Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng

Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm trên thế giới; kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn biến rất nhanh, đột phá, tác động sâu rộng và đa chiều trên phạm vi toàn cầu. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo ngày càng trở thành nhân tố quyết định đối với năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia. Vốn đầu tư nước ngoài trở thành một bộ phận quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn đầu tư của bất kỳ một quốc gia hoặc một địa phương nào.

Trong quá trình xây dựng đất nước hiện nay, với quan điểm phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số, coi đây là nhân tố quyết định để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Đối với nước ta, với mục tiêu phát triển kinh tế rất cao, nhu cầu vốn đầu tư rất lớn, trong đó vốn đầu tư nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng. Thu hút đầu tư nước ngoài là chủ trương quan trọng của Ðảng và Nhà nước, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, tạo nên sức mạnh tổng hợp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Ðầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển; có tác dụng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu theo hướng kinh tế số, xã hội số; mở ra nhiều nghề, sản phẩm mới; nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ, mở rộng thị trường xuất khẩu; tạo thêm nhiều việc làm mới, góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Thực tế hơn 30 năm đổi mới vừa qua, nhất là 15 năm gần đây cho thấy, với chính sách thu hút ngày càng cởi mở và minh bạch, vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng để phát triển kinh tế ở nước ta nói chung và nông nghiệp Đà Nẵng nói riêng. Ðầu tư nước ngoài đã có đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo trên quy mô toàn bộ nền kinh tế nói chung cũng như trên địa bàn nông nghiệp Đà Nẵng nói riêng. Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự nhiên không thuận lợi, thị trường nhỏ hẹp, sức mua yếu, chi phí vận chuyển bằng đường biển cao, thời gian vận chuyển lớn, nguồn nguyên liệu và các ngành công nghiệp phụ trợ còn thiếu và yếu, chất lượng kém, cơ chế chính sách của Trung ương còn bất cập…, những nguyên nhân chủ quan từ phía chính quyền Đà Nẵng cũng đã làm ảnh hưởng đến kết quả thu hút vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn.

Thu hút đầu tư nước ngoài tại Đà Nẵng trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, công tác quản lý đầu tư nước ngoài tại Đà Nẵng còn nhiều bất cập, hạn chế nên đã ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên địa bàn nông nghiệp.

Tình hình đó đòi hỏi phải nghiên cứu, tìm kiếm những giải pháp đổi mới mạnh mẽ hơn nữa để tăng cường quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp có hiệu quả hơn, xem đó là vấn đề quan trọng, đột phá để phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2020-2025 và các giai đoạn tiếp theo. Đó là lý do đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng” được tôi đăng ký nghiên cứu.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

– Hệ thống hoá có cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp.

– Phân tích tình hình thu hút các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại nông nghiệp Đà Nẵng giai đoạn 2016-2020 và thực trạng công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng.

– Đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nông nghiệp Đà Nẵng.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn nông nghiệp Đà Nẵng.

Phạm vi nghiên cứu

Về thời gian: thời gian nghiên cứu giới hạn từ năm 2016 đến 2020. Những giải pháp và kiến nghị được đề xuất cho giai đoạn tương lai đến khoảng 2025.

Về không gian: giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư nước ngoài tại Đà Nẵng. Để nghiên cứu so sánh, có mở rộng không gian khảo sát ở những chỗ cần thiết.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, phương pháp chung là kết hợp giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn. Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm đánh giá công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng về các nội dung: phân tích hiện trạng, xác lập mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài, xây dựng giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp.

Trên cơ sở đó, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, suy luận, đồng thời khảo sát thực tế để có giải pháp hoàn thiện phù hợp.

5. Tổng quan tình hình nghiên cứu

6. Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu theo ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng
  • Chương 3: Những giải pháp hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp của Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng
Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng
Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC

QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI

1.1. Dự án đầu tư

      1. 1.1.1. Khái niệm, công dụng và đặc trưng của dự án đầu tư

Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư. Đó là một tập hợp các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế xã hội để làm cơ sở cho việc quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính đem lại cho doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế xã hội đem lại cho quốc gia-xã hội lớn nhất có thể có được.

Theo Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng ban hành kèm theo nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 của Chính phủ, dự án đầu tư được hiểu như sau: “Dự án đầu tư là một tập hợp những đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến, nâng cao chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ trong khoảng thời gian xác định (chỉ bao gồm hoạt động đầu tư trực tiếp)”.

