Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn

Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong thời gian qua, hoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốchộidựatrên cơsởquyđịnhcủaHiến pháp năm 1992, Luậttổchức Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân; mới đây Quốc hội đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới về hoạt động giám sát như: Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hộiđồng nhân dân năm 2015,… và nhiều văn bản pháp luật chuyên ngành khác nhau trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Các văn bản quy phạm pháp luật này được ban hành nhằm thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quáđộ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 2013 và các nghị quyết của Đảng về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước trong thời kỳ đổi mới và trên thực tế đã phát huy tác dụng, khẳng định vị trí, vai trò của giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệuquảhoạtđộngcủabộmáy nhànước,tinh thần, trách nhiệmcủacánbộcông chức, viên chức khi thi hành nhiệmvụ,côngvụ.Trên thực tế việc thực hiện pháp luật về giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội đã đạtđược nhiều thành tựu. Qua giám sát và kết luận giám sát đã đưa ra nhiều kiến nghị đóng góp vào hoạt động củacác cơ quan lập pháp, hành pháp, tưpháp; góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế, chính sách vàquản lý điều hành kinh tế – xã hội, nâng cao hiệu lực, hiệu quảquản lý nhà nước, được dư luận và nhân dân đồngtình, ủng hộ,quan tâm, đánh giá cao, qua đó góp phần nâng cao vai trò, uy tín, chất lượng và hiệu quả hoạt động của các cơ quan Nhà nước, đặc biệt là hoạt động giám sát của Quốc hội.

Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành pháp luật vềgiám sát và kết luận giám sát của Quốc hội cũng bộc lộ những mặt hạn chế, bất cập, cụ thể như:

Một là, hệ thống pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội cònđược quy định trong nhiều văn bản khác nhau; một số quyđịnhvề nội dung, hình thức kết luận giám sát còn trùng lặp, chưa rõ ràng, cụ thể; về trình tự, thủ tục chưa có các biện pháp pháp lý hữu hiệu để thực hiện các kết luận giám sát này. Phạm vi giám sát của Quốc hội quá rộng với nhiều chủ thể, nhiều hình thức giám sát, nhưng lại chưa phân định rõ về thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi chủ thể với từng đối tượng chịu sự giám sát, từng hình thức kết luận giám sát, cũng như sự phối hợp giữa các chủ thể giám sát dẫn tới sự chồng chéo trong thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội; thậm chí một số hình thức giám sát chưa bao giờ được thực hiện trên thực

tế, hoặc thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao.

1

Hai là, nhiều quyđịnh pháp luật về hình thức kết luận giám sát và giá trịpháp lý kết luận giám sát của Quốc hội chưa được thực thi hoặc tính khả thi còn thấp, như quy định về việc Quốc hội,Hộiđồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữchức vụdo Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; quy định Quốc hội thành lập Uỷ ban lâm thời để điều tra về mộtvấn đềnhất định để đảm bảo tính khả thi và chính xác của kết luận giám sát; quy định Quốc hội xem xét báo cáo của Uỷban thường vụQuốc hội về tình hình thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; hoạt động giám sát văn bản pháp luật chưa được thực hiện thường xuyên, chưa mang lại hiệu lực, hiệu quả cao; chưa có biện pháp hữu hiệu để theo dõi, kiểm tra việc tiếp thu, giải quyết các kết luận sau giám sát.

Ba là, các điều kiện bảo đảmcho hoạt độnggiám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội như: cơ sở vật chất, trang thiết bị, nguồn nhân lực, bộ

máy giúp việc… chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát; Và giá trị pháp lýcủacác hình thức kết luận giám sát chưa được quy định một cách cụ thể, chi tiết, gây không ít khó khăn trong việc thực hiện các kết luận giám sát, không quy định trách nhiệm pháp lý khi các đối tượng bị giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các kết luận giám sát của Quốc hội.

Hoạt độnggiám sát không chỉ tính đến kết quả có bao nhiêu nội dung được giám sát, bao nhiêu hình thức giámsát được sửdụng mà phải tính đến việc sử dụng các hình thức giám sát đó một cách khoa học và hiệu quả như thế nào, quy trình, thủ

tục giám sát có đảm bảo tính khách quan, chặt chẽ, công khai mà nó còn phải được luật hóa, mà quan trọng hơn cả đó là việc thực hiện các kết luận giám sát đó nhưthếnào? Với vị trí công tác của mình và những lý do nêu trên tôi đã lựa chọn đề tài luậnán của mình là: “Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn” để làm đề tài luận án nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, đồng thời qua đó cũng góp phần giải quyết một vấn đề lớn còn nhiều vướng mắc, khó khăn trong việc tổ chức thực hiện hệ thống pháp luật về giám sát và việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

– Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về kếtluận giám sát của QuốchộiViệt Nam. Trên cơsởđó,Luận án đưa ra những quan điểm, định hướng, kiến nghị và một số giải pháp nhằm tăng cường việc thực hiện, thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thời gian tới.

– Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án:

2

Một là, làm rõ những vấn đề lý luận vềkếtluận giám sát của Quốc hội. Quađó, giải quyết một số nội dung: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, nội dung hình thức, các yếu tố, điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;

Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng việc ban hành, tổ chức thực thi và các quy định của pháp luật về kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;

Ba là, phân tích và làm rõ những kết quả làm được, những tồn tại hạn chế vànguyên nhân của tồn tại hạn chế trong quá trình tổ chức thực thi kết luận giám sát của Quốc hội;

Bốnlà, phân tích, làm rõ những quan điểm, định hướng và đề xuất một sốgiải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả và tínhkhảthi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận ánĐối tượng nghiên cứu

– Những vấn đề lý luận và thực tiễn về kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam sẽ được làm rõ trong nghiên cứu này.

– Các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam về kết luận giám sát vàcác điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu

Để đáp ứng mục đích chính của đề tài là nghiên cứu về nhữngvấn đềlý luận và thực tiễn về kết luận giám sát củaQuốc hội Việt Nam, Luận án sẽ chủ yếu tập trung phân tích, tìm hiểu và giải thích những nhận thức hiện tại về kết luận giám sát, các điều kiện đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong bối cảnh nước ta hiện nay.

Luận án tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam (thông qua các chủ thể: Quốc hội, Ủy ban thường vụQuốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các đoàn Đại biểu Quốc hội, các vị Đại biểu Quốc hội); thời gian: nhiệm kỳ Quốc hội khóa XII, XIII đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Phương pháp luận:

Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủnghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luậtvề Hiến pháp và luật hành chính; đườnglối, chủ trươngcủaĐảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước làm nền tảng phương pháp luận đểluận giải các vấn đề liên quan đến kết luận giám sát thuộc đề tài luận án. Ngoài ra, luận án còn sử dụng một số lý thuyết độc lập như lý luận về Nhà nước pháp quyền;

quyền con người; lý thuyết quản trị Nhà nước, quản trị quốc gia; tâm lý học; …

3

Phương pháp nghiên cứu:

Luận ánsửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp kếthừa; phương phân tích quy phạm; phương pháp hệ thống; phương pháp thống kê; phương pháp tổng hợp; phương pháp phân tích; phương pháp so sánh; phương pháp mô tả; phương pháp giải thích; phương pháp dự báo; phương pháp lịch sử; phương pháp quy nạp, diễn dịch; phương pháp nghiêncứu hồsơ, phương pháp nghiên cứu

đa ngành, liên ngành; …Trong quá trình hoàn thành luận án, các phương pháp này sẽ được kết hợp áp dụng cho phù hợp.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống vềlý luận và thực tiễn các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay. Luận án có những đóng góp mới về khoa học như sau:

Một là, xây dựng được Khái niệm, đặc điểm, vai trò, các điều kiệnđảmbảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;

Hai là, làm rõ cơ sở pháp lý, giá trị pháp lý của kết luận giám sát Quốc hội Việt Nam;

Ba là, xây dựng được một cách khoa học và tổng thể các yếu tố và các điều kiện bảo đảmthực thi kết luận giám sát củaQuốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Bốn là, Phân tích và làm rõ thực trạng quy định của pháp luật và thực trạng việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội; Kết quả đạt được, tồn tại hạn chế, nguyên nhân của tồn tại hạn chế trong việc thực tổ chức thực thi các kết luận giám sát này;

Năm là, làm rõ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát và kết luận giám sát; Qua đó đưa ra nhóm các giải pháp nhằm nâng cao việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

a. Ý nghĩa lý luận của luận án

– Làm rõ vấn đề lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò kết luận giám sát của Quốc hội; làm rõ phương thức, hình thức và các điều kiện đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thể chế chính trị một Đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền ở nước ta.

– Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về chức năng giám sát; pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, xác định rõ về nội dung, đối tượng, hình thức thực hiện và giá trị pháp lý kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

b. Ý nghĩa thực tiễn của luận án

4

– Nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật và hoạt động giám sát của Nghịviện một số nước trên thế giới và Việt Nam để rút ra kinh nghiệm và có thể là bài học cho Quốc hội Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luậtvềgiám sát, hoạtđộnggiám sát và thực hiện cáckếtluận giám sátcủaQuốchộiViệt Namtừđó,đềxuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát và việc thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay; đề xuất, sửa đổi, bổ sung đểhoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát; đề xuất thay đổi, cải cách các điều kiện bảo đảm thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, cụ thể:

– Xây dựng đường lối, chính sách:Đề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc triển khai thi hành văn bản luật có liên quan, ví dụ như: LuậtTổchức Quốc hội 2015, Luật tổ chức hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015…; là cơ sở khoa học góp phần phục vụ công tác xây dựng pháp luật về giám sát;đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật giám sát ở nước ta.

– Với các nhóm giải pháp cụ thể được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu lý luận vàphân tích thực trạng pháp luật về giám sát và việc tổ chức, thực hiện pháp luật giám sát và kếtluận giám sát, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà xây dựng pháp luật, nhà quản lý giúp tăng cường hiệu lực, hiệuquảcông táctổ chức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

– Luận án hoàn thành sẽ là cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn giúp cho các cơquan ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội, Chính phủ) sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn, mang lại hiệu quả, hiệu lực cao trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, nâng cao địa vị pháp lý và quyền lực thực sự của Quốc hội Việt Nam.

7. Kết cấu của luận án

Kết cấu của luận án: Ngoài phầnMởđầu thì luận án bao gồm 4 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC

HỘIVIỆT NAM

Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ VIỆC THỰC HIỆN KẾT

LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

Chương 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ THI HÀNH CÁC KẾTLUẬN GIÁM SÁTCỦAQUỐC HỘI

Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn
Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam: lý luận và thực tiễn

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VỀ GIÁM SÁT VÀ KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI

1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.1. Tình hình nghiên cứu nhữngvấn đề lýluận về kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

1.1.2. Tình hình nghiên cứu nhữngvấnđềthực tiễn hoạt độngvà pháp luật vềkết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

1.1.3. Tình hình nghiên cứu những vấn đề về giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

1.3. Đánh giá chungvềtình hình,kếtquảnghiêncứuliên quanđến luận án và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

1.3.1. Đánh giá chung về tình hình, kết quả các công trình nghiên cứu liên quan đến luận án

Các công trình nêu trên ở những mức độ khác nhau đã trình bày khái quát vềtổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, đặc biệt là các hoạt động giám sát

của Quốc hội Việt Nam nói riêng, hoạt động giám sát của một số Nghị viện trên thế giới. Luận giải được vai trò, vị trí hoạt động giám sát, bước đầu đã nghiên cứu đến giá trị pháp lý kết luận giám sátcủa Quốc hội Việt Nam trong việc thực hiện quyền

lực Nhà nước của đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Các công trình nghiên cứu đã bước đầu đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam,nêu những khái niệm và các yếu tốtác động đến hiêụ quả hoạt động giám sát của Quốc hội nước ta. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đã xác định hoạt động giám sát là yêu cầu tất yếu của quá trình thực thi dân chủ, đảm bảo quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, trong đó Quốc hội Việt Nam giữ vai trò quan trọng hàng đầu trong giám sát quyền lực nhà nước.

Nhìn chung, có thể thấy rằng: đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan khá chặt chẽ đến nội dung đề tài mà Luận án đặt ra. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa đi sâu nghiên cứu một cách tổng thể và có sự so sánh với kinh nghiệm của nước ngoài một cách hệ thống để từ đó có cách nhìn nhận đầy đủ về pháp luật giám sát, giá trị pháp lý và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong cơ chế quyền lực nhà nước, trong mối quan hệ với thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước; chưa có sự phân tích đầy đủ để làm rõ vai trò, phạm vi quyền giám sát tối cao và hệ thống pháp luật về kết luận giám sát của Quốc hội. Do giới hạn bởi phạm vi và định hướng nội dung nghiên cứu nên vấn đề mà các tác giả nêu lên mới chỉ đềcập đến mộtvài khía cạnh liên quanđếnlý luận, thực tiễn hoạt động giám sát, pháp luật về giám sát của Quốc hội và một phần rất nhỏ về việc thực hiện các kết luận giám sát, các giải pháp cũng mới chỉ tập trung hoặc khía cạnh lý luận hoặc ở cơ chế pháp lý hoặc ở kinh nghiệm thực tiễn, chưa đi sâu vào các giải pháp căn cơ, hiệu quả để giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn trong việc thực hiện và xác định giá trị pháp lý các kết luận giám sát của Quốc hội.

Đồng thời, cũng chưa có công trình nghiên cứu nào đề xuất các tiêu chícụthể để xác định hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát và thực hiện các kết luận

22

giám sát của Quốc hội để từ đó đề xuất những định hướng và giải pháp tổng thể cả về lý luận, nhận thức, pháp lý,điềukiệnhỗtrợ đảm bảocho hiệu lực và hiệu quảhoạt động giám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội.

1.3. . Những nội ung uận án c n tập t ung nghiên cứu tiếp

Tuy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về tổ chức và hoạt động Quốc hội Việt Nam, hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào luận chứngmộtcách sâusắcvềpháp luậtkếtluận giám sátcủaQuốc hội, việc thực hiện và giá trị pháp lý của các kết luận giám sát do Quốc hội ban hành; việc kết hợp với việc nghiên cứu, so sánh hoạt động giám sát của Nghị viện các nước trên thế giới vàViệt Nam; kinh nghiệm thực hiện các kết luận giám sát và các yếu tố bảo đảm thực thi kết luận giám sát của các Nghị viện trên thế giới là bài học quý báu cho Việt Nam.

Những điều kiện, yếu tố đảm bảo thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội, nhất là vấn đề pháp lý, hành lang pháp luật và hiệu lực, hiệu quả thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội; hậu quả của việc không thực thi các kết luận giám sát của Quốc hộichưa được các tácgiảbàn sâu. Tuy nhiên, chưađược hệthống hóa thànhcác văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh.

Vấn đềthực hiện chức năng giám sát quyền lực nhà nướccủaQuốchội; hệthống pháp luật giám sát và giá trị pháp lý của các kết luận giám sát chưa được các tác giả tập trung phân tích, trình bày một cách thấu đáo, toàn diện và có hệ thống. Vì vậy, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu giải quyết các vấn đề trên dựa trên các cơ sởlý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong Luận án là:

a. Về mặt lý luận :

– Làm rõ vấn đề lý luận: Khái niệm, đặc điểm, vai trò, chủ thể ban hành vàhình thức kết luận giám sát và phương thức, hình thức và giá trị pháp lý các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thể chế chính trị một Đảng duy nhất lãnh đạo và cầmquyền ở nước ta; nghiên cứu, phân tích quá trình hình thành và phát triển của pháp luật và hoạt động kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong lịch sử.

– Phân tích làm rõ cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về chức năng giám sát; pháp luật về giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, xác định rõ về nội dung, đối tượng, hình thức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội. Cần phân tích, nghiên cứu làm rõ các điều kiện đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

23

b. Về mặt thực tiễn:

– Nghiên cứu so sánh quy định của pháp luật và hoạt động giám sát và thực thi các kết luận giám sát của Nghị viện một số nước trên thế giới, rút ra bài học cho Quốc hội Việt Nam.

– Tiếpcậntrên các phương diện, gócđộ,bám sát tinh thần vànộidung Hiến pháp năm 2013, quy định pháp lý về tổ chức, hoạt động giám sát của Quốc hội, quanđiểm, đường lối của Đảng và các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý trong việc thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam.

– Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luậtvềgiám sát, hoạtđộnggiám sát và thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam;

c. Về mặt ứng ụng của uận án:

Đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quảhoạt độnggiám sát của Quốc hội Việt Nam hiện nay; đề xuất, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện các quy định của pháp luật về giám sát; đề xuất các yếutố bảo đảm thi hành các kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam, cụ thể:

– Xây dựng đường lối, chính sách:Đề tài xác lập cơ sở khoa học cho việc triển khai thi hành văn bản luật có liên quan, ví dụ như: LuậtTổchức Quốc hội 2015, Luật tổ chức hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2015…; là cơ sở khoa học góp phần phục vụ công tác xây dựng chính sách pháp luật vềgiám sát; đồng thời hoàn thiện cơ sở pháp lý của việc thực hiện pháp luật giám sát và kết luận giám sát của Quốc hội.

– Với các nhóm giải pháp cụ thể được đưa ra trên cơ sở nghiên cứu lý luận vàphân tích thực trạng pháp luật về giám sát và việc tổ chức, thực hiện pháp luật giám sát và kếtluận giám sát, luận án sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà xây dựng pháp luật, nhà quản lý giúp tăng cường hiệu lực, hiệuquảcông táctổ chức thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong điều kiện xây dựng nhànước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

– Luận án hoàn thành sẽ là cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn giúp cho các cơquan ban hành văn bản quy phạm pháp luật (Quốc hội, Chính phủ) sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật phù hợp với thực tiễn, mang lại hiệu quả, hiệu lực cao trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan Nhà nước, nâng cao địa vị pháp lý và quyền lực thực sự của Quốc hội Việt Nam.

24

1.4. Câu hỏi nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 1.4.1 Giả thuyết nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về kết luận giám sát của Quốc hội dưới góc độ pháp lý, các giả thuyết khoa học cần đặt ra như sau:

Bảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốchộitheo Hiến pháp, pháp luật Việt Nam là vấn đề được Đảngvà Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Việc ghi nhận, bảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốc hộiđã được Hiến phápvà các văn bản pháp luật khác ghi nhận. Tuy vậy, những vấn đề lý luận về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hộichưa đượcnghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện nên việc thể chế hóa các nội dung này trong hệ thống pháp luật nước ta chưa đầy đủ và còn nhiều hạn chế. Hiện nay các quy định pháp luật về kết luận giám sát, đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội và việc bảo đảm thực hiện trên thực tế hiệu quả chưa cao, còn nhiều bất cập, vướng mắc, chưa tạo điều kiện thuận lợi để chủ thể giám sát, đối tượng giám sát thực hiện đúng quyền, trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội. Việc tăngcườngnâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi kết luận giám sát của Quốc hộiđang đặt ra cấp bách, là một trong nhữngyếu tố quyết định đến xâydựng nhànước pháp quyền, của dân, do dân, vì dân, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy an ninh chính trị – xã hội. Do vậy, cần có hệ thống các giải pháp đồng bộ, đặc biệt làviệc hoàn thiện pháp luật để tăng cường bảo đảm hiệu lực, hiệu quả việc thực thi kết luận giám sát của Quốc hội.

1.4. Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, những vấn đề lý luận nào về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sátcủaQuốchộitheo pháp luật Việt Nam cần phải được phân tích vàgiải quyết để tạo lập nền tảng nhận thức về quyền lực tối cao của Quốc hội Việt Nam? Cơ sở lý luận cho việc đánh giá thực trạng về kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội theo pháp luật Việt Nam hiện nay là gì?

Thứ hai, thực trạng quyđịnh của pháp luật và thực trạng việc tổ chức thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hộitheo pháp luật Việt Nam hiện nay đang diễn ra như thế nào? Việc tổ chức thực thi kết luận giám sát và cácyếu tố,điềukiệnđảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội theo pháp luật có ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân nào?

Thứ ba, những quan điểm, giải pháp nàocầnđề xuất đểnâng cao hiệu lực, hiệu quả kết luận giám sát và đảm bảo thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội

25

theo pháp luật Việt Nam tốt hơn hiện nay? giải pháp cụ thể hoàn thiện pháp luật vềkết luận giám sát của Quốc hội là gì?

Tiểu kết chương 1

Qua khảo sát có thể nhận thấy các nghiên cứu về Quốc hội nước ta từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào các chức năng được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp mà ít đề cập đến kết luận giám sát của Quốc hội. Các công trình nghiên cứu vềkết luận giám sát của Quốc hội ở Việt Nam chủ yếu mới là các bài viết nghiên cứu ngắn, đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành hoặc tại một số cuộc hội thảo khoa học mà chưa có những công trình nghiên cứu toàn diện, sâu sắc về nội dung này. Một sốbài viết đã tập trung làm rõ những vấn đề lí luận về giám sát của Quốc hội. Tuy nhiên, xung quanh hoạt động giám sát của Quốc hội còn có khá nhiều tranh luận. Như vậy, có thể thấy rằng trong các nghiên cứu đã có hiện nay, xung quanh việc nhận thức về kết luận giám sát của Quốc hội còn có những vấn đề lí luận chưa được giải quyết. Qua nghiên cứu Chương 1, tác giả đãtìm hiểu tình hình nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng, giải phápvềkết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam trong thời gian vừa qua qua một số tác phầm nổi tiếng có liên quan. Tác giảcũng bướcđầuđánh giá khách quanvềnhững kếtquảnghiêncứucủa các công trình nghiên cứu đó. Qua đó, tác giả làm rõnhững vấn đềgì đã nghiên cứu? Những vấn đề gì mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ.

Từviệc khảo sát các nghiên cứu hiện nay có liên quan đến đề tài luận án, nhiệm vụđặt ra đốivới Luận án là phải làm rõ khái niệm về kết luận giám sát của Quốc hộitrên cơ sởnghiên cứu, làm rõnềntảng lý luận về quyền lực Nhà nước; xác định yêu cầu của việc bảo đảmthực thi kếtluận giám sát của Quốc hội trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa; xác định các yếu tố, điều kiệncụ thể đểbảo đảm thực thi kết luận giám sát của Quốc hội; đánh giá một cách tổng thể thực trạng của việc tổ chức thực thi kết luận giám sát của Quốc hội trong giai đoạn hiện nayđể qua đó hình thành nên các kiến nghị, giải phápcụthểnhằm tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thikếtluận giám sát của Quốc hội đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

26

CHƯƠNG 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ

KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM

2.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kết luận giám sát của Quốc hội

.1.1. Khái niệm giám sát và Kết luận giám sát của Quốc hội

Theo Từđiển Tiếng Việt, 2003, NXB Đà Nẵng do Hoàng Phê chủ biên thì“Giám sát là theo dõi và kiểm tra có thực hiện đúng những điều quy định không”.Đại Từđiển Tiếng Việt, 2009, NXB Giáo dục Việt Nam do Nguyễn NhưÝchủbiên thì “Giám sát là theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Theo Từ điển Luật họccủa Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, NXB Tư pháp, thì giám sát là: Sựtheo dõi, quan sát mang tính chủ độngthường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tíchcực để bắt buộcvà hướng các hoạtđộngđó đi đúng quỹ đạo,quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từtrước đảm bảo cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh. Về bản chất quyền lực Nhà nước thìgiám sát là việc Quốc hội, Hội đồng nhân dân thu thập thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan và xem xét, đánh giá thông tin thu thập được. Việc xem xét, đánh giá này là cơ sở để Quốc hội, Hội đồng nhân dân có thể biểu dương hoặc phê phán các chủ thể có liên quan và trong những trường hợp nhất định, bày tỏsựtín nhiệm của mình đối với các chủ thể đó. Như vậy, khái niệm giám sát bao hàm những nội dung sau đây:

– Giám sát là theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đó đúng hay sai so với những điều đã quy định;

– Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định (ai giám sát) và gắn với đối tượng cụ thể (giám sát ai và giám sát cái gì);

– Giám sát được tiến hành trên cơ sở những quy định cụ thể;

– Giám sát là hoạt động có mục đích của một chủ thể nhấtđịnh.

Trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, giám sát được hiểu là hoạtđộng củacác cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp) thực hiện việc theo dõi, xem xét hoạtđộng của những cơ quan, cá nhân do cơ quan dân cửbầu, thành lập hoặc phê chuẩn việc bổ nhiệm nhằm đảm bảo các cơ quan này thực hiệnđúng các quy định của Hiến pháp, luật, Nghị quyết của Quốc hội, Pháp lệnh, Nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp và vănbảncủa cơ quan quản lý nhànước cấp trên. Theo cách hiểu này, giám sát

27

của cơ quan dâncửđược phân biệt vớihoạt động thanh tra, kiểm tra của các cơquan quản lý nhà nước bởi một số tiêu chí như: chủ thể thực hiện; phạm vi, đối tượng chị sựgiám sát, kiểm tra, thanh tra; nội dung giám sát, thanh tra, kiểm tra và nhất là hiệu lực, hiệu quả, hệ quả giá trị pháp lý của hoạt động giám sát, thanh tra,

kiểm tra … Ngoài ra, theo quy định pháp luật, nhân dân và các cơ quan, tổ chức của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng có chức năng giám sát hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức và bộ máy nhà nước.

Khoản 1 Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội quy định: “Giám sát là việc chủthểgiám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịusựgiám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, pháp luậtvề việc thực hiện nhiệmvụ,quyền hạncủamình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị các cơquan có thẩm quyềnxử lý”[34].

Điều quan trọng nhất trong hoạt động giám sát của Quốc hội đó là kết luận giám sát và việc thực thi các kết luận giám sát này. Kết luận giám sát phản ánh hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát. Ở Việt Nam, theo các quyđịnh hiện hành vềhoạt động giám sát của Quốc hội, là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động củacác đối tượng chịu sựgiám sát trong việc thi hành các quy định nhất định. Như vậy, giám sát được hiểu bao gồmhành vi quan sát (theo dõi, xem xét, cân nhắc) và hành vi phán quyết (đánh giá) đối với hoạt động (hành vi) của đối tượng chịu sựgiám sát. Các biện pháp nhằm tác động vào hành vi của đối tượng bịgiám sát (kiến nghị, yêu cầu, đề nghị chấm dứt hành vi viphạm, đềnghị bỏ phiếu tín nhiệm, bãi nhiệm người giữ chức danh do Quốc hộibầuhoặc phê chuẩn v.v.) sẽdẫn tới hệ quả trách nhiệm của hoạt động giám sát. Hệ quả trách nhiệm, giá trị pháp lý (chủ yếu là hệ quảpháp lý) của hoạtđộnggiám sát tối cao của Quốc hội là sựthểhiện ý chí và thái độ của Quốc hội đối với kết quả giám sát tối cao của Quốc hội. Hệquả pháp lý của hoạt động giám sáttốicao của Quốchộimang tính đặc thù, khác với hệ quảpháp lý của các hoạt động giám sát khác ở chỗ nó được thể hiện dưới hình thức văn bản. Hơn thế nữa, hệ quả pháp lý được thể hiện không chỉ là những kiến nghị mà trong một số trường hợp còn là những biện pháp xử lý trực tiếp như là hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết, pháp lệnh.

Hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội thể hiện dưới hình thức kết luận giám sát. Quốc hội biểu quyết thông qua một kết luận giám sát tại kỳ họp Quốc hội. Thông quakếtluận giám sát, Quốchộithểhiện tháiđộbằng các biện pháp tácđộng đến các đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội. Do đó, nội dung hệ quả pháp lý

28

của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm các biện pháp chế tài phù hợp với Hiến pháp, Luật hoạt động giám sát của QH và HĐND và Luật tổ chức Quốc hội.

Các biện pháp, chế tài thể hiện nội dung hệ quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam bao gồm:

– Nghị quyết của Quốc hội về chất vấn và việc trả lời chất vấn, trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết;

– Nghị quyết Ủyban thường vụ Quốc hộiyêu cầu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành văn bản cụ thể hóa hoặc hướng dẫn thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội;

– Nghị quyết bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòaán nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội.

– Nghị quyếtvềviệcbỏphiếu tín nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệmđốivớiChủtịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy

ban thườngvụQuốc hội,ThủtướngChính phủ, Chánh án Tòa án nhân dântốicao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântốicao; phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ. [34].

Như vậy, có thể hiểu kết luận giám sát của Quốc hội là khâu cuối của hoạtđộng giám sát, thể hiện bằng văn bản ý kiến tổng quát của Quốc hội, UBTVQH, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH được rút ra từ việc theo dõi, xem xét,đánh giá tổ chức vàhoạt động của đối tượngchịu sự giám sát nhằm xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, đề nghị, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

.1. . Đặc điểm Kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

Thứ nhất, kết luận giám sát phản ánh tính thực tế, khách quan giữa pháp luật, Nghị quyết củaQuốchộivớithực tiễn thực hiện tại củacơ quan, đơn vị,địa phương là đối tượng chịu sự giám sát.

Kết luận giám sát là văn bản phản ánh các kết quả đã làm được tại bộ ngành,địa phương, đơn vị là đối tượng chịu sựgiám sát so với các quy định của pháp luật, các văn bản pháp lý, nghị quyết của Quốc hội về các vấn đề thuộc trách nhiệm. Đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng để Quốc hội tiếp tục có các chỉđạo thực hiện trong thời gian tiếp theo, ban hành các chính sách mới. Các kết luận được đưa ra phải đảmbảo tính khách quan, thực tế những gì làmđược, chưa làmđược, những

29

sai phạm, các thành tích, sáng tạo cũng như phản ánh trung thực các hành vi phạm tội, vi phạm pháp luật, các hành vi gây hậu quả về mọi mặt cho đời sống xã hội. Phát hiện và phản ánh những vấn đề được cho là tồn tại tại các đối tượng chịu sựđược giámsát như tác phong làm việc, hệ thống cơ sở hạ tầng, sự đoàn kết nội bộ, công tác phối hợp, hợp tác quốc tế và trong nước có đúng quy định, thẩm quyền hay không. Đồng thời, kết luận giám sát cũng phản ánh những vấn đề khách quan, thực tiễn mới hình thành, phát sinh, các vấn đề đang trở nên phức tạp cần được quan tâm giải quyết, nghiên cứu, hoàn thiện; phản ánh những vấnđề tồntại,sở hở,bất cập trong hệ thống pháp luật hiện hành, các quyết sách của Quốc hội sau quá trình thực hiện trên thực tiễn tại đối tượng chịu sự giám sát.

Thứ hai,kếtluận giám sát luôn được đưa ra gắn liền với một đơn vị, tổ chức, cá nhân cụ thể là đối tượng chịu sự giám sát.

Nhằm tránh tình trạng chung chung, không rõđịa chỉkhi đưa ra các kết luận giám sát, đảmbảo việc xác định rõ trách nhiệm cho cơ quan, tổ chức, cá nhâncụthể, các quyết định về việc giao nhiệm vụ giám sát cho các chủ thể tiến hành giám sát, thành lập các đoàn giám sát, tư cáchđại biểu Quốchội thực hiện việc giám sát luôn xác định các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát cụ thể. Việc xác định rõ cơ quan, tổ chức, đơn vị, vị trí công tác sẽ tiến hành giám sát từQuốc hội sẽ đảm bảo rằng không có “vùng cấm”trong hoạtđộng giám sát,hạnchế tuyệt đối tình trạng né tránh đối tượng giám sát, bao che cho các đơn vị, cơ quan có mối quan hệ riêng tư, người có quyền lực hoặc tránh gây nên tâm lý e ngại, cả nể từ phía chủ thểtiến hành giám sát, các thành viên của Đoàn Giám sát, Đại biểu quốc hội. Bên cạnhđó, việc xácđịnhcụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị, chức danh chịu giám sát sẽ giúp cho Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Đoàn Giám sát, Đại biểu Quốc hội có điều kiện để tập trung thời gian, nguồn lực, trình độ chuyên môn, huy độngsựtham gia của các chuyên gia, người có uy tín, chọn lọc những người đảmbảo sẽ thực hiện công tâm trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát và đưa rađược kết luậngiám sát khách quan, khoa học, phản ánh đúng trọng tâm, bản chất của vấn đề, tình hình thực tế tạicơ quan, tổ chức, đơn vị chịu sự giám sát đó.

Thứ ba, kết luận giám sát thể hiện quyền lực Nhà nước.

Tính quyền lực nhà nước trong kết luận giám sát phản ánh quyền của chủ thể thực hiện hoạt độnggiám sát do Quốchộivới tư cách là cơ quan quyền lựccao nhất, cơ quan đại biểu tối cao, đại diện Nhân dân giao phó. Chủ thể giám sát gắn liền với quy định, nhiệm vụ đó phải tôn trọng, thực hiện nghiêm các quy định của

30

Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, các văn bản luật có liên quan trong suốt quátrình thực hiện hoạt động giám sát, đảmbảo kết luận giám sát do mình đưa ra làđúng luật. Từ những nội dung của kết luận giám sát, đối với các trường hợp phạm tội, vi phạm pháp luật trong công tác quản lý, điều hànhsẽ chịusựxửlý theo các

hình thức như đình chỉcông tác, khiển trách, cảnh cáo, buộc thôi việc,… Đến các hình thức xử lý của pháp luật hình sự như bị truy tố, xét xử, thi hành án hình sựđể nghiêm trị cácđốitượng phạm tội;xửlývềhành chính, dân sự đối với các trường hợp vi phạm gắn với mức độ đã được pháp luật quy định.

Các yêu cầu do cơ quan, cá nhân thực hiện việc giám sát của Quốc hội đưa rađối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân được giám sát là yêu cầu bắt buộc, đòi hỏi các đối tượng giám sát phải thực hiện nghiêm túc. Chủ thể giám sát có thể yêu cầu đối tượng đã có kết luận giám sát phải thực hiện việc báo cáo kết quả thực hiện những yêu cầu trong kết luận giát sát.

Kết luận giám sát cũng chính là văn bản có tính pháp lý để Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các ủybản của Quốc hội, đoàn Đại biểu Quốc hội và ĐBQH, các cơ quan có liên quan sử dụng làm tài liệu mang tính pháp lý để xửlý hậu giám sát, làm cơ sở xây dựng, hoạch định chính sách, ban hành văn bản điều hành, quản lý mới.

Thứ tư, kết luận giám sát là cơsở phát sinh các hệ quả pháp lý đối với các chủ thể có liên quan; đồng thời, mang tính định hướng trong công tác hoạch định chính sách của Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan hữu quan khác.

Từcác kết luận giám sát sẽ nảy sinh các hệ quả pháp lý cụ thể đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Các trường hợp vi phạm pháp luật hoặc có dấu hiệu tội

phạm như tham ô, lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếmđoạt tài sản,… được phát hiện qua giám sát của các cơ quan của Quốc hộiđượcchuyểnđếncơ quanđiềutra, các cơ quan tố tụng để thực hiện việc điều tra, làm rõ, truytố,xétxửtheo đúng pháp luật hiện hành. Các hành vi vi phạm về mặt dân sự, hành chính sẽ được chuyển tới các cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính Nhà nước, làm việc với các cơquan, tổ chức, cá nhân có liên quan để phối hợp giải quyết theo phạm vi thẩm quyền. Những quyết định hành chính vi phạm được phát hiện từ các chủ thể chịu sựđược giám sát sẽ được Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội yêu cầu, kiến nghịChính phủ, các cơ quan có thẩm quyền quyết định đình chỉ, bãi bỏ, điều chỉnh phù hợp nhằm khắc phục, chấmdứtcác bất cập, sai phạm. Các trường hợp người giữcác chức vụlãnhđạo,những ngườigiữchứcvụ do Quốc hộibầuhoặc phê chuẩn

31

phát hiện có vi phạm pháp luật thì Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội quyết định việc xửlý trên cơ sở khung pháp lý hiện hành, tiến hành việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, cách chức, đình chỉ, tạm đình chỉ vị trí công tác.

Từnhững kiến nghị, yêu cầu được đưa ra trong kết luận giám sát, Quốc hội, Ủyban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và các Bộ, Ngành sẽ xem xét, ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luậtđể quản lý tốt xã hội. Xây dựng các chương trình, kế hoạch hành động, thông qua các Nghị quyết, ban hành các quyết sách đảm bảo quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế – xã hội. Yêu cầu đặt ra đối với các chủ thể chịu sựgiám sát là qua nội dung trong văn bản kết luận giám sát sẽ làm rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân là cơ sở để lãnh đạo,người đứng đầu cógiải pháp chấn chỉnh kịp thời, định hướng, điều chỉnh, đổi mới trong công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt độngcủa cấp dưới,đối với lĩnh vực được phân công quản lý trong phạm vi thẩm quyền.

Thứ năm, Kết luận giám sát của Quốc hộivừamang trách nhiệm pháp lý, vừa mang trách nhiệm chính trị.

Về trách nhiệm pháp lý: Trước hết, khái niệm “trách nhiệm pháplý” bao hàm những yếu tố cơ bản: “i) trách nhiệm nàyđược pháp luật quy định; ii) trách nhiệm này chỉ xảy ra khi có vi phạm pháp luật; iii) cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ việc vi phạm đã có hiệu lực pháp luật; iv) có chế tài là các biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền”[25]. Trên cơ sởnhững đặc điểm này có thể thấy, trách nhiệm thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội thể hiện qua nghị quyết của Quốc hội mang đầy đủ yếu tố trách nhiệm pháp lý. Trong Báo cáo 10 năm thực hiện Luật về hoạt động giám sát có nhận định một trong những nguyên nhân hiệu quả giám sát chưa đạt được kết quảmong muốn làviệc theo dõi, đánh giá, đôn đốc thực hiện các kiến nghị sau giám sát và sự chuyển biến trong thực tế thực hiện kiến nghị giám sát chưa được thực hiện thường xuyên nên hiệu lực, hiệu quả giám sát chưa cao; thiếu chế tài cho việc tiếp thu, giải quyết

kiến nghị sau giám sát…

Về trách nhiệm chính trị: Trên thực tế, việc theo dõi, đôn đốc các đối tượng chịu sựgiám sát của Quốc hội ngày càng được chú trọng, tình trạng “đánh trốngbỏdùi” hay “nương nhẹ, cho qua”đãgiảm dần, thay vào đó làsựtheođuổiđến cùngđể truycứutrách nhiệm cá nhân, tổchức chịu sựgiám sát có vi phạm pháp luật

32

đang được thực hiện có những tín hiệu đáng mừng. Những vấn đề đã được đưa vào trong các nghị quyết giám sát tại kỳ họp, kết luận của các đoàn giám sát chuyên đề, các kiến nghị của các cơ quan của Quốc hội đã được quan tâm theođuổi đếncùngđể làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan. Trách nhiệm này nhiều khi không phải là những sai phạm, vi phạm pháp luật, mà nó là trách nhiệm trong quản lý điều hành trước Quốc hội, trước cử tri và nhân dân cả nước. Điều này ngày càngđược chú trọng,thểhiện ởnhững phiên chất vấn, giải trình, xem xét báo cáo. Tại các kỳ họp, việc Quốc hội yêu cầu một số Bộ trưởng báo cáo việc thực hiện những kiến nghị chấtvấnhoặc giải trình về trách nhiệm của cơ quan cũng như của cá nhânđã thể hiện được quyền lực củaQuốchộitrong việc bắt buộc các cơ quan, cá nhân phải thực hiện các kết luận giám sát. Tuy nhiên, hiệu quả việc thực hiện trách nhiệm chính trị đối với các kết luận, kiến nghị giám sát của Quốc hội phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và tinh thần trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát, bởi vì việc thực hiện các chế tài thực hiện các biện pháp cưỡng chế, xử lýtrách nhiệm không nằm ở phía Quốchộimà nằm ở phía cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền. Các chủ thể giám sát chỉ có thể theo dõi, đôn đốc, đề nghị báo cáo kết quảthực hiện các kết luận, kiến nghị giám sát. Tình trạng các kết luận giám sát của Quốc hội khôngđược thực hiệnmộtcác nghiêm túc, trách nhiệm chínhtrịcủa các đối tượng chịu sựgiám sát của Quốc hội chưa được xác định nghiêm minh vàxửlý triệt để vẫn tồn tại khá phổ biến. Việc Quốc hội bỏ phiểu tín nhiệmđối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầy hoặc phê chuẩn là một phương thức hữu hiệu đểđánh giá uy tín và trách nhiệm của các chức danh này. Tuy nhiên, hiệu quả thực sựcủa công việc này vẫn cần được minh chứng rõ ràng hơn nữa trên thực tế.

2.1.3. Vai t ò Kết luận giám sát của Quốc hội

– Kết luận giám sát đóng vai trò quan trọng để hạn chế sự lạm quyền từ phía các cơ quan Nhà nước, bảođảmpháp luậtđược thực thi,bảođảm quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân.

Từnguyên tắc tổ chức và hoạt động của quyền lực Nhà nước và mối tương quan giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp, chúng ta có thể thấy chức năng giám sát của Quốc hội, theo quan niệm của các nhànướctư sản, là một phương thức hữu hiệu để cân bằng quyền lựcvà bảo đảmcho quyền lực mà nhân dân trao cho Nhànướcđược thực thi có hiệu quả. Tuy ở những mức độ khác nhau nhưng phần lớn các nước trên thế giới đều xác định đối tượng chủ yếu của giám sát là nhánh quyền lực hành pháp, hay nói cách khác: Quốc hội thực hiện chức năng

33

giám sát đối với cơ quan hành pháp, cụ thể là Chính phủ, các thiết chế của Chính phủ. Đây là một cách hiểu mang tính lịch sử và gắn liền với chế định Quốc hội được xác lập là để kiểm tra và khống chế vương quyền, mà thực chất là một công cụ đểkhống chếsựlạm quyền từ phía cơ quan thực thi quyền lực. Đây cũng là lý do giải thích tại sao ở hầu hết tất cả các nước trên thế giới giám sát của Quốchội được hiểu là giám sát các cơ quan hành pháp. Ngoài ra, với nguyên tắc làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số, giám sát của cơ quan đại diện, cơ quan thực hiện quyền lập pháp, đảm bảo thực thi quyền lực mà nhân dân tin tưởng trao cho Quốc hội. Mọi quốc gia khi hình thành Nhà nước đều phải chú trọng việc giữ gìn, duy trìvà bảo vệ pháp chế tức là đòi hỏi các cơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức Nhà nước, các tổ chức và mọi công dân phải thực hiện đúng, thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật do Nhà nước ban hành. Tất cả là nhằmbảo đảm trậttự, an ninh xã hội, bảo đảm cho quyền lực nhà nước được thực thi. Và quan trọng hơn cả là các kết luận giám sát phải được thực thi đầy đủ, chính xác. Mục tiêu cao nhất của hoạt động

giám sát thực thi pháp luật trong một xã hội dân chủ – cho dù cơ quan nào tiến hành

giám sát đi chăng nữa – cũng là để bảo đảm rằng các cơ quan hành pháp và các cơquan nhà nước khác hành động vì lợi ích của người dân. Quốc hội được trao chức năng giám sát bởi vì, trước hết, trong một nhà nước dân chủ, ‎ý ý chí của người dân chủ yếu được thể hiện thông qua Quốc hội. Chính phủ, cũng như những cơ quan nhà nướckhác chịu trách nhiệm trướcQuốc hội và phảiđượcQuốc hội giám sát. Kết luận giám sát sẽ là công cụ quan trọng, là biện pháp hữu hiệu để kiểm soát quyền lực Nhà nước, hạn chế việc lạm dụng quyền lực Nhà nước và đảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật do mình ban hành.

Thông qua hoạtđộnggiám sát, kết luận giám sát buộc các cơ quan Nhànước khác phải giải trình, báo cáo làm rõ trách nhiệm khi phát hiện bất cứ ai, đối tượng nào có dấu hiệu vi phạm, nhất là những thành viên trong Chính phủ, cán bộ công chức, lực lượng vũ trang lạm dụng sự tín nhiệm trong các công việc được giao phó hay thực hiện chúng theo cung cách xung đột với nhân dân, với thái độ thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật,… thì họ phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Có thể thấy rằng, mục tiêu của giám sát là để vừa bảo đảm rằng hoạt động của các cơ quan Nhà nước tuân thủ những quyđịnhcủa Hiến pháp và pháp luật vừa bảođảm hiệu quả hoạt động công vụ và lợi ích của nhân dân được bảo đảm. Mục tiêu quan trọng hàng đầu của hoạt động giám sát là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thực hiện nền dân chủ xã hội. Điều này được thể hiện rất rõ tại Quốc hội các nước

34

bắcÂu như ThụyĐiển,Đan Mạch, Na Uy…[57], [58], [60].Tạicácnướcnày, việc theo dõi và giải quyết đơn thư khiếu nại của cử tri được giao chomột số uỷban đặc biệt hoặc cơ quan thanh tra Quốc hội. Theo xu hướng này, kết luận giám sát không còn mang tính chung chung, hình thức mà được thực hiện bởi những tổ chức cụ thể, chuyên trách và chịu trách nhiệm báo cáo thường xuyên trước Quốc hội.

