Nâng cao công tác kiểm soát giá tính thuế hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan đang lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, Việt Nam cũng đang trong xu thế đó của thời đại – Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển. Việt Nam đang chủ động hội nhập và hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, đảm bảo độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hội nhập kinh tế tạo ra những thời cơ to lớn để phát triển, đó là thị trường được mở rộng, tạo cơ hội “đi tắt đón đầu” để Việt Nam có thể phát triển bắt kịp với sự phát triển của thế giới… Bên cạnh việc tự do hóa thương mại, các hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại; sản xuất kinh doanh và vận chuyển, mua bán hàng giả, hàng nhái, hàng trái phép… cũng song song tồn tại và có xu hướng ngày càng tinh vi, khó phát hiện hơn.
Ngày nay kinh tế ngày càng phát triển thì sự giao thương kinh tế cũng diễn ra càng sâu, rộng. Việc giao thương giữa các nước không ngừng phát triển, trong đó hoạt động xuất nhập khẩu, hoạt động giao thương hợp tác, mở rộng kinh tế đối ngoại, hợp tác kinh tế ngày càng quan trọng. Một trong những yếu tố góp phần quan trọng trong việc quyết định sự thành công của hoạt động kinh doanh quốc tế đó là việc làm thủ tục xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.
Trong một thế giới mà thách thức ngày càng lớn, thương mại và đầu tư sẽ chảy vào những nơi được coi là hiệu quả và thuận lợi. Đồng thời, thương mại và đầu tư sẽ rút khỏi những nơi bị coi là quan liêu, quản lý không tốt và chi phí cao. Do đó, hệ thống và quy trình của Hải quan không được là một rào cản đối với thương mại quốc tế và tăng trưởng.
Ngày 11/01/2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Việc gia nhập “sân chơi quốc tế” này đã đưa đến cho Việt Nam nhiều cơ hội cũng như thách thức.
Các thành viên của WTO phải thực hiện các cam kết quốc tế nhằm hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước trong đó có hoạt động quản lý thuế xuất nhập khẩu, cụ thể là từng bước giảm thuế suất tiến đến gỡ bỏ hàng rào thuế quan. Việt Nam đã có nhiều có gắng trong việc cải thiện hoạt động kiểm soát trị giá và thuế xuất nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế. Tuy nhiên, đến nay công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu mà cụ thể là giá tính thuế hải quan vẫn còn nhiều bất cập như: việc áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật về xác định trị giá, thuế xuất nhập khẩu thay đổi thường xuyên, tình trạng gian lận thương mại đối với trị giá hải quan vẫn còn xảy ra khá phố biến… trong lúc nhà nước chưa có biện pháp nào tỏ ra thực sự hiệu quả để giải quyết vấn các đề này…
Xuất phát từ những lý do đó, việc đi sâu nghiên cứu những vấn đề liên quan đến giá tính thuế hải quan, đánh giá tình hình kiểm soát trị giá hải quan tại Cục hải quan tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian qua từ đó đề ra giải pháp đồng bộ, mang tính chiến lược cho hoạt động kiểm soát trị giá hải quan đang là một đòi hỏi khách quan. Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Nâng cao công tác kiểm soát giá tính thuế hàng hóa xuất, nhập khẩu nhằm đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn thạc sĩ với mong muốn sẽ góp phần vào việc giải quyết những vấn đề thực tiễn nói trên.
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của trị giá hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu, những quy định của WTO liên quan, đánh giá công tác kiểm soát giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi cụ thể trong giai đoạn từ năm 2013 – 2015, để từ đó xây dựng, đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát nhà nước về công tác xác định trị giá tính thuế hải quan cho Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi nhằm góp phần chống thất thu, tăng thu cho ngân sách nhà nước, đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước về hải quan đạt hiệu quả cao nhất.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kiểm soát nhà nước về giá tính thuế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài giới hạn về mặt không gian là Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi, về mặt thời gian là giai đoạn từ năm 2013 – 2015.
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp nghiên cứu định tính, phương pháp luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích tình huống… dựa trên nguồn thông tin thứ cấp thu thập được từ các báo cáo, sách, báo, tạp chí, internet, …Các phương pháp này được sử dụng kết hợp, đan xen với nhau để đưa ra những kết luận phục vụ cho đề tài.
Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và 3 chương, luận văn được kết cấu trong 114 trang, 06 bảng và 03 hình vẽ.
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát giá tính thuế hải quan.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi.
Chương 3: Giải pháp tăng cường kiểm soát giá tính thuế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.1.1. Khái niệm về giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Thuế Hải quan đã ra đời và tồn tại khi những hình thái Nhà nước đầu tiên xuất hiện. Tại các lãnh địa thời Trung cổ, các thương nhân đã than phiền với nhau về yếu tố “vô lý” mà họ phải trả cho các Lãnh chúa khi họ mang hàng hóa ra vào những khu vực do các Lãnh chúa đó quản lý.
Thuế Hải quan (hay thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu) là một khoản tiền được tính dựa trên các căn cứ nhất định do đối tượng nộp thuế phải nộp vào Ngân sách Nhà nước khi tiến hành xuất khẩu hoặc nhập khẩu loại hàng hóa là đối tượng chịu thuế Hải quan qua biên giới quốc gia.
Thuế Hải quan ngày càng phát triển và có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia.
Khái niệm giá tính thuế hải quan hay trị giá hải quan (trị giá tính thuế hàng hóa) đã được hình thành khi người ta bắt đầu chuyển dần đánh thuế cụ thể theo lượng hàng hóa sang đánh thuế theo trị giá hàng hóa. Đến nay khi nói đến trị giá hải quan vẫn còn tồn tại nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau.
Qua các ý kiến, quan điểm trên, có thể hiểu thống nhất về trị giá hải quan như sau: Giá tính thuế hải quan hay còn gọi trị giá hải quan là trị giá của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu dùng cho mục đích quản lý Nhà nước về Hải quan [9].
Trị giá hải quan được sử dụng chủ yếu vào nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu sử dụng vào các mục đích sau: Mục đích tính thuế; Mục đích thống kê; Mục đích quản lý hạn ngạch; Mục đích xử phạt vi phạm các quy định về Hải quan.
Ở Việt Nam hiện nay, giá tính thuế hải quan được sử dụng phục vụ cho mục đích tính thuế và mục đích thống kê là chủ yếu. Đây là một nội dung mới so với các quy định về trị giá của Việt Nam trước đây và bắt đầu áp dụng từ 01/01/2006. Trước đó, khi đề cập đến giá tính thuế hải quan, người ta chỉ đề cập đến trị giá phục vụ mục đích tính thuế (trị giá tính thuế) mà không có quy định cụ thể về cách thức xác định trị giá hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu sử dụng trong lĩnh vực thống kê hải quan.
1.1.2. Các phương pháp xác định giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trên thế giới đã tồn tại rất nhiều hệ thống (phương pháp) xác định giá tính thuế hải quan, chẳng hạn:
– Giá thị trường trong các nước hiện hành
– Giá thị trường hợp lý
– Hệ thống giá bán của Mỹ
– Định nghĩa Brussels về trị giá
– Phương pháp dùng giá tối thiểu
– Phương pháp xác định trị giá theo “Giá thực tế”
– Phương pháp xác định trị giá Hải quan theo giá CIF đối với hàng nhập khẩu
– Xác định trị giá theo GATT (theo trị giá giao dịch) l
1.2. KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
1.2.1. Sự cần thiết phải kiểm soát giá tính thuế hải quan
Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, cùng với xu hướng hội nhập kinh tế thế giới, gian lận trị giá hải quan ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đây được coi là một điểm yếu của hệ thống quản lý Hải quan ở các nước đang phát triển nói chung, và ở Việt Nam nói riêng.
Gian lận trị giá hải quan góp phần tăng nguy cơ kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế, tạo thành một lực cản lớn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
b. Ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội
Những hậu quả do gian lận trị giá hải quan gây ra đối với nền kinh tế và đối với nền văn hoá xã hội đã dẫn đến những tác hại về mặt chính trị, gây khó khăn cho sự quản lý Nhà nước.
c. Ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý kinh tế xã hội
Hơn thế nữa, gian lận trị giá hải quan còn gây ra những hậu quả nghiêm trọng đối nền kinh tế, văn hoá xã hội, chính trị, đây là những hậu quả trực tiếp dễ nhìn nhận. Một hậu quả khác không kém phần nguy hại là hậu quả của gian lận trị giá hải quan và gian lận thương mại nói chung dưới góc độ cả về vĩ mô và vi mô.
Tóm lại, những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan: Làm mất ổn định giá cả thị trường, kìm hãm sản xuất trong nước, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, gây thất thu cho ngân sách cho Nhà nước, tạo nên sự cạnh tranh không bình đẳng giữa hàng nội và hàng ngoại, là nguyên nhân phát sinh các tiêu cực trong xã hội. Vì vậy, việc phòng chống gian lận trị giá hải quan phải được giải quyết triệt để và là một trong những nhiệm vụ xung yếu của ngành Hải quan hiện nay.
1.2.2. Nội dung công tác kiểm soát giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Để nhận thức rõ sự cần thiết phải chống sự gian lận trị giá hải quan, trước hết ta cần phải làm rõ những ảnh hưởng tiêu cực của gian lận trị giá hải quan đến nền kinh tế, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội và hiệu quả quản lý kinh tế xã hội. Từ đó, chứng minh sự cần thiết và cấp bách phải chống gian lận trị giá hải quan trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, kiểm tra nội dung khai báo về tên hàng, đơn vị tính, nhãn hiệu, xuất xứ
Thứ hai, kiểm tra tính chính xác của hồ sơ
Thứ ba, kiểm tra các điều kiện áp dụng các phương pháp xác định trị giá
Thứ tư, kiểm tra mức giá khai báo
1.3. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ HÀNG HÓA XUẤT KHẨU, NHẬP KHẨU
Hiệu quả là tiêu chí đánh giá mọi hoạt động nói chung và hoạt động kiểm soát trị giá hải quan nói riêng. Đánh giá hiệu quả công tác kiểm soát trị giá hải quan là công việc khó khăn và phức tạp, bởi lẽ, hoạt động này là hoạt động quản lý Nhà nước đặc thù. Hoạt động kiểm soát trị giá hải quan không trực tiếp tạo ra giá trị vật chất, tuy nhiên lại ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan Hải quan cũng như hoạt động sản xuất, kinh doanh của Doanh nghiệp. Chính vì thế, kết quả của hoạt động này được đánh giá không chỉ dựa trên các tiêu chí định lượng mà còn dựa trên các tiêu chí mang tính chất định tính.
Cũng như bất kỳ sự đánh giá một sự vật, hiện tượng nào đó, việc đánh giá hiệu quả kiểm soát trị giá hải quan cũng cần có những tiêu chí nhất định. Việc xác định hệ thống tiêu chí là luận cứ khoa học để đảm bảo cho việc đánh giá được khách quan và đúng đắn. Xây dựng một hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả kiểm soát trị giá hải quan là công việc chưa có tiền lệ. Hơn nữa, bản thân hoạt động kiểm soát trị giá hải quan phụ thuộc vào đặc thù của hoạt động xuất nhập khẩu tại từng địa phương nên đòi hỏi các tiêu chí đánh giá không thể giống nhau. Tuy nhiên, tác giả bước đầu phác thảo một số tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác kiểm soát trị giá hải quan như sau:
1.3.1. Tờ khai kiểm tra giá tính thuế hải quan
Theo quy định, hàng hóa thuộc các đối tượng sau không phải khai báo trị giá trên tờ khai trị giá tính thuế nhưng vẫn phải khai báo trị giá trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu hoặc tờ khai hàng hóa nhập khẩu theo đúng quy định. Cụ thể:
– Hàng hóa xuất khẩu;
– Hàng hóa nhập khẩu không có hợp đồng mua bán;
– Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, xét miễn thuế theo các quy định hiện hành;
– Hàng hóa nhập khẩu theo loại hình nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu;
– Hàng hóa nhập khẩu thuộc đối tượng không chịu thuế;
– Hàng hóa nhập khẩu thuộc loại hình tạm nhập, tái xuất.
Công chức Hải quan được phân công tiến hành kiểm tra trị giá hải quan dựa trên các thông tin trong bộ hồ sơ Hải quan với thông tin trên tờ khai trị giá.
Công chức Hải quan không phải kiểm tra trị giá hải quan đối với các trường hợp không phải kê khai trị giá.
Việc xác định số lượng tờ khai phải kiểm tra trị giá là cơ sở để xác định các công việc mà cơ quan Hải quan phải thực hiện trong quy trình kiểm tra trị giá hải quan. Từ đó đánh giá được hiệu quả công tác kiểm soát trị giá hải quan của cơ quan Hải quan.
Trong quá trình kiểm tra trị giá hải quan, nếu có nghi vấn giá khai báo của doanh nghiệp, cơ quan Hải quan thông báo để doanh nghiệp biết cơ sở, căn cứ nghi vấn mức giá khai báo, phương pháp, mức giá do cơ quan hải quan xác định.
Nếu doanh nghiệp đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hải quan xác định thì cơ quan Hải quan ra thông báo xác định trị giá và thực hiện ấn định thuế theo giá đã xác định.
Nếu không đồng ý với mức giá và phương pháp do cơ quan Hải quan xác định thì doanh nghiệp được quyền yêu cầu cơ quan Hải quan tổ chức tham vấn để giải trình về cơ sở, phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình.
Trong quá trình tham vấn, nếu doanh nghiệp giải trình được về các cơ sơ, phương pháp khai báo trị giá hải quan của mình, cơ quan Hải quan chấp nhận giá khai báo của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không đưa ra được các lý do, căn cứ chứng minh trị giá khai báo là trung thực, cơ quan Hải quan sẽ xác định trị giá.
Tuy việc tổ chức tham vấn hay xác định trị giá hải quan chỉ là một bước trong quy trình kiểm tra trị giá, nhưng đây là những công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi cơ quan Hải quan phải chuẩn bị các thông tin kỹ lưỡng làm cơ sở kiểm chứng các thông tin mà doanh nghiệp đưa ra khi tham vấn, đồng thời làm căn cứ khi xác định trị giá khai báo của doanh nghiệp (nếu có).
Hiện nay, Tổng cục Hải quan dựa trên số liệu tham vấn giá là một trong các chỉ tiêu đánh giá chất lượng công tác kiểm soát trị giá hải quan.
1.3.3. Tờ khai phải xác định lại trị giá tính thuế và ấn định thuế
Xác định lại trị giá tính thuế là việc công chức kiểm tra trị giá tiến hành sau khi bác bỏ trị giá khai báo trong trường hợp phát hiện có một trong những mâu thuẫn về thủ tục, hồ sơ; về nguyên tắc và trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế hoặc thông qua tham vấn giá mà doanh nghiệp không có đủ căn cứ giải trình các nghi vấn của cơ quan hải quan đưa ra.
Khi xác định lại trị giá, cơ quan hải quan “xây dựng” mức giá phù hợp làm căn cứ tính toán, ấn định số thuế phải nộp của doanh nghiệp.
Như vậy, xác định lại trị giá khai báo và ấn định thuế được coi như việc phát hiện và “bắt giữ” các trường hợp gian lận về trị giá hải quan.
Bằng việc đánh giá chỉ tiêu số lượng tờ khai phải xác định lại trị giá và số thuế ấn định chúng ta sẽ đánh giá được sơ bộ về tình trạng gian lận trị giá bị cơ quan hải quan phát hiện.
1.4. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ
1.4.1. Những nhân tố thuận lợi
Trong ngành Hải quan đã triển khai được một hệ thống quản lý công tác giá tính thuế tuân thủ nội dung Hiệp định trị giá GATT phù hợp với quản lý hiện đại, đang phát triển đúng hướng phù hợp với yêu cầu phát triển thương mại, hội nhập và hiện đại hóa hải quan.
Các văn bản pháp quy về công tác giá tính thuế, các văn bản hướng dẫn chỉ đạo công tác giá tính thuế của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan được triển khai kịp thời, công tác giá ngày càng hoàn thiện.
Việc triển khai các văn bản hướng dẫn thực hiện công tác giá từ Cục đến Chi cục thông suốt, kịp thời và rõ ràng hơn.
Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi đã rất chú trọng đến công tác đào tạo. Với việc xây dựng đội ngũ cán bộ theo hướng chuyên sâu như vậy, công tác giá đã thật sự đạt được những kết quả nhất định, có sự thống nhất từ trên xuống dưới, tránh được tình trạng mỗi đơn vị thực hiện một kiểu như trước đây.
Tại Hải quan tỉnh Quảng Ngãi, hệ thống máy móc đang được tăng cường, các phần mềm nghiệp vụ đang được nghiên cứu điều chỉnh.
Công tác tuyên truyền về trị giá hải quan đang được triển khai mạnh mẽ.
Hệ thống kiểm tra sau thông quan – một lĩnh vực cực kỳ quan trọng, là hậu phương vững chắc cho áp dụng phương pháp trị giá hải quan đang được đầu tư phát triển mạnh.
1.4.2. Những nhân tố không thuận lợi
1.4.2.1. Từ phía cơ quan hải quan
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ
TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1. GIỚI THIỆU TỔNG QUÁT VỀ CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.1.1. Sơ lược về Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
2.1.2. Bộ máy tổ chức Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
2.1.3. Chức năng, nhiệm vụ của Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
2.1.4. Chức năng, nhiệm vụ các đơn vị thuộc và trực thuộc Cục
2.1.4.3. Đội Kiểm soát Hải quan
2.1.4.4. Chi cục Kiểm tra sau thông quan
2.1.4.5. Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Dung Quất và Chi cục Hải quan các Khu công nghiệp Quảng Ngãi
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.2.1. Quy trình kiểm tra trị giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1.1. Kiểm tra giá tính thuế trong quá trình thông quan
Việc kiểm tra trị giá hải quan trong quá trình thông quan là việc công chức Hải quan kiểm tra Hồ sơ hải quan hoặc hồ sơ hải quan điện tử, các tài liệu có liên quan đến việc xác định trị giá tính thuế của hàng hóa xuất nhập khẩu thuộc diện kiểm tra hồ sơ hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa.
Việc kiểm tra trị giá tính thuế hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu được thực hiện trên cơ sở kiểm tra các mặt hàng thuộc Danh mục quản lý rủi ro hàng nhập khẩu về giá cấp Tổng cục, Danh mục quản lý rủi ro hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu về giá cấp Cục thông qua việc kiểm tra Tờ khai trị giá. Theo quy trình thủ tục Hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại hiện hành (Quyết định 1966/QĐ-TCHQ ngày 10/07/2015 của Tổng cục Hải quan), công việc này do bộ phận Tiếp nhận hồ sơ thực hiện (Bước 1 của quy trình thủ tục Hải quan).
2.2.1.2. Kiểm tra trị giá tính thuế Hải quan sau khi thông quan hàng hóa
Việc kiểm tra trị giá hải quan sau khi thông quan hàng hóa được thực hiện bởi ba lực lượng: lực lượng phúc tập tại Chi cục Hải quan, lực lượng kiểm tra sau thông quan và lực lượng điều tra chống buôn lậu.
2.2.2. Công tác kiểm soát giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
2.2.2.1. Công tác kiểm tra giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi
Trong thời gian qua, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi đã thực hiện tốt công tác kiểm soát giá tính thuế. Việc thực hiện công tác này được tiến hành trong hai giaiđoạn: kiểm tra trị giá hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan (kiểm tra trong quá trình thông quan) và kiểm tra trị giá Hải quan sau khi hàng hóa đã thông quan (kiểm tra sau thông quan).
* Kiểm tra trị giá hải quan trong quá trình thông quan:
Thông qua việc kiểm tra trị giá trong quá trình thông quan, Cục Hải quan tỉnh phát hiện nhiều trường hợp nghi ngờ về trị giá khai báo (không có trường hợp nào phát hiện mâu thuẫn về thủ tục, hồ sơ; về nguyên tắc và trình tự áp dụng các phương pháp xác định trị giá tính thuế) và tổ chức tham vấn.
* Kiểm tra trị giá Hải quan sau khi thông quan hàng hóa
Việc kiểm tra trị giá hải quan sau khi thông quan hàng hóa được thực hiện bởi ba lực lượng: lực lượng phúc tập tại Chi cục Hải quan, lực lượng kiểm tra sau thông quan và lực lượng điều tra chống buôn lậu.
2.2.2.2. Các hình thức gian lận trị giá hải quan
Gian lận trị giá hải quan được chia làm 02 nhóm cơ bản: khai thấp trị giá hải quan và khai tăng trị giá so với giá thực thanh toán.
* Khai thấp trị giá hải quan nhằm làm giảm số thuế phải nộp
* Khai tăng trị giá để tăng số thuế được hoàn hoặc tăng trị giá đầu vào
Tóm lại, tình hình gia tăng gian lận thương mại về trị giá hải quan trong thời gian tới là điều khó tránh khỏi. Nhưng với việc phân tích, đánh giá kỹ các hành vi gian lận có thể xảy ra sẽ giúp Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi đề ra được các phương án phòng, chống gian lận trị giá hải quan có hiệu quả.
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ HẢI QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
2.3.1.1. Đối với công tác kiểm soát hải quan
– Công tác kiểm soát trị giá hải quan đã trở thành một trong những nghiệp vụ quản lý nhà nước về hải quan cơ bản, hình thành một khâu mới trong quy trình nghiệp vụ hải quan.
– Nghiệp vụ kiểm soát trị giá hải quan tạo cho cơ quan hải quan một kênh thông tin mới nhằm thu thập thông tin về nhân thân doanh nghiệp.
– Hoạt động kiểm soát trị giá hải quan góp phần quan trọng trong việc bảo đảm thu đúng, thu đủ thuế vào ngân sách nhà nước.
– Hoạt động kiểm soát trị giá hải quan thúc đẩy việc thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực hải quan và việc áp dụng các chuẩn mực quốc tế về quản lý hải quan, sử dụng các công cụ quản lý hải quan hiện đại.
– Công tác kiểm soát trị giá hải quan thúc đẩy công chức hải quan học tập nâng cao trình độ nghiệp vụ hải quan và nghiệp vụ kinh tế khác.
– Công tác kiểm soát trị giá hải quan góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp.
2.3.1.2. Đối với hoạt động của cộng đồng kinh doanh
– Công tác kiểm soát trị giá hải quan thúc đẩy doanh nghiệp quản lý kinh doanh chặt chẽ hơn, có hiệu quả hơn.
– Kiểm soát trị giá hải quan tham gia tích cực vào việc tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng.
2.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân
2.3.2.1. Các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách
Trên cơ sở hệ thống văn bản pháp quy và hướng dẫn như hiện nay, công tác kiểm soát trị giá hải quan gặp phải những khó khăn nhất định về nghiệp vụ và thủ tục, dẫn đến làm giảm hiệu quả của công việc. Đó là:
– Hệ thống văn bản hướng dẫn về trị giá hải quan chưa có tính ổn định
– Dữ liệu giá tại Danh mục rủi ro hàng nhập khẩu cấp Tổng cục, Danh mục rủi ro hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cấp Cục chưa được cập nhật chi tiết, kịp thời.
– Hiện nay, chưa có hành lang pháp lý trong công tác “chống chuyển giá”.
Tuy nhiên, các quy định nêu trên vẫn giới hạn trong lĩnh vực quản lý của cơ quan thuế, cơ quan hải quan gặp nhiều khó khăn vướng mắc do chưa có quy định chế tài xử lý đối với các hành vi gian lận này.
2.3.2.2. Khó khăn về nguồn nhân lực
Như đã trình bày ở trên, số lượng cán bộ, công chức chuyên sâu về thuế – trị giá, có kiến thức phù hợp để đảm nhận các công việc kiểm soát trị giá hải quan hiện nay là chưa đầy đủ.
Một yếu tố nữa dẫn đến tình trạng thiếu nhân lực có trình độ để thực hiện kiểm soát trị giá hải quan chính là do chính sách luân chuyển cán bộ tại các địa phương. Có nhiều trường hợp công chức, sau khi làm việc tại vị trí giá – thuế ở các Chi cục hải quan cửa khẩu một thời gian, thì được chuyển sang làm việc tại vị trí kiểm tra hàng hóa, hoặc thậm chí là sang bộ phận xử lý, điều tra, thu thập rủi ro… Có thể nói cách làm như vậy sẽ lãng phí những kinh nghiệm, kiến thức của công chức tích lũy được sau một thời gian làm giá – thuế, trong khi công chức chuyển đến vị trí làm việc mới sẽ lại phải nghiên cứu, tích lũy kiến thức mới để phục vụ cho công việc mới.
2.3.2.3. Khó khăn về thông tin – cơ sở dữ liệu
Toàn bộ thông tin, cơ sở dữ liệu phục vụ hoạt động kiểm tra trị giá hải quan hiện nay đều gói gọn trong chương trình kiểm soát giá GTT02.
Chất lượng nguồn thông tin trên hệ thống GTT02 đang dần hoàn thiện, là vấn đề đáng lo ngại hiện nay. Tuy Tổng cục Hải quan đã đưa ra các tiêu chí khi cập nhật trị giá hải quan vào hệ thống GTT02, nhưng các đơn vị hải quan địa phương vẫn thực hiện chưa thống nhất các tiêu chí về tên hàng, quy cách, phẩm cấp… Vì vậy, công chức kiểm tra giá sẽ không xác định được hàng hóa nào được coi là “giống hệt, tương tự”. Điều này dẫn tới dữ liệu giá nhiều nhưng “không có giá trị sử dụng” để làm căn cứ đối chiếu, so sánh mức giá khai báo.
2.3.2.4. Khó khăn về công cụ kỹ thuật phục vụ kiểm soát trị giá
Cụ thể đó là đường truyền dữ liệu và phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu giá.
Đối với đường truyền dữ liệu, chương trình GTT02 hiện sử dụng chung đường truyền với các chương trình quản lý nghiệp vụ khác như Hệ thống thông quan điện tử, chương trình văn thư, chương trình quản lý rủi ro… nên việc truyền và nhận thông tin giá của các chi cục cửa khẩu thường chiếm tối thiểu là 30 phút đầu và cuối mỗi buổi làm việc. Trong thời gian đó, hoàn toàn việc truy cập thông tin giá là không thực hiện được.
2.3.2.5. Những khó khăn từ bên ngoài
* Trình độ hiểu biết pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:
* Ý thức tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu:
* Trình độ hiểu biết pháp luật và sự hợp tác của các bên thứ ba có liên quan:
CHƯƠNG 3
CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG ĐẶT RA TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
Với mục tiêu phấn đấu xây dựng, phát triển tỉnh Quảng Ngãi trở thành tỉnh công nghiệp mạnh về kinh tế biển, với hệ thống thương cảng quốc gia và quốc tế vào thời kỳ 2015 – 2020; là một trong những trung tâm công nghiệp, dịch vụ, du lịch, hải sản của khu vực miền trung; nâng cao rõ rệt chất lượng cuộc sống của nhân dân; bảo đảm vững chắc về quốc phòng và an ninh, trong những năm qua địa phương đã ưu tiên phát triển nhanh, mạnh, vững chắc các ngành kinh tế biển, công nghiệp dầu khí, cảng biển.
Tận dụng lợi thế về điều kiện tự nhiên, đặc biệt là vị trí thuận lợi về tuyến đường vận chuyển hàng hải quốc tế, cửa biển Quảng Ngãi được qui hoạch là khu cảng biển cửa ngõ quốc tế miền trung và của quốc gia, là trung tâm các tuyến hàng hải của Việt Nam và thế giới. Có thể nói, tiềm năng về cảng biển là một lợi thế to lớn của tỉnh Quảng Ngãi.
Dự báo được tình hình trên, Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi đã đề ra những phương hướng phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát trị giá tính thuế hải quan.
– Quyết tâm triển khai kế hoạch cải cách phát triển hiện đại hóa Hải quan Quảng Ngãi giai đoạn 2015 – 2020, phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế của địa phương.
– Đẩy mạnh triển khai, nâng cao chất lượng thủ tục hải quan điện tử cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
– Thực hiện thành công thủ tục hải quan điện tử thông quan tự động VNACCS/VCISS do Chính phủ Nhật tài trợ.
– Hoàn thành tốt nhiệm vụ thu ngân sách trong từng năm.
– Tăng cường các biện pháp thực hiện tốt Tuyên ngôn phục vụ khách hàng. Chú trọng công tác xây dựng lực lượng Hải quan“Đoàn kết – Kỷ cương – Đổi mới”.
– Triển khai nội dung kế hoạch cải cách hiện đại hóa Cục Hải quan Tỉnh giai đoạn 2015-2020.
– Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện triển khai thủ tục hải quan điện tử trên hệ thống thông quan tự động VNACCS/VCISS, chương trình e-Manifest, e-Payment.
– Đẩy mạnh việc triển khai hệ thống chỉ số hoạt động hải quan.
– Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ hải quan.
– Nâng cao hiệu quả công tác quản lý rủi ro.
– Tăng cường công tác kiểm tra sau thông quan.
– Công tác thu ngân sách Nhà nước. Quyết tâm thu đạt và vượt chỉ tiêu dự toán ngân sách được giao hàng năm
– Công tác tổ chức cán bộ và xây dựng lực lượng.
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO CÔNG TÁC KIỂM SOÁT GIÁ TÍNH THUẾ TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH QUẢNG NGÃI
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp quy liên quan đến cơ chế, chính sách xác định trị giá tính thuế hải quan
* Yêu cầu chung đối với hệ thống văn bản pháp quy và hướng dẫn dưới luật
– Giảm thiểu số lượng văn bản hướng dẫn, tiến đến khả năng trực tiếp áp dụng điều luật vào thực xác định trị giá.
– Bộ Tài chính và Tổng cục Hải quan cần tổ chức rà soát lại toàn bộ hệ thống văn bản có liên quan đến xác định trị giá hải quan.
– Trong các điều khoản luật và văn bản hướng dẫn, cần có sự dẫn chiếu giữa các văn bản với nhau để tạo ra sự thống nhất, hỗ trợ.
* Những thay đổi cụ thể:
– Đối với Luật Hải quan cần bổ sung thêm những nội dung sau:
+ Các quy định cơ bản về các phương pháp xác định trị giá hải quan, đồng thời có dẫn chiếu đến các điều khoản của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu về các phương pháp này.
+ Tương tự, cần bổ sung điều khoản quy định về tham vấn trị giá hải quan trong Luật Hải quan.
– Đối với các văn bản hướng dẫn dưới luật:
+ Quy định các quy tắc cơ bản trong phối hợp giữa cơ quan hải quan với các cơ quan chức năng có liên quan.
+ Xây dựng hành lang pháp lý trong hoạt động “chống chuyển giá” trong lĩnh vực hải quan.
– Đối với các văn bản hướng dẫn kỹ thuật nghiệp vụ của Ngành Hải quan:
+ Bổ sung các quy định, hướng dẫn công việc mà công chức hải quan phải thực hiện khi tiến hành tham vấn hay xác định trị giá hải quan cho hàng hóa.
+ Thường xuyên xây dựng, bổ sung danh sách các mặt hàng và mức giá kiểm tra tại Danh mục rủi ro hàng nhập khẩu cấp Tổng cục làm cơ sở cho các Cục Hải quan địa phương kiểm tra, đối chiếu khi làm thủ tục hải quan.
Như vậy, rõ ràng là cần phải rà soát và xây dựng lại hệ thống văn bản hướng dẫn nghiệp vụ xác định trị giá hải quan thì mới đáp ứng được tiêu chuẩn về sự chính xác, đầy đủ, thống nhất, bảo đảm tính “thực thi” của văn bản trong xử lý sự vụ hàng ngày của công chức.
3.2.2. Nâng cao chất lượng công tác tổ chức nhân sự
– Ở khâu tổ chức, bố trí nhân sự, chỉ sắp xếp những người có kiến thức cơ bản về kinh tế vào bộ phận kiểm soát trị giá hải quan; tận dụng tối đa kinh nghiệm công tác của các cán bộ, công chức đã làm việc lâu năm trong lĩnh vực trị giá.
– Thường xuyên tổ chức hoặc cử công thức tham gia các chương trình đào tạo liên quan đến công tác kiểm soát trị giá hải quan.
– Xây dựng kế hoạch bổ sung nhân sự phù hợp với nhu cầu.
Việc bổ sung nhân sự trước tiên nhằm bù đắp cho số cán bộ, công chức về nghỉ hưu hoặc ra khỏi Ngành Hải quan.
Ngoài ra, cùng với xu thế phát triển của hoạt động xuất nhập khẩu, lực lượng cán bộ công chức cũng cần tăng lên để đáp ứng nhu cầu công việc.
Vì vậy, Cục Hải quan tỉnh cần rà soát lại toàn bộ lực lượng cán bộ, công chức trong đơn vị, từ đó đưa ra dự đoán nhu cầu nhân sự trong tương lai để có kế hoạch bổ sung phù hợp.
3.2.3. Nâng cấp và mở rộng hệ thống cơ sở dữ liệu giá
Cơ sở dữ liệu giá hiện nay còn thể hiện những hạn chế cơ bản: thiếu tính phong phú và biệt lập với hệ thống đa chức năng của Ngành. Có nhiều trường hợp, thậm chí cán bộ hải quan kiểm tra trị giá đang giữ tờ khai trị giá, hoặc tờ khai hải quan của hàng hoá nhập khẩu trong tay nhưng dữ liệu trên đó lại chưa có trong cơ sở dữ liệu giá GTT02. Điều này cho thấy: Cơ sở dữ liệu không theo kịp với thực tế khách quan về hàng hoá nhập khẩu. Có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ việc phân định nhiệm vụ cập nhật thông tin giá.
Đồng thời, hiện nay nhiệm vụ của công chức tiếp nhận tờ khai phải kiểm tra thuế, giá nên sẽ làm tăng thời gian xử lý hồ sơ tại khâu tiếp nhận, làm chậm thời gian thông quan.
Về dài hạn, Tổng cục Hải quan cần xây dựng được một hệ thống quản lý thông tin chung để đảm bảo những người làm nhiệm vụ kiểm soát giá, tham vấn giá có thể truy cập, sử dụng và khai thác thông tin về hàng hoá, người khai hải quan, chủ hàng… ở mọi khía cạnh cần thiết.
3.2.4. Nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác kiểm soát giá tính thuế hải quan
– Nâng cấp chương trình phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu giá theo hướng tích hợp trực tiếp với chương trình quản lý dữ liệu chung của Ngành.
– Nâng cấp chương trình GTT02 để tăng tốc độ tìm kiếm thông tin. Do cơ sở dữ liệu giá ngày càng lớn và công cụ tìm kiếm chưa bảo đảm nên nhiều trường hợp, lệnh tìm kiếm thông tin được diễn ra rất chậm.
– Cải tiến chương trình phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu giá nhằm trang bị thêm chức năng cảnh báo rủi ro về trị giá.
– Nâng cao chất lượng thông tin phục vụ công tác kiểm tra trị giá hải quan. Để thực hiện được điều này, Tổng cục Hải quan cần sớm ban hành quy trình cập nhật thông tin vào chương trình GTT02. Trong đó, cần xây dựng bộ tiêu chí về các thông tin phải khai báo đối với từng loại mặt hàng cụ thể để đảm bảo tính thống nhất giữa các đơn vị địa phương.
3.2.5.1. Tăng cường phối hợp trong nội bộ cũng như với các cơ quan có liên quan
3.2.5.2. Tăng cường rà soát, kiến nghị kiện toàn hệ thống văn bản pháp luật
3.2.5.3. Xây dựng các chương trình đào tạo nâng cao trình độ hiểu biết và ý thức chấp hành pháp luật của cộng đồng doanh nghiệp
KẾT LUẬN
Kiểm soát giá tính thuế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hiệu quả là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình thực hiện tuyên ngôn “Chuyên nghiệp – Minh bạch – Hiệu quả” của Ngành hải quan Việt Nam nói riêng và mục tiêu chiến lược của Bộ Tài chính nói chung. Kiểm soát giá tính thuế hải quan là công cụ quan trọng để cơ quan hải quan đạt được sự minh bạch, chính xác, đảm bảo nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại mà cụ thể là phòng chống gian lận thương mại về trị giá, góp phần tạo môi trường đầu tư, kinh doanh hiệu quả đối với nền kinh tế quốc gia. Hải quan bất kỳ một nước nào cũng có thể áp dụng các nguyên tắc kiểm soát trị giá hải quan dù họ hiện đang sử dụng hệ thống tự động hay thủ công.
Trong những năm vừa qua, việc kiểm soát hay kiểm soát giá tính thuế hải quan đã được đưa vào quy trình thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất nhập khẩu thương mại. Bên cạnh những thành công đã đạt được về tăng cường tạo thuận lợi thương mại và nâng cao chất lượng quản lý hải quan để thực hiện các cam kết quốc tế cũng như các yêu cầu từ cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước thì vẫn còn nhiều vấn đề trong công tác kiểm soát giá tính thuế cần phải được tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hơn nữa để đáp ứng nhu cầu thực tế diễn ra và hàng loạt thủ đoạn gian lận về giá tính thuế tinh vi hơn.
Luận văn “Giải pháp tăng cường kiểm soát giá tính thuế tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi” đề cập tới vấn đề cấp bách này. Luận văn đã hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết chung về thủ tục hải quan, cũng như về kiểm soát trị giá tính thuế hải quan để trên cơ sở đó làm rõ làm rõ cơ sở lý luận về kiểm soát giá tính thuế hải quan, thực tiễn quy trình kiểm tra, xác định trị giá tính thuế hải quan trong thủ tục hải quan điện tử.
Từ những nghiên cứu lý thuyết luận văn đi tới nghiên cứu thực trạng áp dụng quy trình kiểm tra trị giá hải quan, chỉ ra những kết quả cũng như những tồn tại trong khung pháp lý, trong quy trình kiểm soát trị giá tính thuế hải quan cũng như những tồn tại trong quá trình vận hành công tác kiểm soát trị giá trên.
Xuất phát từ những cơ hội và thách thức đối với ngành hải quan cũng như phương hướng triển khai kiểm soát giá tính thuế hải quan trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam thời gian tới luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát giá tính thuế hải quan trong thủ tục hải quan điện tử ở Việt Nam như hoàn thiện khung pháp lý, quy trình quản giá tính thuế hải quan tại Cục Hải quan tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và ngành Hải quan Việt Nam nói chung.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE VAN CHINH


