Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Sau hơn 20 năm đổi mới, hệ thống các ngân hàng thương mại Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế, xã hội đất nước. Đặc biệt trong những năm qua, ngành ngân hàng còn là công cụ đắc lực hỗ trợ Nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định đồng tiền, giá cả hàng hoá.
Trong các hoạt động của ngân hàng thương mại, hoạt động tín dụng (trong đó chủ yếu là hoạt động cho vay) là hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản của các ngân hàng. Cho vay là hoạt động tạo ra thu nhập chủ yếu và cũng là hoạt động tiềm ẩn nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng trong cho vay là một trong những loại rủi ro lâu đời và quan trọng nhất mà ngân hàng thương mại cũng như các tổ chức tài chính trung gian khác phải đối mặt. Hậu quả của rủi ro trong hoạt động cho vay luôn có tác động và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống ngân hàng nói riêng và cả nền kinh tế xã hội nói chung. Do đó, bất cứ lúc nào rủi ro tín dụng trong cho vay cũng luôn mang tính thời sự và việc hoàn thiện hoạt động cho vay, hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro tín dụng là vấn đề sống còn được quan tâm hàng đầu của các ngân hàng thương mại.
Trong cơ cấu cho vay của NHTM, cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp (KHDN) thường chiếm tỷ trọng cao nhất và cũng là mảng kinh doanh chủ lực của các chi nhánh ngân hàng. Cho vay đối với đối tượng khách hàng này giúp các chi nhánh gia tăng quy mô, lợi nhuận một cách nhanh chóng do giá trị khoản vay lớn, mức độ sử dụng các dịch vụ tiện ích gia tăng cao. Vì thế, hoàn thiện hoạt động cho vay đối với KHDN là vấn đề cấp thiết cần đặt ra hiện nay.
Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk cũng rất quan tâm đến hoàn thiện hoạt động cho vay đối với KHDN. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, hệ thống ngân hàng rơi vào giai đoạn mà các chuyên gia gọi là “qua thời hoàng kim”. Hầu hết kết quả hoạt động kinh doanh của hệ thống các NHTM nói chung không đạt được hiệu quả như kỳ vọng. Do đó, mặc dù được chú trọng nhưng hiệu quả mang lại ở một số mặt còn hạn chế. Tỷ lệ nợ xấu, nợ tiềm ẩn rủi ro trong những năm qua vẫn còn tồn đọng và ngày càng có xu hướng tăng, trong đó, dư nợ của khách hàng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất. Do đó, để đảm bảo cho BIDV Bắc Đăk Lăk luôn phát triển một cách bền vững và hiệu quả thì chi nhánh phải luôn bám sát và thực hiện đúng theo định hướng: “mở rộng, tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng tín dụng”. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, em lựa chọn đề tài “Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk” để làm luận văn thạc sỹ.
3.1. Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu chung của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:
– Hệ thống hoá cơ sở lý luận về hoạt động cho vay đối với KHDN của NHTM.
– Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay đối với KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk. Qua đó, đánh giá những mặt đã đạt được, xác định những vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân.
– Trên cơ sở các thực trạng thu thập được, đề tài sẽ nghiên cứu các nguyên nhân và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động cho vay đối với KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk.
3.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên, cần trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
[1] Khái niệm, đặc điểm, phân loại, nội dung hoạt động cho vay KHDN như thế nào?
[2] Nội dung hoạt động cho vay KHDN ra sao? Áp dụng vào BIDV Bắc Đăk Lăk như thế nào?
[3] Sử dụng tiêu chí nào để phản ánh kết quả hoạt động cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại? Kết quả hoạt động cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk ra sao?
[4] Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến kết quả hoạt động cho vay đối với KHDN tại NHTM nói chung và BIDV Bắc Đăk Lăk nói riêng?
[5] Hoạt động cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk đã đạt được những thành tựu nào? Còn những hạn chế nào? Nguyên nhân của những hạn chế này là gì?
[6] Có những giải pháp nào nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk?
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
– Đối tượng phân tích của luận văn là toàn bộ các vấn đề liên quan đến hoạt động cho vay KHDN của NHTM và thực tế hoạt động cho vay KHDN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
– Đối tượng khảo sát của luận văn là các bộ phận liên quan đến hoạt động cho vay KHDN của Chi nhánh bao gồm: Phòng khách hàng doanh nghiệp; Phòng Quản lý rủi ro và 03 Phòng giao dịch (PGD) trực thuộc Chi nhánh Bắc Đăk Lăk: gồm PGD Ea Hleo, PGD PơngDrang và PGD Krông Năng. Tại các phòng/bộ phận nêu trên, học viên sẽ thực hiện các hoạt động nghiên cứu gồm: Lấy số liệu về tổng dư nợ cho vay KHDN theo các cách phân loại, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn cho vay KHDN, thu nhập từ cho vay KHDN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk giai đoạn 2016-2018. Điều tra, phỏng vấn: sử dụng để thu thập thông tin khách hàng doanh nghiệp, phỏng vấn nhanh một số Trưởng/phó phòng, nhân viên làm việc lâu năm tại các phòng ban của Chi nhánh Bắc Đăk Lăk như các Phòng giao dịch, Phòng Khách hàng doanh nghiệp, Phòng Quản lý rủi ro, kết quả khảo sát cho phép xác định được thực trạng phát triển hoạt động cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận có liên quan đến cho vay KHDN tại NHTM. Sau đó, áp dụng vào phân tích thực trạng cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk và đánh giá những thành tựu đạt được, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó, đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay KHDN tại BIDV Bắc Đăk Lăk.
+ Phạm vi về thời gian: đề tài sẽ phân tích thực trạng trong 3 năm từ năm 2016 đến năm 2018.
+ Phạm vi về không gian: đề tài nghiên cứu hoạt động cho vay đối với KHDN tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk.
5.1. Phương pháp thu thập dữ liệu
Dữ liệu được thu thập từ các nguồn sau:
– Các giáo trình, bài giảng, sách tham khảo liên quan đến đề tài.
– Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới tên đề tài luận văn.
– Các văn bản pháp lý của NHNN và các cơ quan quản lý liên quan tới nghiệp vụ cho vay bán lẻ
– Các báo cáo, nghiên cứu, đánh giá về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội… trên các phương tiện thông tin đại chúng
– Tài liệu nội bộ của BIDV Bắc Đăk Lăk: Báo cáo thường niên giai đoạn 2016 đến 2018; Báo cáo tín dụng và nhân sự BIDV Bắc Đăk Lăk giai đoạn 2016 đến 2018…
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
5.2.1. Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến nhất trong phân tích dữ liệu. Để vận dụng phép so sánh trong phân tích tình hình cho vay đối với KHDN của chi nhánh cần quan tâm đến điều kiện so sánh, tiêu chuẩn so sánh của chỉ tiêu phân tích cũng như kỹ thuật so sánh.
Điều kiện so sánh: các chỉ tiêu phân tích phải đảm bảo tính chất so sánh được. Đó là sự thống nhất về nội dung, phương pháp tính toán, thời gian và đơn vị đo lường. Bên cạnh đó cần phải có ít nhất 2 chỉ tiêu để so sánh được với nhau.
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu gốc được chọn làm căn cứ so sánh. Việc xác định số gốc để so sánh tuỳ thuộc vào mục đích của phân tích, nhà phân tích thường sử dụng các gốc như sau:
+ Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích thì gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở một thời điểm trước, một kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước. Lúc này so sánh chỉ tiêu ở thời điểm này với thời điểm trước, giữa kỳ này với kỳ trước, năm này với năm trước hoặc hàng loạt kỳ trước.
+ Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra thì gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa thực tế với kế hoạch của chỉ tiêu.
Kỹ thuật so sánh trong phân tích tài chính thể hiện qua các trường hợp sau:
+ So sánh bằng số tuyệt đối để thấy được sự biến động về số tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích.
+ So sánh bằng số tương đối để thấy thực tế so với kỳ gốc chỉ tiêu tăng hay giảm bao nhiêu %.
5.2.2. Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này được áp dụng phổ biến trong phân tích dữ liệu vì nó dựa trên ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng riêng trong mối quan hệ với các đại lượng chung. Trong nghiên cứu này, phương pháp được dùng để tính tỷ trọng của từng loại cho vay KHDN để từ đó thấy được nên tập trung đưa giải pháp ở những loại hình cho vay KHDN nào.
Phương pháp tỷ lệ giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu và phân tích một cách có hệ thống hàng loại tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn. Qua đó nguồn thông tin được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn.
6. Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
– Luận văn đã thực hiện tiếp cận, luận giải một cách hệ thống hóa làm rõ hơn những vấn đề cơ bản về hoạt động cho vay DN của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk một cách độc lập nhằm phát triển bền vững.
– Trên cơ sở phân tích thực trạng hoạt động cho vay DN của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk trong 3 năm gần đây cụ thể từ năm 2016 – 2018, luận văn đã chỉ rõ những mặt đã đạt được, những hạn chế, tồn tại trong hoạt động.
– Tính thực tiễn: Luận văn đã tổng kết, phân tích thực trạng cho vay DN của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk, đánh giá được những kết quả đạt được, những mặt hạn chế và nhân tố ảnh hưởng, qua đây đã nhận định được tiềm năng, xu hướng phát triển hoạt động của ngân hàng để đưa ra giải pháp hữu hiệu có tính thực thi. Trên cơ sở đó, tùy thuộc vào quy mô, phạm vi, chiến lược phát triển của chi nhánh để có thể vận dụng vào thực tiễn áp dụng.

8. Bố cục (dự kiến) của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 phần chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Đăk Lăk
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, là hoạt động thể hiện chức năng trung gian tín dụng của ngân hàng và là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn nhất cho mỗi ngân hàng, Cho vay ngân hàng có thể hiểu là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Hoạt động cho vay là cơ bản và quan trọng nhất trong các hoạt động cấp tín dụng của NHTM. Hoạt động cho vay ra đời từ khá sớm, thu nhập từ hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập của NHTM và quen thuộc nhất với những người sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Hoạt động cho vay là đem lại nguồn thu tương đối lớn cho các NHTM, nhưng đồng thời cũng là hoạt động đem lại nhiều rủi ro. NHTM khi cho khách hàng vay vốn sẽ thu được một khoản lợi nhuận từ lãi tiền vay mà khách hàng trả. Tuy nhiên, ngân hàng cũng phải đối mặt với những rủi ro về lãi suất, về thanh khoản, về kỳ hạn… mà nếu không có những biện pháp quản lý phù hợp, ngân hàng rất có thể sẽ bị phá sản.
Theo P.Rose (2003), Cho vay là chức năng kinh tế hàng đầu của Ngân hàng, để tài trợ cho chi tiêu của các doanh nghiệp, các cá nhân và các cơ quan chính phủ.
Theo thông tư 39/2016/TT-NHNN, Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.
Việc cho vay ở đây là sự chuyển quyền sử dụng về tiền giữa người cho vay (NH và các định chế tài chính khác) với bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các tổ chức). Sự chuyển quyền sử dụng về tiền chỉ là tạm thời, trong một thời gian nhất định, không phải là vĩnh viễn. Khi đến hạn thanh toán thì bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay.
Có nhiều “tiêu chí khác nhau để phân loại cho vay sao cho phù hợp với phương thức quản lí của NHTM. Thông thường có những cách phân loại như sau:
a. Căn cứ vào mục đích cho vay: gồm có cho vay sản xuất và cho vay tiêu dùng.
– Cho vay sản xuất: được cung cấp cho nhà sản xuất và kinh doanh hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh.
– Cho vay tiêu dùng: được sử dụng để cho vay phục vụ các nhu cầu tiêu dùng.
b. Căn cứ vào thời hạn cho vay: gồm có cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn và cho vay dài hạn.
– Cho vay ngắn hạn: có thời hạn vay vốn không quá 12 tháng.
– Cho vay trung hạn: có thời hạn vay vốn từ trên 1 năm đến 5 năm.
– Cho vay dài hạn: có thời hạn vay vốn từ trên 5 năm.
c. Căn cứ vào mức độ tín nhiệm của khách hàng: gồm có cho vay bảo đảm bằng tài sản và cho vay bảo đảm không bằng tài sản.
– Cho vay bảo đảm bằng tài sản gồm có hai loại: món vay được đảm bảo bằng tài sản của khách hàng vay hoặc bên thứ ba; và món vay được đảm bảo bằng tài sản hình thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng.
– Cho vay đảm bảo không bằng tài sản gồm có ba loại: cho vay bảo đảm bằng uy tín của người vay, cho vay bảo đảm bằng uy tín của bên thứ ba và cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo chỉ định của Chính Phủ.
d. Căn cứ vào phương thức cho vay: mỗi NHTM sẽ có các cách phân chia khác nhau. Dưới đây là cách phân chia được nhiều NHTM sử dụng.
– Cho vay từng lần: được áp dụng đối với khách hàng không có nhu cầu vay thường xuyên hoặc không đủ điều kiện để được cấp hạn mức tín dụng. Mỗi lần vay vốn, khách hàng và NH lập thủ tục vay vốn theo quy định và ký HĐTD.
– Cho vay theo hạn mức tín dụng:được áp dụng với khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, kinh doanh ổn định. Trong suốt kỳ cấp tín dụng, khách hàng có thể vừa rút vốn vay, vừa trả nợ vay và bảo đảm số dư nợ không vượt quá hạn mức tín dụng được cấp.
– Cho vay theo dự án đầu tư: được áp dụng cho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đời sống.
– Cho vay đồng tài trợ:là việc NH tham gia cùng với một hay nhiều TCTD khác, do một TCTD làm đầu mối, để cho vay một hoặc một phần dự án, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đầu tư phát triển và đời sống.
– Cho vay trả góp: NH cho khách hàng vay với điều kiện trả gốc làm nhiều lần trong thời hạn tín dụng thỏa thuận.
– Ngoài ra, còn có một số phương thức cho vay khác như chiết khấu; cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng…
Hoạt động cho vay của NHTM đóng vai trò rất quan trọng, nó không những thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng, thanh toán ngoại hối…Cụ thể vai trò của cho vay của NHTM như sau:
a. Đối với nền kinh tế
NHTM là một định chế tài chính không thể thiếu trong bất cứ nền kinh tế hiện đại nào. NHTM đóng vai trò trung gian làm cầu nối chuyển những khoản tiết kiệm thành các khoản đầu tư, tiêu dùng nhờ hoạt động cho vay.
– Ngân hàng có vai trò là người cung cấp vốn cho nền kinh tế. Doanh nghiệp ngoài nguồn vốn đầu tư ban đầu, trong quá trình hoạt động sẽ phát sinh các nhu cầu vốn như: vốn để đầu tư tài sản cố định, hay nhu cầu vốn đến bất ngờ trong quá trình sản xuất kinh doanh… Để đáp ứng nhu cầu vốn này, NHTM sẽ cung cấp các khoản vay cho doanh nghiệp.
– Ngân hàng đã thực hiện việc phân phối nguồn lực một cách hợp lý. NH luôn luôn nhận ra trong nền kinh tế, ngành – lĩnh vực nào làm ăn có hiệu quả hay đang có điều kiện phát triển, NH thường tập trung vốn vào những ngành đó.
– Ngân hàng giúp cải thiện đời sống, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Không chỉ cho vay phục vụ nhu cầu sản xuất kinh doanh, các NHTM hiện nay còn mở rộng cho vay phục vụ tiêu dùng như: nhu cầu mua sắm các mặt hàng tiêu dùng, mua ô-tô, nhà đất hay xây dựng, sửa chữa nhà ở, thậm chí nhu cầu vốn để thanh toán các chi phí để đi du học…
b. Đối với ngân hàng
Hoạt động cho vay là một hoạt động cơ bản nhất và quan trọng nhất của NHTM. Ngày nay hoạt động cho vay là hoạt động chiếm tỉ trọng lớn nhất và là hoạt động đem lại thu nhập chính cho NH. Nhờ vào huy động vốn từ nền kinh tế, sau đó cho các tổ chức kinh tế, các cá nhân vay vốn, NH hưởng phần chênh lệch giữa hai loại lãi suất đi vay và cho vay.
Mặc dù đem lại thu nhập chính nhưng bên cạnh đó hoạt động cho vay lại là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro nhất cho NHTM. Rủi ro đó là việc khách hàng vay vốn không thể hoàn trả được vốn vay và do vậy gây mất vốn cho NH. NH thường khó có thể kiểm soát được tất cả các khoản vay của mình, cũng như không thể lường trước được sự thay đổi về kinh tế – chính trị – tự nhiên mà những điều này ảnh hưởng tới khoản cho vay của NH. Có nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng rủi ro tín dụng là tất yếu trong hoạt động cho vay của NH, chúng ta chỉ có thể hạn chế nó chứ không thể loại bỏ được nó.
a. Khái niệm về rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. Có rất nhiều khái niệm về rủi ro tín dụng như sau:
– Theo Thomas P. Fitch: rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thoả thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.
– Theo Hennie van Greuning – Sonja B rajovic Bratanovic: rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong HĐTD. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của NH.
Từ các khái niệm trên, chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín dụng như sau:
– Rủi ro tín dụng xảy ra khi người đi vay trễ hẹn hoặc tồi tệ hơn là không thanh toán nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm vốn gốc và/hoặc lãi phát sinh.
– Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến phá sản.
Rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của NHTM gắn liền với chính hoạt động cho vay của NHTM. Nguồn thu nhập từ hoạt động cho vay của NHTM phụ thuộc vào tình hình sử dụng vốn vay của người vay. Vì vậy, có thể nói, chất lượng khoản vay sẽ quyết định hiệu quả của hoạt động cho vay và hiệu quả kinh doanh của NHTM. Tuy nhiên, đứng trên góc độ quản lý, rủi ro trong hoạt động cho vay là điều không thể tránh khỏi, luôn tồn tại song hành cùng hoạt động kinh doanh và chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ.
b. Các loại rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
Rủi ro giao dịch: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm:
+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi NH lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay.
+ Rủi ro bảo đảm: là rủi ro phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp động cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của NH, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động và đặc điểm sử dụng vốn vay của khách hàng.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp NH tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
c. Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại
– Từ phía khách hàng vay vốn:
+ Do khách hàng kinh doanh thua lỗ nên mất khả năng trả nợ. Trường hợp này rất phổ biến do kinh nghiệm, năng lực điều hành của ban quản trị còn hạn chế dẫn đến doanh nghiệp không đủ khả năng ứng phó trước những biến động thị trường.
+ Sử dụng vốn sai mục đích: khách hàng cố tình lập các chứng từ rút vốn vay giả mạo mà do nhiều lý do NH không phát hiện được. Việc sử dụng vốn vay sai mục đích trong nhiều trường hợp là do người vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm với kỳ vọng sẽ mang lại lợi nhuận cao, tuy nhiên kết quả lại không như ý muốn. Cũng có trường hợp khách hàng đã không có khả năng trả nợ vay tại NH khác, và cố tình tìm mọi cách vay vốn tại NH này và mang đi đảo nợ là nguyên nhân dẫn đến khách hàng không có nguồn trả nợ để thanh toán nợ đúng hạn và đầy đủ cho NH.
– Từ phía ngân hàng:
+ Chính sách và quy trình cho vay lỏng lẻo: định hướng tín dụng chưa đạt được tầm chiến lược, bị cuốn theo hội chứng kinh tế, tìm mọi cách để cạnh tranh, giành giật thị trường ở các ngành hàng, các nhóm khách hàng mà không hề nhận thấy rằng NH mình không có sở trường trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, kỹ thuật cấp tín dụng còn nghèo nàn, chưa hiện đại và đa dạng. Công tác quản lý rủi ro tín dụng và kiểm soát sau cho vay chưa được chú trọng.
+ Thiếu thông tin: NH chưa xây dựng được hệ thống dữ liệu về khách hàng một cách đầy đủ, chưa có kênh thông tin kiểm tra chéo.
+ Chất lượng đội ngũ cán bộ liên quan đến hoạt động cho vay chưa cao: Đội ngũ cán bộ thiếu trình độ chuyên môn, không đủ khả năng thẩm định phương án vay vốn của khách hàng, thiếu kinh nghiệm phát hiện những điều bất thường trong phương án của khách hàng và không đủ khả năng nhận biết tình hình kinh tế – xã hội tác động như thế nào đến lĩnh vực kinh doanh của khách hàng. Điều này dẫn đến việc ra các quyết định cho vay không đúng.
Ngoài ra, có những cán bộ tín dụng đứng trước cám dỗ của đồng tiền, đã thông đồng với khách hàng để chiếm đoạt tiền của ngân hàng.
1.2. HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Dựa trên khái niệm cho vay của ngân hàng thương mại đã trình bày ở trên, trong phạm vi luận văn, có thể hiểu cho vay khách hàng doanh nghiệp như sau: “Cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM là hình thức cấp tín dụng, theo đó, NHTM giao hoặc cam kết giao cho doanh nghiệp một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi”.
Ngân hàng thương mại được coi là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ và dịch vụ ngân hàng. Trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại, hoạt động cho vay là hoạt động đóng góp lợi nhuận nhiều nhất cho ngân hàng. Cho vay doanh nghiệp của NHTM có những đặc điểm sau:
– Đối tượng khách hàng đa dạng vì các doanh nghiệp hoạt động trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Do đó nhu cầu vay vốn để đáp ứng cũng đa dạng và phong phú, từ việc cho vay trong lĩnh vực xây dựng đối với các doanh nghiệp xây lắp hay cho vay lĩnh vực đầu tư chăm sóc cây công nghiệp đối với các doanh nghiệp sản xuất cà phê, cao su…
– Mục đích sử dụng vốn của doanh nghiệp là để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh, mở rộng quy mô sản xuất như vay vốn để mua nguyên liệu phục vụ sản xuất, mua sắm tài sản cố định, xây dựng nhà xưởng, đổi mới thiết bị và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất kinh doanh với các khoản vay có giá trị lớn và có thể rất lớn.
– Thủ tục và quy trình cho vay doanh nghiệp phức tạp hơn vì tính pháp lý của doanh nghiệp phức tạp hơn nhiều so với cá nhân. Bên cạnh đó giá trị khoản vay lớn và tài sản đảm bảo thường phức tạp, khó định giá hơn vì hầu hết tài sản doanh nghiệp thường thế chấp chính nhà máy, dụng cụ sản xuất của mình…
– Nguồn trả nợ của người vay từ tiền bán hàng (T-H-T’), lợi nhuận, khấu hao và các nguồn thu hợp pháp khác.
– So với cho vay khách hàng cá nhân và hộ kinh doanh, khách hàng doanh nghiệp có hệ thống thông tin tốt hơn, chặt chẽ hơn do đều có hệ thống thông tin kế toán, báo cáo tài chính. Các thông tin tài chính được khách hàng cung cấp từ các báo cáo tài chính, báo cáo thuế… Tùy thuộc vào báo cáo tài chính có được kiểm toán hay không, uy tín tổ chức kiểm toán mà chất lượng thông tin tài chính khách hàng cung cấp cao hay thấp.
– Rủi ro xảy ra từ cho vay doanh nghiệp thường gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng thương mại. Do đó, các lãnh đạo NHTM rất quan tâm đến quản trị rủi ro các khoản cho vay doanh nghiệp.
Hiện nay hoạt động cho vay đối với KHDN tại các NHTM là khác nhau tùy thuộc vào từng chính sách riêng mà các ngân hàng áp dụng, tuy nhiên luôn đảm bảo bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
a. Hoạch định chính sách cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Chính sách cho vay là hệ thống các chủ trương, định hướng quy định chi phối hoạt động tín dụng. Công tác hoạch định chính sách cho vay thường bao gồm các công việc sau:
– Xác định mục tiêu cho vay: tuỳ từng thời điểm, giai đoạn phát triển mà ngân hàng sẽ xác định các mục tiêu cho vay như: tăng trưởng quy mô, tăng trưởng thị phần, gia tăng chất lượng dịch vụ, tăng cường kiểm soát rủi ro hay gia tăng thu nhập.
– Đối tượng cho vay: Xác định đối tượng KHDN được phép vay vốn phù hợp với định hướng của ngân hàng trong từng thời kỳ.
+ Doanh nghiệp có nhu cầu vay vốn nhằm phục vụ các mục đích phù hợp với đặc điểm kinh doanh và quy định của Pháp luật.
+ Bên cạnh đó, ngân hàng còn giới hạn một số trường hợp không được vay vốn và hạn chế cho vay theo Luật tổ chức tín dụng như thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Phó giám đốc, một số cán bộ nhân viên của chính tổ chức tín dụng đó…
– Thời hạn cho vay:Là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thỏa thuận trong HĐTD giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Thời hạn cho vay được xác định phù hợp với dòng tiền, với chu kỳ sản xuất kinh doanh…
– Lãi suất cho vay: Lãi suất cho vay chính là giá cả của khoản vay. Lãi suất cho vay của NHTM được thông báo theo từng thời kỳ phù hợp với tình hình kinh tế và cơ chế điều hành lãi suất của NHNN và được ghi trên HĐTD hoặc giấy nhận nợ kèm theo HĐTD. Tùy từng hình thức vay vốn mà có phương thức trả lãi thích hợp.
– Giải ngân: NH sẽ căn cứ vào đơn đề nghị giải ngân, phương án vay vốn và các chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn để tiến hành giải ngân theo quy định.
– Kỳ hạn nợ: Được xác định chung cho tất cả các khoản nợ hoặc xác định riêng cho từng lần giải ngân.
b. Tổ chức bộ máy quản lý cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Hiện nay, các NHTM đang thực hiện một trong hai mô hình quản lý tín dụng tập trung và phân cấp.
– Đối với mô hình phân cấp có sự phân định rõ ràng giữa Hội sở và chi nhánh, mỗi phân đoạn công việc được phụ trách bởi những bộ phận riêng, nhiệm vụ của các phòng ban, bộ phận chức năng được xác định rõ ràng, từ đó làm cơ sở phân công trách nhiệm ở từng vị trí.
– Đối với mô hình tập trung tín dụng, tất cả công việc từ khâu tái thẩm định, xét duyệt hạn mức tín dụng, giải ngân trở về sau được tập trung tại các phòng ban liên quan tại Hội sở.
Trong hoạt động tín dụng, công việc tổ chức phân công phân nhiệm đối với lãnh đạo ngân hàng có quy định về quyền phán quyết tín dụng trong cho vay. Tùy vào từng chức danh vị trí cụ thể, tùy theo quy mô vốn vay lớn hay nhỏ, quyền phán quyết thường được trao cho một hội đồng tín dụng hay một cá nhân phụ trách. Hội đồng tín dụng bao gồm những người có quyền hạn và trách nhiệm quan trọng trong ngân hàng, thường phán quyết những hồ sơ có quy mô lớn. Trong khi quyền phán quyết của các hồ sơ vay vốn quy mô nhỏ thường được giao cho cá nhân phụ trách.
Mức phán quyết là mức tín dụng tối đa mà một người có thẩm quyền được quyền quyết định cho vay. Nó phụ thuộc vào kinh nghiệm, thời hạn cấp tín dụng, loại cho vay… Phân quyền phán quyết sẽ phát huy tính độc lập và tự chịu trách nhiệm của các nhân viên, giảm sức ép lên nhà quản trị, giảm thời gian lưu giữ hồ sơ, tạo cơ sở kiểm soát và nâng cao chất lượng tín dụng.
c. Các hoạt động triển khai cho vay đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
Các hoạt động triển khai hoạt động cho vay đối với KHDN của các NHTM thể hiện ở các nội dung sau:
– Tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn KHDN: điểm khác biệt giữa cho vay đối với KHCN và KHDN trong NHTM hiện đại đó chính là cho vay doanh nghiệp thì NH phải chủ động tiếp cận khách hàng. Các NHTM chủ động tìm kiếm thông tin, đánh giá và lựa chọn KHDN phù hợp với đặc điểm cho vay của NH mình.
– Cung ứng sản phẩm: khác với cho vay KHCN, hoạt động cho vay KHDN cần triển khai một danh mục sản phẩm đa dạng để đáp ứng nhu cầu thuộc nhiều lĩnh vực của khách hàng như: bổ sung vốn lưu động, bảo lãnh, đầu tư tài sản, đầu tư dự án, tài trợ thương mại… Tất cả các sản phẩm cung ứng đều phải được thiết kế để vừa đáp ứng được nhu cầu vốn cho khách hàng, đảm bảo quy trình thực hiện cho vay diễn ra nhanh chóng nhưng vẫn đảm bảo được sự an toàn vốn.
– Dịch vụ tiện ích đi kèm: là các dịch vụ tiện ích mà khách hàng được sử dụng hoặc sử dụng cùng với sản phẩm dịch vụ cho vay đối với KHDN như: dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, ngân hàng điện tử, thanh toán lương qua tài khoản… Khác với KHCN, KHDN thường sử dụng nhiều tiện ích đi kèm với sản phẩm vay hơn.
– Nâng cao chất lượng dịch vụ và chăm sóc KHDN vay vốn: dịch vụ khách hàng là hoạt động làm cho sản phẩm dịch vụ của NH phù hợp tới mức cao nhất và riêng biệt đối với từng khách hàng. Chăm sóc khách hàng là luôn tìm hiểu, và củng cố phát triển mối quan hệ giữa NH và khách hàng, đặc biệt là từng KHDN thông qua việc khảo sát sự hài lòng, giải quyết khiếu nại.
Trong giai đoạn hiện nay, các NHTM đang cạnh tranh gay gắt để tìm kiếm khách hàng, trong bối cảnh các chính sách cho vay, sản phẩm cung ứng giữa các ngân hàng ngày càng tương đồng thì yếu tố chất lượng dịch vụ là yếu tố quyết định đến việc đi hay ở của khách hàng.
– Kiểm soát rủi ro trong cho vay đối với KHDN: trong hoạt động cho vay đối với KHDN có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn như: rủi ro tác nghiệp, rủi ro lãi suất, rủi ro tỷ giá… nhưng quan trọng nhất là kiểm soát rủi ro tín dụng. Nội dung kiểm soát rủi ro tín dụng bao gồm:
+ Kiểm soát khách hàng vay và khoản vay: mục tiêu là thẩm định tư cách khách hàng, kịp thời phát hiện các rủi ro, sai sót trong quá trình thẩm định việc đáp ứng các điều kiện, hồ sơ giải ngân cho vay.
+ Kiểm soát trong quy trình tín dụng: nội dung kiểm soát về quy trình cấp tín dụng, từ lúc tiếp nhận hồ sơ đến khi thu nợ tất toán, bao gồm: kiểm soát hồ sơ khoản vay, kiểm tra nội dung thẩm định và phê duyệt tín dụng, kiểm soát quá trình giải ngân, kiểm tra và kiểm soát vốn vay sau giải ngân.
+ Kiểm soát tuân thủ hoạt động cho vay đối với KHDN: mục tiêu chính là kiểm soát tính tuân thủ trong quy trình cho vay thông qua việc áp dụng, tuân thủ quy định pháp lý, quy chế nội bộ của NH.
– Nhân sự và công nghệ: muốn hoạt động cho vay đối với KHDN của các NHTM phát triển thì phải xây dựng được hệ thống công nghệ hiện đại, đủ đáp ứng nhu cầu KHDN. Bên cạnh đó, đặc điểm hoạt động của các NHTM hiện đại ngày nay không còn gói gọn trong phạm vi là đơn vị cung ứng sản phẩm, mà còn đóng vai trò là đơn vị tư vấn cho khách hàng. Do đó, từng cán bộ quan hệ khách hàng, từng giao dịch viên, từng nhân viên ngân hàng trước tiên phải đóng vai trò là một người tư vấn tài chính để doanh nghiệp có thể tối đa hoá được dòng tiền, đem lại lợi ích cho cả ngân hàng và khách hàng.
F:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TAI CHINH NGAN HANG\DCCT KON TUM\PHAM GIA BAO
Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Đầu tư Phát triển Việt Nam
Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng
Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng
Hoàn thiện hoạt động cho vay doanh nghiệp tại Ngân hàng


