Hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trong quá trình phát triển kinh tế, đầu tư luôn là nguồn lực quan trọng, nhất là đối với các nước đang phát triển như Việt Nam. Vì vậy, Việt Nam rất chú trọng huy động các nguồn đầu tư, trong đó có nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước cho phát triển kinh tế – xã hội. Với những nỗ lực như vậy, nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước ở Việt Nam ngày càng gia tăng, góp phần bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước đã góp phần tích cực thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước đã góp phần tạo ra nhiều ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp quan trọng khác. Doanh nghiệp không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh, đổi mới quản trị doanh nghiệp, phương thức kinh doanh. Thông qua nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước, nhiều nguồn lực trong nước như lao động, đất đai, lợi thế địa lý kinh tế, tài nguyên được khai thác và sử dụng hiệu quả hơn, các nguồn lực được phân bổ hợp lý.
Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trong những năm qua, nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước đã tăng mạnh mẽ, trở thành khu vực kinh tế năng động, đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng và phát triển KT-XH của tỉnh Quảng Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước tăng dần, hiện chiếm khoảng 73% tổng đầu tư, và tạo ra khoảng 87% GRDP và 90% việc làm. Với những kết quả đạt được, đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước đã đóng góp một phần quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Nam. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước tuy chiếm phần lớn trong tổng đầu tư, nhưng hiệu quả và tác động của nguồn đầu tư này chưa cao, chưa được huy động vào nền kinh tế. Những vấn đề đó có liên quan tới công tác quản lý hoạt động đầu tư của các cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn tỉnh. Công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước vẫn còn một số hạn chế, yếu kém, thủ tục hành chính còn rườm rà, làm nản lòng nhà đầu tư hoặc có những sơ hở gây tổn hại cho địa phương mà nguyên nhân chủ yếu chính là công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước còn nhiều bất cập so với đòi hỏi đổi mới của công cuộc cải cách hành chính. Do đó, trong công tác này cần có sự quản lý chặt chẽ, định hướng đúng đắn để đảm bảo hiệu quả của dòng vốn này đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ta nói chung. Xuất phát từ lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu khát quát
– Mục tiêu tổng quát của đề tài là nhằm khái quát cơ sở lý luận và thực tiễn công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước, thực hiện phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
2.2. Mục tiêu cụ thể
– Khái quát lý luận về quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước;
– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam;
– Đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận văn tiếp cận từ góc nhìn của các nhà quản lý của địa phương đối với công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước, những phản ứng của đối tượng này với các chính sách và biện pháp quản lý, từ đó có những điều chỉnh, thay đổi phù hợp.
- Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.
- Về thời gian: Trong khoảng thời gian 6 năm, từ năm 2016 đến năm 2021.
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu nói trên, luận văn đã sử dụng tổng hợp các phương pháp sau:
4.1. Phương pháp thu thập số liệu
– Thu thập tài liệu về tổng kết tình hình đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước và hoạt động của các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, định kỳ quý, năm báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Quảng nam; báo cáo của Trung tâm Phục vụ hành chính công Quảng Nam về công tác giải quyết thủ tục hành chính.
– Thu thập số liệu sơ cấp thông qua lấy ý kiến chuyên gia thông qua điều tra khảo sát phiếu độc lập. Đối tượng phỏng vấn là 100 nhà đầu tư, doanh nghiệp. Phương pháp chọn mẫu theo kiểu thuận tiện trên cơ sở danh sách các nhà đầu tư, doanh nghiệp đang thực hiện dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Kết quả phỏng vấn cung cấp thông tin đánh giá sâu và đa chiều về công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, giúp tác giả làm rõ thực trạng về công tác này; từ đó tìm ra các hạn chế, tồn tại để đề xuất các giải pháp hoàn thiện.
4.2. Phương pháp phân tích số liệu
Tác giải thực hiện thu thập thông tin thông qua sách báo, tài liệu nhằm mục đích tìm chọn những khái niệm và tư tưởng cơ bản là cơ sở cho lý luận của đề tài về việc công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, hình thành giả thuyết khoa học, dự đoán về những thuộc tính của công tác này từ đó chọn lọc, sắp xếp, hệ thống hóa các cơ sở lý luận để làm nền tảng thực hiện nghiên cứu của luận văn.
5. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung đề tài được kết cấu thành 03 chương.
Chương 1. Cở sở lý luận công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước.
Chương 2. Thực trạng công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh quảng nam.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh quảng nam.

CƠ SỞ LÝ LUẬN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Đầu tư và đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Từ tổng quan các tài liệu cho thấy đầu tư được coi là động lực chính thức thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và bản chất của mối quan hệ này đã được nghiên cứu trong nhiều nghiên cứu mang tính lý thuyết và thực nghiệm. Nhiều nghiên cứu ngoài nước phân biệt giữa đầu tư công (sử dụng nguồn vốn ngân sách Nhà nước) và đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, theo đó đầu tư công thường được cho là đầu tư cho kết cấu hạ tầng. Việc phân biệt như vậy rất có ý nghĩa vì đầu tư cho kết cấu hạ tầng có những điểm khác biệt với nguồn vốn được sử dụng trong các doanh nghiệp. Kết cấu hạ tầng là vốn tồn tại bên ngoài doanh nghiệp và hỗ trợ hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp cũng như các hoạt động của các cá nhân. Do vậy, nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp và cá nhân trong một khu vực có hưởng lợi từ kết cấu hạ tầng đó mà không mất thêm chi phí hoặc ít nhất với chi phí thấp hơn nếu kết cấu hạ tầng đó được cung cấp cho người sử dụng thêm đó, nên kết cấu hạ tầng có thể coi như cung cấp những lợi ích ngoại lai cho những người sử dụng.
Ở nhiều quốc gia, một số hoạt động sản xuất là do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện. Tại các nước phát triển, đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng được giới hạn trong một số ngành và tỷ trọng các hoạt động do các doanh nghiệp nhà nước thực hiện đã giảm đi đáng kể.
Kinh tế học định nghĩa đầu tư là việc đầu tư để tạo năng lực sản xuất tạo ra hàng hóa và dịch vụ cung ứng cho thị trường (Vũ Chí Lộc (2012)).
Theo Luật Đầu tư công năm 2019: Đầu tư công là dự án sử dụng toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công.
Theo Luật Đầu tư năm 2020:
– Dự án đầu tư là tập hợp đề xuất bỏ vốn trung hạn hoặc dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định.
– Nhà đầu tư là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
Đây là hình thức mà nhà đầu tư có quyền tự do lựa chọn phù hợp với nhu cầu và mục tiêu của mình, khi thực hiện hoạt động đầu tư. Việc lựa chọn hình thức đầu tư đóng vai trò rất quan trọng đối với việc mang lại lợi nhuận cho nhà đầu tư. Chính vì vậy, việc nắm rõ các quy định pháp luật về đặc điểm và điều kiện của từng hình thức đầu tư trước khi tiến hành hoạt động đầu tư là việc rất cần thiết (Vũ Chí Lộc (2012)).
Với các quy định về hoạt động đầu tư như trên, pháp luật hiện hành Việt Nam ghi nhận bốn loại hình thức đầu tư tại Việt Nam như sau:
– Thành lập tổ chức kinh tế: theo quy định của Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020, nhà đầu tư được phép thành lập tổ chức kinh tế để thực hiện các hoạt động đầu tư.
– Góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào các tổ chức kinh tế: các nhà đầu tư, doanh nghiệp đầu tư bằng hình thức đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế phải thực hiện theo các quy định về hình thức, điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế của Luật Đầu tư.
– Đầu tư theo hình thức hợp đồng đối tác công tư (PPP): khi thực hiện đầu tư theo hình thức đầu tư này, nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án được ký kết hợp đồng PPP với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện dự án đầu tư xây dựng mới hay cải tạo, mở rộng, nâng cấp, quản lý và vận hành công trình kết cấu hạ tầng hay cung cấp dịch vụ công.
– Đầu tư theo hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC): đây là hình thức đầu tư giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh và phân chia sản phẩm, phân chia lợi nhuận mà không thành lập tổ chức kinh tế.
1.1.2. Khái niệm quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước
Theo Phan Huy Đường (2015), quản lý nói chung là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật. Vì thế, nói đến quản lý là phải nói đến cơ chế vận hành, tức là cơ chế quản lý như chế độ, chính sách, biện pháp tổ chức, tâm lý xã hội…
QLNN là một dạng quản lý do Nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối, v.v… để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong những giai đoạn lịch sử nhất định.
Như vậy, từ khái niệm về QLNN nói trên, chúng ta có thể hiểu công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước là tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước bằng nhiều biện pháp tới các hoạt động đầu tư của nhà đầu tư, doanh nghiệp nhằm thực hiện những chức năng của nhà nước trên cơ sở pháp luật.
1.1.3. Vai trò của Quản lý nhà nước đối với nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước
a) Định hướng, quy hoạch và điều tiết
Quá trình chuyển đổi kinh tế từ nền kinh tế kế hoach hóa tập tung sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN gắn liền với quá trình đổi mới tư duy về mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, thể hiện ở sự điều chỉnh và thực hiện tốt vai trò, chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước trước hết được thực hiện thông qua các công cụ định hướng, quy hoạch và điều tiết phát triển bằng các nguồn lực của Nhà nước. Việc định hướng, quy hoạch và điều tiết phát triển thuộc phạm vi đổi mới công tác quản lý do chính bộ máy nhà nước thực hiện.
– Công tác quy hoạch được đổi mới và thể chế hóa cùng với việc ban hành Luật Quy hoạch (năm 2017).
– Vai trò chức năng điều tiết phát triển của Nhà nước dựa trên các nguồn lực của Nhà nước thường trước hết gắn chặt với hiệu quả chính sách tài khóa và các chính sách khác có liên quan như các chính sách về tiền tệ, đầu tư công, đối mới DNNN. Mặc dù vậy, do nguồn thu NSNN không bền vững. Như vậy, xu hướng là nguồn lực từ NSNN ngày càng giảm (về tỷ trọng tương đối); do đó, để thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, Nhà nước cần phát huy các nguồn lực ngoài ngân sách bằng các công cụ mang tính kiến tạo, dẫn dắt, tạo thể chế thuận lợi cho các khu vực kinh tế ngoài Nhà nước phát triển.
b) Tạo lập khung khổ pháp luật cho việc thu hút nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước vào nền kinh tế
Môi trường pháp luật là bộ phận không thể thiếu đối với hoạt động đầu tư. Một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện và vận hành hữu hiệu là một trong những yếu tố tạo nên môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, định hướng và hỗ trợ cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp. Vấn đề mà các nhà đầu tư quan tâm là:
– Môi trường cạnh tranh lành mạnh, quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo đảm.
– Quy chế pháp lý của việc phân chia lợi nhuận, quyền hồi hưởng lợi nhuận đối với các hình thức vận động cụ thể của vốn nước ngoài.
– Quy định về thuế, giá, thời hạn thuê đất… Bởi yếu tố này tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm và tỷ suất lợi nhuận. Nếu các quy định pháp lý bảo đảm an toàn về vốn của nhà đầu tư không bị quốc hữu hóa khi hoạt động đầu tư không phương hại đến an ninh quốc gia, bảo đảm mức lợi nhuận cao, việc di chuyển lợi nhuận thuận tiện thì khả năng thu hút nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước càng cao.
Do vậy, hệ thống pháp luật phải thể hiện được nội dung cơ bản của nguyên tắc: Tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và theo thông lệ quốc tế. Đồng thời phải thiết lập và hoàn thiện định chế pháp lý tạo niềm tin cho các nhà đầu tư. Bên cạnh hệ thống văn bản pháp luật thì nhân tố quyết định pháp luật có hiệu lực là bộ máy quản lý. Nhà nước phải mạnh với bộ máy quản lý gọn nhẹ, cán bộ quản lý có năng lực, năng động, có phẩm chất đạo đức. Việc quản lý các dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước phải chặt chẽ theo hướng tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư song không ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế và xã hội.
Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh, phù hợp với các thông lệ của khu vực và quốc tế, không có sự phân biệt giữa các doanh nghiệp trong hay ngoài nước, công tác quản lý của nhà nước ngày càng đơn giản, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thì môi trường đầu tư càng có tính cạnh tranh cao và càng có khả năng hấp dẫn các nhà đầu tư trpng và ngoài nước.
c) Can thiệp gián tiếp vào khả năng đầu tư, sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư, doanh nghiệp
Hiến pháp 2013 (Điều 51) khẳng định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước”.
Nền kinh tế thị trường cần có sự kết hợp giữa Nhà nước và thị trường. Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt, thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi, để trên cơ sở đó, thị trường tự phân bổ nguồn lực. Khi Nhà nước chủ động thu hẹp vai trò, phạm vi hoạt động của mình thì cũng mở ra cơ hội, không gian cho tương ứng cho khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tham gia, phát triển, việc này được thực hiện thông qua các chính sách:
– Chủ trương, chính sách về xã hội hóa mở ra cơ hội và tạo điều kiện cho khu vực kinh tế ngoài Nhà nước tham gia thực hiện các dịch vụ sự nghiệp công.
– Đổi mới phương thức đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP).
– Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa và cơ cấu lại khu vực DNNN.
– Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước dành cho nhà đầu tư, doanh nghiệp: quy hoạch, bố trí quỹ đất; miễn, giảm tiền thuê đất; miễn, giảm các loại thuế, phí; hỗ trợ phát triển khoa học – công nghệ; chính sách tiếp cận tín dụng, hỗ trợ đào tạo lao động…
d) Kiểm tra, giám sát hoạt động đầu tư đối với nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước
Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá đầu tư được thực hiện thường xuyên, công khai, minh bạch được xác định là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác quản lý nhà nước đối với nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước. Việc này không chỉ giúp đảm bảo các chính sách phát triển mọi thành phần kinh tế đạt hiệu quả mà còn nhằm phòng, chống các mặt tiêu cực nhằm tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh lành mạnh, công bằng.
1.1.4. Mục tiêu của công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước
Việc xác định mục tiêu của công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước là điểm khởi đầu và là khâu quan trọng nhất của quá trình quản lý. Mục tiêu của công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước theo Luật Đầu tư là:
Thứ nhất, thông qua công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước để phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, hiệu quả, bền vững, thực hiện CNH – HĐH, tạo sự năng động cho nền kinh tế nhiều thành phần trong nước.
Thứ hai, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước nhằm giám sát các nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật Việt Nam; trong quá trình triển khai quản lý để phát hiện những điểm chưa phù hợp giúp Nhà nước dần dần hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư, cơ chế chính sách thu hút, quản lý hoạt động đầu tư từ nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo tạo môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp dựa trên khuôn khổ của pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước còn nhằm thực hiện các mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài, trong đó việc thu hút vốn, công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của nước ngoài phải đặt lên hàng đầu như: ưu tiên thu hút các dự án đầu tư có công nghệ hiện đại, tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng, thân thiện với môi trường.
Thứ năm, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước nhằm thúc đẩy tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chú trọng chất lượng tăng trưởng, hiệu quả và tính bền vững…
Thứ sáu, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước nhằm tạo môi trường pháp lý, môi trường chính trị, KT-XH ổn định, những điều kiện cần thiết và thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động kinh doanh có hiệu quả của các nhà đầu tư, doanh nghiệp.
Thứ bảy, công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước cũng nhằm giúp phát hiện sớm các sai sót, hạn chế trong các quy trình, thủ tục, chính sách đối với hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước để kịp thời để sửa đổi, bổ sung.
1.2. NỘI DUNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở CẤP ĐỘ ĐỊA PHƯƠNG
1.2.1. Xây dựng triển khai quản lý quy hoạch, kế hoạch đầu tư
Trong nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ở Việt Nam, các nhà đầu tư và doanh nghiệp có quyền tự chủ kinh doanh và chỉ muốn đầu tư vào những nơi có thể khai thác được nhiều lợi thế so sánh nhất. Do đó, nhà đầu tư, doanh nghiệp chỉ đầu tư vào những ngành có tỷ suất lợi nhuận cao, khả năng thu hồi vốn nhanh, ở những nơi có cơ sở hạ tầng vật chất thuận lợi. Những điều đó dễ dẫn đến tình trạng mất cân đối trong cơ cấu đầu tư và thiệt hại chung cho nền kinh tế. Để các nhà đầu tư, doanh nghiệp phát triển theo hướng “lành mạnh”, cân đối trong phạm vi địa bàn tiếp nhận đầu tư, giữa các ngành kinh tế và giữa các vùng thì việc xây dựng chiến lược, quy hoạch và kế hoạch thu hút đầu tư đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý nhà nước. Nhiệm vụ của công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước là phải định hướng, điều tiết vốn đầu tư trên cơ sở quy hoạch và kế hoạch một cách chi tiết và rõ ràng sao cho phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế của địa bàn tiếp nhận đầu tư.
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch về đầu tư là hình thành các quan điểm, định hướng, mục tiêu về phân bổ lĩnh vực, không gian, các điều kiện đầu tư trên vùng lãnh thổ của địa phương.
Trong nội dung quy hoạch đầu tư, quan trọng nhất là danh mục các dự án thu thút đầu tư vào địa phương.
Chủ thể xây dựng, ban hành và triển khai quy hoạch, kế hoạch về đầu tư là UBND tỉnh và cơ quan tham mưu trực tiếp là Sở Kế hoạch và Đầu tư. Việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch đầu tư cần phải có tính động, không được khép kín mà phải mang tính hợp pháp hóa, có sự liên kết giữa các vùng và các địa phương với nhau. Căn cứ của xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch về đầu tư là quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của địa phương và tổng hợp ý kiến tham gia của các nhà đầu tư.
Xây dựng và ban hành quy hoạch, kế hoạch về thu hút đầu tư phải thỏa mãn các nguyên tắc về chính trị, kinh tế – xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng mà Nhà nước Việt Nam đề ra; phải thể hiện được thành các danh mục dự án đầu tư cụ thể để thông tin đến các nhà đầu tư những lĩnh vực, địa bàn đang cần gọi vốn; chỉ rõ những ngành nghề, địa bàn được phép đầu tư hoặc không được phép đầu tư.
1.2.2. Ban hành triển khai pháp luật, cơ chế quản lý đầu tư
Ngoài việc xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, Nhà nước còn phải ban hành triển khai pháp luật, cơ chế chính sách quản lý đầu tư. Bởi vì sự tác động của quản lý nhà nước đối với các nhà đầu tư chủ yếu là thông qua hình thức gián tiếp hơn là cách thức tác động trực tiếp mang tính chất hành chính. Tác động gián tiếp mang tính mềm dẻo, uyển chuyển, vừa bảo đảm tính tự chủ của các doanh nghiệp, vừa bảo đảm mục tiêu chung về phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đồng thời cho phép tôn trọng các quy luật của thị trường. Vì thế, việc triển khai pháp luật, cơ chế chính sách quản lý hoạt động của các dự án đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước được xem như là công cụ hữu hiệu nhất của Nhà nước trong việc quản lý đối tượng này. Hệ thống cơ chế chính sách và pháp luật phải tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt đối xử trong tiếp cận các cơ hội đầu tư khai thác cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật mà qua đó đạt hiệu quả cao nhất ở cả thị trường trong nước và thị trường thế giới. Cơ chế chính sách và phát luật đối với hoạt động đầu tư bằng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước phải phù hợp với những nguyên tắc thông lệ chủ yếu của thế giới, đặc biệt là của các nước công nghiệp phát triển.
1.2.3. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Tổ chức bộ máy quản lý là việc hình thành cơ cấu các đơn vị cơ quan và quy định cơ chế phối hợp hoạt động nhằm thực hiện QLNN đối với hoạt động đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước.
Để đảm bảo bộ máy quản lý hoạt động đầu tư (trừ đầu tư công), Nhà nước đã phân cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương một cách rõ ràng, thực hiện phân quyền, phân cấp, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, trong đó, thống nhất bộ máy QLNN đối với hoạt động đầu tư. Với cấp tỉnh thì bộ máy quản lý nhà nước bao gồm Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế. Trong bộ máy này, UBND tỉnh là cơ quan cao nhất ở cấp tỉnh, các đơn vị như Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ban Quản lý các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế… là cơ quan tham mưu, giúp UBND tỉnh thực hiện chức năng QLNN đối với hoạt động đầu tư.
Chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước của Bộ máy quản lý nhà nước về đầu tư cấp tỉnh được quy định theo pháp luật (Luật đầu tư năm 2014, Luật đầu tư năm 2020) như sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cơ quan đăng ký đầu tư, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư tại Việt Nam, bao gồm:
– Phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ lập và công bố Danh mục dự án thu hút đầu tư tại địa phương.
– Chủ trì hoặc tham gia thẩm định các dự án đầu tư thuộc trường hợp chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư và chịu trách nhiệm về nội dung thẩm định thuộc chức năng, nhiệm vụ của mình; chủ trì thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh và thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
– Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư tại địa phương.
– Giải quyết theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền giải quyết khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư.
– Định kỳ đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư trên địa bàn và báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
– Cung cấp thông tin liên quan để xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đầu tư; duy trì, cập nhật Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư.
– Chỉ đạo việc tổ chức, giám sát và đánh giá thực hiện chế độ báo cáo đầu tư.
1.2.4. Thẩm định, chấp thuận chủ trương đầu tư, chấp thuận nhà đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, điều chỉnh dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư là một khâu quan trọng trong quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư bằng nguồn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước. Thông qua thẩm định, Nhà nước đánh giá được mức độ phù hợp với quy hoạch phát triển chung của ngành, địa phương; các mặt lợi hại của dự án đầu tư; năng lực của nhà đầu tư; cũng như thực hiện tốt hơn vai trò điều tiết vĩ mô đối với nguồn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Kết quả của việc thẩm định dự án đầu tư là căn cứ để quyết định cho nhà đầu tư hoạt động trong nền kinh tế tại địa bàn tiếp nhận đầu tư. Vì vậy, chất lượng của công tác thẩm định dự án đầu tư sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư. Nếu thẩm định dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước không tốt thì trong tương lai sẽ có những doanh nghiệp, dự án hoạt động kém hiệu quả, nguy cơ các doanh nghiệp giải thể trước thời hạn rất cao.
Thẩm định chấp thuận chủ trương đầu tư và cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho nhà đầu tư, doanh nghiệp là việc nghiên cứu, phản biện một cách có tổ chức, khách quan và khoa học những nội dung cơ bản của một dự án đầu tư nhằm đánh giá tính hợp lý, mức độ hiệu quả và tính khả thi của dự án trước khi quyết định cấp phép đầu tư. Qua đó góp phần làm sáng tỏ các vấn đề về: thị trường, công nghệ, kỹ thuật, tài chính, xem doanh nghiệp có khả năng hoạt động đóng góp vào tăng trưởng kinh tế cũng như giúp cho địa bàn tiếp nhận đầu tư đạt hiệu quả kinh tế – xã hội hay không và để tránh thu hút phải dự án hoạt động không có hiệu quả, không phù hợp.
Trong quá trình thẩm định, các cơ quan cấp phép thường xem xét kỹ các nội dung sau:
Cơ sở pháp lý, năng lực tài chính của nhà đầu tư;
Mức độ phù hợp ngành nghề, lĩnh vực đầu tư của dự án với quy hoạch kinh tế – xã hội, quy hoạch xây dựng, quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch ngành (hiện nay đang tổng hợp thành quy hoạch tỉnh);
Trình độ kỹ thuật, công nghệ áp dụng phù hợp với địa bàn tiếp nhận đầu tư;
Đánh giá tác động của dự án đến môi trường tự nhiên và xã hội;
Đánh giá tiến độ thực hiện dự án;
Đánh giá hiệu quả kinh tế – xã hội khi dự án đi vào hoạt động tạo ra.
Các nội dung thẩm định cấp phép đối với dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nhiều hay ít và là những vấn đề gì tùy thuộc vào tình hình và sự lựa chọn của mỗi địa bàn tiếp nhận đầu tư trong từng thời kỳ nhất định. Ngoài các nội dung trên, ở Việt Nam các nhà đầu tư, doanh nghiệp trước khi được cấp phép còn phải xem xét đến mức độ hợp lý của việc sử dụng đất, phương án đền bù giải phóng mặt bằng và vấn đề định giá tài sản.
Trên cơ sở đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư hoặc Ban Quản lý các Khu kinh tế và khu công nghiệp thực hiện thẩm định, tham mưu UBND tỉnh chấp thuận chủ trương đầu tư; thẩm định, cấp, điều chỉnh, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc điều chỉnh dự án đầu tư.
1.2.5. Kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Thanh tra, kiểm tra là một chức năng của công tác QLNN. Luật Đầu tư năm 2014, Luật Đầu tư năm 2020 đã quy định về việc giám sát hoạt động đầu tư của của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, đây là một nội dung trong công tác QLNN đối với các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước. Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan chủ trì phối hợp với các Bộ ngành và UBND cấp tỉnh thực hiện giám sát hoạt động đầu tư.
Trên địa bàn tỉnh, chủ thể thực hiện công tác này sẽ là UBND tỉnh, các Sở, Ban, ngành, Ban Quản lý các Khu kinh tế và Khu công nghiệp sẽ là cơ quan quản lý trực tiếp thay mặt cho UBND tỉnh thực hiện.
Nội dung của kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước bao gồm việc thực hiện các quy định theo giấy phép được cấp, trong đó có việc chấp hành các quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước có liên quan, việc thực hiện tiến độ đầu tư và các quy định của pháp luật về sản xuất kinh doanh, bảo vệ môi trường, lao động…
1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
Điều kiện tự nhiên là các yếu tố của tự nhiên như thời tiết khí hậu, vị trí địa lý, địa hình đất đai…. Đây là những yếu tố liên quan và cần thiết cho quá trình hoạt động kinh tế. Những yếú tố này ở mỗi địa phương hay vùng lãnh thổ có sự khác biệt nhau về quy mô, phân bố và chất lượng. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên của từng địa phương mà có thể tác động vào tích cực hay tiêu cực tới cả công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước và khả năng thu hút nhà đầu. Ở những địa phương có sẵn các lợi thế về vị trí địa lý, đặc biệt là kết cấu hạ tầng thuận tiện, có hệ thống vận tải, cảng biển… sẽ là những lợi thế so sánh ảnh hưởng rất lớn đến QLNN đối với hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước. Sở dĩ như vậy vì chi phí cho hoạt động quản lý nhà nước và triển khai dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nhìn chung đều thấp hơn những nơi có điều kiện tự nhiên khó khăn.
1.3.2. Tình hình kinh tế xã hội
Tình hình kinh tế xã hội của mỗi địa phương vừa ảnh hưởng tới các nhà đầu tư vừa ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước.
Kinh tế xã hội có trình độ phát triển cao sẽ tạo ra cơ sở vật chất hiện đại, nền tảng thể chế cũng tiến bộ hơn, trình độ dân cư và nhà quản lý tốt hơn cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nói riêng và kinh tế nói chung. Nhưng trong điều kiện kinh tế xã hội phát triển, các nhà đầu tư, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh cũng đặt ra nhiều vấn đề cho cơ quan QLNN. Tiêu chuẩn cao về bảo vệ môi trường, điều kiện sản xuất và an sinh cho lao động… đòi hỏi các nhà quản lý phải nỗ lực và sử dụng nhiều công cụ phục vụ quản lý.
1.3.3. Môi trường kinh doanh của địa phương
Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố và điều kiện bên trong, bên ngoài địa phương tác động chi phối các hoạt động sản xuất kinh doanh của người sản xuất – doanh nghiệp, hộ gia đình và Chính phủ. Các yếu tố của môi trường này có thể tiếp cận theo nhiều cách khác nhau.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), các yếu tố của môi trường kinh doanh bao gồm: thành lập doanh nghiệp, cấp phép xây dựng, tiếp cận điện năng, đăng ký tài sản, vay vốn tín dụng, bảo vệ nhà đầu tư, nộp thuế, thương mại quốc tế, thực thi hợp đồng, xử lý doanh nghiệp mất khả năng. Nhưng các yếu tố này thường được xem xét trên bình diện quốc gia nhiều hơn. Việc sử dụng cho một địa phương có thể tiếp cận theo cách khác.
Ở Việt Nam, Liên đoàn Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) đánh giá các yếu tố môi trường kinh doanh cho các tỉnh thông qua các chỉ số: (i) Chi phí gia nhập thị trường; (ii) Tiếp cận đất đai; (iii) Tính minh bạch; (iv) Chi phí không chính thức; (v) Chi phí thời gian cho thanh, kiểm tra và thực hiện các quy định và thủ tục hành chính; (vi) Tính năng động của lãnh đạo; (vii) Hỗ trợ doanh nghiệp; (viii) Đào tạo lao động; (ix) Thiết chế pháp lý. Năm 2013, VCCI đưa thêm tiêu chí (x) Cạnh tranh bình đẳng vào để đánh giá. Các yếu tố này được tạo ra bởi kết quả tổng kết ý kiến đánh giá của các doanh nghiệp. Theo các ý kiến này, chất lượng điều hành của chính quyền địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi sản xuất kinh doanh của họ. Kết quả cuối cùng khi khảo sát cảm nhận của các doanh nghiệp theo yếu tố trên được đại diện bằng 10 chỉ số thành phần thể hiện qua chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI.
Thông qua bộ chỉ số này đã cho thấy rõ môi trường kinh doanh của các tỉnh ở Việt Nam và là cơ sở để chính quyền các địa phương tham khảo cũng như có những nỗ lực thay đổi, khắc phục những điểm yếu và phát huy điểm mạnh để cải thiện chất lượng và hiệu quả QLNN về kinh tế nói chung và của quản lý hoạt động của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nói riêng.
1.3.4. Tình hình thu hút và hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước tại địa phương
Hoạt động đầu tư của dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước ở địa phương là đối tượng của QLNN về đầu tư. Các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước đã góp phần tăng quy mô nền kinh tế, tác động thúc đẩy chuyển dịch, cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, ngành, sản phẩm, dịch vụ; thúc đẩy cải cách thể chế, chính sách kinh tế, môi trường đầu tư kinh doanh, phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập, tăng cường quan hệ đối ngoại, hợp tác và hội nhập quốc tế.
Các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước đã tăng quy mô nền kinh tế, đã đòi hỏi phải thay đổi cách thức quản lý nhà nước đối với nền kinh tế. Đồng thời hoạt động của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước đòi hỏi thể chế của Việt Nam cũng cần có sự thay đổi cho phù hợp với thông lệ, luật pháp và các quy định trong các hiệp định thương mại và bảo hộ đầu tư với các nước đã ký kết. Các luật lệ và phương thức quản lý kinh tế của nước ta đã có nhiều thay đổi kể từ khi hội nhập quốc tế. Trong quá trình này, các nhà đầu tư, doanh nghiệp cũng đóng góp tiếng nói nhằm hoàn thiện môi trường thể chế của Việt Nam. Với mỗi địa phương, hoạt động của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cũng đòi hỏi chính quyền có cách tiếp cận, nhìn nhận và thay đổi cách thức quản lý cho phù hợp.
Chương này trình bày cơ sở lý luận QLNN đối với các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước cho nền kinh tế cấp tỉnh. Trên cơ sở khái quát lý luận về QLNN về kinh tế, tổng quan các nghiên cứu liên quan, luận văn đã rút ra khái niệm, vai trò và mục tiêu của QLNN đối với hoạt động đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước.
Luận văn cũng đã trình bày các nội dung và tiêu chí đối với công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước. Các nội dung này bao gồm: xây dựng triển khai quy hoạch, kế hoạch về đầu tư; ban hành triển khai pháp luật, cơ chế quản lý đầu tư; tổ chức bộ máy quản lý hoạt động đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước; thẩm định, chấp thuận chủ trương đầu tư, cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư; hỗ trợ thực hiện dự án; kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước.
Luận văn cũng xem xét các yếu tố ảnh hưởng tới QLNN đối với hoạt động đầu tư của các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước ở cấp tỉnh. Chúng bao gồm điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế xã hội và môi trường kinh doanh của địa phương.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ – XÃ HỘI VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
Quảng Nam là một tỉnh thuộc vùng Duyên hải Nam Trung bộ với diện tích tự nhiên là 10.574,86 km2, phía Đông giáp Biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Sê Kông nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào với chiều dài đường biên giới là 157,422 km, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và Kon Tum, phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế. Toàn tỉnh có 18 đơn vị hành chính cấp huyện, trong đó có 15 huyện, 01 thị xã và 02 thành phố. Dân số trung bình toàn tỉnh đến cuối năm 2020 khoảng 1.505,04 nghìn người. Mật độ dân số khoảng 142,32 người/km2.
Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển; bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ có mối quan hệ bền chặt về kinh tế, xã hội và môi trường sinh thái đa dạng với các hệ sinh thái đồi núi, đồng bằng, ven biển.
Đặc điểm tự nhiên của Quảng Nam vừa là tiềm năng vừa là thách thức cho phát triển kinh tế của địa phương. Vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi với khí hậu nhiệt đới, phong phú về tài nguyên là cơ sở để hình thành và phát triển các ngành kinh tế. Nhưng hàng năm luôn diễn ra những biến động của thời tiết khí hậu kèm theo đó là bão lũ hay hạn hán… và cách thức khai thác tài nguyên đã hạn chế và gây thiệt hại không nhỏ cho phát triển nền kinh tế. Về tổng thể, tiềm năng lớn của tài nguyên cho sự phát triển có sức hút với các nhà đầu tư.
2.1.2. Tình hình kinh tế – xã hội
Quảng Nam có 18 đơn vị hành chính, bao gồm: thành phố Tam Kỳ, thành phố Hội An, thị xã Điện Bàn và 15 huyện. Thành phố Tam Kỳ là trung tâm hành chính, văn hóa của tỉnh, nơi hội tụ của 2 Quốc lộ chiến lược của vùng.
Số liệu thống kê cho thấy GRDP của tỉnh Quảng Nam đã tăng nhanh, từ mức 26.934 tỷ đồng năm 2010 tăng lên 60.902 tỷ đồng năm 2019 (theo giá so sánh năm 2010). Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) sơ bộ năm 2020 sụt giảm ở mức gần 5,5% so với năm 2019, đây là lần đầu tiên kinh tế tỉnh Quảng Nam tăng trưởng âm kể từ khi tái lập tỉnh đến nay (năm 1997). Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế về cơ bản luôn cao và liên tục, đặc biệt từ năm 2006 tới năm 2010 và từ năm 2013 – 2016. Năm 2011 với mức tăng trưởng 2.9% cũng là năm thấp nhất. Năm 2016 có tỷ lệ cao nhất đạt 27.2%. Tỷ lệ tăng trưởng trung bình là hơn 11% trong thời kỳ 2000-2019, cao hơn mức tăng trưởng của cả nước là khoảng 6.8%. Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người năm 2020 khoảng 62,9 triệu đồng/người/năm (tương đương 2.721 USD). Tăng trưởng kinh tế của tỉnh Quảng Nam những năm qua tuy nhanh nhưng có sự ổn định không cao. Năm 2019 so với năm 2010, vị thế của tỉnh Quảng Nam so với cả nước đã có sự thay đổi rõ rệt, hiện quy mô và tỷ lệ tăng trưởng đã ngang bằng so với thành phố Đà Nẵng.
Trong cơ cấu GRDP của tỉnh Quảng Nam, tỷ trọng của ngành nông lâm thủy sản hiện chiếm thấp nhất, năm 2020 là 14.5% và tỷ trọng của ngành dịch vụ cao nhất, năm 2020 là 34.7%, tỷ trọng của ngành CN-XD gần bằng với ngành DV, năm 2020 là 32.9%. Trong cơ cấu ngành, tỷ trọng của Thuế trừ trợ cấp khá lớn, năm 2020 là 17.9%. Từ năm 2016 tới năm 2020, cơ cấu ngành dường như không thay đổi nhiều, tỷ trọng của NLTS tăng 0.2%, công nghiệp xây dựng tăng 0.8%, dịch vụ tăng 0.2% và thuế giảm 1.1% (Bảng 2.1). Xét trên tổng thể cơ cấu ngành kinh tế của tỉnh đã có nét chính thể hiện công nghiệp hóa, ngành CN-XD đã thể hiện được vai trò trụ cột, ngành dịch vụ tuy chiếm tỷ trọng lớn nhưng chưa phát huy được tiềm năng rất lớn của mình.
2.1.3. Môi trường kinh doanh của địa phương
Năng lực cạnh tranh hay chất lượng điều hành nền kinh tế của chính quyền địa phương cũng phản ánh chất lượng môi trường kinh doanh. Các thông tin về môi trường kinh doanh thể hiện qua chỉ số PCI. Một địa phương có chất lượng điều hành tốt và do đó, môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi nếu các chỉ số thành phần đều tốt. Những năm qua, dòng vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước vào Quảng Nam tăng nhờ rất nhiều từ sự cải thiện này. Nhìn tổng thể các mặt về môi trường kinh doanh của địa phương có thể thấy:
2.1.4. Tình hình thu hút các dự án đầu tư sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Giai đoạn từ ngày 01/01/2016 đến ngày 31/12/2021, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam (ngoài khu kinh tế, khu công nghiệp) có 493 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư/Quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư (đã bao gồm 75 dự án trước năm 2016 chuyển qua giai đoạn 2016-2021); với tổng vốn đầu tư đăng ký 197.710,04 tỷ đồng; quy mô sử dụng đất khoảng 7.792,11 ha. UBND tỉnh đã thu hồi chủ trương đầu tư/Giấy chứng nhận đầu tư 35 dự án. Còn lại 458 dự án còn hiệu lực (trước năm 2016 chuyển sang 75 dự án; giai đoạn 2016-2021 có 383 dự án).
2.1.5. Đánh giá chung ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và tình hình thu hút đầu tư tới công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Các yếu tố này đã tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực cho công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam:
Về tích cực:
Có thêm điều kiện vật chất và nguồn lực để thực hiện quản lý;
Tạo điều kiện học hỏi kinh nghiệm quản lý và hoạch định chính sách;
Thuận lợi cho việc thu hút và tạo điều kiện cho các dự án sử dụng nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam triển khai và hoạt động hiệu quả.
Về tiêu cực:
Tăng khối lượng công việc và làm phát sinh nhiều vấn đề cần phải giải quyết cho các cơ quan quản lý;
Áp lực phải thay đổi cơ chế chính sách và phong cách làm việc, cải thiện tình trạng bất bình đẳng;
Áp lực nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức và kiện toàn bộ máy.
2.2. TÌNH HÌNH QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DỰ ÁN SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ĐẦU TƯ NGOÀI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
2.2.1. Công tác xây dựng, triển khai và quản lý quy hoạch, kế hoạch về hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước
Thường ở các địa phương, không có quy hoạch riêng về đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nói riêng. Nội dung quy hoạch đầu tư nói chung và hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nói riêng nằm trong nội dung quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch ngành của địa phương, vùng và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Với tỉnh Quảng Nam, các tài liệu đó gồm: Quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Quảng Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 (tại Quyết định số 553/QĐ-TTg ngày 15/5/2018), Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế mở Chu Lai đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1737/QĐ-TTg ngày 13/12/2018); quy hoạch phát triển sân bay Chu Lai thành sân bay trung chuyển hàng hóa quốc tế cấp 4F theo tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế ICAO; quy hoạch hệ thống cảng biển Kỳ Hà – Chu Lai; Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Quảng Nam.
Trên cơ sở đó, Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cho thời kỳ trung hạn 5 năm và hàng năm, trong nội dung này sẽ có kế hoạch đầu tư chung và hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước nói riêng. Cụ thể là danh mục các dự án thu hút đầu tư vào địa phương. Ngoài ra, việc xây dựng triển khai kế hoạch liên quan tới hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước, Sở Kế hoạch và Đầu tư còn tham vấn Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các sở ban ngành khác của tỉnh. Sau khi dự thảo kế hoạch sẽ được gửi tham khảo ý kiến của các doanh nghiệp và nhà đầu tư. Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ báo cáo UBND tỉnh, sau đó tiến hành các hội nghị kế hoạch để thảo luận với sự chủ trì của UBND tỉnh. Sau đó, Sở sẽ tiếp thu ý kiến và điều chỉnh, sửa chữa bản dự thảo. Cuối cùng trình UBND tỉnh báo cáo HĐND tỉnh thông qua làm cơ sở phê duyệt và triển khai thực hiện. Như vậy, UBND tỉnh với cơ quan tham mưu sẽ đóng vai trò chủ thể quản lý. Vai trò này còn thể hiện qua việc xem xét, thẩm định cấp giấy phép và thanh kiểm tra quá trình đầu tư và vận hành dự án.
Các văn bản về quy hoạch và kế hoạch liên quan tới hoạt động đầu tư của các dự án sử dụng nguồn vốn ngoài ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đều được tỉnh Quảng Nam công bố trên cổng thông tin điện tử của tỉnh, Trung tâm Phục vụ hành chính công Quảng Nam và Sở Kế hoạch và Đầu tư. Qua đó, các nhà đầu tư có thể tiếp cận dễ dàng các thông tin quy hoạch và kế hoạch, các danh mục dự án kêu gọi đầu tư. Điều này giúp cho các nhà đầu tư có thể chủ động trong quyết định đầu tư và xây dựng kinh doanh.
Sự công khai minh bạch thông tin quy hoạch và kế hoạch, có sự tham gia nhất định của các doanh nghiệp và nhà đầu tư vào quá trình xây dựng kế hoạch cũng như sự sâu sát của các ngành chức năng nên việc chấp hành quy hoạch, kế hoạch khá nghiêm túc và đúng tiến độ.
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE CUONG CHI TIET/ Đào tạo nguồn nhân lực cán bộ, công chức tại ủy ban nhân dân Huyện Bắc Trà My – Tỉnh Quảng Nam
Hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước Hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước Hoàn thiện công tác quản lý nguồn vốn đầu tư ngoài ngân sách Nhà nước

