Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong nền kinh tế nước ta hiện nay, nền kinh tế sản xuất nông nghiệp chiếm vị trí vô cùng quan trọng, với xu thế công nghiêp hoá – hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn nhằm xoá đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất và đổi mới trang thiết bị cũng như tham gia vào các quan hệ kinh tế khác, thì cá nhân sản xuất NN đều cần đến nguồn vốn lớn và tín dụng Ngân hàng chính là một trong những nguồn chính cung cấp vốn đáp ứng nhu cầu đó.
Do nhu cầu vay vốn của cá nhân SX NN ngày càng lớn, đi kèm đó hoạt động kinh doanh ngân hàng trong lĩnh vực cho vay cá nhân SX NN sẽ có nhiều rủi ro. Bởi vậy mở rộng tín dụng phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng tín dụng của Ngân hàng.
Là một trong những chi nhánh đi đầu trong công tác bán lẻ của hệ thống Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Viêt Nam – chi nhánh Bắc Đăk Lăk nằm trên địa bàn phát triển mạnh của tỉnh Đăk Lăk, có tốc độ tăng trưởng cao, các cơ quan, doanh nghiệp liên tiếp được thành lập, dân cư tập trung ngày một đông, các nhu cầu về đời sống không ngừng gia tăng. Bên cạnh đó quỹ đất nông nghiệp trên địa bàn rất lớn, nhiều cây nông sản mang lại hiệu quả cao như bơ, sầu riêng, tiêu, cà phê… đã kích thích người nông dân đẩy mạnh đầu tư nên nhu cầu về vốn rất lớn. Theo báo cáo tổng kết năm 2018 của Ngân Hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk, Dư nợ tại chi nhánh là 4.000 tỷ đồng, trong đó dư nợ cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp là 1.463 tỷ đồng, chiếm thị phần 36,5%. Nợ xấu của cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp là 10,5 tỷ đồng chiếm 0,7% trong tổng dư nợ cho vay cá nhân SXNN. Con số này vẫn còn cao. Đâu là nguyên nhân? Làm thế nào để hạn chế tối đa các rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp giúp chi nhánh tăng trưởng tín dụng một cách an toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay, góp phần duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của chi nhánh. Đây là vấn đề đang được chi nhánh đặc biệt quan tâm.
Nhận thức được vấn đề trên, với mong muốn góp phần kiểm soát rủi ro tín dụng (RRTD) trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi Nhánh Bắc Đăk Lăk nên tôi chọn đề tài “Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi Nhánh Bắc Đăk Lăk” làm đề tài nghiên cứu.
– Hệ thống hoá cơ sở lý luận cơ bản về kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN của ngân hàng thương mại.
– Phân tích thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
– Đề xuất giải pháp nhằm kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
4. Câu hỏi hay giả thuyết nghiên cứu
– Hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk đang có những thành công và hạn chế nào? Vì sao?
– Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk cần phải lưu ý đến những vấn đề gì kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại chi nhánh?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu là thực tiễn hoạt động kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: Tập trung vào kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
- Về không gian: Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu kiểm soát RRTD trong cho vay đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk trong 3 năm từ 2016 đến hết năm 2018.
- Cách tiếp cận:
- Luận văn sử dụng cách tiếp cận định tính dựa trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu trước đây kết hợp với so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn về hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại ngân hàng thương mại để nhận diện và giải quyết vấn đề gặp phải. từ đó cơ sở đưa ra những khuyến nghị nhằm kiểm soát tốt rủi ro rín dụng trong hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
- Nguồn thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu từ hai nguồn chính.
- Nguồn dữ liệu sơ cấp :
- Tác giả thực hiện chọn mẫu thuận tiện phỏng vấn nhân viên trong ngân hàng (Phỏng ván 3 người), đối tượng là các nhân viên trong ngân hàng thuộc phòng bán lẻ, phòng giao dịch nhằm khảo sát những khó khăn, vướng mắc khi cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp. các câu hỏi sau để thu thập dữ liệu: những khó khăn thường gặp phải khi cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp? Nguyên nhân xuất phát từ đâu? Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN như thế nào? Các biện pháp áp dụng để kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN?
- Nguồn dữ liệu thứ cấp :
+ Dữ liệu bên trong ngân hàng : dựa vào các báo cáo, các nguồn dữ liệu thứ cấp, các văn bản, công văn, Quyết định đã ban hành, sửa đổi. Nắm bắt định hướng kinh doanh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc ĐăkLăk trên địa bàn; quy trình nội bộ phục vụ đưa ra các giải pháp thiết thực, đúng hướng nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp.
+ Dữ liệu bên ngoài ngân hàng: Thông qua các văn bản pháp lý, các Quyết định của Ngân hàng Nhà nước về quy định, quy trình cho vay, các chính sách của chính phủ, sản phẩm của Ngân hàng… nhằm hỗ trợ so sánh, đánh giá mức ảnh hưởng của tác động môi trường bên ngoài, thủ tục hành chính đến công tác cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp, tác giả thực hiện khảo sát: môi trường thể chế, kinh tế địa phương, đối thủ, môi trường tự nhiên, khảo sát nhu cầu khách hàng cá nhân để phục vụ việc đưa ra giải pháp phù hợp.
- Xử lý dữ liệu
Phương pháp mô tả: Tác giả sẽ phân tích & xử lý các thông tin thu thập, để phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu, vận dụng trong phân tích các dữ liệu thứ cấp định tính, giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp
Phương pháp so sánh, đối chiếu: Tác giả thực hiện so sánh về mặt không gian tại BIDV Bắc ĐăkLăk và các đối thủ trên địa bàn, so sánh về mặt thời gian giữa các năm nghiên cứu để hỗ trợ đánh giá thực trạng công tác cho vay khách hàng cá nhân sản xuất nông nghiệp tại BIDV Bắc Đăk Lăk
7. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện
8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Đề tài làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tín dụng ngân hàng, RRTD trong cho vay của Ngân hàng.
- Đánh giá thực trạng công tác kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
- Đề xuất những biện pháp nhằm hoàn thiện kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp của NHTM
Chương 2: Thực trạng kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHTM
a. Khái niệm cá nhân sản xuất nông nghiệp
Cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là cá nhân có thu nhập ổn định từ sản xuất nông nghiệp trên đất được nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp.
b.Đặc điểm sản xuất nông nghiệp
Trong quan hệ kinh tế, quan hệ dân sự: Những hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung để hoạt động kinh doanh kinh tế chung trong quan hệ sử dụng đất, trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ đó. Những hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó.
Tài sản chung của cá nhân SX NN gồm tài sản tạo lập nên hoặc được tặng, cho và các tài sản khác.
Cá nhân SX NN là một lực lượng sản xuất to lớn ở nông thôn. Cá nhân SX NN hoạt động trong nhiều ngành nghề trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn. Bên cạnh đó các hộ này còn tiến hành sản xuất kinh doanh ngành nghề phụ. Đặc điểm sản xuất kinh doanh nhiều ngành nghề nói trên đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cá nhân SX ở nước ta trong thời gian qua.
Tuy nhiên với quy mô sản xuất nhỏ, có sức lao động, có các điều kiện về đất đai, mặt nước nhưng thiếu vốn, thiếu hiểu biết về khoa học, kỹ thuật, thiếu kiến thức về thị trường nên hoạt động sản xuất kinh doanh còn mang nặng tính tự cấp, tự túc. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước và các cơ chế chính sách về vốn thì kinh tế hộ không thể chuyển sang sản xuất hàng hoá, không thể tiếp cận với cơ chế thị trường.
a. Khái niệm cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng cho vay giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoản trả cả gốc và lãi.
Cho vay khách hàng cá nhân là một hình thức tài trợ của ngân hàng cho các khách hàng cá nhân, đó là quan hệ kinh tế mà trong đó ngân hàng chuyển cho các cá nhân quyền sử dụng một khoản tiền với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng nhằm phục vụ mục đích của khách hàng.
Cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay là NHTM giao hoặc cam kết giao cho cá nhân sản xuất nông nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
b. Đặc điểm của cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp
Đối tượng đi vay là tầng lớp nông dân:
Có đặc điểm cần cù, siêng năng trong sản xuất kinh doanh, nhưng kiến thức về sử dụng vốn còn nhiều hạn chế, kế hoạch trả nợ vay không chặc chẽ.
Tính thời vụ gắn liền với chu kỳ sinh trưởng của động thực vật:
Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các ngành nghề cụ thể mà Ngân hàng tham gia cho vay. Thường tính thời vụ được biểu hiện ở những mặt sau:
Tính mùa vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và thu nợ của Ngân hàng. Nếu Ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên ngành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến kỳ thu hoạch/tiêu thụ tiến hành thu nợ.
Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để Ngân hàng tính toán thời hạn cho vay.
Môi trường tự nhiên có ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của khách hàng:
Nguồn trả nợ ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng. Mà sản lượng nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn.
Chi phí tổ chức cho vay cao:
Đối với ngân hàng, chi phí tổ chức cho vay cao do phải chi nhiều khoản như chi phí tổ chức mạng lưới, chi phí cho việc thẩm định, theo dõi khách hàng hay món vay và chi phí phòng ngừa rủi ro. Cụ thể là:
+ Cho vay đối với hộ nông dân thì phải chi phí nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do quy mô của từng món vay thường là nhỏ.
+ Số lượng khách hàng đông, phân bổ ở khắp nơi nên mở rộng cho vay thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ, cũng là yếu tố làm tăng chi phí.
+ Do ngành nông nghiệp có độ rủi ro tương đối cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro tương đối lớn so với các ngành khác.
+ Lãi suất thu hút vốn cho vay nông nghiệp cao do bị giới hạn bởi các nguồn tại chỗ, phải chuyển dịch vốn từ nơi khác làm chi phí vốn tăng lên.
+ Hộ gia đình sản xuất quy mô nhỏ, chính đặc điểm này làm ảnh hưởng lớn đến tổ chức cho vay và áp dụng các phương thức, kỹ thuật cho vay.
Tính pháp lý của cá nhân sản xuất nông nghiệp là vấn đề cần quan tâm khi quan hệ tín dụng. Mọi thành viên trong hộ tham gia lao động và cũng hưởng thu nhập chung. Về mặt thủ tục pháp lý trong giao dịch ngân hàng, chỉ cần đại diện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên cơ sở uỷ quyền của các thành viên trong hộ. Xuất phát từ tính đặc thù này mà mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên đới trong quan hệ giao dịch tín dụng.
Khả năng tài chính của cá nhân sản xuất nông nghiệp: cá nhân sản xuất nông nghiệp nhìn chung có khă năng tài chính không mạnh, tài sản bảo đảm tiền vay chủ yếu là quyền sử dụng đất và nhà ở gắn liền trên đất có giá trị không lớn, tính thanh khoản không cao. Mặt khác, nhiều tài sản không có giấy tờ sở hữu hay quyền sử dụng mà có được nhờ chuyển nhượng theo phong tục tập quán địa phương. Đây là yếu tố cần xem xét khả năng đáp ứngđiều kiện về bảo đảm tiền vay.
1.2. RỦI RO TÍN DỤNG TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHTM
Rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN là khả năng xảy ra những thiệt hại, mất mát và tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do khách hàng cá nhân SXNN không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ đúng hạn khi đến hạn các khoản gốc và lãi.
RRTD trong cho vay cá nhân SXNN mang tính gián tiếp: Trong quan hệ tín dụng, NHTM chuyển giao quyền sử dụng vốn cho cá nhân SX NN, RRTD trong cho vay xảy ra khi cá nhân SX NN gặp phải những tổn thất trong quá trình sử dụng vốn. Do đó, rủi ro trong quá trình sản xuất nông nghiệp của cá nhân SX là nguyên nhân chủ yếu, gián tiếp gây ra RRTD của NHTM.
Biểu hiện của đặc điểm này trong thực tế là ngân hàng thường biết sau, biết không đầy đủ hoặc không chính xác về những khó khăn, thất bại trong quá trình hoạt động đầu tư, kinh doanh của khách hàng.
Xuất phát từ đặc điểm này, trong kiểm soát RRTD, ngân hàng phải tập trung nghiên cứu thông tin về khách hàng và phải thường xuyên bám sát hoạt động của khách hàng để kịp thời phát hiện các dấu hiệu của rủi ro.
RRTD trong cho vay cá nhân SXNN có tính chất đa dạng và phức tạp: Các mục đích sử dụng vốn trong cho vay nông nghiệp là vô cùng đa dạng và phức tạp, phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khách quan. Chính vì vậy, RRTD trong hoạt động cho vay này cũng đến từ rất nhiều phía với nhiều nguyên nhân, hình thức biểu hiện khác nhau.
RRTD trong cho vay cá nhân SXNN có tính tất yếu: Tính tất yếu là một đặc điểm cơ bản của RRTD do RRTD luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động tín dụng, việc cho vay cá nhân SX NN cũng không nằm ngoài đặc điểm này. Với tính chất các món vay trong cho vay cá nhân SX NN thường nhỏ, số hộ vay vốn lại rất nhiều, do đó việc nắm bắt, theo dõi các thông tin của Ngân hàng đối với từng cá nhân SX NN là điều vô cùng khó khăn. Điều này dẫn đến tình trạng thông tin bất đối xứng làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Chính vì vậy, các NHTM cần đánh giá nhằm tìm ra các cơ hội đạt được những lợi ích xứng đáng với mức độ rủi ro chấp nhận được khi cho vay cá nhân SX NN.
RRTD trong cho vay cá nhân SX NN rất khó giám sát: Do tính chất phân tán của hộ sản xuất, địa bàn hoạt động trải rộng trên nhiều vùng miền, đồng thời với tính chất đa dạng phức tạp của mình dẫn đến việc kiểm tra, giám sát của NHTM trong cho vay cá nhân SX NN gặp rất nhiều khó khăn để có thể kiểm soát chặt chẽ các rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay.
- Các nguyên nhân từ phía khách hàng.
- Trình độ của khách hàng bao gồm cả trình độ sản xuất và trình độ quản lý của khách hàng. Với một trình độ sản xuất phù hợp và trình độ quản lý khoa học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt, sẽ có khả năng tài chính để trả nợ ngân hàng. Ngược lại thì khả năng trả nợ ngân hàng là khó khăn.
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích: Đây là yếu tố thuộc về chủ quan của khách hàng. Rất khó để cho ngân hàng kiểm soát từ đầu vì đây là ý định của khách hàng.
- Rủi ro do người vay có chủ ý lừa đảo, chây ỳ, trốn: đây là rủi ro rất khó kiểm soát vì nó phụ thuộc nhiều vào việc đánh giá đạo đức, tư cách của khách hàng vay.
- Các nguyên nhân từ phía ngân hàng.
- Do chính sách của ngân hàng cho vay không phù hợp, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ hoặc đặt mục tiêu lợi nhuận quá cao.
- Hệ thống ngân hàng mở ra ngày một nhiều dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, nới lỏng quy trình cho vay…
- Trình độ, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ nghiệp vụ còn hạn chế dẫn đến cán bộ cho vay không đánh giá chính xác về khách hàng và phương án vay vốn, từ đó phát sinh những hợp đồng cho vay thiếu an toàn, mức độ rủi ro trong trường hợp này sẽ càng tăng dần trong suốt quá trình kể từ khi xét duyệt đến khi giám sát và cuối cùng là thu nợ.
- Các nguyên nhân khác.
- Rủi ro do nguyên nhân bất khả kháng: như thiên tai, dịch bệnh, đây là nhóm rủi ro chính gây nên rủi ro trong cho vay cá nhân SXNN và rủi ro thường gây ra trên diện rộng, tổn thất lớn cho cả khách hàng và ngân hàng.
- Rủi ro do nguyên nhân từ cơ chế, chính sách: Sự thay đổi chính sách của nhà nước làm ảnh hưởng tới việc sản xuất, kinh doanh sản phẩm của cá nhân SX NN.
- Rủi ro do nguyên nhân từ biến động thị trường: trong SXNN biến động thị trường ảnh hưởng rất lớn đến kết quả SX kinh doanh, từ giá cả nguyên liệu đầu vào như phân bón, hạt giống, nông cụ…hay biến động gía cả nông sản, tình trạng được mùa, mất giá luôn là nỗi ám ảnh của người sản xuất nông nghiệp.
- Rủi ro do môi trường chính trị, xã hội: hoạt động kinh doanh của các NHTM liên quan đến nhiều lĩnh vực của nền kinh tế, mang tính xã hội cao, khi hệ thống pháp luật ổn định và lành mạnh thì môi trường kinh doanh của ngân hàng có nhiều thuận lợi và ngược lại nếu môi trường pháp lý thiếu đồng bộ, có nhiều kẻ hở rất dễ bị lợi dụng gây ra những bất lợi, khó khăn, ngân hàng cho vay gặp nhiều rủi ro.
- Tác hại RRTD trong cho vay cá nhân SXNN
- Đối với ngân hàng bị rủi ro:
- Giảm thu nhập, tăng chi phí, giảm lợi nhuận: Bản chất của hoạt động ngân hàng là đi vay để cho vay. Khi RRTD xảy ra sẽ làm phát sinh các khoản nợ khó đòi, ngân hàng sẽ không thu được vốn đã cho cá nhân SXNN vay đồng thời lại phát sinh thêm chi phí quản lý và chi phí giám sát thu nợ. Các khoản chi phí này thực tế còn cao hơn các khoản thu nhập từ việc tăng lãi suất các khoản nợ quá hạn bởi vì đây là khoản thu nhập ngân hàng khó có khả năng thu hồi, đồng thời vẫn trích lập dự phòng cho những rủi ro, làm gia tăng chi phí và dẫn đến việc giảm sút lợi nhuận của NHTM.
- Giảm khả năng thanh khoản: Các NHTM thường lập kế hoạch cân đối dòng tiền ra và dòng tiền vào, các món vay không được thanh toán đầy đủ và đúng hạn sẽ dẫn đến mất cân đối giữa hai dòng tiền. Các khoản tiền gởi, tiền tiết kiệm của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng kỳ hạn trong khi các món vay lại không hoàn trả đúng hạn, do đó nếu ngân hàng không đi vay hoặc bán các tài sản của mình thì khả năng chi trả của ngân hàng sẽ bị hạn chế, ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong khâu thanh toán.
- Giảm uy tín, có thể phá sản: Nếu tình trạng mất khả năng chi trả của ngân hàng diễn ra nhiều lần hay thông tin về RRTD của ngân hàng bị tiết lộ ra công chúng thì uy tín của ngân hàng đó trên thị trường tài chính sẽ bị giảm sút. Hậu quả là ngân hàng sẽ khó khăn trong việc huy động vốn từ dân cư và thiết lập giao dịch với các doanh nghiệp, các ngân hàng khác. Nếu RRTD xảy ra ở mức độ nghiêm trọng, NHTM mất khả năng thanh toán, kết quả kinh doanh thua lỗ trầm trọng sẽ dẫn đến khả năng gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho các khách hàng gởi tiền dẫn đến tình trạng đồng loạt rút hết tiền gởi tại NHTM, đẩy NHTM đi tới việc phá sản. RRTD làm giảm uy tín của ngân hàng.
- Đối với hệ thống ngân hàng và nền kinh tế.
Chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính, chuyên đi huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu vay lại. Nguồn gốc những khoản cho vay của NHTM là từ những người gửi tiền vào ngân hàng. Ngân hàng chỉ làm cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và người cần vốn. Bởi vậy, khi RRTD xảy ra ở mức đủ lớn, quyền lợi của những người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng. Tổn thất của các ngân hàng ở mức lớn làm gia tăng quan ngại của công chúng dẫn đến hiện tượng người gửi tiền đổ xô đi rút tiền ngân hàng. Bên cạnh đó, hoạt động của ngân hàng liên quan đến nhiều lĩnh vực trong xã hội nên một khi sự cố ngân hàng xảy ra, ảnh hưởng của nó sẽ rất lớn đối với nền kinh tế-xã hội. Sự sụp đổ của một ngân hàng có thể gây ra hiệu ứng “đô-mi-nô” kéo theo hàng loạt các ngân hàng khác sụp đổ, làm suy thoái nền kinh tế, giá cả tăng, sức mua giảm sút, gia tăng thất nghiệp, khủng hoảng tài chính, mất ổn định xã hội.
1.3. KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHTM
Kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN là khâu trọng tâm trong công tác quản trị rủi ro tín dụng, đây là hoạt động thực hiện trước khi rủi ro xảy ra nhằm giảm khả năng phát sinh rủi ro, giảm thiểu tổn thất có thể xảy ra đối với ngân hàng nhằm các mục tiêu sau:
Thứ nhất, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm kiểm soát nợ xấu và khống chế nợ xấu trong cho vay cá nhân SXNN.
Thứ hai, kiểm soát rủi ro tín dụng nhằm mục đích giảm thiểu tối đa các tác động bất lợi của rủi ro tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN.
Thứ ba, kiểm soát rủi ro tín dụng cũng đồng thời là quá trình đạt được các mục tiêu kinh doanh của ngân hàng.
Mục tiêu của kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp là làm thay đổi nguy cơ rủi ro, giảm thiểu tổn thất khi nguy cơ xảy ra, đảm bảo toàn bộ các hoạt động, các bộ phận và từng cá nhân đều tuân thủ các quy định của pháp luật, tuân thủ và thực hiện các chiến lược, chính sách, quy trình và quyết định của các cấp thẩm quyền, đảm bảo mục tiêu an toàn và hiệu quả trong hoạt động tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN cuả ngân hàng. Các kỹ thuật được sử dụng trong kiểm soát rủi ro tín dụng trong cho vay các nhân SXNN bao gồm:
- Né tránh rủi ro
Né tránh rủi ro là việc né tránh những đối tượng, những hoạt động hoặc những nguyên nhân làm phát sinh tổn thất, mất mát có thể xảy ra. Điều này cực kỳ quan trọng vì đặc điểm của kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN là những hoạt động nhằm giảm thiểu rủi ro trước khi rủi ro xảy ra.
Việc né tránh rủi ro thực hiện thông qua hoạt động thẩm định, xếp hạng và sàng lọc khách hàng: đối với những cá nhân SXNN đã thấy rõ ràng là có chứa rủi ro lớn, không phù hợp với chính sách cho vay thì biện pháp tốt nhất là né tránh, từ chối cho vay.
Né tránh rủi ro là cách tiếp cận hiệu quả của quản trị RRTD. Bằng cách né tránh RRTD, NHTM chắc chắn rằng sẽ không gánh chịu những tổn thất tiềm ẩn mà RRTD gây ra. Đây là quyết định thường được đánh giá là tương đối dễ dàng, đơn giản, triệt để và chi phí thấp.
Để công tác từ chối cho vay có hiệu quả, đảm bảo không bỏ mất những khách hàng tốt, đồng thời né tránh những khách hàng yếu kém, dễ dẫn đến tổn thất vốn vay hoặc sụt giảm lợi nhuận, ngân hàng cần đưa ra những tiêu chí cụ thể cho từng loại khách hàng nhằm thống nhất công tác sàng lọc khách hàng.
- Ngăn ngừa rủi ro
Là việc NHTM tìm cách giảm bớt rủi ro tập trung, giảm bớt số lượng, tần suất rủi ro xảy ra nhằm giảm bớt thiệt hại khi tổn thất xảy ra, các biện pháp ngăn ngừa RRTD như:
NHTM thực hiện phân cấp mức phán quyết cho vay theo mức độ RRTD: Mục đích của việc phân cấp phán quyết cho vay là để công tác cho vay của ngân hàng được xem xét thận trọng tương ứng với mức độ RRTD và trình độ của cán bộ đồng thời hạn chế được quá tải trong công tác phán quyết cho vay tức là mức phán quyết cho vay theo từng cấp Chi nhánh, phòng giao dịch, trưởng phòng, phó phòng… để bảo bảo kiểm soát tốt món vay.
Xây dựng qui trình cho vay tương ứng với mức độ RRTD, tương ứng với các sản phẩm cấp tín dụng khác nhau vì mỗi sản phẩm tín dụng đều có những đặc điểm, mức độ rủi ro khác nhau. Việc tuân thủ quy trình cho vay chặt chẽ và thường xuyên thực hiện kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay như: việc sử dụng vốn của cá nhân SXNN, tuân thủ các điều khoản hợp đồng, tình hình sản xuất của cá nhân SXNN…nhằm phát hiện sớm những tiềm ẩn, rủi ro để ngân hàng có giải pháp ngăn ngừa kịp thời.
Bảo đảm tín dụng bằng tài sản tác động đến ý thức trả nợ của cá nhân SXNN, giúp ngân hàng ngăn ngừa RRTD, ràng buộc khách hàng vay có tránh nhiệm cao hơn trong việc trả nợ để bảo toàn tài sản.
Ngân hàng thường xuyên phân tích, đánh giá rà soát, lựa chọn cán bộ có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất đạo đức để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ liên quan đến công tác tín dụng; có cơ chế uỷ quyền, quy định trách nhiệm đối với cán bộ phụ trách và tác nghiệp. Theo chức năng nhiệm vụ của mình, các phòng chức năng hoàn thiện cơ chế thông tin, báo cáo, kiểm soát, xây dựng hệ thống cảnh báo rủi ro để nâng cao khả năng quản lý, nhằm phát hiện kịp thời những rủi ro tiềm ẩn từ nhân viên để có biện pháp xử lý thích hợp.
- Giảm thiểu tổn thất do rủi ro cho vay gây ra
Đây là biện pháp nhằm làm giảm mức độ thiệt hại do rủi ro mang lại nếu nó xảy ra. Các biện pháp giảm thiểu tổn thất:
- Áp dụng hình thức, quy trình cho vay: thông qua việc tập trung vào nguy cơ chính gây ra rủi ro, đồng thời xem xét môi trường gây ra rủi ro và sự tương tác giữa môi trường và nguy cơ đó, qua đó áp dụng các các hình thức, quy trình cho vay hợp lý thích hợp với từng trường hợp cụ thể để nếu rủi ro xảy ra thì bản thân các hình thức, quy trình đó sẽ hạn chế tổn thất ở mức thấp nhất có thể được.
- Giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt cho vay: trong quá trình cho vay và giám sát vốn vay của khách hàng cá nhân SXNN nếu phát hiện nguy cơ rủi ro cao thì Ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp như giảm hạn mức cho vay, tạm dừng và chấm dứt cho vay nhằm giảm thiểu mức độ thiệt hại khi rủi ro xảy ra.
- Hạn chế tổn thất bằng việc áp dụng các điều khoản trong nội dung hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay: là việc ngân hàng đưa các điều khoản mang tính ràng buộc đối với khách hàng cá nhân SXNN nhằm hạn chế rủi ro như các điều khoản về lãi suất, điều kiện và hình thức thanh toán, đánh giá lại tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay, các trường hợp giảm hạn mức, ngừng cho vay, các biện pháp bổ sung điều kiện vay vốn…
- Định giá khoản vay: Đây chính là lãi suất cho vay, trong lãi suất cho vay phải bao gồm cả phần bù rủi ro. Phần bù rủi ro được áp dụng tùy theo mức độ rủi ro của từng khoản vay và mục đích là tạo nguồn thu để bù đắp tổn thất khi rủi ro xảy ra.
- Áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay: cho vay có bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc bảo lãnh bằng tài sản của bên thức ba là một trong những hình thức cho vay phổ biến của tất cả các ngân hàng. Việc gắn tài sản bảo đảm với nợ vay được thực hiện nhằm đáp ứng hai mục tiêu của ngân hàng đó là: Tài sản bảo đảm là ngồn trả nợ thứ hai khi rủi ro xảy ra; nâng cao trách nhiệm, ý chí trả nợ của bên vay.
- Trung hoà RRTD
Trung hòa RRTD chủ yếu được thực hiện bằng các công cụ phái sinh tín dụng: hoán đổi tín dụng và quyền chọn tín dụng
Hợp đồng hoán đổi nợ là cam kết giữ hai bên nhằm chuyển giao RRTD của một nhà phát hành công cụ nợ. Cơ chế hoạt động của hợp đồng hoán đổi nợ giống như hợp đồng bảo hiểm. Theo đó, người mua hợp đồng này sẽ được bảo hiểm về RRTD và người bán sẽ phải đảm bảo “độ tin cậy” của chứng khoán nợ đó. Là hình thức trong đó hai TCTD trao đổi cho nhau một phần các khoản thanh toán theo hợp đồng tín dụng của mỗi bên. Khi tham gia hợp đồng trao đổi tín dụng, các ngân hàng có thể nâng cao tính đa dạng hóa của danh mục cho vay, đặc biệt nếu các ngân hàng hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Các tổ chức trung gian khi tham gia hợp đồng hoán đổi nợ được hưởng một khoản phí cho dịch vụ trung gian mà họ thực hiện. Tổ chức trung gian cũng có thể thực hiện đảm bảo cho các bên về việc hợp đồng tín dụng sẽ được hoàn tất để nhận được những khoản phí bổ sung.
Hợp đồng quyền chọn tín dụng là công cụ bảo vệ ngân hàng trước những tổn thất trong giá trị tài sản tín dụng, giúp bù đắp chi phí vay vốn cao hơn khi chất lượng tín dụng của ngân hàng suy giảm.
Hợp đồng này sẽ bảo đảm thanh toán toàn bộ khoản cho vay nếu khoản cho vay có vấn đề và/hoặc giảm sút giá trị thị trường. Hợp đồng quyên chọn có thể bảo vệ rủi ro của một khoản đầu tư tiền lẻ hoạc toàn bộ danh mục đầu tư.
- Chuyển giao rủi ro
Là việc sắp xếp để một vài đối tượng gánh chịu hoàn toàn hay một phần tổn thất xảy ra.
Các biện pháp chuyển giao rủi ro: Bảo hiểm tín dụng, bán nợ xấu, Chuyển giao rủi ro cho ngân sách nhà nước.
- Bảo hiểm tín dụng: Đây là hình thức ngân hàng chuyển giao rủi ro, yêu cầu khách hàng cá nhân SXNN vay mua bảo hiểm cho khoản vay hoặc NH trực tiếp mua bảo hiểm tín dụng cho các khoản mà mình đã cho vay để khi rủi ro xảy ra thì ngân hàng sẽ nhận một khoản tiền đền bù từ công ty bảo hiểm để bù đắp tổn thất rủi ro.
- Bán nợ xấu: Khi có một số khoản nợ xấu không có khả năng trả nợ có nguy cơ rủi ro cao. Để hạn chế rủi ro NHTM tiến hành chuyển giao cho bên mua nợ nhằm nhanh chóng đưa các khoản nợ xấu ra khỏi bảng tổng kết tài sản lành mạnh hóa tài chính. Bán nợ là biện pháp mà NHTM thực hiện chuyển giao nợ có nguy cơ tổn thất cho các định chế tài chính khác.
Đây là biện pháp nhằm loại bỏ những tài sản có rủi ro, để tạo chỗ cho các tài sản khác có tính thanh khoản cao hơn, bán những khoản nợ có vấn đề sẽ giảm được RRTD và rủi ro lãi suất. Ngân hàng sẽ thu hồi nợ nhanh và giảm được những khoản chi phí liên quan khi RRTD xảy ra hoặc làm thủ tục bán nợ cho VAMC.
- Chuyển giao rủi ro cho ngân sách nhà nước: Đối với những khoản vay theo chỉ định của Chính phủ.
Mục đích cuối cùng của kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN là hạn chế thiệt hại do rủi ro gây ra bằng cách duy trì RRTD trong phạm vi giới hạn có thể chấp nhận được. Do đó, để đánh giá kết quả kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN, ngân hàng thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Cơ cấu các nhóm nợ
Trong cơ cấu dư nợ, tỷ trọng nợ nhóm 1 càng cao, các nhóm nợ còn lại càng thấp cho thấy chất lượng tín dụng tốt; nợ xấu thấp, rủi ro càng thấp và ngược lại.
Sự thay đổi cơ cấu dư nợ của cá nhân SXNN theo khả năng thu được thể hiện qua mức độ biến động tỷ trọng các nhóm nợ theo thời giao. Thông qua chỉ tiêu này, chúng ta có thể có cái nhìn tổng quát về tỷ trọng của mỗi nhóm nợ cho vay cá nhân SXNN biến động như thế nào qua từng năm, từ đó có thể đánh giá được những kết quả của hoạt động kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN của NHTM. Nếu tỷ trọng các khoản nợ nhóm 2, nợ xấu cho vay cá nhân SXNN giảm đi theo từng năm thể hiện công tác kiểm soát RRTD đối với cho vay cá nhân SXNN của NHTM đã được chú trọng, mang lại hiệu quả tích cực và ngược lại.
Việc phân loại nợ được thực hiện theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN
- Tỷ lệ từ nhóm 2 – nhóm 5
Là các nhóm nợ phát sinh quá hạn trong nhóm 2 đên nhóm 5 theo phân loại nợ của ngân hàng theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 22/01/2013 của thống đốc NHN về dự phòng rủi ro tín dụng.
- Tỷ lệ nợ xấu
Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu bao gồm các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5.
Tỷ lệ nợ xấu trong cho vay cá nhân SX NN trên tổng dư nợ cá nhân SXNN càng cao thì chất lượng tín dụng trong cho vay cá nhân SXNN càng kém và ngược lại. Mức giảm tỷ lệ nợ xấu kỳ này so với kỳ trước cho thấy hiệu quả công tác quản lý nợ xấu.
Trong đó:
| Tỷ lệ nợ xấu | = | Dư nợ xấu | x | 100% |
| Tổng dư nợ |
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ RRTD của ngân hàng. Cho biết cứ 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc không thu hồi được đúng hạn tại thời điểm xác định. Tỷ lệ nợ xấu nói chung càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Nếu như tỷ lệ này lớn hơn 5% theo quy định của NHNN thì ngân hàng bị coi là có chất lượng tín dụng yếu kém bị kiểm soát đặc biệt, còn nếu nhỏ hơn 3% thì ngân hàng có chất lượng tín dụng tốt, các khoản cho vay an toàn và công tác kiểm soát RRTD được thực hiện tốt. Tuy nhiên các con số được sử dụng để tính chỉ số này được đo tại một thời điểm nhất định nên chưa phản ánh hoàn toàn chính xác chất lượng tín dụng của ngân hàng.
- Tỷ lệ dự phòng xử lý rủi ro cụ thể
Dự phòng RRTD là khoản tiền đã trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra. Số tiền trích lập và tỷ lệ trích lập DPRR phản ánh được nguồn DPRR của ngân hàng. DPRR cụ thể càng cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải khá cao.
Các nhóm nợ của cá nhân SXNN có những tỷ lệ trích lập DPRR khác nhau, các khoản nợ của cá nhân SXNN nếu bị phân loại ở các nhóm nợ xấu càng cao thì tỷ lệ trích lập dự phòng càng cao và do đó chi phí để NHTM bỏ ra trích lập càng nhiều hơn. Chính vì vậy, đây cũng là một trong những chỉ tiêu cho thấy các khoản chi phí mà NHTM bỏ ra nhằm mục đích tạo lập dự phòng cho những tổn thất trong tương lai mà NHTM có thể gặp phải nếu xảy ra RRTD. Nếu mức tỷ lệ dự phòng giảm đi nghĩa là NHTM đã giảm bớt được các khoản chi phí, tăng thêm lợi nhuận, đây là kết quả có được từ việc áp dụng các chính sách kiểm soát RRTD đối với cá nhân SXNN đã đem lại hiệu quả và ngược lại.
Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 22/01/2013 của Thống đốc NHNN Việt Nam quy định về phân loại tài sản có. Mức trích, phương pháp trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tố chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Theo đó, nhóm nợ và tỷ lệ trích DPRR cụ thể, gồm có:
– Nợ đủ tiêu chuẩn (nhóm 1): tỷ lệ trích lập dự phòng 0%
– Nợ cần chú ý (nhóm 2): tỷ lệ trích lập dự phòng 5%
– Nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3): tỷ lệ trích lập dự phòng 20%
– Nợ nghi ngờ (nhóm 4): tỷ lệ trích lập dự phòng 50%
– Nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5): tỷ lệ trích lập dự phòng 100%
Bên cạnh đó, tất cả các NHTM phải thực hiện trích lập dự phòng chung với tỷ lệ là: 0.75%/giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
Số tiền dự phòng cụ thể phải trích đối với từng khách hàng được tính theo công thức sau:

Trong đó:
– R: Là tổng số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng.
– : Là tổng số tiền dự phòng cụ thể của từng khách hàng từ số dư nợ thứ 1 đến thứ n.

– Ri: là số tiền dự phòng cụ thể phải trích của từng khách hàng đối với số dư nợ gốc của khoản nợ thứ i. Ri được xác định theo công thức:
Ri = (Ai – Ci) x r
Trong đó:
– Ai: Số dư nợ gốc thứ i;
– Ci: Giá trị khấu trừ của tài sản bảo đảm, tài sản cho thuê tài chính của khoản nợ thứ i.
– r: tỷ lệ trích lập dự phòng cụ thể theo nhóm theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp Ci > Ai thì Ri được tính bằng 0.
Như vậy, số tiền dự phòng cụ thể không chỉ phụ thuộc vào giá trị khoản nợ và tỷ lệ trích lập dự phòng, mà còn phụ thuộc vào giá trị tài sản bảo đảm. Trong trường hợp xảy ra khoản tín dụng không thể thu hồi được ngân hàng có thể sử dụng quỹ dự phòng rủi ro tín dụng để bù đắp nhằm khắc phục rủi ro tín dụng.
Nếu mức tỷ lệ dự phòng giảm đi có nghĩa là NHTM đã giảm bớt được các khoản chi phí, tăng thêm lợi nhuận, đây là kết quả có được từ việc áp dụng các chính sách kiểm soát RRTD đối với cho vay cá nhân sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả và ngược lại.
Trong đó, tỷ lệ DPRR đã trích lập được tính theo công thức:
| Tỷ lệ DPRR cụ thể đã trích lập | = | DPRR cụ thể đã trích lập | x | 100% |
| Tổng dư nợ |
NHTM thực hiện trích lập và duy trì dự phòng chung bằng 0,75% tổng giá trị các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 qui định tại Thông tư 02/2013/TT-NHNN để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của ngân hàng.
- Tỷ lệ nợ xoá ròng
Nợ xóa là khoản nợ được xếp vào nợ xấu trong một thời gian theo quy định và khách hàng không còn khả năng chi trả nên ngân hàng phải xóa nợ bằng cách sử dụng nguồn DPRR đã trích để thực hiện xóa nợ. Tỷ lệ xóa nợ ròng càng cao cho thấy công tác kiểm soát rủi ro của ngân hàng càng hạn chế.
Xóa nợ ròng = Dư nợ xóa – Số tiền đã thu hồi
Tỷ lệ xóa nợ ròng trong kỳ = (Nợ xóa ròng trong kỳ/Tổng dư nợ )x 100%
Từ việc tính toán các chỉ tiêu cụ thể nói trên, so sánh với mức kế hoạch đề ra để đánh giá kết quả kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN.
f. Tỷ lệ nợ xấu phát sinh trong kỳ
Tỷ lệ nợ xấu phát sinh trong kỳ = Nợ xấu phát sinh trong kỳ/ Tổng dư nợ *100%
Tỷ lệ nợ xấu phát sinh trong kỳ cho biết trong 100 đồng tổng dư nợ thì trong kỳ đó phát sinh thêm bao nhiêu đồng nợ xấu. Từ đó biết được tình hình nợ xấu phát sinh trong kỳ như thế nào, nguyên nhân do đâu. Qua đó, chúng ta có thể đánh giá được công tác kiểm soát rủi ro tín dụng của chi nhánh.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ KIỂM SOÁT RRTD TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA NHTM
Để tối thiểu hóa các tổn thất do rủi ro gây ra, ngân hàng không ngừng nâng cao các biện pháp kiểm soát RRTD trong cho vay bằng nhiều pháp như ngăn ngừa, né tránh, giảm thiểu rủi ro…Các biện pháp này cũng chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố sau:
– Nhân tố cơ chế chính sách của NHTM
Chính sách tín dụng nói chung và chính sách cho vay cá nhân SX NN nói riêng: Chính sách tín dụng là tổng thể các quy định của NHTM về hoạt động tín dụng nhằm đưa ra định hướng và hướng dẫn hoạt động của cán bộ NHTM trong việc cấp tín dụng cho khách hàng thông qua các nội dung cụ thể về nguyên tắc cho vay, mức cho vay, thời hạn cho vay , lãi suất cho vay, mức bảo đảm cho mỗi khoản tín dụng. Quy định các tiêu chuẩn rõ ràng , kiểm soát chặt chẽ trong, trước và sau khi cho vay. Bên cạnh đó, NHTM căn cứ vào chính sách tín dụng đã định, đưa ra chính sách cho vay đối với cá nhân SX NN tuỳ theo đặc điểm của từng loại hình cá nhân SX NN sẽ có những chính sách phù hợp. Tóm lại, nhằm mục tiêu phát triển bền vững, hiệu quả, nhất thiết phải xây dựng chính sách tín dụng và chính sách cho vay cá nhân SX NN hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội cũng như những điều kiện của bản thân NHTM.
Việc xây dựng các cơ chế chính sách trong cho vay càng chặt chẽ càng giúp ngân hàng giảm thiểu, kiểm soát được các rủi ro có thể phát sinh, tuy nhiên nếu các cơ chế, chính sách không chặt chẽ, không cụ thể rõ ràng sẽ dẫn đễn việc lợi dụng cơ chế để cho vay không đúng tiêu chuẩn , đối tượng, quy trình không rõ ràng, chặt chẽ sẽ dẫn đến chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm…
Quy mô cho vay cá nhân SX NN: Ngân hàng cần phải xây dựng quy mô phù hợp với từng loại hình SX NN, căn cứ vào tình hình sản xuất SX NN có thể nhận biết được quy mô thông qua việc phân tích, đánh giá các tiêu chí như số lượng lao động, loại cây trồng …Việc cho vay theo từng loại hình SXNN giúp ngân hàng xác định chính xác hơn nhu cầu vốn vay, thời gian thu hồi vốn trong hoạt động SX, kinh doanh, tránh được tình trạng kỳ hạn trả nợ không phù hợp với vòng quay vốn của khách hàng dẫn đến khách hàng không thể trả nợ đúng hạn và ngược lại việc gộp chung tất cả loại hình SXNN vào một loại hình cho vay rất dễ dẫn đến việc xác định nhu cầu vốn vay, định kỳ hạn trả nợ không đúng dẫn đến khách hàng không trả được nợ đúng hạn.
Năng lực quản trị điều hành: Năng lực quản trị, điều hành rất quan trọng đối với hoạt động ngân hàng, nếu ngân hàng có bộ máy quản lý điều hành tốt, đưa ra được những định hướng, chính sách và các chiến lược phù hợp đối với cho vay khách hàng cá nhân SXNN sẽ giúp cho cá nhân SXNN phát triển sản xuất kinh doanh bền vững từ đó ngân hàng cũng sẽ phát triển bền vững và ngược lại.
– Nguồn thông tin tín dụng đối với khách hàng vay là cá nhân SXNN: Tổ chức khai thác nguồn thông tin tín dụng không tốt, không kịp thời và chính xác để CBTD có thể đánh giá, phân tích chính xác trước khi cho vay thì hậu quả của nó sẽ dẫn đến RRTD, bên cạnh đó do thiếu thông tin nên dễ dẫn đến việc định giá TSBĐ không chính xác hoặc phương pháp định giá không phù hợp.
Các nhân tố về con người: Trong mọi vấn đề nhân tố con người bao giờ cũng là nhân tố quan trọng có tính quyết định. Do vậy, công tác kiểm soát rủi ro tín dụng rất cần thiết phải đặt nhân tố con người bao gồm: cán bộ ngân hàng và người đi vay lên hàng đầu. Muốn vậy việc tuyển dụng cán bộ vào làm việc tại ngân hàng đòi hỏi công khai và minh bạch. Cán bộ được tuyển dụng phải đảm bảo có trình độ và đạo đức. Với một đội ngũ CBTD có năng lực, phẩm chất tốt thì khả năng kiểm soát RRTD của NHTM cũng được nâng cao. Ngược lai, nếu CBTD yếu chuyên môn hoặc do suy thoái đạo đức cố tình làm trái quy định thì gây ra rất nhiều hậu quả và rủi ro cho ngân hàng.
Nhân tố hạ tầng, công nghệ : Hiện nay các ngân hàng đều đã trang bị hệ thống thông tin hiện đại để xây dựng cấc mối quan hệ trực tiếp với khách hàng, online trực tuyến với các giao dịch. Trong xu thế toàn cầu hoá và sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng càng trở nên khốc liệt, chúng ta càng thấy vai trò của công nghệ đối với hoạt động kinh doanh cũng như năng lực cạnh tranh của từng ngân hàng.Công nghệ sẽ thể hiện rất rõ giúp ngân hàng trong lĩnh vực quản trị, trong việc mở rộng sản phẩm dịch vụ, thông qua đó, ngày càng đáp ứng được cá nhu cầu khắt khe của hệ thống ngân hàng. Ngày nay, với sự xuất hiện ngày càng nhiều các NHTM dẫn đến mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên mở rộng cơ sở vật chất, cải tiến công nghệ, nếu không ngân hàng sẽ khó mở rộng thị phần, khả năng thu hút khách hàng sẽ bị hạn chế. Ngoài ra, công nghệ thông tin hiện đại sẽ góp phần rất nhiều trong việc quản lý hồ sơ khách hàng, cập nhật thông tin, cho phép ngân hàng theo dõi, tìm hiểu thông tin về khách hàng dễ dàng, thuận lợi hơn. Thông qua đó, ngân hàng có thể kiểm soát rủi ro một cách hiệu quả, tiết kiệm hơn.
- Nhân tố liên quan đến khách hàng là cá nhân SXNN:
- Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ: Đa số các khách hàng cá nhân SXNN khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án sản xuất cụ thể, khả thi. Số lượng các khách hàng cá nhân SXNN sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên vẫn có những vụ việc phát sinh để lại hậu quả hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các cá nhân SXNN khác.
- Trình độ quản lý dòng tiền, kiến thức về sản xuất, kinh doanh của cá nhân SXNN còn thiếu: Đặc điểm của cá nhân SXNN là năng lực quản lý dòng tiền, kiến thức về sản xuất, kinh doanh còn hạn chế đặc biệt là các cá nhân SXNN ở vùng sâu vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số nên có nhiều hộ sử dụng vốn vay còn kém hiệu quả, đầu tư vào sản xuất kinh doanh không đạt được hiệu quả dẫn tới doanh thu không đạt được như dự kiến, không có khả năng trả nợ ngân hàng.
- Môi trường kinh tế: Môi trường kinh tế phát triển ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong công tác kiểm soát RRTD. Tuy nhiên có thể thấy, sự cạnh tranh gay gắt giữa các NHTM dẫn đến hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng sẽ tác động đến tính tuân thủ và khách quan của công tác kiểm soát RRTD.
- Môi trường pháp lý: Các quy định của pháp luật không thuận lợi cho việc kiểm soát RRTD của NHTM; hiện có rất nhiều quy định pháp luật chồng chéo gây mâu thuẫn và không hỗ trợ cho các NHTM trong việc thanh lý TSBĐ, thu hồi nợ vay. Ngoài ra, thời gian khiếu kiện, thụ lý vụ án kéo dài không phù hợp gây cản trở rất nghiều đến chất lượng của TSBĐ.
- Môi trường thông tin: Những đòi hỏi về thông tin của các ngân hàng vẫn chưa được đáp ứng một cách đầy đủ, nhánh chóng và kịp thời. Bên cạnh đó các thông tin của cá nhân SXNN cung cấp cho ngân hàng chưa đáng tin cậy.
- Chính sách của nhà nước : Các chính sách của nhà nước thường xuyên thay đổi, văn bản chồng chéo, thiếu hợp lý, không có tính dự báo sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm soát RRTD.
- Sự cạnh tranh của các ngân hàng: Trong một môi trường hoạt động kinh doanh mà có quá nhiều đối thủ cùng cạnh tranh cũng sẽ ảnh hưởng đến công tác kiểm soát RRTD do ngân hàng đôi khi phải nới lỏng các quy định về cho vay như chất lượng TSBBĐ, quy trình cho vay…nhằm lôi kéo khách hàng, mở rộng thị phần. Điều này rất dễ dẫn đến NHTM vẫn cho vay các món kém chất lượng sẽ dẫn đến nguy cơ tổn thất tín dụng trong tương lai.
Từ những nội dung đã trình bày ở chương 1, có thể nói rằng RRTD có tác động rất lớn đối với hoạt động ngân hàng, nó không chỉ gây ra sự biến động lớn trong lợi nhuận mà còn có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng phá sản của ngân hàng và sức mạnh của nền kinh tế. Chấp nhận RRTD như là một phần tất yếu trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, vấn đề cốt lõi là NHTM cần có biện pháp nào để kiểm soát RRTD ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được. Qua đó, NHTM đảm bảo có thể kiểm soát được những tổn thất do RRTD đem lại đồng thời vẫn tạo ra lợi nhuận kinh doanh, đảm bảo tính ổn định, bền vững cho hoạt động của mình. Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu một cách tổng quan những lý luận cơ bản về cá nhân SXNN, RRTD trong cho vay cá nhân SXNN đồng thời đề cập đến vấn đề kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhan SXNN, các chỉ tiêu đánh giá kết quả kiểm soát rủi ro cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này của NHTM. Trên cơ sở lý thuyết đó, chương 2 sẽ đi vào phân tích và đánh giá thực trạng kiểm soát RRTD trong cho vay cá nhân SXNN tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam chi nhánh bắc Đăk Lăk, những thành công và hạn chế nhằm tìm ra các giải pháp cho vấn đề đó.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC ĐĂK LĂK
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC ĐĂK LĂK
2.2. BỐI CẢNH KINH DOANH NGÂN HÀNG GIAI ĐOẠN 2016-2018
2.3.THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT RỦI RO TÍN DỤNG TRONG CHO VAY CÁ NHÂN SẢN NÔNG NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM CHI NHÁNH BẮC ĐẮK LẮK.
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\LE THI THANH THUY


