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm; nhiều trường hợp thi hành án xử lý tài sản bảo đảm kéo dài hàng năm do KH chây ỳ, không hợp tác.
Agribank đã thành lập Tổ chỉ đạo kiểm soát nợ xấu gồm: Ban lãnh đạo, lãnh đạo bộ phận chuyên môn tại Trụ sở chính trực tiếp theo dõi tình hình diễn biến nợ xấu toàn hệ thống; ban hành văn bản chỉ đạo chi nhánh thường xuyên chủ động rà soát, nắm bắt khả năng trả nợ của KH vay vốn, nhất là các khoản nợ có khả năng phải chuyển sang nợ xấu trong kỳ, báo cáo phương án xử lý nợ có khả năng chuyển nợ xấu; chủ động kiểm soát được nợ xấu phát sinh.
Giao kế hoạch xử lý nợ xấu đến từng chi nhánh, từng cán bộ, gắn quyền lợi của cán bộ với kết quả xử lý nợ xấu và có biện pháp xử lý đối với những chi nhánh không quyết liệt, không hoàn thành kế hoạch xử lý nợ.
Trong chương 1 tác giả đã trình bày một số nét chính cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác xử lý nợ xấu của ngân hàng.
Có thể thấy, toàn bộ bức tranh tổng quan về nợ xấu của các ngân hàng, nguyên nhân và cách thức các ngân hàng lựa chọn để xử lý nợ xấu cũng như các tác động của nợ xấu được trình bày rõ. Thông qua đó làm nổi bật vai trò và tính cấp thiết phải xử lý nợ xấu trong bối cảnh hiện nay của các ngân hàng Việt Nam. Cơ sở lý luận trình bày tại chương 1 là nền tảng cho việc đánh giá thực trạng nợ xấu tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triên nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk trong giai đoạn hiện nay và tương lai.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG
NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK
Tổng quan về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ xấu tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đắk Lắk