Dự án đầu tư có thể được xem xét từ nhiều góc độ:

  • Nếu xét về mặt hình thức, dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các hoạt động, chi phí theo một kế hoạch để đạt được những kết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
  • Nếu xét về mặt nội dung, dự án đầu tư là một tập hợp các hoạt động có liên quan với nhau được kế hoạch hoá nhằm đạt được các mục tiêu đã định bằng việc tạo ra các kết quả cụ thể trong một thời gian nhất định, thông qua việc sử dụng các nguồn lực xác định.
  • Nếu xét trên góc độ quản lý, dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụng vốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế – xã hội trong một thời gian dài.

Dự án đầu tư bao gồm những thành phần chính sau:

  • Các mục tiêu cần đạt được khi thực hiện dự án: Khi thực hiện dự án, sẽ mang lại những lợi ích gì cho đất nước nói chung và cho chủ đầu tư nói riêng.
  • Các kết quả: Đó là những kết quả có định lượng được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. Đây là điều kiện cần thiết để thực hiện các mục tiêu của dự án.
  • Các hoạt động: Là những nhiệm vụ hoặc hành động được thực hiện trong dự án để tạo ra các kết quả nhất định, cùng với một lịch biểu và trách nhiệm của các bộ phận sẽ được tạo thành kế hoạch làm việc của dự án.
  • Các nguồn lực: Hoạt động của dự án không thể thực hiện được nếu thiếu các nguồn lực về vật chất, tài chính và con người. Giá trị hoặc chi phí của các nguồn lực này chính là vốn đầu tư cho các dự án.
  • Thời gian: Độ dài thực hiện dự án đầu tư cần được cố định.
  • Dự án đầu tư được xây dựng phát triển bởi một quá trình gồm nhiều giai đoạn. Các giai đoạn này vừa có mối quan hệ gắn bó vừa độc lập tương đối với nhau tạo thành chu trình của dự án. Chu trình của dự án được chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư và giai đoạn vận hành kết quả. Giai đoạn chuẩn bị đầu tư tạo tiền đề quyết định sự thành công hay thất bại ở giai đoạn sau, đặc biệt đối với giai đoạn vận hành kết quả đầu tư.
  • Đối với chủ đầu tư và nhà tài trợ, việc xem xét đánh giá các giai đoạn của chu trình dự án là rất quan trọng. Nhưng đứng ở các góc độ khác nhau, mỗi người có mối quan tâm và xem xét các giai đoạn và chu trình cũng khác nhau. Chủ đầu tư phải nắm vững ba giai đoạn, thực hiện đúng trình tự. Đó là điều kiện để đảm bảo đầu tư đúng cơ hội và có hiệu quả.
      1. 1.1.2. Phân loại dự án đầu tư

Xét theo nguồn vốn đầu tư:

  • Dự án đầu tư bằng nguồn vốn đầu tư công: Là dự án đầu tư sử dụng một trong những nguồn vốn sau: Vốn ngân sách nhà nước; Vốn trái phiếu chính phủ; Vốn công trái quốc gia; Vốn trái phiếu chính quyền địa phương; Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước; Vốn từ nguồn thu để lại đầu tư nhưng chưa đưa vào ngân sách nhà nước; Vốn vay khác của ngân sách địa phương;
  • Dự án đầu tư bằng các nguồn vốn khác:Vốn vay thương mại; Vốn liên doanh liên kết; Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài; Vốn huy động trên các thị trường tài chính (trong nước, quốc tế); Vốn tư nhân

Xét theo mức độ quan trọng và quy mô của dự án: Căn cứ theo phân loại này thì dự án đầu tư được phân thành 4 nhóm dự án:

  • Dự án quan trọng quốc gia
  • Dự án nhóm A
  • Dự án nhóm B
  • Dự án nhóm C

Xét theo tính chất đầu tư:

  • Dự án đầu tư có cấu phần xây dựng: Là những dự án đầu tư như xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp, mở rộng dự án đã đầu tư xây dựng bao gồmcả phần mua tài sản, mua trang thiết bị của dự án
  • Dự án đầu tư không có cấu phần xây dựng: Là những dự án đầu tư như dự án mua tài sản, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua, sửa chữa, nâng cấp trang thiết bị máy móc và dự án khác

Xét theo lĩnh vực đầu tư:

  • Dự án đầu tư vào lĩnh vực giao thông vận tải: Là dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông đường bộ hoặc đường thủy; các hoạt động đầu tư duy tư bảo dưỡng phát triển hệ thống giao thông
  • Dự án đầu tư vào lĩnh vực nông – lâm – ngư – diêm nghiệp: Là những dự án đầu tư phát triển ngành trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, trồngrừng, thủy lợi, sản xuất muối và phát triển nông thôn…
  • Dự án đầu tư lĩnh vực công nghiệp: Là những dự án đầu tư vào các ngành như cơ khí, luyện kim, điện, năng lượng mới, năng lượng tái tạo, dầu khí, hóa chất (bao gồm cả hóa dược), vật liệu nổ công nghiệp, khai thác khoáng sản, công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp thực phẩm, côngnghiệp chế biến khác
  • Dự án đầu tư vào lĩnh vực xây dựng: Là những dự án đầu tư xây dựng các công trình nhà ở, công sở, hạ tầng kỹ thuật đô thị.

1.2. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội

      1. 1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.1.1. Khái niệm đầu tư

Do hoạt động đầu tư rất phong phú trong cuộc sống nên có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này.

Đầu tư được hiểu với khía cạnh lớn hơn, có thể kể đến khía cạnh rủi ro bất trắc, thì A. Samuelson đã quan niệm “Đầu tư là đánh bạc với tương lai”.

Theo các tác giả của “Kinh tế học của sự phát triển” cho rằng: “Đầu tư là một sự hy sinh tất cả các nguồn lực của cải ngày nay để hy vọng đạt được những lợi ích lớn hơn trong tương lai”.

Còn theo Adam Smith thì: “Đầu tư là một hoạt động nhằm gia tăng tích tụ tư bản của các cá nhân, công ty, xã hội với mục đích cải thiện và nâng cao mức sống…”.

Hoạt động đầu tư (gọi tắt là đầu tư) là quá trình sử dụng các nguồn lực tài chính, lao động , tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp tái sản xuất giản đơn, tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế nói chung, các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ của ngành, cơ quan quản lý và xã hội nói riêng. Hoạt động đầu tư bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp.

Hoạt động đầu tư gián tiếp là hoạt động bỏ vốn trong đó người đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra. Hoạt động đầu tư trực tiếp là hoạt động trong đó người bỏ vốn trực tiếp tham gia điều hành quản trị vốn đầu tư đã bỏ ra. Hiện nay, từ khi Luật Đầu Tư 2014, đến nay là Luật Đầu tư 2020 ko còn phân biệt những hình thức đầu tư trực tiếp quốc tế và gián tiếp nữa. Luật đầu tư 2014 sử dụng khái niệm “Đầu tư kinh doanh” để thay thế điều chỉnh hai khái niệm trước đây là “Đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp”. Theo đó, “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh” [6] .

Như vậy, ta có khái niệm về đầu tư được coi là đặc trưng tiêu biểu như sau: “Đầu tư là hoạt động bỏ tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế – xã hội“.

1.2.1.2. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)

Xuất phát từ nhiều khía cạnh, góc độ, quan điểm khác nhau trên thế giới đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về FDI (Foreign Direct Investment):

– Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (1993): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một tổ chức kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó”.

– Theo luật Đầu tư nước ngoài của Liên Bang Nga (1991): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là tất cả các hình thức giá trị tài sản và những giá trị tinh thần mà nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào các đối tượng sản xuất kinh doanh và các hoạt động khác nhằm mục đích thu lợi nhuận”.

– Theo Hiệp hội Luật quốc tế Henxitiky (1996): “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự di chuyển vốn từ nước của người đầu tư sang nước của người sử dụng nhằm xây dựng ở đó những xí nghiệp kinh doanh hay dịch vụ”.

– Theo OECD (2002), “Đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thiết lập các mối liên hệ lâu dài đối với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ra ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: (i) Thành lập một doanh nghiệp hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; (ii) Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; (iii) Tham gia vào một doanh nghiệp mới; (iv) Cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm).

– Theo tổ chức thương mại quốc tế WTO, đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là yếu tố để phân biệt đầu tư trực tiếp nước ngoài với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay đượcơ gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.

Còn theo Luật đầu tư của Việt Nam thì đầu tư nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được chính phủ Việt Nam chấp nhận.

Theo Điều 3 của Luật Đầu tư 2005: “Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư” còn “Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài bao gồm doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài thành lập để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam do nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại”.

Tóm lại, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ một tài sản nào khác vào quốc gia đó để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình.

1.2.1.3. Đặc điểm của đầu tư trực tiếp nước ngoài

Từ các định nghĩa trên cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm riêng biệt khác với các loại hình đầu tư khác. Nhìn chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài gắn liền với việc di chuyển vốn đầu tư, tức là tiền và các loại tài sản khác giữa các quốc gia, hệ quả là làm tăng lượng tiền và tài sản của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư và làm giảm lượng tiền và tài sản nước đi đầu tư.

Thứ hai, đầu tư trực tiếp nước ngoài được tiến hành thông qua việc bỏ vốn thành lập các doanh nghiệp mới (liên doanh hoặc sở hữu 100% vốn), hợp đồng hợp tác kinh doanh, mua lại các chi nhánh hoặc doanh nghiệp hiện có, mua cổ phiếu ở mức khống chế hoặc tiến hành các hoạt động hợp nhất và chuyển nhượng doanh nghiệp.

Thứ ba, nhà đầu tư nước ngoài là chủ sở hữu hoàn toàn vốn đầu tư hoặc cùng sở hữu vốn đầu tư với một tỷ lệ nhất định đủ mức tham gia quản lý trực tiếp hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ tư, hoạt động của đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư của tư nhân, chịu sự điều tiết của các quan hệ thị trường trên quy mô toàn cầu, ít bị ảnh hưởng của các mối quan hệ chính trị giữa các nước, các chính phủ và mục tiêu cơ bản luôn là đạt lợi nhuận cao.

Thứ năm, nhà đầu tư trực tiếp kiểm soát và điều hành quá trình vận động của dòng vốn đầu tư.

Thứ sáu, đầu tư trực tiếp nước ngoài bao gồm hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào trong nước và đầu tư từ trong nước ra nước ngoài, do vậy bao gồm cả vốn di chuyển vào một nước và dòng vốn di chuyển ra khỏi nền kinh tế của nước đó.

Thứ bảy, đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu là do các công ty xuyên quốc gia thực hiện.

Các đặc điểm nêu trên mang tính chất chung cho tất cả các hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài trên toàn thế giới. Đối với Việt Nam, quá trình tiếp nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài diễn ra đã được hơn 30 năm (từ 1988) và những đặc điểm nêu trên cũng đã thể hiện rõ nét. Chính những đặc điểm này đòi hỏi thể chế pháp lý, môi trường và chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài phải chú ý để vừa thực hiện mục tiêu thu hút đầu tư, vừa bảo đảm mối quan hệ cân đối giữa kênh đầu tư trực tiếp nước ngoài với các kênh đầu tư khác của nền kinh tế.

      1. 1.2.2. Các hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài

1.2.2.1. Phân loại theo động cơ đầu tư

Xét theo động cơ đầu tư, đầu tư trực tiếp nước ngoài được phân làm bốn loại :

– Tìm kiếm nguồn lực: Loại đầu tư này nhằm khai thác lợi thế so sánh của một nước, gồm: đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, nguyên liệu thô, và các sản phẩm nông nghiệp); đầu tư trực tiếp nước ngoài tìm kiếm lao động giá thấp hoặc có chuyên môn;

– Tìm kiếm thị trường, có mục tiêu vươn tới các thị trường trong nước hoặc khu vực, thường bao gồm cả các nước láng giềng. Gồm các dạng: đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các thị trường trước đây được phục vụ bởi hàng xuất khẩu, hoặc vào các thị trường đóng cửa được bảo hộ bởi thuế thập khẩu cao hoặc các hàng rào khác; đầu tư trực tiếp nước ngoài của các công ty cung ứng phục vụ các khách hàng của họ ở nước ngoài; đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thích ứng các sản phẩm với các khẩu vị địa phương, và sử dụng các nguồn nguyên liệu địa phương.

– Tìm kiếm hiệu quả, thường thấy như một hình thức đầu tư tiếp tục. Các hoạt động hợp lý hoá hoặc kết nối (khu vực/toàn cầu) dẫn đến sản phẩm xuyên biên giới hoặc việc chuyên môn hoá quy trình sản xuất.

– Tìm kiếm yếu tố chiến lược, các công ty mua lại và liên minh để thúc đẩy các mục tiêu kinh doanh dài hạn của mình. Ví dụ, để phục vụ thị trường nội địa, một TNC có thể mua một doanh nghiệp Nhà nước đang được tư nhân hoá thay vì thành lập một công ty mới hoặc “non trẻ”.

1.2.2.2. Phân loại theo hình thức đầu tư

Xét về hình thức đầu tư, theo luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trước đây, đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm các hình thức sau:

– Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh (hợp doanh);

– Doanh nghiệp liên doanh;

– Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài;

– Công ty cổ phần có vốn đầu tư nước ngoài thành lập theo Nghị định số 38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 của Chính phủ.

Tuy nhiên, các hình thức này sẽ được đăng ký lại theo quy định của Luật đầu tư năm 2020 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2021) như sau [6]:

(1) Đầu tư thành lập tổ chức kinh tế:

– Nhà đầu tư thành lập tổ chức kinh tế theo quy định sau đây:

+ Nhà đầu tư trong nước thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật tương ứng với từng loại hình tổ chức kinh tế;

+ Nhà đầu tư nước ngoài thành lập tổ chức kinh tế phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Điều 9 của Luật Đầu tư năm 2020;

+ Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp, điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trừ trường hợp thành lập doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu tư khởi nghiệp sáng tạo theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

– Kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy tờ khác có giá trị pháp lý tương đương, tổ chức kinh tế do nhà đầu tư nước ngoài thành lập là nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

(2) Đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp:

– Nhà đầu tư được góp vốn vào tổ chức kinh tế theo các hình thức sau đây:

+ Mua cổ phần phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty cổ phần;

+ Góp vốn vào công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh;

+ Góp vốn vào tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

– Nhà đầu tư mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế theo các hình thức sau đây:

+ Mua cổ phần của công ty cổ phần từ công ty hoặc cổ đông;

+ Mua phần vốn góp của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn để trở thành thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn;

+ Mua phần vốn góp của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh để trở thành thành viên góp vốn của công ty hợp danh;

+ Mua phần vốn góp của thành viên tổ chức kinh tế khác không thuộc trường hợp quy định tại các điểm trên.

(3) Đầu tư theo hình thức hợp đồng BCC:

– Hợp đồng BCC bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

+ Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa điểm thực hiện dự án đầu tư;

+ Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;

+ Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;

+ Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;

+ Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;

+ Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;

+ Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.

– Trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

– Các bên tham gia hợp đồng BCC có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.

(4) Các hình thức đầu tư, loại hình tổ chức kinh tế mới theo quy định của Chính phủ.

      1. 1.2.3. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với quá trình phát triển kinh tế của các nước

1.2.3.1. Tác động của nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự tăng trưởng kinh tế

Các chương trình đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng nhanh vào cuối thập niên 80 và đến nay đã tác động rất lớn vào nhiều mặt của quá trình phát triển kinh tế, xã hội của nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển. Các tác động chính đến sự tăng trưởng kinh tế có thể kể đến là:

  • Tăng khả năng cạnh tranh: Đối với các quốc gia đang phát triển, đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng để tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Hơn nữa, sự có mặt của các doanh nghiệp nước ngoài có thể không chỉ mang đến những bí quyết sản xuất chưa từng có trước đây tại nước được thụ hưởng để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp trong cùng ngành công nghiệp ở trong nước đó, mà còn hỗ trợ đầu vào cho sản xuất đối với ngành công nghiệp đó, thậm chí là ngành công nghiệp khác có liên quan.

Chính sự có mặt của các nhà đầu tư nước ngoài, các thành phần kinh tế khác trong nước cũng tự phải hoàn thiện mình để tồn tại và phát triển. Các nhà đầu tư nước ngoài với sức mạnh về tài chính, quản lý, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh lâu năm…là đối thủ cạnh tranh lớn đối với các nhà đầu tư trong nước, là động lực khiến họ phải nhanh chóng tìm ra con đường, trước tiên là để tồn tại, đứng vững sau đó là phát triển trên mảnh đất của chính mình nếu không thì tự mình đào thải khỏi hoạt động kinh doanh. Cùng với vốn, công nghệ, kỹ năng quản lý tiên tiến và với mục tiêu lợi nhuận các nhà đầu tư nước ngoài phải sản xuất ra các sản phẩm được chấp nhận trên thị trường trong nước và quốc tế. Điều này khiến cho hàng hóa của nước tiếp nhận đầu tư tiếp cận được với thị trường quốc tế.

– Thúc đẩy phát triển công nghệ: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được coi là nguồn quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghệ của nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Công nghệ mới được các nhà đầu tư nước ngoài đưa vào qua các con đường như: thông qua việc mua bằng phát minh sáng chế và cải tiến công nghệ nhập khẩu trở thành công nghệ phù hợp cho mình (như các quốc gia đã từng làm là Hàn Quốc và Nhật Bản). Khi triển khai dự án đầu tư vào một nước, chủ đầu tư nước ngoài không chỉ chuyển vào nước đó vốn bằng tiền, mà còn chuyển cả vốn vật tư hàng hoá như: máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu… và cả những giá trị vô hình như: công nghệ, tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng tiếp cận thị trường… cũng như đưa chuyên gia nước ngoài vào hoặc đào tạo các chuyên gia bản xứ về các lĩnh vực cần thiết phục vụ hoạt động của dự án. Điều này cho phép các nước nhận đầu tư không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần, mà còn nắm vững cả kỹ năng quản lý vận hành, sửa chữa, mô phỏng và phát triển nó, nhanh chóng tiếp cận được với công nghệ hiện đại ngay cả khi nền tảng công nghệ quốc gia chưa được tạo lập đầy đủ.

Bện cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đặc biệt là thông qua các công ty xuyên quốc gia còn góp phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công nghệ của nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động R&D của các chi nhánh công ty xuyên quốc gia ở nước ngoài là cải tiến công nghệ cho phù hợp với điều kiện sử dụng của địa phương. Dù vậy, các hoạt động cải tiến công nghệ của các nhà đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng trong nước. Nhờ đó mà gián tiếp tăng cường năng lực phát triển công nghệ địa phương. Mặt khác, trong quá trình sử dụng công nghệ nước ngoài, nhà đầu tư và phát triển công nghệ trong nước học được cách thiết kế, sáng tạo…công nghệ nguồn, sau đó cải tiến cho phù hợp với điều kiện của địa phương và biến chúng thành công nghệ của mình. Nhờ có các tác động tích cực trên mà khả năng công nghệ của nước chủ nhà được tăng cường, vì thế nâng cao được năng suất từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

  • Cải thiện lực lượng lao động: đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong những kênh quan trọng có thể cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và tạo ra việc làm trong nền kinh tế chủ thông qua hiệu ứng lan tỏa và đào tạo nghề nghiệp.
  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài thúc đẩy phát triển thương mại quốc tế: Tác động của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là yếu tố làm tăng nhập siêu, dẫn đến các kết quả tiêu cực cho sự ổn định kinh tế vĩ mô của các nước.
  • Chính sách trong nước và tăng trưởng kinh tế: Chính sách của mỗi quốc gia có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các công ty nước ngoài đầu tư vào quốc gia đó, và do đó cũng tác động đến sự tăng trưởng kinh tế khi xem xét yếu tố đầu tư nước ngoài.

1.2.3.2. Liên kết giữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các nguồn vốn khác

Một trong những vấn đề quan trọng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự kết nối với các danh mục dòng vốn đầu tư và các dòng vốn khác giữa các nền kinh tế. Stiglitz (2000) cho rằng các dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được cho là ổn định hơn so với các loại dòng vốn khác. Các dòng vốn quốc tế dễ biến động có thể rút vốn đầu tư ngay tại thời điểm đầu tiên mà nền kinh tế chủ gặp vấn đề.

Claessens, Dooley, and Warner (1995) nghiên cứu sự tác động qua lại giữa vốn đầu tư “ngắn hạn”, “dài hạn”, các nguồn vốn cổ phần và dòng vốn đầu tư nước ngoài từ các quốc gia phát triển và đang phát triển. Các tác giả đã chứng minh tính tiêu cực trong sự tương quan giữa các dòng vốn (tr.172) và đưa ra bình luận “các dòng vốn đầu tư khác đầu tư nước ngoài thường có sự bất ổn cao hơn đầu tư nước ngoài”.

Các tác giả Ruffin and Rassekh (1986) đã thực hiện kiểm định giả thuyết theo phương pháp thực nghiệm nghiệm để kiểm chứng khả năng thay thế giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và các dòng vốn đầu tư khác, nghiên cứu sử dụng cơ sở dữ liệu về dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của Mỹ. Các tác giả đã kết luận rằng “tương ứng với mỗi đồng đô la của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Mỹ cho kết quả ít hơn một đồng đô la được đầu tư gián tiếp.” Vì vậy cách mà các tập đoàn đa quốc gia tài trợ các hoạt động của họ có thể không liên quan đến dòng vốn ròng giữa các quốc gia.

1.2.3.3. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cán cân thanh toán của một quốc gia

Đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng và là kênh thuận lợi nhất để bổ sung cho tài khoản thâm hụt của một nền kinh tế. Tuy nhiên, tồn tại những tác động tiêu cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài ròng lên nguồn thu của các quỹ tài trợ nước ngoài: mặc dù dòng tiền có thể chảy vào nền kinh tế thông qua các tài khoản vốn trong cán cân thanh toán nhưng về sau chúng có thể chảy ra ngoài thông qua tài khoản đầu tư hiện tại.

Nghiên cứu của Brouthers, Werner, and Wilkinson. (1996) cho thấy rằng, mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài, cán cân thanh toán và các dòng vốn khác là khá phức tạp. Fischer (1997) cho rằng có hai nguyên nhân dẫn đến vấn đề này. Thứ nhất là, mặc dù dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thể hiện trên tài khoản tài chính của cán cân thanh toán, nó không nhất thiết phải đúng là một dòng chảy vốn thực tế. Nguyên nhân của vấn đề này là đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể được tài trợ bởi nguồn vốn trong nước từ chính bên trong các nền kinh tế chủ. Thứ hai là, đầu tư trực tiếp nước ngoài thường được đề cập như là một phương thức tốt để tài trợ cho thâm hụt tài khoản hiện thời và do đó duy trì khả năng bền vững trong đảm bảo tài chính của doanh nghiệp.

Đối với các nước đang phát triển thì có nhu cầu về ngoại tệ lớn để hiện đại hoá nền kinh tế. Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần vào việc thúc đẩy xuất khẩu và thực tế là chiếm tỷ trọng cao trong tổng xuất khẩu của các nước đang phát triển, ở nước ta trong giai đoạn hiện nay tỷ lệ này chiếm hơn 50% và có xu hướng tăng trong thời gian sắp tới khi chúng ta hội nhập sâu vào kinh tế thế giới. Đặc biệt, thông qua mạng lưới tiêu thụ của các tập đoàn xuyên quốc gia hay các công ty đa quốc gia nhiều sản phẩm sản xuất tại nước ta đã tiếp cận được với thị trường của thế giới. Bên cạnh đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn góp phần đưa nền kinh tế nước ta từng bước hội nhập với kinh tế thế giới, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng với sự có mặt của các tổ chức tài chính quốc tế và các chi nhánh ngân hàng lớn trên thế giới như: HSBC, ANZ…đã góp phần thúc đẩy các hoạt động thương mại quốc tế, giúp cho các giao dịch quốc tế được nhanh chóng và thuận tiện hơn rất nhiều.

1.2.3.4. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến sự ổn định tài chính của một quốc gia

Mối quan hệ giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự ổn định tài chính được đánh giá qua mối quan hệ giữa dòng vốn và bản chất của chúng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được chứng minh là ổn định hơn các dòng vốn khác. Nghiên cứu trên ba cuộc khủng hoảng nổi tiếng của Mỹ Latin năm 1982, khủng hoảng Tequila của Mexico năm 1994 và các vấn đề Đông Á năm 1997, Lipsay (2001) nhận thấy rằng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có sự ổn định cao hơn danh mục đầu tư hoặc các dòng vốn đầu tư khác.

Imen and Abida (2013) phân tích sự tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài lên hệ thống tài chính và tăng trưởng kinh tế của 4 quốc gia Nam Phi (Tunisia, Morocco, Algeria và Hy Lạp) trong thời kỳ từ năm 1980 đến 2011. Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp trên dữ liệu thu thập được, tác giả kết luận rằng ảnh hưởng của đầu tư trực tiếp nước ngoài còn tùy thuộc vào khả năng thu hút của các quốc gia, trong đó sự phát triển của hệ thống tài chính nội địa đóng vai trò rất quan trọng. Từ việc chỉ ra mối liên kết của đầu tư trực tiếp nước ngoài, hệ thống tài chính và tăng trưởng, các tác giả suy luận rằng sự có mặt của đầu tư nước ngoài kéo theo cường độ vốn đầu tư tăng trong nền kinh tế chủ, từ đó kéo theo sự phát triển tốt hơn của thị trường tài chính và kết quả cuối cùng là nâng cao hiệu quả tăng trưởng kinh tế.

Tóm lại, từ những đánh giá tổng hợp các nghiên cứu ở nước ngoài trên đây cho thấy đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn đầu tư rất quan trọng đối với nhiều quốc gia và được rất nhiều nhà nghiên cứu trên toàn thế giới quan tâm nghiên cứu. Bằng nhiều phương pháp khoa học phân tích định tính, định lượng, thực nghiệm khác nhau, các nhà khoa học đã làm rõ những tác động tích cực của đầu tư trực tiếp nước ngoài trong việc trực tiếp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế như: bù đắp nguồn vốn sản xuất cho nền kinh tế, tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy phát triển kỹ thuật công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần điều phối cán cân thanh toán, cân bằng cán cân thương mại, … Bên cạnh đó, tác động lan tỏa của đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành khác liên quan với ngành được đầu tư. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực vẫn tồn tại những mặt tiêu cực do đầu tư trực tiếp nước ngoài mang lại. Do đó, xây dựng chính sách, chiến lược phù hợp để thu hút và sử dụng nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài một cách hiệu quả là vấn đề quan trọng để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, đặc biệt là quốc gia đang phát triển.

      1. 1.2.4. Xu hướng của đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện nay trên thế giới và Việt Nam

Thời gian qua, dòng vốn đầu tư quốc tế đã có sự biến động mạnh, chuỗi giá trị toàn cầu bị đứt gãy, khó hồi phục bởi tác động nặng nề của đại dịch Covid-19, cũng như những mâu thuẫn, căng thẳng thương mại ngày một gia tăng giữa các nước lớn.

Kể từ năm 2018, căng thẳng thương mại Mỹ – Trung, xu hướng bảo hộ sản xuất trong nước,… khiến dòng vốn đầu tư trên thế giới sụt giảm (trên 10% năm 2018 và 2019), đồng thời có sự dịch chuyển mạnh giữa các khu vực và quốc gia. Trong xu thế đó, các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam đang nổi lên như là điểm đến tiềm năng, là điểm đến cho sự phân bổ lại dòng vốn đầu tư, đặc biệt là xu hướng dịch chuyển dòng vốn từ Trung Quốc. Theo Nomura Group (2019), kể từ đầu năm 2018 đến tháng 8/2019, đã có 56 doanh nghiệp quốc tế rời Trung Quốc sang sản xuất tại các nước khác; trong đó, có 26 doanh nghiệp chọn Việt Nam, 11 doanh nghiệp sang Đài Loan, 11 DN sang Thái Lan, 3 DN lựa chọn Ấn Độ,… Theo Công ty Tư vấn đầu tư A.T. Kearney (2019), Trung Quốc đã xuống hạng, từ thứ 3 (năm 2017) xuống thứ 7 (năm 2019) trong số các địa điểm đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tốt nhất thế giới (là mức thấp nhất từ trước đến nay); phản ánh sự suy giảm sức hấp dẫn của Trung Quốc đối với các nhà đầu tư, do chi phí nhân công tăng nhanh, tác động của căng thẳng thương mại Mỹ – Trung và năm nay là đại dịch Covid-19.

Kể từ tháng 8/2019 đến nay, Ấn Độ và Indonesia đã đẩy mạnh việc thu hút các tập đoàn quốc tế đang có kế hoạch dịch chuyển khỏi Trung Quốc. Đến nay, đã có nhiều thông tin về việc các nhà đầu tư có kế hoạch dịch chuyển đầu tư tới Ấn Độ và các nước khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình dịch chuyển sẽ không ngay lập tức, mà thường có lộ trình khoảng 2 đến 5 năm, do các chuỗi cung ứng toàn cầu đã được hoàn thiện nên không thể nhanh chóng chuyển dịch. Ngoài ra, sự dịch chuyển này mang tính đa dạng hóa thị trường, chỉ chuyển dịch một phần chuỗi cung ứng chứ không phải là di dời toàn bộ khỏi Trung Quốc. Do đây vẫn là thị trường có quy mô rất lớn, vẫn là một điểm đến quan trọng bởi Trung Quốc có cơ sở hạ tầng, logistics, công nghiệp phụ trợ tốt, đội ngũ công nhân lành nghề, cũng như hệ sinh thái cung ứng công nghệ cao, đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng của Mỹ, châu Âu,… và quy mô sản xuất lớn.

Đối với Việt Nam, trong năm 2019, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký từ Trung Quốc tăng 17% so với năm trước, cao hơn so với mức tăng chung là 7,2%, và là mức tăng cao nhất trong số các đối tác đầu tư lớn của Việt Nam (Hồng Kông tăng 9,1%, Singapore tăng 6,4%, Hàn Quốc tăng 3,7%, Nhật Bản tăng 2,12%). Trong 5 tháng đầu năm 2020, một số tập đoàn đã lên kế hoạch dịch chuyển đầu tư đến Việt Nam. Cụ thể, theo Nikkei, Google có kế hoạch sản xuất smartphone giá rẻ (Pixel 4a) tại Việt Nam, trong khi Microsoft dự định sản xuất notebook và máy tính để bàn trong quý II năm 2020, còn Apple sẽ sản xuất tai nghe không dây (AirPods) tại Việt Nam thay vì Trung Quốc (3-4 triệu đơn vị, tương đương 30% lượng sản phẩm AirPods). Hãng trò chơi điện tử Nintendo cũng đã chuyển một phần sản xuất máy chơi game Switch Lite sang Việt Nam,…

Nguồn: Tổng Cục Thống kê

Hình 1.1. Thống kê vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào Việt Nam giai đoạn 2016-2019

Riêng Việt Nam, sau 32 năm đổi mới và mở cửa với quốc tế, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài thành công nhất trong khu vực.

Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã tăng mạnh kể từ khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Nhất là sau khi Việt Nam ký kết và tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), trở thành nền kinh tế có độ mở lớn (đạt hơn 200% GDP năm 2018). Sau hơn 30 năm mở cửa, hội nhập và cải cách môi trường kinh doanh, Việt Nam đã trở thành điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài. Khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng trở thành thành phần quan trọng của nền kinh tế Việt Nam, và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đã tăng mạnh, số vốn đăng ký và số vốn thực hiện đều có sự cải thiện so cùng kỳ các năm.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\Quản lý nhà nước đối với dự án có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng\CHUYỂN VÙNG/ Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế ho

Hoàn thiện công tác quản lý các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nông nghiệp Đà Nẵng

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *