Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam
Ngân hàng Chính sách xã hội chính thức được thành lập từ năm 2002 trên cơ sở tái thiết lại Ngân hàng phục vụ người nghèo. Đây là một sự nổ lực rất lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng nhằm thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và giảm nghèo. Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – chi nhánh Thành phố Đà Nẵng là một tổ chức chủ yếu cho vay món nhỏ đến hộ nghèo và các đối tượng chính sách, những năm qua NHCSXH đã nỗ lực để đem đến cho các đối tượng vay vốn của mình môi trường phục vụ tốt nhất, phát huy hiệu của của việc sử dụng vốn vay, nâng cao năng suất lao động, từ đó vươn lên thoát nghèo. Trải qua hơn 15 năm, từ năm 2002 với mức dư nợ toàn thành phố là 117 tỷ đồng thì đến cuối năm 2018 dư nợ đã hơn 2.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng dư nợ bình quân mỗi năm đạt 19%. Dư nợ bình quân trên mỗi hộ tăng từ 4 triệu đồng/hộ đến nay là 31 triệu đồng/hộ. Bên cạch việc tăng trưởng về quy mô tín dụng thì tình hình nợ xấu của Ngân hàng cũng có nhiều biến độngthể hiện chất lượng tín dụng chưa bền vững.
Năm 2002, tỷ lệ nợ quá hạn 4,54%, đến nay giảm còn dưới 0,3%. Tuy nhiên, số món xử lý rủi ro cũng tăng tương ứng là 12 tỷ đồng/1.560 món.
Hoạt động tín dụng của Chi nhánh là cho vay theo chỉ định và khách hàng vay vốn chủ yếu là các đối tượng yếu thế trong xã hội nên tiềm ẩn nhiều rủi ro. Chương trình tín dụng hộ nghèo là một trong những chương trình tín dụng có dư nợ lớn và mức độ RRTD cao.
Đặc biệt từ khi có Quyết định số 12/QĐ-HĐQT do Chủ tịch HĐQT ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam ban hành. Theo đó, kể từ ngày 1/3/2019, NHCSXH nâng mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo từ 50 triệu đồng/hộ lên 100 triệu đồng/hộ vay không phải bảo đảm tiền vay. Đồng thời, nâng thời hạn cho vay tối đa lên 120 tháng phù hợp với quá trình sinh trưởng và phát triển của các đối tượng đầu tư dài hạn.
Việc tăng mức vay và thời gian cho vay phù hợp với quy mô đầu tư và điều kiện trả nợ của hộ nghèo, tuy nhiên kéo dài thời gian hoàn trả và tiềm ẩn nhiều khả năng phát sinh nợ xấu. Việc kiểm soát RRTD đối với chương trình tín dụng cho vay hộ nghèo là cần thiết nhằm góp phần ổn định chất lượng hoạt động tín dụng chính sách nói riêng và nâng cao hiệu quả việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm và giảm nghèo nói chung.
Vì những lý do trên và bản thân tác giả là người hiện chức năng tham mưu cho Ban lãnh đạo cơ sở về công tác tín dụng nên tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – chi nhánh Thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu của mình.
- Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu tổng quát của luận văn là nghiên cứu thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Việt Nam- chi nhánh Thành phố Đà Nẵng, đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho hộ nghèo tại đơn vị.
Từ mục tiêu trên, luận văn phải giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
Thứ nhất: Hệ thống hóa một số lý luận cơ bản về kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách.
Thứ hai: Phân tích thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Việt Nam – Chi nhánh thành phố Đà Nẵng từ đó xác định những thành công đã đạt được và những hạn chế cùng nguyên nhân trong hoạt động này của chi nhánh.
Thứ ba: Trên cơ sở đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo ở trên, tác giả đề xuất khuyến nghị nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo tại NHCSXH Việt Nam -Chi nhánh thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực tiễn hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo và công tác kiểm soát rủi ro tín trong cho vay hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – chi nhánh Thành phố Đà Nẵng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung nghiên cứu: tập trung nghiên cứu kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo.
- Về thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu thực trạng hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo giai đoạn 2016-2018
- Về không gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo tại Hội sở Chi nhánh NHCSXH thành phố Đà Nẵng và các PGD trực thuộc.
Thu thập dữ liệu từ hai nguồn chính: Nguồn dữ liệu sơ cấp và Nguồn dữ liệu thứ cấp.
- Phương pháp xử lý dữ liệu
Phương pháp mô tả, so sánh và đối chiếu: Phương pháp mô tả và Phương pháp so sánh và đối chiếu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các danh mục, đề tài được bố cục làm ba chương:
Chương1: Lý luận cơ sở về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ nghèo tại ngân hàng chính sách
Chương2: Thực trạng công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – chi nhánh Thành phố Đà Nẵng.
Chương3: Khuyến nghị hoàn thiện công tác kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho hộ nghèo tại Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam – chi nhánh Thành phố Đà Nẵng.
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ SỞ VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
1.1. TỔNG QUAN VỀ CHO VAY HỘ NGHÈO VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ NGHÈO
a. Khái niệm “nghèo”
Theo các nhà khoa học, nghèo là một vấn đề khó có khái niệm chung để đo lường và hiểu cho thấu đáo. Do đó, tùy vào quan niệm và cách tiếp cận mà người ta đưa ra những định nghĩa khác nhau về nghèo đói.
Hiểu theo nghĩa tương đối, nghèo đói là phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư được coi là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay nhóm dân cư khác trong một quốc gia. Định nghĩa này không phản ánh bản chất của nghèo đói, vì theo đó, nghèo đói được coi là tình trạng phổ biến và vĩnh hằng trong mọi thời đại, ở mọi quốc gia, kể cả quốc gia giàu có nhất, vì thế, không thể xóa bỏ được tình trạng này.
b. Đặc điểm của hộ nghèo
c. Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo
c1. Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo
c2. Nhóm nguyên nhân do môi trường tự nhiên xã hội
d.1. Khái niệm cho vay hộ nghèo
Nhìn chung hoạt động cho vay đối với người nghèo đó là việc huy động các nguồn vốn có kỳ hạn, không kỳ hạn của mọi tầng lớp dân cư trong và ngoài nước, của các tổ chức kinh tế xã hội, đồng thời có thể vay hoặc nhận nguồn vốn uỷ thác các tổ chức, các cá nhân trong và ngoài nước để cho những người nghèo, hộ gia đình nghèo được vay vốn với mức lãi suất ưu đãi. Thời hạn vay vốn phù hợp với chu kỳ sản xuất, kinh doanh; điều kiện cho vay dễ dàng hơn (không phải thế chấp tài sản và thủ tục đơn giản) và có chính sách xử lý khi gặp rủi ro khách quan.
d.2. Vai trò của cho vay hộ nghèo
Thứ nhất: Cung cấp vốn tín dụng, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống:
Thứ hai: làm giảm tệ nạn cho vay nặng lãi:
Thứ ba: Giúp hộ nghèo nâng cao kiến thức tiếp cận thị trường, có điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh vươn lên thoát nghèo:
a. Khái niệm RRTD trong cho vay hộ nghèo
Cũng giống như những hoạt động tín dụng khác, cho vay hộ nghèo cũng là một hoạt động tín dụng do đó nó cũng mang đầy đủ các tính chất của hoạt động tín dụng và rủi ro xảy ra là điều khó tránh khỏi. Từ khái niệm về rủi ro nói chung, ta có thể đưa ra khái niệm về RRTD cho vay hộ nghèo như sau: RRTD trong cho vay hộ nghèo là những tổn thất về mặt tài chính khi NHCS cho vay đối với các đối tượng hộ nghèo nhưng không thu được nợ gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn
b. Nguyên nhân của RRTD trong cho vay hộ nghèo
b.1. Nhóm nguyên nhân từ phía khách hàng
b.2. Nhóm nguyên nhân từ phía ngân hàng
b.3. Nhóm nguyên nhân từ môi trường:
c. Hậu quả của RRTD trong cho vay hộ nghèo
Rủi ro tín dụng do các nguyên nhân khách quan gây hậu quả tổn thất về mặt tài chính cho ngân hang.
Rủi ro tín dụng xảy ra còn ảnh hưởng lớn đến chính sách của chính phủ.
Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của ngân hàng.
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH
Một là: NHCS là loại hình tổ chức tín dụng hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận; nguồn vốn phục vụ cho hoạt động cấp tín dụng của NHCS chủ yếu do chính phủ cấp hoặc do chính phủ đứng ra bảo lãnh để ngân hàng vay hoặc huy động trên thị trường.
Hai là: Hoạt động cho vay chủ yếu là cho vay theo các chương trình cho vay do chính phủ chỉ định; hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng thì chủ yếu là các dịch vụ không thu phí.
Ba là: Vốn tín dụng đầu tư mang tính rủi ro rất cao bởi NHCS không được lựa chọn đối tượng cho vay.
Bốn là: Đối tượng phục vụ của NHCS thường là những đối tượng yếu thế trong xã hội hoặc các lĩnh vực ưu tiên đầu tư theo chính sách của chính phủ.
Tín dụng ngân hàng có những vai trò như:
Vai trò của ngân hàng chính sách là làm đầu mối để huy động mọi nguồn vốn dành cho hộ nghèo
Hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách, góp phần cải thiện thị trường tài chính cộng đồng, nơi có hộ nghèo sinh sống
Hoạt động cho vay hộ nghèo của ngân hàng chính sách góp phần tạo nhiều cơ hội việc làm cho người nghèo
Vay sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
Vay làm mới, sửa chữa nhà ở
Vay điện sinh hoạt
Vay nước sạch
Vay giải quyết một phần nhu cầu thiết yếu về học tập
1.3. KHÁI QUÁT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình tiếp cận RRTD một cách khoa học, toàn diện và có hệ thống nhằm nhận dạng, kiểm soát, phòng ngừa và giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng bất lợi do rủi ro tín dụng gây ra.
Nhận dạng rủi ro tín dụng
Đánh giá rủi ro tín dụng
Kiểm soát rủi ro tín dụng
Tài trợ rủi ro tín dụng
1.4. NỘI DUNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ NGHÈO
Kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo của NHCS là việc NHCS sử dụng các biện pháp, kỹ thuật, công cụ, chiến lược và các chương trình hành động nhằm chủ động kiểm soát tần suất và mức độ RRTD trong cho vay hộ nghèo góp phần làm giảm tổn thất hay những ảnh hưởng bất lợi do RRTD gây ra trong cho vay hộ nghèo trong giới hạn mà NHCS hoạch định.
Để chủ động phòng ngừa rủi ro tín dụng trong cho vay có hiệu quả, việc nhận biết đặc điểm của kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay là rất cần thiết và hữu ích, với những đặc thù trong hoạt động tín dụng cho vay hộ nghèo của NHCS thì việc kiểm soát RRTD cũng có những đặc đểm riêng cần được nghiên cứu từ đó giúp hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay hộ nghèo của NHCS được hiệu quả hơn.
Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay hộ nghèo của NHCS có tính chất phực tạp và đa dạng: Đặc điểm này thể hiện ở sự đa dạng và phức tạp trong nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng.
Quy mô cho vay nhỏ, số lượng khách hàng lớn dẫn đến việc kiểm soát rủi ro tín dụng sẽ khó khăn và mất nhiều thời gian.
Công tác đánh giá mức độ và khả năng rủi ro đối với từng khách hàng là rất khó khăn do phần lớn thu nhập để trả nợ phụ thuộc vào sức khỏe, trình độ nhận thức, tính chất công việc của các thành viên trong hộ.
Không thể áp dụng toàn bộ nội dung trong hoạt động kiểm soát RRTD như các ngân hàng thương mại.
Ngăn ngừa rủi ro
Giảm thiểu rủi ro
- Nợ quá hạn
- Nợ xấu
a. Nhóm các nhân tố bên trong ngân hàng
Chính sách tín dụng nói chung và chính sách cho vay hộ nghèo nói riêng
Quy mô cho vay hộ nghèo
Năng lực quản trị điều hành
Nguồn thông tin tín dụng đối với khách hàng vay là hộ nghèo
Nhân tố về nguồn nhân lực
Nhân tố hạ tầng, công nghệ
Chiến lược quản trị rủi ro, RRTD của NHCS
Sự phối hợp của NHCS với các cấp Chính quyền, Tổ chức chính trị xã hội
b. Các nhân tố bên ngoài ngân hàng
Từ phía khách hàng vay vốn
Môi trường chính trị và pháp lý
Môi trường tự nhiên
Môi trường thông tin
Các chính sách khác có liên quan của Nhà nước
Ý thức trách nhiệm của các đối tác có liên quan
Cơ chế chính sách của Nhà nước
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM – CHI NHÁNH
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chi nhánh được thành lập từ năm 2003 và nhận bàn giao 03 chương trình tín dụng chính sách, dư nợ 129,7 tỷ đồng. Trong đó: nhận bàn giao chương trình cho vay Giải quyết việc làm (GQVL) từ Kho bạc Nhà nước với dư nợ 19,4 tỷ đồng; chương trình cho vay Học sinh sinh viên có hoàn cảnh khó khăn (HSSV) từ Ngân hàng Công thương với dư nợ 4,2 tỷ đồng; chương trình cho vay hộ nghèo (HN) từ Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn với dư nợ 93,2 tỷ đồng.
- Về nguồn vốn
Tổng nguồn vốn đến 31/12/2018 đạt 2,080 tỷ đồng, tăng 579 tỷ đồng so với năm 2016. Trong những năm qua NHCSXH đã có nhiều nỗ lực trong huy động, tạo lập nguồn vốn đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn.
Nguồn vốn NHCSXH TW chuyển về đạt 1.254 tỷ đồng, tăng 63 tỷ đồng so với năm 2016, chiếm tỷ trọng 60 % tổng nguồn vốn. Nguồn vốn NHCSXH huy động tại địa phương được trung ương cấp bù lãi suất: Bao gồm nguồn vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân và nguồn vốn huy động tiền gửi thông qua Tổ TK&VV.
Đến cuối năm 2018, Chi nhánh đã thực hiện cho vay 16 chương trình tín dụng tổng dư nợ đạt 2.028 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng so với năm 2016 đạt 35%. Một số chương trình tín dụng trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng dư nợ cao như cho vay hộ mới thoát nghèo có tỷ lệ tăng trưởng dư nợ so với năm 2016 lên đến 23%, cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 18%, đặc biệt chương trình cho vay giải quyết việc làm có tỷ lệ tăng trưởng dư nợ so với năm 2016 là 677% (tăng 772 tỷ đồng).
2.3. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM CHI NHÁNH THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\VO THI TRANG