Xem xét một cách toàn diện có thể thấy mục tiêu giám sát của Quốc hội được thể hiện trên 3 phương diện sau: “1) Quốc hội giám sát là nhằm đảm bảo các quyếtđịnh củaQuốchộinhất là cácđạo luậtđược thực thi đúng với các mục đích, yêu cầuđề ra; 2) Quốc hội giám sát nhằm chống lại sựđộc đoán, quan liêu và không công bằng trong quản lý nhà nước để đảmbảo các nguyên tắc pháp quyền và các quy trình, thủ tục đề ra được tuân thủ; 3) Quốc hội giám sát nhằm chống lại sự lãng phí, tham nhũng nhất làbảo đảmtính hiệu quả trong quá trìnhtổ chứcthực thi các chính sách. Tất cả ba mục tiêu nói trên đều quan trọng trong hoạt động giám sát [24]”. Tuy nhiên, trong một nhà nước pháp quyền, mục tiêu thứ hai: pháp luật phải được thượng tôn, thực thi một cách nghiêm chỉnh, công bằng, bình đẳng và tuân thủ những nguyên tắc, thủ tục đã đề ra có ý nghĩa quan trọng hơn cả. Điều này đòi hỏi các cơ quan trong hệthống công quyền phải có tính trunglậpvà không thiênvịrấtcao, tránhsựđặc quyền, đặc lợi. Đối với các nước trên thế giới, giám sát các cơ quan hành pháp là quan trọng nhất, vì đây thực chất là các cơ quan nắm thực quyền cai trị. Việc thiết lập và duy trìmộthệthống các cơ quan hành pháp và hành chínhkỷluật,kỷcương, công tâm, công bằng là không dễ dàng. Để làm được điều đó, các Nhà nước đều tìm cách thiết lập một cơ chế giám sát hữu hiệu nhất để kiểm soát quyền lực, ngăn chặn sự vi phạm pháp luật,đặcbiệt là chốnglạisựlạmquyềntừphía các cơ quan công quyền. Chức năng giám sát và những quyền hạn về giám sát điển hình cho mọi mô hình Nghị viện, không phụ thuộc vào hình thức chính thể. Vì vậy, việc đảm bảo thực thi kết luận giám sát của Quốc hội mỗi quốc gia cũng có sự khác nhau.

Giám sát của Quốc hội thực chất là việc Quốc hội sử dụng các phương tiện và công cụ của mình để tìm hiểu xem chính sách, pháp luật do Quốc hội ban hành được thực thi như thế nào, và các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng luậtđịnh ra sao trên cơ sở đó mà bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân. Qua nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy: chức năng giám sát của Quốc hội được thể hiện chủ yếu thông qua các hoạt động và cơ chế tổ chức cụ thể nhằm kiểm soát Chính phủ trong việc thực hiện các quy định của pháp luật. Kết quả cuối cùng của hoạt động giám sát thể hiện quyền lực tập trung của Quốc hội thông qua

35

các quyết định tập thểnhằm thayđổi, huỷbỏ hoặc kiến nghị sửa đổi, huỷbỏ các hành vi, quyết định trái pháp luật của cơ quan hành pháp hay của những người đứng đầu cơ quan hành pháp, các quyết định này thường là Nghị quyết. Cao hơn nữa, thông qua kết quả giám sát Quốc hội có thể ra các kết luận giám sát như: quyết định bãi miễn, bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, những người do QH bầu hoặc phê chuẩn; thậm chí đưa ra quyếtđịnhbấttín nhiệm đối với Chính phủ. Trong khái niệm giám sát hoạt động Chính phủ ở các nước, nhìn chung cũng giống nhưở Việt Nam, hai yếu tố chính là nhiệm vụ và quyền hạn của Quốc hội luôn song hành với nhau. Đó là: quyền kiểm tra, theo dõi, đánh giá việc thi hành Hiến pháp, pháp luật của Chính phủ, quyền sửa đổi hayhuỷbỏcác văn bản trái pháp luật, quyền miễn

nhiệm hoặc bãi nhiệm, quyền kiến nghị hoặc chất vấn…. thông qua các kết luận

giám sát của Quốc hội.

Thông qua các kết luận giám sát mà tính trách nhiệm của các đối tượngbị giám sátđược đề cao.Chính bởi vậy, khi Quốc hội có khả năng áp đặt chế độ trách nhiệm chocác đốitượng chịu sựgiám sát buộc họ phải tuân thủ thìđiều đó chứng

tỏ giám sát của Quốc hội có hiệu lực, hiệu quảvà Quốc hội có thực quyền. Việc “Chính phủ phải chịu trách nhiệm trước Quốc hội – lập pháp, cơ quan đại diện của nhân dân, tức là Chính phủ – hành pháp, cơ quan duy nhất trong toàn bộ bộ máy nhànước có trách nhiệm chính trong việcđiềuhành và quản lý đất nước phải chịu trách nhiệm gián tiếp trước nhân dân là một thành công lớn trong lịch sửphát triển dân chủ của nhân loại” [6 tr. 451].

– Kết luận giám sát góp phần nâng cao việc thực hiện chức năngđại diện của Quốc hội, thể hiện được là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Cộng hòa xã hội Việt Nam.

Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất ở Nhà nước Cộng hòa xãhội Việt Nam, là cơ quan đại diện cho quyền và lợi ích của các tầng lớp nhân dân vàtính đại diện ngày càng được mở rộng do cách thức bầu Quốc hội ngày càng dân chủ hơn. Do vậy, vai trò đại diện cho xã hộicủa Quốc hội nói chung và mỗi đại biểu Quốc hội nói riêng ngày càng trở nên rộng hơn. Và cũng chính vì vậy, việc đấu tranh hay và dung hòa quyền lợi của cả quốc gia, của địa phương nơi mình ứng cửvà của cửtri bầu ra mình là một vấn đề mà các đại biểu Quốc hộiluôn phải cân nhắc. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền giám sát và thực thi kết luận giám sát của Quốc hội, đặc biệt là các đại biểu Quốc hộiở địa phương. Việc xácđịnhvà thực hiện đúng đắn vai trò đại diện sẽ giúp cho Quốc hội có khả

36

năng giám sát hiệu lực và hiệu quả, xác định đúng vấn đề cần giám sát và theo đuổi đến cùng việc thực hiện các kiến nghị giám sát.Mặtkhác, việc thực hiện có hiệulựcvàhiệu quả quyền giám sát được trao sẽ khẳng định được vai trò đại diện cho lợi ích quốc gia và toàn dân của Quốc hội. Ở nhiều quốc gia, tính chuyên nghiệp của các đại biểu Quốc hội đã giúp họ thực hiện vai trò đại diện và hoạt động giám sát tương đối thuận

lợi khi các đại biểu được chuyên tâm cho các hoạt động này mà không bị phân tâm bởi gánh nặng cơcấuhay trọng trách khác. Trong khiđó,đạibiểu Quốchộinướcta khoảng 70% là kiêm nhiệm, đa phần đại biểu phải gánh nhiều vai trò cùng một lúc (nhà đại diện, nhà lập pháp và nhà hành pháp/hành chính, nhà tư pháp, giáo viên, bác sĩ, …) nên động lực cũng như điều kiện giám sát và theo dõi, đảm bảo thực thi kết luận giám sát có phầnbịhạnchế. Vàmộtkhi cáckếtluận giám sát khôngđượcthực thi, hoạtđộng giám sát coi như không hiệu quả, không bảo vệ được quyền và lợi ích của cử tri thì vai trò đại diện cũng bị hạn chế và lu mờ.

Ngoài ra, với việc thực hiện quyền giám sát và ban hành các kết luận giám sát, Quốc hội luôn giữ vai trò như “cầu nối” giữa nhân dân với Chính phủ – cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Thông qua các hoạt động giám sát, đặc biệt là chất vấn, khi kết hợp đượcvới công luận một cách hữu hiệu thì khả năng kiểm soát Chính phủ của Quốc hội sẽ tăng lên. “Hoạt động giám sát hành pháp của Quốc hội

(cầu nối giữa dân với bộ máy hành pháp) chỉ thực sự mang lại lợi ích cho người dân

khi họ biết được quá trình giám sát đó diễn biến ra sao và có kết quả gì – nghĩa làkết luận giám sát phải được công khai hóa; mặt khác, nhờ có công khai nên hiệu lực giám sát tăng lên gấp bội nhờ có thêm sức ép của công luận xã hội” [9 tr. 65].

– Kết luận giám sát có quan hệ chặt chẽ hoạt động giám sát và tác động trực tiếp đến chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Lập pháp và giám sát là hai chức năng cơ bản của Quốc hội. Từbất cứgócđộ tiếp cận nào đối vớichức năng lập pháp và giám sát của Quốc hội đều cho chúng ta thấy mối quan hệ giữa quyền lập pháp và giám sát – hai chức năng cơ bản của Quốc hội. Về vấn đề này cũng có cách nhìn nhận mang tính “thiên vị” đối với chức năng giám sát của Quốc hội khi coi“lập pháp thực chất là hành vi giám sát hành pháp” [39 tr 17]. Tác giả của quan niệm này cho rằng quy trình lập pháp của Quốc hội là “mộtquá trình giám sát hành pháp. Lập pháp không phải là tìm ra các quy tắc xửsựhợp lý của xã hội mà chỉ là hành vi kiểm tra, giám sát xem quy tắc xửsựmàhành pháp tìm ra có hợp luật tự nhiên hay không” [39 tr17,18]. Tuy nhiên, cũng nhưchính tác giả đã nhìn nhận: giám sátở đây được hiểuchính là hành vi lập pháp của

37

Quốc hội chứ không phải với tư cách là một trong những chức năng của Quốc hội –tức là giám sát việc thi hành pháp luật.

Quốc hộiđược biết đến nhưmộtcơ quanlậppháp xuất phát từ nguyên nhân ra đời của nó trên cơ sở phân chia quyền lực trong hệ thống quyền lực nhà nước. Dựa vào các kết luận giám sát của Quốc hộiđể Quốc hội quyết định sửa đổi luật hoặc sửa đổi, bổsungmột sốđiều của luật nào đó. Lập pháp vốn được coi như một quyền căn bản mang tính truyền thống của Quốc hội vì Quốc hội có quyền quyếtđịnh cuối cùng để thông qua một đạo luật và việc thông qua các đạo luật này thìphải dựa nhiều vào nội dung các kết luận giám sát liên quan. Về thực chất quyền lập pháp của Quốc hội không đồng nghĩa với quyền làm luật (cho dù các sáng kiến vàviệc soạn thảo một dự luật phần lớn bắt nguồn từ cơ quan hành pháp) ở Việt Nam, Quốc hội ngày càng làm tốt vai trò này. Nếu xét về quy trình quản trị quốc gia thìgiám sát của Quốc hội sẽ gồm 2 giai đoạn liên quan chặt chẽ với việc ban hành pháp luật: giám sát trước và giám sát sau khi ban hành chính sách. Giám sát trước: làđể xem xét, cho ý kiến về việc ban hành quyết định (chính là khâu thẩm tra và cho ýkiến về các dựán luật); giám sát sau là xem xét, đánh giá việc thực hiện tổ chức thực hiện chính sách (thực hiện pháp luật).

Hoạt độnglập pháp tạo cơ sở pháp lý và cơsở chính trị để Quốc hội tiến hành hoạt động giám sát. Vềphần mình, giám sátvớimụcđích là nhằmđảm bảo việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhưng đồng thời kết luận giám sát còn nhằm phát hiện ra những sơ hở, thiếu sót, những quyđịnh pháp luật chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống hoặc có những vấn đề cuộc sống mới phát sinh mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh đểkịp thời cósựsửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hoặc ban hành mới giúp Quốc hội có những quyếtđịnhđúng đắn, phù hợp với yêu cầu cuộc sống. Kết luận giám sát cũng còn là nguồn để nắmtình hình đất nước, thu thập ý kiến công chúng về các chính sách quan trọng của quốc gia để sửađổi,hình thành các chính sách mới, tạo nên một nguồn quan trọng để hình thành những kiến nghị lập pháp hoặc kiến nghị những chính sách mới trên cơ sở tập hợp những kiến nghị của các tầng lớp nhân dân, các tổ chức trong xã hội đối với việc thực hiện chính sách của Chính phủ. Ở khía cạnh này, kết luận giám sát là nguồn của kiến nghị lập pháp và là cơsở kiến nghị quyết định về chính sách mới[30]. Vì vậy, có thể phần nào hiểu rằng vì sao ở nhiều nước người ta không tách riêng hoạt động giám sát thành một chức năng độc lập bởi ở khía cạnh này giám sát là cơ sởcủa lậppháp. Suy cho cùng, chất lượng của pháp luật và các quyếtđịnh củaQuốchộigắnbó mật thiếtvới

38

hiệu quả của hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát.

Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước là một trong ba chức năng cơbản củaQuốchộiViệt Nam, trong khi ở nhiều nước khác chức năng này được hoànhập trong chức năng lập pháp khi mà các quyết định quan trọng tầm chính sáchđều đượcluật hoá. Thực tế cho thấy, hầuhếtnhững vấn đềquantrọng đượcQuốc hội nước ta quyết địnhđều dựa trên các hoạtđộng giám sát, khảo sát những đánh giá, thẩm tra, hoạch định chính sách vĩ mô. Do vậy, kết luận giám sát cũng làcơ sởđể Quốc hội quyết định những vấn đề quan trọng. Ngược lại, khi những vấn đề quan trọng được thông qua tại Quốc hội lại trở thành những nội dung định hướng cho hoạt động giám sát và thực thi kết luận giám sát.

Như vậy, có thể thấy rằng: Kết luận giám sát của Quốc hội có mối quan hệchặt chẽ, hữu cơ, gắn bó, có tính tương hỗ đến hoạt động lập pháp và quyết định các vấn đềquan trọngcủađất nước; hiệuquảhoạt độnggiám sát có tác động trực tiếpđến chất lượng của hoạt độnglập pháp và các quyếtđịnhcủa Quốchộitrong cácđạo luật và nghị quyết.

.1.4. Phân biệt kết luận giám sát với kết luận thanh t a

Tiêu chí phân biệtKết luận giám sát của QHKết luận thanh tra
Khái niệmLà hệ quả pháp lý của hoạtđộng giám sátđược thể hiện bằng văn bản nhằm yêu cầu,đề nghị, kiến nghị các đối tượng bị giám sát phải hànhđộng theo ý chí của chủ thểgiám sát.Là văn bản phán ánh toàn diện,đầy đủ về kết quả của cuộc thanh tra, là cơ sở pháp lý để tổchức thực hiện những kiến nghịtrong Báo cáo kết quả thanh tra của đoàn thanh tra.
Chủ thể ban hành– QH, UBTVQH, các UBQH,đoàn ĐBQH, ĐBQH

– Đa phần là thay mặt, đại diện ban hành (trừ kết luận giám sát của ĐBQH).

– Cơ quan thanh tra Nhà nước, Cán bộ công chức giữ ngạch thanh tra viên có thẩm quyền. (Người ra quyết định thanh tra ban hành).

– Thường là cá nhân có thẩm quyền ban hành.

Đối tượng tác độngToàn bộ hoạt động của các cơquan Nhà nước, tổ chức, cánhânCơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình quản lý Nhànước vàxã hội
Công cụ– Chính sách của Đảng

– Pháp luật, chủ yếulà Luật hoạt động giám sát của QH vàHĐND

– Pháp luật, chủ yếu là Luật Thanh tra

39

Phương pháp tiến hành– Đa dạng, đơn giản hơn– Theo quyđịnh của pháp luật, phức tạp hơn
Nội dung– Phản ánhcơ sởpháp lý, căn cứ thực hiện kết luận giám sát.

– Phản ánh các mặt đã đạtđược, nhưng ưu điểmnổi bật, những hạn chế, thiếu sót trongđó tập trung chỉ ra những vi phạm của các địa phương, bộ, ngành, cơ quan, cá nhân.

– Yêu cầu, kiến nghị các đối tượng chịu sựgiám sát thực hiện các vấn đề cần thiết theo pháp luật quy định.

– Yêu cầuhoặc đề nghịcác cơquan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật.

– Đánh giá việc thực hiện chính sách pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của đối tượng bị thanh tra.

– Xác định mức độ vi phạm, nguyên nhân, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật.

– Yêu cầu, kiến nghị hoặc đềnghị các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xửlý các hành vi vi phạm pháp luật.

Hình thức– Văn bản pháp luật

– Văn bản áp dụng pháp luật

– Bằng miệng (sau đó ban hành văn bản thông báo)

– Văn bản áp dụng pháp luật
Tính chất– Tính chính trị

– Tính không bắt buộc (nhưng phải báo cáo, giải trình)

– Tính pháp lý

– Tính pháp lý

– Tính bắt buộc

Mục đích– Mục đích chính trị

– Hoàn thiện các cơ chế, chính sách, pháp luật

– Phát hiện và kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân cóthẩm quyền xử lý sai phạm

– Quản lý Nhà nước

– Hoàn thiện các cơ chế, chính sách trong hoạt độngquản lý Nhà nước

– Xác định tính chất, mức độ vi phạm, trách nhiệm của các cơquan, tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật.

– Kiến nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyềnáp dụng các biện pháp xử lý hành vi vi phạm

Mức độ phản kháng– Thường không có khiếu nại, tố cáo– Có thể có khiếu nại, tố cáo

40

2.2. Chủ thể, nội dung, hình thức và giá trị pháp lý kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

2.2.1. Chủ thể ban hành kết luận giám sát của Quốc hội

Theo Luật Giám sát năm 2015, giám sát của Quốc hội bao gồm giám sát tối cao của Quốc hội, giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và các đại biểu Quốc hội. Theo đó, chủ thể ban hành kết luận giám sát của Quốc hội bao gồm 5 chủ thể chính là: Quốc hội (được hiểu là tập thể đại biểu Quốc hội hoạt động tập trung tại kỳ họp Quốc hội theo Nội quy kỳhọp Quốc hội), UBTVQH, HộiđồngDân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoànđại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội [34].

Trong việc thực hiện nhiệm vụ này, Quốc hội giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Hội đồng bầu cửquốc gia, Kiểm toán Nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủtướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhànước; giám sát tối cao nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủyban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

UBTVQH giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; giám sát nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủyban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân

41

dân tối cao, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; giúp Quốc hội tổ chức thực hiện quyền giám sát tối cao theo sự phân công của Quốc hội [34].

Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; giám sát hoạt động của Chính phủ, bộ, cơquan ngang bộ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HộiđồngThẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; giám sát nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộvớiChánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thuộc lĩnh vực Hội đồng Dân tộc, Ủy ban phụ trách; giúp Quốc hội, UBTVQH thực hiện quyền giám sát theo sựphân công của Quốc hội, UBTVQH.

Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức hoạt động giám sát của Đoàn và tổchức để đại biểu Quốc hội trong Đoàn thực hiện nhiệm vụ giám sát tại địa phương; tham gia giám sát với Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH,HộiđồngDân tộc,Ủyban của Quốc hội tại địa phương.

Đại biểu Quốc hội chất vấnChủtịchnước,Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ, quyềnhạncủa mình giám sát văn bản quy phạm pháp luật,

việc thi hành pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân; tham gia Đoàn giám sát của Quốc hội, UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tại các bộ, ngành, địa phương khi có yêu cầu. Căncứvào các quyđịnh trên của Luật Giám sát năm 2015 thì Quốc hội, UBTVQH ban hành nghị quyết sau giám sát; UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, Các Ủy ban của Quốc hội ban hành các kết luận, kiến nghị sau giám sát, yêu cầu các chủ thể có liên quan thi hành theo nghịquyết, kết luận, kiến nghị này [34].

Theo Luật Giám sát năm 2015, căn cứ vào kết quả giám sát, Quốc hội cóthẩm quyền ban hành Nghị quyết, các kết luận giám sát nhằm mục đích:

42

Yêu cầu UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành văn bản quy định chi tiết Hiến pháp luật, nghị quyết của Quốc hội;

Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ,ThủtướngChính phủ,Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước; nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ươngMặttrận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Chánh án Tòa án nhân dân tối cao với Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp luật, nghị quyết của Quốc hội;

Miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, PhóChủtịch nước, Chủ tịch Quốc hội, PhóChủtịch Quốc hội, Ủyviên UBTVQH, Chủtịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dântốicao, Chủ tịchHộiđồng bầu cửquốc gia, Tổng Kiểm toán nhà nước, người đứng đầu cơ quan khác do Quốc hội thành

lập; phê chuẩn đềnghị miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộtrưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. [34];

Bỏ phiếu tín nhiệm đối vớingười giữchứcvụ do Quốchộibầu hoặc phêchuẩn; yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức, xử lý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, Ra nghị quyết về chất vấn; ra nghị quyết về kết quả giám sát chuyênđề và các nội dung khác thuộc thẩm quyền của Quốc hội.

Đối với các chủ thể giám sát khác, theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyềnđược pháp luật quy định, các kết luận, kiến nghị được ban hành nhằm truyền tải những yêu cầu sau hoạt động giám sát của chủ thể giám sát đối với đối tượng chịu sựgiám sát, từđó, nâng cao trách nhiệm, điều chỉnh hoạt độngđiều hành, tạosựchuyển biến trong việc thực thi pháp luật có liên quan.

2.2.2. Hình thức và nội ung kết luận giám sát của Quốc hội a. Hình thức kết luận giám sát của Quốc hội

– Nghị quyết sau hoạt động giám sát

43

Theo nghĩa chung nhất, nghị quyết được hiểu là hình thức văn bản quyếtđịnh vềnhững vấn đề cơ bản sau khi được hội nghị bàn bạc, thông qua bằng biểu quyết theo đa số; biểu thị ý kiến hay ý định của một cơ quan, tổ chức về một vấn đề nhất định. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nghị quyết là hình thức văn bản của Quốc hội, UBTVQH, Chính phủ, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng nhân dân các cấp. Trong đó:

Quốc hội ban hành nghị quyết cho các trường hợp sau đây: để quy định về tỷlệ phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sáchđịa phương; thực hiện thí điểm một số chính sách mới thuộc thẩm quyền quyết định của Quốc hội nhưng chưa có luật điều chỉnh hoặc khác với quy định của luật hiện hành; tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạnáp dụng toànbộhoặc một phần luật, nghịquyết của Quốc hội đáp ứng các yêu cầu cấp bách về phát triển kinh tế – xã hội, bảođảmquyền con người, quyền công dân; quyđịnh về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảmquốc phòng, an ninh quốc gia; đại xá; quyết định các vấn đề quan trọng khác thuộc thẩm quyềncủa Quốc hội.

UBTVQH ban hành nghị quyết cho các trường hợp sau đây: quyđịnh việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; tạm ngưng hoặc kéo dài thời hạn áp dụng toàn bộ hoặc một phần pháp lệnh, nghị quyết củaUBTVQH đáp ứng các yêu cầu cấp bách vềphát triển kinh tế – xã hội; bãi bỏpháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH; trường hợp bãi bỏ pháp lệnh thì UBTVQH có trách nhiệm báo cáo Quốc hộitại kỳhợp gần nhất, tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương; hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; vấn đề khác thuộc thẩm quyền của UBTVQH.

Trong lĩnh vực giám sát, giám sát của Quốc hội là giám sát tối cao, mang tính quyền lực nhà nước ở tầng cao nhất và là một trong ba chức năng cơ bản của Quốc hội. Theo đó, trong việc thực hiện chức năng giám sát,mộttrong những quy trình, thủ tục giám sát là Quốc hội ban hành nghị quyết sau giám sát để yêu cầu các cơquan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát có trách nhiệm bắt buộc thực hiện. Cùng với đó,sau giám sát, UBTVQH cũng ban hành nghị quyết để yêu cầu các cơ quan,

tổ chức, cá nhân chịusựgiám sát thực hiện yêucầucủa mình thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

– Kết luận sau giám sát

Kết luận được hiểu là đưa ra ý cuối cùng được rút ra từ những sự kiện hay lập luận nhất định, ý kiến được xem là kết quả của một lập luận, phần kết thúc của một

44

văn bản,điềusuy ra cuối cùngtừgiả thiết của một bài toán hoặcmộtđịnh lý. Trong lĩnh vực giám sát, kết luận là phần nội dung do một chủ thể giám sát (UBTVQH, Hội đồng, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, ĐBQH) ban hành sau khi kết thúc một hoạt động xem xét, thảo luận về một vấn đề hoặc một nhóm vấn đề nàođó, nhằm thể hiện ý chí của chủ thể giám sát đối vớivấnđề được giámsát sau khiđã đối chiếu theo các quy định của pháp luật có liên quan vàyêu cầu đối tượng bịgiám sát thực hiện.

– Kiến nghị sau giám sát

Kiến nghị đượchiểu là việc công dân, tổ chức, cơ quan đề nghị với cá nhân, hoặc cơ quan có thẩm quyền cần xử lý các sự việc hoặc điều chỉnh, sửa đổi các quyđịnh có liên quan hoặc có các giải pháp, biện pháp trong quản lý, điều hành một lĩnh vực chuyên môn nào đó đã được triển khai thực hiện trong thực tiễn, vớimong muốn đạt được kết quả tốt hơn, hiệuquả cao hơn hoặc hạn chế những vậu quả xấuđến hoạt động bình thường, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức và tập thể.

Trong lĩnh vực giám sát, kiến nghị giám sát được hiểu là các yêu cầu của các chủ thể giám sát bao gồm UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội,Đoàn đạibiểu Quốc hội, ĐBQH đặtra đốivới đối tượng chịu sựgiám sát khi kết thúc hoạt động giám sát. Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình và các quy định của pháp luật liên quan, các chủ thể giám sát nêu trên ban hành các kiến nghị, kết luận về hoạt động giám sát, yêu cầu các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện. Cụ thể là, “UBTVQH, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội kiến nghị việc bỏ phiếu tín nhiệm đốivới người giữchức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; kiến nghị với Quốc hội hoặc yêu cầu cơ quan, cá nhân có thẩm quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc cách chức, xửlý đối với người có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng” [34]. Trong giám sát văn bản, trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghịquyết của UBTVQH thì Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội kiến nghị cơ quan, cá nhân đã ban hành văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó. Trong giám sát chuyên đề, kiến nghị giám sát là các vấn đề mà Hộiđồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, ĐBQH yêu cầuđối với cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát cần xử lý các sự việc hoặc điều chỉnh, sửa đổi các quyđịnh có liên quan hoặc có các giải pháp, biện pháp trong quản lý,điềuhànhnhằm đạtđược kết quảtốthơn, hiệu quả cao hơn hoặchạn chếnhững hậu quả xấu đốivới vấn đề được giám sát.

45

b. Nội ung cơ bản của kết luận giám sát

– Nội dung kết luận giám sát dưới hình thức Nghị quyết sau giám sát của Quốc hội

Đối tượnggiám sáttốicao của Quốc hội là các cơ quan và cá nhân do Quốc hội thành lập, bầu hoặc phê chuẩn. Hay nói cách khác, đối tượng giám sát tối cao của Quốc hội là tầng cao nhất của bộ máy nhà nước bao gồmChủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hội đồng bầu cửquốc gia, Kiểm toán nhà nước, những cơ quan khác do Quốc hội thành lập; những người đứng đầu các cơ quan này và các thành viên của Chính phủ.

Theo quy định hiện hành thì ở từng nội dung giám sát và hình thức giám sát, nội dung của nghị quyết sau giám sát của Quốc hội được thể hiện khác nhau. Cụ thể là:

Trong việc xem xét báo cáo công tác của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, cơ quan khác do Quốc hội thành lập và các báo cáo khác: Quốc hội xem xét, quyếtđịnh việc ra nghị quyết về công tác của cơ quan có báo cáo. Nghị quyết về công tác của cơ quan có báo cáo phải có những nội dung cơbảnnhư đánh giá kếtquảđạtđược, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của hạn chế, bất cập; trách nhiệm của cơ quan có báo cáo vàngười đứngđầu; thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập; trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân, trách nhiệm báo cáo kết quảthực hiện nghị quyết về giám sát.

Trong việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp luật, nghị quyết của Quốc hội: Nghị quyết của Quốc hội về việc xem xét văn bản quy phạm pháp luật phải xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì quyết định bãi bỏmột phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

Đối với Nghị quyết của UBTVQH, nội dung nghị quyết xác định văn bản quy phạm pháp luật trái hoặc không trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp

lệnh, nghị quyết của UBTVQH; trường hợp văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội thì quyết định đình chỉ việc thi hành một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật và trình Quốc hội quyết định việc bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó tại kỳ họp gần nhất, trường hợp văn bản trái pháp lệnh, nghịquyết của UBTVQH thì bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó.

46

Trong việc xem xét việc trả lời chất vấn của những ngườibịchất vấn: Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn. Nghị quyết về chất vấn có nội dung cơ bản sau đây:

Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của người bị chất vấn, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân liên quan đến vấn đề chất vấn; thời hạn khắc phục hạn chế,bấtcập; trách nhiệm thi hành của cơ quan, cá nhân; trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết về chất vấn.

Trong việc xem xét báo cáo giám sát chuyên đề: Quốc hội ra nghị quyết vềchuyên đề giám sát. Nghị quyết giám sát chuyên đề phải bảo đảm những nội dung cơ bản như: Đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân hạn chế, bất cập liên quan đến chuyên đề giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cánhân chịu sự giám sát và người đứng đầucơ quan, tổ chức có liên quan, thời gian khắc phục hạn chế, bất cập; trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân, trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết.

– Nội dung của kết luận, kiến nghị sau giám sát của UBTVQH, Hội đồng Dân tộcvà các Uỷ ban của Quốc hội

Trên thực tế, Luật Giám sát năm 2015 không quy định chi tiếtnộidung của kết luận, kiến nghị sau giám sát, thậm chí không quy định các kết luận là một loại văn bản có giá trị pháp lý. Việc không quy định cụ thể về nội dung của kết luận, kiến nghị vừa có điểmthuận lợi, vừa có điểm hạn chế, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Vềmặtthuận lợi, việc không quyđịnhcứng, chi tiếtvềnộidungcủacáckếtluận, kiến nghị sau giám sát giúp các cơ quan có thể chủ động, căn cứ vào tình hình thực tế củahoạt động giám sát, hiệu quả hoạt độnggiám sátđểcóthểcó những kếtluận, kiến nghị phù hợp. Vềmặt hạn chế, điềunày cũng gây ra những lúng túng trong quátrình thực hiện. Các kết luận, kiến nghị không theo quy chuẩn đôi khi chưa bảo đảm yêu cầu về thông tin, còn dài dòng, chưa đi vào trọng tâmvấn đề.

Nói tóm lại, đối với từng nội dung thực hiện giám sát, mục đích của việc giám sát, kết quả thực hiện của các đốitượng đượcgiám sát và các yếu tố tác động khác, mỗi kết luận giám sát có nội dung phản ánh cụ thể khác nhau, trong góc nhìn tổng thể, kết luận giám sát thường bao hàm các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, phản ánh cơsởpháp lý, căn cứ thực hiện kết luận giám sát.

Để đảmbảo tính pháp lý trong các kết luận giám sát, các kết luận cần đảm bảo việc đưa ra các cơ sở, căn cứ tiến hành giám sát từ Hiến pháp, các văn bản pháp luật có liên quan,vị trí, nhiệm vụ,quyền hạn của các chủ thểthực hiện giám sát, chủ đề, địa điểm, thời gian, kế hoạch giám sát cơ quan, tổ chức, cá nhân là đối

47

tượng chịu sựgiám sát. Phản ánhsựcần thiết dưới góc độyêu cầu của thực tiễn khi thực hiện hoạt động giám sát. Những yếu tố này sẽ là cơ sở đảm bảo quá trình giám sát được thực hiện đúng Hiến pháp và pháp luật, khách quan, ràng buộc về trách nhiệm của các bên liên quan trong suốt quá trình thực hiện.

Thứ hai, phản ánh các mặt đã đạt được, những ưu điểm nổi bật, các nội dung chưa đạt được,những hạn chế, thiếu sót trong đó tập trung chỉ ra những vi phạm của các địaphương, bộ, ngành, cơ quan, cá nhân (đối tượng chịu sự giám sát) thực thi công vụ vi phạm quy định của Hiếp pháp, pháp luật, nghị quyết của Quốc hội.

Kết luận phản ánh những ưu điểm đạt được như việc chấp hành đúng pháp luật, hoàn thànhđượccác nhiệmvụ,mụctiêu, chương trình,kếhoạchđượcgiao. Nhữngđiểm sáng tạo, thành công, sự phát triển trong thực hiện nhiệm vụ, giải quyết các vấnđề tồn tại, khó khăn đã được xác định trước đó, chất lượng, việc hoàn thành các chỉ tiêu đã đề ra. Các thành tựu trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý,đổimớiphương thức làm việc, công táccảicáchthủtụchành chính, giải quyết

tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện, giải quyết các vấn đề phức tạp,…

Bên cạnh đó, các kết luận giám sát luôn chú trọng đến việc kiểm tra, đối chiếu, đánh giá thực tế với yêu cầu để chỉ rõ các sai phạm, hạn chế, thiếu sót,từcác sai phạm nhỏtớicác sai phạm có dấu hiệu phạm pháp hìnhsựcầnphải bị xửlý nhưviệc ban hành các quyết định trái luật gây ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, các quyết định gây nên sựthất thoát lớn cho tài sản của nhà nước, ảnh hưởng đến môi trường, hoạt độngsản xuất, kinh doanh, ảnh hưởng xấu đến các yếu tố quốc phòng, an ninh. Kết luận giám sát chỉ ra các trường hợp vi phạm quyđịnh trong quản lý tài sản, các hành vi có dấu hiệu tham ô, tham nhũng, vi phạm quy định khác.

Thêm vào đó, kết luận giám sát cũng chỉ ra những vấn đề mang tính tồn tại, hạn chế, khó khăn mà đơn vị, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát còn mắc phải. Những tồn tại hạn chế cả ở góc độ khách quan nhưyếu tố vềchính trị, kinh tế, xãhội, môi trường đầu tư kinh doanh cho đếncác yếu tố chủ quan như chất lượng nguồn nhân lực, trình độ năng lực yếu kém, cán bộ, người có thẩm quyền cố ý làm trái, vi phạmđạo đức nghề nghiệp, các hành vi câu kết, vi phạm kỷ luật lao động, kỷ luật công vụ hay phạm tội có tổ chức xảy ra tại các chủ thể chịu sự giám sát.

Thứ ba, yêu cầu, kiến nghị các đối tượng chịu sự giám sát thực hiện các vấn đề cần thiết theo pháp luật quy định.

48

Từviệc thực hiện quyền giám sát, Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội, Đại biểu Quốc hội thực hiện việc giám sát đưa ra các kết luận giám sát phản ánh các yêu cầu về mặtpháp lý đặt ra đối với các đơn vị, cá nhân chịusựgiám sát. Yêucầu chủthể chịu sựgiám sát chấn chỉnh trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụtừviệc hoàn thiện hệ thống quychếlàm việc, chấn chỉnh thái độ, ý thức trách nhiệm,đổi mới phương thức giải quyết các thủ tục hành chính; phối hợp cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan, giải trình, giải quyết các vấn đềchưa đượclàm rõ, cầncó thêm thời gianđể giám sát; yêu cầu nghiêm túc thực hiện kếtluậnxửlý các hành vi vi phạm, phạmtộiđược phát hiện từkết luận giám sát. Yêu cầu thực hiện các biện pháp khẩn cấp đểxửlý các vấn đề cấp thiết, phòng tránh các trường hợp tẩu tán, tiêu hủy tài liệu, vật chức và các chứng cứ vi phạm qua các việc hợp thức hóa hồ sơ, sổ sách, giấy tờ, số liệu.

Kiến nghị các đối tượng chịu sự giám sát có các giải pháp mạnh mẽ, kịp thời trong phạm vi thẩm quyền để giải quyết các vấn đề tồn tại, những khó khăn, vướng mắc, bấtcậptronghoạt độngthực thi nhiệm vụ, côngvụcủa các đối tượng chịu sựgiám sát. Kiến nghị về thực hiện các giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp, trìnhđộ nănglực, chuyên môn cho cán bộ, nhân viên, nâng cao tính chuyên nghiệp, hiện đại hóa trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, công vụ.

Thứ tư, kiến nghị đối với Quốc hội, Chính phủ trong thực hiện các giải pháp xử lý đối với các kết luận đã được đưa ra.

Thông qua các kỳhọpQuốc hội, báo cáo đến Ủyban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan củaQuốc hội đãtiến hành hoạt động giám sát, trong kết luận giám sát sẽ đưa ra các kiến nghị đối với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong việc sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật hiện chưa có nhưng qua hoạt động giám sát cho thấy sự cần thiết phải được nghiên cứu xây dựng, ban hành; kiến nghị sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống các văn bản luật đã qua thực tiễn ban hành nhưng đến thời điểm hiện tại đã phát hiện những bất cập, thiếu sót, những điểm đã lỗi thời nếu không giải quyết sớm sẽ dẫn đến các hệquả phức tạp cho công tác quản lý nhà nước hoặc cả nền công vụ. Kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu, thông qua Nghị quyết đối với các vấn đề quan trọng của đất nước mà thông qua giám sát đã phát hiện sau khi đã có sựđánh giá kỹlưỡng. Đồng thời, kiến nghị điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung các Nghịquyết đã được thông qua về các vấn đề quan trọng của Nhà nước qua giám sát cho thấy nhữngđiểm mới cần bổsung, các vấn đề cần được điều chỉnh,sửa đổinhằm

49

đảm bảo tính phù hợp với thực tiễn. Kiến nghị Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong thực hiện các biện pháp xử lý nghiêm các vi phám pháp luật nghiêm trọng của các chủ thể chịu sự giám sát, bao hàm cả việc xử lý đối với các tổ chức, cá nhân sai phạm. Đối với các vị trí, chức vụ lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn khi có vi phạm, có các biểu hiện cho thấy khôngđủ tưcách giữ vị trí, chức vụ đó hoặc không đủ điều kiện đểhoàn thành nhiệmvụ,công vụ;cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội kiến nghị việc miễn nhiệm, bãi nhiệm tư cách. Đối với trường hợp phát hiện các văn bản sai phạm, kiến nghị trong việc tạm đình chỉ, đình chỉ, bãi bỏhoàn toàn hoặc bộ phận đối với văn bản đó hay kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ chỉ đạo bãi bỏ, đình chỉ, sửa đổi các văn bản thuộc quyền.

Kiến nghị Thủ tướng Chính phủ, Chính phủban hành văn bản cụthể hóa Luật,hướngdẫn thi hành luật,đảmbảocác bộ, ngành,địa phương thực hiện theođúng tôn chỉ pháp luật, tránh tình trạng vướng mắc. Kiến nghị ban hành các chính sách, giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống công cụ quản lý, tháo gỡ các tồn tại, vướng mắc, khó khănđược nhậnđịnhtrên cơ sở đúng thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. Kiến nghị xử lý vi phạm đối với các tổ chức, cá nhân được phát hiện cócác sai phạm thông qua quá trình giám sát phát hiện. Ban hành mới, sửa đổi, bổ sung các văn bản, quyết địnhhành chính, thu hồi các quyết định hành chính sai phạm và các vấn đề cần thiết khác.

Thứ 5, yêu cầu hoặc đề nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phạm tội của các đối tượng chịu sự giám sát.

Trên cơ sở các hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội,ĐBQH sẽ phát hiện ra các sai phạm, vi phạm trong hoạt động thực thi nhiệm vụ, công vụ Nhà nước. Qua đó, các chủ thể giám sát có quyền yêu cầu, đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền có các biện pháp đểxửlý nghiêm minh các hành vi vi phạm, đảm bảo trật tự, kỷcương trong hoạt động quản lý Nhà nước, xã hội vàhiệu lực, hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật. Ví dụ: Trong quá trình tiến hành hoạt động giám sát nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì các chủ thể giám sát có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử, xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

2.2.3. Giá t ị pháp lý kết luận giám sát của Quốc hội

Nếu hiểu“kếtluận giám sát” theo nghĩa rộng hơn so với từ “kết luận” trong cụmtừ“nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị củachủthể giám sát” đượcquyđịnh trong Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015. Tức là, kết

50

luận giám sát ở đây có thể được ghi nhận các văn bản như: (i) Nghị quyết về giám sát của Quốc hội, UBTVQH; (ii) Báo cáo, yêu cầu, kiến nghị, kết luận của UBQH,Đoàn ĐBQH; (iii) Yêu cầu, kiến nghị của ĐBQH [11].

Như vậy, giá trị pháp lý của kết luận giám sát của Quốc hội thường có tính bắt buộc thực hiện (nếu không thực hiện được thì phải báo cáo, giải trình với chủthể giám sát), là hiệu lực thi hành những ý kiến tổng quát của Quốc hội, UBTVQH, UBQH, Đoàn ĐBQH, ĐBQH được rút ratừhoạt động giám sát đối với các chủ thểchịu sựgiám sát nhằm xửlý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan cóthẩm quyền xử lý.

Với cách hiểu như trên thì Kết luận giám sát của Quốc hội có những đặc điểm như sau:

Một là, những giá trị này mang bản chất quyền lực nhà nước, được hình thành trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước; cụ thể, là việc tổ chức, thực thi chức năng giám sát của Quốc hội, đây cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, cơ quan thực thi quyền lập pháp.

Hai là, chủ thể tạo ra những giá trị này là các chủ thểcó địavị pháp lý, vị trí, vai trò đặc biệt trong bộ máy Nhà nước và hệ thống chính trị, đólà: Quốc hội, UBTVQH, UBQH, Đoàn ĐBQH và ĐBQH.

Ba là, những giá trị này là sản phẩm của quá trình hoạt động tư duy sáng tạo, mang tính khái quát rất cao và được hình thành trên quy trình, thủ tục luật định và trên cơ sở hoạt động giám sát.

Bốn là, những giá trị này có nội dung chủ yếu là xác định trách nhiệm pháp lý, phạm vi trách nhiệm của cácđối tượng chịu sựgiám sát; đưa ra những cảnh báo mang tính yêu cầu, kiến nghị, buộc các chủthể chịu sựgiám sát trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải tựđiều chỉnh; trong một số trường hợp thì xác định trách nhiệm pháp lý mang tính tài phán, đánh giá để xử lý trách nhiệm.

Năm là, những giá trị nàyđược thể hiện bằng văn bản, có cơ chế bảo đảm thực thi bằng pháp luật.

Sáu là, Trách nhiệm pháp lý của đối tượng chịu sự giám sát phát sinh trong kết quả giám sát thường đi đôi với trách nhiệm chính trị, đến uy tín, năng lực, hiệu quả công tác của họ trước Quốc hội, cơ quan Nhà nướccấp trên, trước cửtri vànhân dân.

51

Trách nhiệm pháp lý của kết luận giám sát thường được quy định trong hệthống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Nội dung cụ thể như sau:

– Quy định về tính bắt buộc của kết luận giám sát của Quốc hội

Theo Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2015 thì kết luận giám sát của Quốc hội nói chung, kểcả Nghị quyết về giám sát của Quốc hội, UBTVH đều không mang tính quy phạm. Vì theo Khoản 2 Điều 5 và Khoản 2 Điều 6 của Luật này thìNghị quyết của QH, của UBTVQH không có nội dung về giám sát. Hơn nữa, trong các Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh đều không có nghị quyết về giám sát. Kết luận giám sát của Quốc hội là kết luận của Quốc hội, UBTVQH, UBQH, Đoàn

ĐBQH, ĐBQH – không phải là cơ quan hành chính nên cũng không thể là văn bản hành chính. Vậy, chỉ có thể là văn bản áp dụng pháp luật, theo đó, có tính bắt buộc thấp hơn văn bản QPPL.

Theo Luật HĐGS năm 2015 thì tính bắt buộc thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội thể hiện qua những quy định sau:

(i) Nghị quyết về giám sát của Quốc hội, UBTVQH, HĐND có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện (Điều 89); (ii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát

phải…nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội, UBTVQH…;

thực hiện kết luận, kiến nghị của UBQH, Đoàn ĐBQH, ĐBQH… (Khoản 1 Điều 7); (iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xửlý trách nhiệm đối vớicơ quan, tổ chức, cá nhân đó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thểgiám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát vàngười có liên quan (Khoản 3 Điều 7); (iv) Quy định thẩm quyền xử lý của các chủ thể giám sát nhưcủaQuốc hội tạiĐiều21, của UBTVQHtại Điều35, của UBQH

tại Điều 46, của Đoàn ĐBQH và ĐBQH tại Điều 56, [34].

Như vậy, có thể thấy, pháp luật hiện hành đã (i) có những quy định khá toàn diện về tính bắt buộc thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội; (ii) đã có sựphân biệt nhất định về tính bắt buộc giữa kết luận giám sát của các chủ thể khác nhau trên cơ sở tương ứng với thẩm quyền giám sát (phân định thành hai nhóm là của Quốc hội, UBTVQH và của UBQH, Đoàn ĐBQH, ĐBQH; (iii) đã quy định cơ chế xử lývà nguyên tắc để áp dụng cưỡng chế đối với các hành vi vi phạm (tuỳ theo tính chất,

52

mức độ vi phạm); (iv) đã xác định thẩm quyền xử lý của các chủ thể giám sát, trongđó có những biện pháp thể hiện tính cưỡng chế, chế tài nhất định.

Tuy nhiên, còn mộtsốhạn chếđó là: (i) quy định về cơ chế xử lý chưa thống nhất (theo Khoản 3, Điều 7 thì chỉ có cơ chếxửlý gián tiếp, trong khi đó một sốđiều quy định về thẩm quyền xử lý lại có cơ chế xử lý trực tiếp); (ii) còn thiếu các quyđịnh cụthể về các hành vi vi phạm và áp đặtbiện pháp cưỡng chế, chế tài tương ứng với từng hành vi cũng như với tính chất, mức độ vi phạm và với thẩm quyền giám sát của từng chủ thể; (iii) thẩm quyền xửlý của các chủ thể giám sát còn chung chung, nhấtlà đốivới UBQH, Đoàn ĐBQH và ĐBQH thì còn yếu (chủyếu ở mức kiến nghị, yêu cầu mà chưa có cơ chế xửlý trực tiếp hoặc đến cùng), chưa xác định rõ trách nhiệm cá nhân, tậpthểđể có tăng tính cưỡng chế và áp dụng các biện pháp chế tài.

Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sátđược quyđịnh tại Điều 7, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015:

“1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát của chủ thể giám sát; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì chủ thể giám sát đó không thuộc diệnđược tiếpcận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của cơquan, cá nhân có thẩm quyền giám sát; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốchội, Hội đồngnhân dân; thực hiện kết luận, kiến nghịcủa Hội đồngdân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoànđại biểuQuốc hội, đại biểu Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân.

…4. Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thìchủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét xử lýtrách nhiệm đốivớicơ quan,tổ chức, cá nhân đó. Tùy theo tính chất, mức độvi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xửlýtheo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan.”[34].

Pháp luật cũng quy định nội dung các nghị quyết giám sát của Quốc hội vàỦy ban thường vụ Quốc hội phải nêu rõ: trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sựgiám sát và người đứng đầu cơ quan, tổ chức có liên quan; thời gian khắc

53

phục hạn chế, bất cập; trách nhiệm thi hành của cơ quan, tổ chức, cá nhân; trách nhiệm báo cáo kết quả thực hiện nghị quyết. Hệ quả cao nhất của giám sát đó là các đối tượng chịu sựgiám sát phải bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; bị Quốc hội miễn nhiệm/bãi nhiệm hoặc các cơ quan có thẩm quyền miễn nhiệm/bãi nhiệm theo yêu cầu của Quốc hội; xem xét tín nhiệm thông qua bỏ phiếu tín nhiệm.Đốivớikiến nghị giám sátcủacác cơ quancủaQuốc hội, Đoànđạibiểu Quốchộivàđạibiểu Quốc hội thì người nhậnđượckiến nghị có trách nhiệm xem xét, trả lời trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhậnđược kiến nghị.

Sựkhẳng định giá trị pháp lý của kết luận giám sát của Quốc hội được thểhiện ở khoản 2, Điều 89 Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015:“Nghị quyết vềgiám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, HĐND có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện”.Như vậy, cơ sở để xác định trách nhiệm pháp lý trong việc thực hiện kết luận, kiến nghị sau giám sát của Quốc hội bắt nguồntừquyđịnh pháp luật. Chỉcó các nghị quyết củaQuốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội mới có giá trị xác định trách nhiệm pháp lý bắt buộc đối với các đối tượng giám sát; các kiến nghị giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoànđại biểuQuốchộicó thể coi là một trong những nguồn, kênh quan trọngđể Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội xem xét hình thành nên kết luận giám sát trong nghị quyết.

Tuy nhiên, nếu nói về góc độ “trách nhiệm pháp lý” trong vấn đề này thì còn có những ý kiến khác nhau. Có loại ý kiến cho rằng, trách nhiệm trong việc thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội mang tính chất “chính trị” (uy tín chính trị) hơn là pháp lý. Loại ý kiến khác cho rằng đâylà trách nhiệm pháp lý. Trước hết, khái niệm “trách nhiệm pháp lý” bao hàm những yếu tố cơ bản: i) trách nhiệm này được pháp luật quy định; ii) trách nhiệm này chỉ xảy ra khi có vi phạm pháp luật; iii) cơ sở pháp lý của việc truy cứu trách nhiệm pháp lý là quyết định do cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền ban hành trên cơ sở xem xét, giải quyết vụ việc vi phạmđã có hiệu lực pháp luật; iv) có chế tài là các biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù được áp dụng chỉ trên cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền. Trên cơ sở những đặc điểm này có thể thấy, trách nhiệm thực hiện kết luận giám sát của Quốc hộithể hiện qua nghị quyết của Quốc hội mangđầyđủ yếu tốtrách nhiệm pháp lý.

54

– Quy định về hiệu lực thi hành của kết luận giám sát của Quốc hội

Do kết luận giám sát của Quốc hội ban hành dưới nhiều hình thức khác nhau, các kết luận giám sát dưới hình thức kết luận, kiến nghị không mang tính quy phạm nên chưa có quyđịnhcụ thể để xác định hiệu lực, một số quyđịnh còn chung chung. Tuy nhiên, trên thực thế:

Về không gian, kết luận giám sát củaQuốc hội có hiệu lực ởtrên lãnh thổViệt Nam. Cụ thể hơn, đối với kết luận giám sát của QH, UBTVQH và UBQH thìcó thể có hiệu lực trên phạm vi toàn quốc; còn kết luận giám sát của Đoàn ĐBQH và ĐBQH chủ yếu có hiệu lực trong phạm vi địa phương (trừ chất vấn của ĐBQH tại phiên họp QH, UBVQH).

Về thời gian, kết luận giám sát của Quốc hội thường có hiệu lực kểtừngàyđược thông qua. Tuy nhiên, trong Điều 46 và Điều 56 Luật HĐGS năm 2015 vềthẩm quyền xử lý của UBQH, Đoàn ĐBQH, ĐBQH có quy định: Người nhận được kiến nghị có trách nhiệm xem xét và trả lời “trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhậnđược kiến nghị” nên cũng có thể hiểu ngày nhận được văn bảnlà thời điểm phát sinh trách nhiệm pháp lý của chủ thể nhận được kiến nghị.

Về đối tượng: Kết luận giám sát là cơ sở phát sinh trách nhiệm thực hiện đối với 2 chủ thể gồm (i) chủ thể chịusựgiám sát(đối với vấn đề thuộc thẩm quyền xửlý của chủ thể giám sát) và (ii) cơ quan được chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị xửlý (đốivớivấnđề không thuộc thẩm quyền xử lý củachủthể giám sát). Trong đó, chủ thể chịu sự giám sát là đối tượng áp dụng chính. Việc xác địnhcụthể đối tượng đối vớitừng kết luận giám sát sẽ căn cứ vào quy định của Luật HĐGS năm 2015 về thẩm quyền giám sát (Điều 4), thẩm quyềnxửlý (các điều 21, 35, 46 và 56) và các hoạt độnggiám sát cụ thể của từng chủ thể giám sát.

Để nâng cao hơn nữa hiệu lực thi hành kết luận giám sát và nâng cao trách nhiệm pháp lýđốivới kết luận giám sátcủaQuốc hội chúng ta nên quan tâm, chú trọng đến một số vấn đề cơbảnsau:

– Cần phân định rõ trách nhiệm pháp lý với trách nhiệm chính trị. Điều nàysẽgiúp giảmbớttình trạng cácBộtrưởngđểxảyra những vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong Bộ, ngành mình phụ trách làm ảnh hưởng đến toàn xã hội nhưng chỉ xin lỗi là vẫn bảo toàn được sinh mệnh chính trị của mình mà không chịu trách nhiệm pháp lý.

– Cần bổ sung các quy định về quy trình hậu giám sát, bao gồm trách nhiệm của chủ thể giám sát, đối tượng chịu sự giám sát trong từng lĩnh vực cụ thể; và các chế tài

55

xử lý trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện nghiêm túc các kết luận giám sát của Quốc hội, báo cáo thiếu trung thực về nội dung cần giám sát.

– Xây dựng cơ chế kiểm tra việc thực hiện những kiến nghị, kết luận sau giám sát của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội và trách nhiệm pháp lý củacác đối tượng chịu sựgiám sát trong việc thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội.

– Các nghị quyết về giám sát cần xác định rõ trách nhiệm của đối tượng chịu sựgiám sát để làm căn cứ cho việc giám sát thực hiện lời hứa, bỏ phiếu tín nhiệmđối với người thuộc diện lấyphiếu tín nhiệm. Hình thức thể hiện chế tài hữu hiệu nhất mà Quốc hội có quyền thực hiện là bỏ phiếu tín nhiệm.

– Cần tiến hành việc chất vấnlại, báo cáo kếtquả thực hiện chất vấn, tranh luận để làm rõ trách nhiệm một cách thường xuyên và hiệu quả hơn nữa. Hiện nay, tính tranh luận tại kỳhọp Quốc hội đã được tăng cường, nhưng việc quy trách nhiệm có lúc chưa rõ ràng và quyết liệt, chưa đi đến cùng để làm rõ trách nhiệm vàxác định trách nhiệm pháp lý.

Có thể nói, căn cứ pháp lý về trách nhiệm trong việc thực hiện các kết luận giám sát của Quốc hộiđã có bướcchuyển biến gần đây. Tuy nhiên, hiệu quả thực hiện vẫnđòi hỏi cần bổsung hoàn thiện các quy định pháp luật, mặt khác phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm của các chủ thể giám sát và của các cơ quan, tổ chức, cánhân chịu sự giám sát của Quốc hội.

2.3. Các điều kiện đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi kết luận giám sát của Quốc hội Việt Nam

2.3.1. Khung pháp lý rõ ràng, cụ thể để triển khai thực hiện kết luận giám sátĐể các kếtluận giám sát được thực hiện nghiêm túc, triệt để,đồngthời là cơ

sở để xác định trách nhiệm về pháp lý trong việc xử lý đối với kết quả thực hiện kết luận giám sát là điều kiện mang tính tiên quyết, đặc biệt quan trọng. Khung pháp lýtrong điều chỉnh vấn đề triển khai thực hiện kết luận giám sát càng đầy đủ, chặt chẽvà hợp lýsẽ là khung nền đảmbảo các đơn vị, cá nhân được giao nhiệmvụ thực hiện kết luận giám sát chấp hành, không có sự né tránh, làm giảm tối đa tình trạng làm việc hời hợt, coi giám sát xong là xong. Khung pháp lý chính là định hướng vềmặtphát lý để các kết luận giám sát được thực hiện triệtđể, đúng nộidung, trình tự, thủ tục, trách nhiệm cá nhân, tránh tình trạng làm nhưng không rõ phải làm như thế nào, báo cáo đến đâu, không rõ về cơ chế giám sát sau kết luận. Khung pháp lý

56

vững chắc, đồng bộ là nền tảng có tác dụng răn đe đối với các trường hợp cốtình thực hiện các hành vi trái luật, không thực hiện hoặc tìm cách lách luật trong thực hiện các kết luận giám sát đã được ban hành. Đồng thời, đây cũng là cơ sở để Quốc hội, các cơ quan chuyên môn thực hiện giám sát, Đại biểu Quốc hội xem xét mứcđộ thực hiện đối với các kết luậngiám sát đã được mình đưa ra. Là cơ sở, căn cứđể Quốc hội, các cơ quan tố tụng xem xét, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật, xử lýđối với các trường hợpsai phạm liên quan đến việc thực hiện công tác điều hành, quản lý, chấp hành các kết luận giám sát. Tại Khoản 4, Điều 7 Luật Giám sát của Quốc hội và Hội đồngnhân dân năm 2015 xác định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của chủ thể giám sát thì chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơ quan,

tổ chứccó thẩm quyền xem xét xử lý tráchnhiệm đốivới cơ quan, tổ chức, cá nhânđó. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, chủ thể giám sát yêu cầu, kiến nghị cơquan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quyđịnh củaphápluật đối với người đứng đầu cơquan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và người có liên quan.” Đây chính là cơ sở quan trọng, đi kèm các văn bản luật khác để xử lý về mặt pháp lý đối với các cơ quan, tổchức, cá nhân không chấp hành, không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc, thiếu đầy đủ các kết luận giám sát đã được đưa ra.

2.3. . Xácđịnh õt ách nhiệm cá nhânngườiđứngđ u cơ quan,tổchức, các vị t í chức vụ, chức anh cụ thể t ong việc thi hành các kết luận giám sát

Một vấnđề tồntại trước đây là sau khi có kết luận giám sát, chưa có cơ chếthực sựrõ ràng trong công tác giám sát, theo dõi kết luận giám sát, hoặc có xác định nhưng quá trình triển khai lại chưa chặt chẽ, còn tồn tại tình trạng ỷ nại, ngại theo dõi, giám sát, sợ va chạm với các cơ quan hành pháp trung ương, đặc biệt sảy ra ởcác ĐBQH công tác tại các địa phương; chưa xác định trách nhiệm cho cá nhân hoặc xác định trách nhiệm nhưng không rõ ràng trong việc thực hiện, chỉ đạo thực hiện kết luận giám sát. Việc không xác định rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu và các cơ quan,tổchức, cácvịtrí chứcvụ,chức danhcụthểtrong thực hiện, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kết luận giám sát sẽ dẫn đến tình trạng bỏ bê, làm không đến nơi đến chốn, chất lượng giám sát do đó không thể đạt được mục đích, một số vấn đềđược phát hiện nhưng không được thực hiện dứt điểm do kiểm soát chưa chặt chẽ. Khi các vấn đề phức tạp nảy sinh, kết luận giám sát không được thực hiện hiệu quả do đókhó có thể xác định trách nhiệm cá nhân,nảysinh tình trạngđùnđẩy, né tránh trách nhiệm, không xử lý được trách nhiệm của từng cá nhân cụ thể.

57

Bên cạnh đó, nếu quy định rõ trách nhiệm rõ ràng về quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm chongười đứng đầu sẽ đảm bảohọ sẽchú trọnghơn vấn đềchỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát, giáo dục, đốc thúc cấp dưới thực hiện nghiêm túc, triệt để, làm tốt việc báo cáo kết quả thực hiện kết luận giám sát tại cơ quan, đơn vị. Vấn đề giao nhiệm vụ cá nhân sẽgiúp họ thấy rõ được hệquả không chỉ đối với cơquan, đơn vị mà còn chính đến uy tín, danh dự, hệ quả pháp lý màhọ phải gánh chịu trước Quốc hội, Nhân dân và pháp luật. Giao trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị làcơ sởđể nâng cao chất lượng giám sát, có điều kiện để tập trung nhân lực, phát huy trình độ chuyên môn của các cơ quan, đơn vị; đây là nhân tố để Quốc hội chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng lĩnh vực chuyên môn.Để đảm bảo việc thi hành kết luận giám sát, Quốc hội và các cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng giám sát cần chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện kết luận giám sát giao nhiệmvụ cho từng cá nhân cụthể, tránh tình trạng giao việc chung chung, đảmbảo các cá nhânđược giao nhiệm vụ sẽ xác định rõ trách nhiệm của mình, thời gian, cơ chế thực hiện, hạn chế tối đa tình trạng ỉ lại, né tránh, “cha chung không ai khóc” [45], [52].

2.3.3. Sự kiểm soát, chỉ đạo của Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban Thường vụQuốc hội, hoạtđộngcủa các cơ quan chuyên môn và Đại biểu Quốc hộit ong theo õi việc thực hiện kết luận giám sát

Một nhân tố quan trọng đảm bảo việc thực hiện các kết luận giám sát là mứcđộ chỉ đạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối vớicác vấn đề đã được thống nhất đưa ra. Các vấn đề được đưa ra trong kết luận giám sát càng được sựquan tâm, chỉđạo của Quốc hộitừviệc nghiên cứu, thông qua dưới hình thức các nghị quyết để thực hiện. Việc Quốc hội trực tiếp hoặc chỉ đạo thường xuyên, quyết liệt các cơ quan chuyên môn, đại biểu Quốc hội triển khai, phổ biến, hướng dẫn, giám sát các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện kết luận giám sát sẽ là cơ sở để các kết luận đó được thực hiện nghiêm túc, nhanh chóng, đúng định hướng, hạn chế tốiđa tình trạng làm việc thiếu nghiêm túc, mang tính hình thức. Thực tiễn chothấy, ởcác địa phương, bộ ngành, vào các thời điểm khác nhau vớimức độ chỉ đạo, giám sát việc thực hiện kết luận giám sát khác nhau sẽ đem lại hiệu quả khác nhau. Càng chỉ đạo quyết liệt, giám sát việc thực hiện chặt chẽ sẽ đem lại hiệu quả cao và ở đâu, thời gian nào có sự buông lỏng công tác giám sát sẽ làm hạn chế hiệu quả của các kết luận giám sát đã được đưa ra. Công tác chỉ đạo cũng là cơ sở để Quốc hội kịp thời đánh giá chất lượng, hiệu quả trong thực hiện kết luận giám sát, kịp thời có các

58

chỉ đạo, điều chỉnh, bổ sung các vấn đề mới hoặc chưa phù hợp. Công tác kiểm sát, chỉ đạo của Quốc hội sẽ đảm bảo việc phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm, thực hiện kém hiệu quả, thay thế những người khôngđủ năng lực, trình độchuyên môn trong thực hiện các kết luận giám sát.

2.3.4. Phẩm chất chính t ị, đạo đức công vụ, t ình độ chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của cán bộ, người t ực tiếp t iển khai thực hiện kết luận giám sát

Để tạo nênsựthành công trong thực hiện các kết luận giám sát,vấn đề phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là yếutốt cốtlõi cho việc thực hiện thành công hay thất bại [51]. Cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ tốt sẽ quyết định các kết luận giám sát được thực hiện đúng định hướng của Đảng, chỉ đạo của Quốc hội, đảmbảo quá trình triển khai đúng pháp luậtvớimức độcố gắngtối đa đểhoàn thành được nội dung cáckếtluận giám sát.Nếucán bộ có phẩm chất chính trị hạn chế, tình thần, thái độ làm việc thấp sẽ dẫn tới sựlệch lạc, làm không nhiệt tình, thiếu chặt chẽ, tránh tình trạng cố tình vi phạm, né tránh trong quá trình thực hiện.

Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác sẽ ảnh hưởngtới mứcđộ hiệu quả trong thực hiện các nội dung công việc theo yêucầutại các kếtluận giám sát. Đối với các kết luận giám sát nói chung, đặc biệt là các vấn đề quan trọngđòi hỏiđộingũ cán bộ thực hiện phải có trình độcao, hiểu sâu vấn đề thực hiện, liên hệ chặt chễ được các vấn đề liên quan khác, nắmchắc về luật, các văn bản hướng dẫn. Bên cạnh đó, đòi hỏi cán bộ thực hiện phải là người dày dặn kinh nghiệm trong lĩnh vực thực hiện, tránh tình trạng giao việc cho người thiếu chuyên môn, kinh nghiệm. Cán bộ, người thực hiện có trình độ chuyên môn tốt, nhiều kinh nghiệm bên cạnh việc thực hiện tốt các yêu cầu, còn chủ động xácđịnh được các vấn đề mới, vấn đề khó khăn, phức tạp, bất cập trong quá trình triển khai và có sựtham mưu, góp ý tốt cho lãnh đạo cấp trên, cơ quan, đơn vị trong quá trình triển khai thực hiện.

Phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm công tác của cán bộ, người trực tiếp triển khai thực hiện kết luận giám sát sẽ đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện đúng hướng, triệt để, mang lại chất lượng, hiệu quả cao nhất, phòng tránh và chủ động chống lạicác biểu hiện

lệch lại, sai phạm trong quá trình thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội [28].

59

2.3.5. Công tác phối hợp giữa các chủ thể có liên quan t ong thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội

Bên cạnh các nhân tố đã được phân tích, thì công tác phối hợp giữa các chủ thể chính là yếu tố quan trọng giữ vai trò là hỗ trợ, tạo ra sức mạnh tổng hợp nhằm đảm bảo các kết luận giám sát được thực hiện chặt chẽ.

Công tác phối hợp được thực hiện giữa Quốc hội, Ủyban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và giữa các cơ quan nói trên với Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, các Bộ, Ngành, Chính quyền địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan khác. Vấn đề phối hợpsẽ là điều kiện quan trọng để Quốc hội, các bên phối hợp, trao đổi, cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết để triển khai thực hiện kết luận giám sát, đối chiếu, đánh giá kết quả thực hiện các kết luận giám sát. Phối hợp trong xác định trách nhiệm của các bêntừviệc phân công thực hiện kết luận giám sát của Quốc hội, kiểm tra các thông tin phản hồi, phối hợp nhằm điều tra, làm rõ các trường hợp sai phạm, các trường hợp có dấu hiệu tội phạm, vi phạm pháp luật. Thông qua hoạt động phối hợpsẽ giúp các bên tiếp nhận được các kiến nghị, yêu cầu, ý kiến đóng góp có giá trị liên quan đến quá trình thực hiện kết luận giám sát.

Hoạt động phối hợp có thể được đánh giá theo chiều dọc giữa cơ quan chỉđạo thực hiện kết luận giám sát cấp trên đến các cơ quan cấp dưới, các cơ quan, đơn vị, cá nhân thực hiện, cụ thể hóa kết luận giám sát. Chẳng hạn, Ủy ban thường vụQuốc hội thực hiệnchỉđạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát như phân công Hội đồngdân tộc, các Ủy ban của Quốc hội thẩm tra các báo cáo và thực hiện một số nội dung trong chương trình giám sát của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hằng năm báo cáo về dự kiến chương trình, nội dung, kế hoạch giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội điều chỉnh chương trình, kế hoạch, thời gian, địa điểmthực hiện giám sát của mình để tránh trùng lặp, chồng chéo về nội dung, thời gian, địa điểm giám sát. Yêu cầu Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phối hợp thực hiện hoạt động giám sát ở cùng một địa phương, cơ quan, đơn vị đểbảo đảmchất lượng và hiệu quả hoạt động giám sát. Thực hiện các kết luận giám sát cũng cần sự tham gia thực hiện giữa các bên cùng cấp, các ngành, lĩnh vực khác nhau trong trao đổi, phối hợp cung cấp thông tin, cùng phối hợp thực hiện, tham gia

tổng kết, đánh giá, tham gia góp ý cho quá trình thực hiện, tham gia các đoàn kiểm tra liên ngành đối với việc thực hiện kết luận giám sát. Phối hợp giữa Quốc hội, các

60

cơ quan chức năng vớicác tổ chức, cá nhân trong tiếp nhận các thông tin tố giác, tiếp nhận đơn khiếu nại, tố cáo, tiếp thu các kiến nghị, đóng góp ýkiến của Nhân dân đối với các vấn đề trong kết luận giám sát.

2.3.6. Một số các yếu tố khác

Ngoài ra, việc đảm bảo hiệu lực, hiệu quả thực thi các kết luận giám sát của Quốc hội còn phụ thuộc vào một số yếu tố khác như:

– Yếu tố chính trị

Chế độ chính trị, chủ thể chính trị(quyết tâm chính trị); Yếu tố chính trị ởđâyđược hiểu là mọi kết luận giám sát của Quốc hội thì không được trái với chủtrương, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đảng chính trịlãnh đạo Quốc hội, chỉ đạo hoạt động giám sát và ban hành kết luận giám sát. Tuy nhiên, sự chỉ đạo, lãnh đạo ở đây được thể hiện bằng chủ trương, đường lối, chính sách của mình trong công tác của Quốc hội. Còn Quốc hội làm gì? Làm nhưthế nảođể đạt được hiệu lực, hiệu quả cao mà không trái với chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước là được.

– Yếu tố đảm bảo về nhận thức

Trước hết là sựthống nhất nhận thức về vai trò giám sát của Quốchộivàviệc thực thi kết luận giám sát trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhưmột hoạt động nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong các quyết định, hành động và chính sách của mình. Vì vậy cần có sự hợp tác giữa các cơ quan hành pháp với các cơ quan của Quốchộitrong quá trình tiến hành hoạt động giám sát. Chỉ có sự thốngnhất vềnhận thức mới tạo điều kiện thuận lợiđể Quốc hội thực hiện đúng, đủ thẩm quyền giám sát của mình. Nhận thức thống nhất sẽ có tác dụng tăng cường sự phối hợp và trách nhiệm của từng cơ quan trong quy trình giám sát. Tư tưởng, nhận thức đúng đắn về vai trò giám sát của Quốc hội bao hàm cả nhận thức về tính độc lập, khách quan của các chủ thể trong quá trình thức hiện quyền giám sát. Quốc hội và đại biểu Quốc hội cần được đảmbảo thực quyền trong việc đánh giá, đưa ra kiến nghị giám sát trên cơ sở tuân thủ Hiến pháp và pháp luật vì quyền lợi của cử tri, không bị tác động, ảnh hưởng bởi bất kỳ luồng tư tưởng, cơ chế hoặc hành vi của tổ chức, cá nhân nào.

– Các yếu tố về xã hội

Các yếu tố về xã hội bao gồm các điều kiện về tâm lý và động thái của xã hội tiếp nhận vàủnghộcác hành vi giám sát, kết luận giám sát của các chủthể giám sát, thái độ phê phán các hành vi tiêu cực trong thực thi kiến nghị giám sát… Để có

61

được những điều này thì việc giáo dục ý thức, nâng cao dân trí và phát huy sức mạnh của phương tiện thông tin đại chúng là hết sức quan trọng. Đây là yếu tố đảm bảo quan trọng vì xét cho cùng tháiđộ (ủnghộ hay phê phán)củaxửtri, cửadưluận xã hội đối với hoạt động giám sát của Quốc hội là sự kiểm chứng khách quan hiệu lực và hiệu quả của hoạt động này.

Bảng 1: Mức độ hài lòng của người dân về một số hoạt động

giám sát của Quốc hội năm 2014

Đơn vị tính: %

TTNội dungHài lòngChưa hài

lòng lắm

Không hài lòngKhó trả

lời

1Hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn36,260,12,61,1
2Giải quyết kiến nghị của cửtri24,363,69,03,1
3Giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân22,559,813,44,3
4Hoạt động giám sát của Đoàn ĐBQH và ĐBQH40,549,95,44,1
5Lấyphiếu tín nhiệmđối với người do Quốchộibầu hoặc phê chuẩn39,642,412,85,2

(Số liệu do Văn phòng Quốc hội cung cấp – 2014)

Qua bảng số liệu ta nhận thấy hoạt động giám sát của Quốc hội được người dân đánh giá thể hiện sự hài lòng chỉ chiếm 1/3, 1/4 tổng số người dân cho ý kiến, phần lớn người dân đánh giá Chưa hài lòng, đặc biệt là hoạt động chất vấn vàtrảlời chất vấn; giải quyết đơn thư khiếu nại, tốcáo của công dân, cóđến hơn 60% người dân đánh giá chưa hài lòng. Qua tìm hiểu, lý do mà ngườiđược hỏichưa hài lòng lắm và không hài lòng về một số hoạt động giám sát của Quốc hội là do: Việc giải quyết đơn thư khiếu nại còn chậm trễ, nhiều vấn đề còn lặp đi lặp lại ở nhiều kỳ

họp; Công tác giám sát của Quốc hội hiện nay còn mang tính thời vụ, chưa nhất quán và nặng tính hình thức; Việc lấyphiếu tín nhiệm còn mang tính hình thức, không có tác động cụ thể đến người được bỏ phiếu tín nhiệm; Hình thức lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn chưa hợp lý, chỉ nên quy định lấy phiếu ở hai mức Tín nhiệm và Không tín nhiệm [59].

62

– Các điều kiện về kinh tế và khoa học kỹ thuật (tài chính, điều kiện phương tiện, trang bị vật chất, thông tin…)

Đâycũng là nhữngyếu tố ảnh hưởng đếnviệc thực thi kết luận giám sát. Các nước có điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật thường được thành lập văn phòng riêng cho nghị sĩ tại đơn vị bầu cử với đầy đủ phương tiện kỹ thuật và được hỗ trợ kinh phíthuê đội ngũ nhân viên giúp việc, các chuyên gia hỗ trợ việc thu thập xử lý thông tin, giúp cho nghị sĩ có cơ sở hình thành chính kiến, chất vấn Chính phủvà đảm bảo kết luận giám sát của Quốc hội phải được thực thi có hiệu quả [22]. Điều kiện tài chínhđầyđủ giúp cho Nghị sĩ có thể duy trì mối quan hệ thường xuyên và chặt chẽ với địa phương, có thông tin đầy đủ hỗ trợ cho hoạt động giám sát cũng như thực hiện chức năng đại diện của mình. Khi có được nguồn tài chính và phương tiện vật chất – kỹ thuậtđầy đủ để tiến hành giám sát, được cập nhật một cách thường xuyên và toàn diện các thông tin cần thiết, khách quan thì đại biểu Quốc hội sẽ có căn cứ để thẩm tra, đánh giá các chính sách, hoạt động của các cơ quan nhà nước [35], và khi đó hiệu quả thực thi kết luận giám sát sẽ được nâng lên một bước khả quan.

2.4. Kinh nghiệmmộtsốquốc giavềpháp luật giám sát và việcbảođảm thi hành kết luận giám sát của Quốc hội.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 1\KẾT LUẬN GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI VIỆT NAM LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *