Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Bắc Trà My là huyện nghèo của tỉnh Quảng Nam, nguồn thu ngân sách chưa đảm bảo cân đối được nhu cầu chi cho phát triển kinh tế tại địa phương. Do đó, công tác quản lý NSNN là vấn đề cần thiết phải được chú trọng để khai thác nguồn thu, phân bổ và sử dụng hợp lý các khoản chi nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Trong những năm gần đây Bắc Trà My đều đạt các chỉ tiêu kinh tế của huyện và của tỉnh đề ra do công tác lập dự toán và phân bổ NSNN được các ban ngành,các cấp quan tâm chú trọng. Trên thực tế, vốn đầu tư từ NSNN của huyện Bắc Trà My đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Để có được những kết quả như vậy, địa phương đã đưa ra những giải pháp để công tác quản lý ngân sách ngày càng tốt hơn như: Quy định quy trình công tác lập dự toán NSNN, đưa ra các định mức PBNS, các chế độ chính sách trong chi tiêu tài chính, tổ chức thực hiện ngân sách đã được phê chuẩn, từng bước nâng cao bộ máy quản lý tài chính ngân sách,… Tuy nhiên, trong công tác quản lý ngân sách của địa phương vẫn bộc lộ những tồn tại bất cập như: Chất lượng công tác lập dự toán ngân sách còn thấp vì thế hàng năm phải điều chỉnh sửa đổi dự toán nhiều lần; phân bổ dự toán vẫn còn nhiều tiêu chí và định mức phân bổ chưa thật sự hợp lý, công tác chấp hành ngân sách còn chưa nghiêm túc, chưa chặt chẽ, còn vượt quá xa so với dự toán được phê duyệt. Công tác phân bổ ngân sách lập theo từng năm và thường được lập theo phương pháp tăng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định so với số ước thực hiện năm hiện hành, chưa gắn chặt với việc triển khai thực khai thực hiện kế hoạch kinh tế – xã hội của địa phương dẫn đến một số dự toán phân bổ giao chính thức cho UBND các cấp thực hiện không sát với thực trạng kinh tế – xã hội. Chính vì vậy, cần thiết phải hoàn thiện quy trình quản lý ngân sách mà trong đó công tác lập, phân bổ dự toán ngân sách đóng một vai trò và ý nghĩa hết sức quan trọng.
Xuất phát từ ý nghĩa, vai trò và thực tế nêu trên, tôi đã chọn đề tài : “Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam” để làm luận văn tốt nghiệp. Nội dung nghiên cứu của đề tài là cấp thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận thực tiễn đang đặt ra hiện nay nhằm góp phần thực hiện tốt kế hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
2. Mục tiêu của đề tài
Trên cơ sở thực trạng công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My, luận văn phân tích nhằm đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện công tác lập, phân bổ dự toán ngân sách địa phương; giúp huyện thực hiện có hiệu quả vốn ngân sách của Nhà nước, góp phần phát triển KTXH của huyện trong thời gian tới.
b. Mục tiêu cụ thể
– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về NSNN; lập dự toán và phân bổ NSNN, cơ sở phương pháp luận về lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện.
– Đánh giá thực trạng công tác lập dự toán và phân bổ NSNN và những kết quả đạt được, những bất cập tồn tại trong việc lập dự toán và phân bổ NSNN giai đoạn 2017 – 2019 của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My tỉnh Quảng Nam.
– Đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My trong thời gian tới.
Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu của luận văn thì phải trả lời được những câu hỏi nghiên cứu sau:
– NSNN cấp huyện là gì và nội dung quản lý NSNN cấp huyện?
– Nhân tố nào ảnh hưởng đến công tác công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện, các tiêu chí đánh giá hiệu quả của việc lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện?
– Thực trạng về công tác thực hiện dự toán ngân sách cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My giai đoạn 2017 – 2019 như thế nào?
– Để hoàn thiện công tác lập dựu toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My trong thời gian đến cần phải đề ra các khuyến nghị nào?
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
+ Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện.
+ Đối tượng khảo sát: Thực trạng công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My.
b. Phạm vi nghiên cứu
+ Về không gian: Tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My.
+ Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My từ năm 2017 đến năm 2019.
4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
– Thu thập số liệu thứ cấp: Số liệu thu thập từ Quyết định giao dự toán, quyết toán ngân sách các năm (2017-2019) đã được công khai trên Cổng thông tin điện tử của UBND huyện Bắc Trà My và các báo cáo số liệu từ các cơ quan: Phòng Tài chính – Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước huyện Bắc Trà My, Chi cục thuế khu vực Trà My – Tiên Phước, Chi cục Thống kê huyện Bắc Trà My.
b. Phương pháp phân tích số liệu
– Phương pháp thống kê mô tả được dùng để mô tả thực trạng tình hình lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện trên địa bàn.
– Phương pháp so sánh và phân tích: Là đối chiếu các chỉ tiêu đã được lượng hoá có cùng nội dung, tính chất, so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau ở các thời điểm khác nhau để đánh giá các nhận định, từ đó rút ra kết luận về vấn đề được nghiên cứu.
– Phương pháp diễn dịch và suy diễn, kết hợp giữa lý luận và thực trạng cùng với định hướng phát triển của đơn vị trong thời gian tới cũng như quan điểm hoàn thiện để đề xuất hệ thống giải pháp khắc phục các hạn chế trong hoạt động lập dự toán và phân bổ NSNN tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.

5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương với các nội dung cụ thể như sau:
Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác lập và phân bổ NSNN cấp huyện.
Chương 2: Thực trạng công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My.
Chương 3: Khuyến nghị hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
1.1. TỔNG QUAN VỀ CẤP HUYỆN
1.1.1. Khái niệm NSNN cấp huyện
NSNN cấp huyện là một cấp ngân sách thực hiện vai trò, chức năng, nhiệm vụ của NSNN trên phạm vi địa bàn huyện. NSNN cấp huyện là một bộ phận cấu thành của NSNN, do đó nó phản ánh các mối quan hệ giữa ngân sách cấp huyện với các tổ chức, cá nhân trên địa bàn huyện trong quá trình phân bổ, sử dụng của cải xã hội. Trên cơ sở đó mà đáp ứng các nhu cầu chi nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền nhà nước cấp huyện.
1.1.2. Đặc điểm của NSNN cấp huyện
Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn. Ngân sách huyện là tất cả các khoản thu, chi được quy định tổng hợp đưa vào dự toán trong 01 năm do HĐND huyện quyết định và giao cho UBND huyện tổ chức chấp hành nhằm thực hiện các hoạt động liên quan đến phát triển kinh tế – xã hội thuộc chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện.
Chính quyền cấp huyện là chính quyền trung gian, nối tỉnh với xã, thị trấn. Ngân sách huyện là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện. Do đó, chính quyền cấp huyện không chỉ đơn thuần thực hiện sự chỉ đạo của tỉnh mà còn có những định hướng riêng phù hợp với tình hình thực tế của huyện trong khuôn khổ pháp luật.
1.1.3. Vai trò của NSNN cấp huyện
– Duy trì sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước tại địa phương, bằng việc huy động, khai thác các nguồn lực tài chính từ mọi lĩnh vực, các thành phần kinh tế theo các hình thức bắt buộc hay tự nguyện. “Việc huy động và khai thác các nguồn lực tài chính này cần được tính toán sao cho đảm bảo sự hài hoà lợi ích giữa nhà nước với doanh nghiệp, dân cư; giữa tiêu dùng và tiết kiệm. Từ đó Nhà nước sẽ tiến hành phân phối nguồn tài chính đó để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước theo tỷ lệ hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nhằm duy trì và đảm bảo hoạt động của bộ máy vừa đảm bảo thực hiện được nhiệm vụ phát triển KT-XH tại địa phương.
– Là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định trên địa bàn huyện, thông qua ngân sách Nhà nước, HĐND, UBND tại địa phương sẽ định hướng đầu tư, mục tiêu phát triển kinh tế trên địa bàn theo đúng định hướng phát triển. Thông qua chi ngân sách, nhà nước có thể tăng cường đầu tư cho kết cấu hạ tầng hay trong các lĩnh vực mà tư nhân không muốn tham gia hoặc không thể tham gia. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát triển, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định, nâng cao đời sống dân cư trên địa bàn
– Đóng vai trò trong việc thực hiện công bằng và giải quyết các vấn đề xã hội trên địa bàn, thông qua các khoản thu, chi NSNN địa phương sẽ thực hiện điều chỉnh thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, giảm những bất hợp lý trong phân phối, đảm bảo sự công bằng, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội.“Thông qua ngân sách Nhà nước, chính quyền địa phương sẽ thực hiện cung cấp các dịch vụ công cộng như y tế, giáo dục, văn hoá, xoá đói giảm nghèo, phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn…
1.1.4. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện
* Thu ngân sách cấp huyện: Là quá trình tổng hợp các nguồn kinh phí tạo lập, hình thành nên ngân sách cấp huyện, đóng vai trò quan trọng, quyết định đến việc chi ngân sách cấp huyện. Để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, các cấp chính quyền cần phải có chính sách thu hợp lý, hiệu quả, đưa ra các biện pháp, chủ trương nhằm huy động nguồn thu vào cho ngân sách.
– Nguồn thu của ngân sách cấp huyện gồm:
+ Các khoản thu ngân sách huyện hưởng 100%: Các khoản thu ngân sách từ doanh nghiệp tư nhân; Thuế thu nhập cá nhân (trừ thuế thu nhập cá nhân của hộ sản xuất kinh doanh cá thể); Các khoản thu phí, lệ phí, lệ phí trước bạ (không kể lệ phí trước bạ nhà, đất đối với xã, thị trấn) nộp vào ngân sách huyện theo quy định của pháp luật; Các khoản thu khác (bao gồm thu sự nghiệp, viện trợ, đóng góp, tiền phạt, thanh lý, đền bù, kết dư, chuyển nguồn và các khoản thu khác,…) nộp vào ngân sách huyện theo quy định của pháp luật.
+ Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách cấp tỉnh và ngân sách huyện: Theo quy định, các khoản thu này bao gồm: Thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập của doanh nghiệp (Doanh nghiệp không có vốn tham gia của Nhà nước (trừ Cục thuế huyện thu), hợp tác xã, tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể, đơn vị sự nghiệp do Chi cục thuế thu); Thu vi phạm trật tự an toàn giao thông do cơ quan cấp huyện, Công an huyện xử lý.
+ Thu bổ sung từ ngân sách cấp tỉnh: Bổ sung cân đối để chi thường xuyên và bổ sung có mục tiêu để chi cho những mục tiêu cụ thể.
+ Thu kết dư ngân sách huyện: Là chênh lệch giữa tổng số thu ngân sách địa phương lớn hơn tổng số chi ngân sách địa phương. Căn cứ nghị quyết phê chuẩn quyết toán của HĐND cấp huyện để xử lý kết dư ngân sách huyện, cơ quan tài chính có văn bản gửi KBNN đồng cấp để làm thủ tục hạch toán vào thu ngân sách năm sau theo chế độ quy định.
+ Thu chuyển nguồn ngân sách huyện: Là khoản thu từ các khoản chi chuyển nguồn kinh phí năm trước sang năm sau để thực hiện các nội dung chi đã được bố trí trong dự toán năm trước hoặc dự toán bổ sung nhưng đến hết thời gian chỉnh lý chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa xong được cơ quan có thẩm quyền cho tiếp tục thực hiện chi vào ngân sách năm sau.
* Chi ngân sách cấp huyện: Là quá trình phân phối và sử dụng quỹ ngân sách huyện nhằm đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của nhà nước trên địa bàn cấp huyện. Đó là toàn bộ các khoản chi ngân sách cấp huyện có trong dự toán, được HĐND huyện quyết định và giao UBND huyện phân bổ cho các đơn vị thụ hưởng NSNN trên địa bàn huyện thực hiện trong 01 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của chính quyền cấp huyện tại địa phương và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện.
– Nhiệm vụ chi của ngân sách cấp huyện:
+ Chi đầu tư phát triển: Là quá trình chính quyền cấp huyện sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN cấp huyện để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội, phát triển sản xuất để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế. Chi đầu tư phát triển chủ yếu là chi đầu tư xây dựng cơ bản, ngoài ra còn một số nhiệm vụ chi đầu tư khác theo quy định của pháp luật.
+ Chi thường xuyên: Là các khoản chi phát sinh ở thời điểm hiện tại cho các hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp và các tổ chức chính trị – xã hội, có thời hạn tác động ngắn, thường dưới một năm. Đây là những khoản chi phục vụ chủ yếu cho chức năng quản lý nhà nước cấp huyện về điều hành xã hội một cách thường xuyên như: Sự nghiệp giáo dục – đào tạo và dạy nghề; Sự nghiệp y tế, dân số và gia đình; Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Sự nghiệp bảo vệ môi trường; Sự nghiệp văn hóa thông tin; Sự nghiệp phát thanh, truyền hình; Sự nghiệp thể dục thể thao; Các hoạt động kinh tế; Chi bảo đảm xã hội; Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra còn chi chuyển nguồn sang năm sau của ngân sách cấp huyện; chi bổ sung có mục tiêu cho ngân sách cấp dưới, bổ sung cân đối ngân sách và chi hỗ trợ thực hiện một số nhiệm vụ quy định của Luật NSNN hiện hành tại các điểm a, b và c khoản 9 Điều 9.
1.2. NỘI DUNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ PHÂN BỔ NSNN CẤP HUYỆN
1.2.1. Công tác lập dự toán thu, chi NSNN cấp huyện
Lập dự toán NSNN là quá trình xây dựng và quyết định dự toán thu, chi NSNN trong thời hạn một năm.
Lập dự toán thu, chi NSNN cấp huyện là khâu đầu tiên của quy trình quản lý NSNN, tạo tiền đề cơ sở cho các bước tiếp theo, quyết định nhiệm vụ và quy mô thu, chi ngân sách trong một năm của ngân sách cấp huyện. Lập dự toán quyết định chất lượng quản lý vì quản lý ngân sách trước hết là quản lý theo dự toán được duyệt. Nếu việc lập dự toán được tiến hành trên cơ sở có đầy đủ căn cứ khoa học và phù hợp với thực tiễn, đảm bảo đúng tiến độ, thời gian quy định thì việc tổ chức thực hiện và quyết toán NSNN sẽ hiệu quả hơn. Dự toán ngân sách là bản tổng hợp dự kiến các khoản thu, chi ngân sách theo các chỉ tiêu xác định, được HĐND cấp huyện phê chuẩn, UBND huyện quyết định là định mức cơ sở để thực hiện thu, chi NSNN cấp huyện.
a. Căn cứ lập dự toán NSNN
Việc lập dự toán ngân sách chủ yếu dựa trên các căn cứ chủ yếu sau:
Một là, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh; chỉ tiêu, nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch và những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện kinh tế – xã hội và tự nhiên của địa phương.
Hai là, các luật, pháp lệnh thuế, chế độ thu; định mức phân bổ ngân sách; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách do cấp có thẩm quyền quy định; trường hợp cần sửa đổi, bổ sung các văn bản này thì phải được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung và ban hành trước thời điểm lập dự toán NSNN hàng năm. Trong đó:
– Đối với thu NSNN, việc lập dự toán phải căn cứ vào mức tăng trưởng kinh tế địa phương, các chỉ tiêu liên quan, tình hình thu thực tế qua các năm và các quy định của pháp luật về thu ngân sách.
– Đối với chi đầu tư phát triển, việc lập dự toán phải căn cứ vào những dự án đầu tư có đủ các điều kiện bố trí vốn theo quy định tại quy chế quản lý vốn đầu tư và xây dựng, phù hợp với khả năng ngân sách hàng năm.
– Đối với chi thường xuyên việc lập dự toán phải tuân theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn, định mức do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trong đó HĐND cấp huyện căn cứ định mức phân bổ chi ngân sách địa phương do Chính phủ quy định, ban hành định mức phân bổ chi ngân sách huyện.
Ba là, những quy định về phân cấp quản lý kinh tế – xã hội, phân cấp quản lý ngân sách.
Bốn là, việc lập dự toán trong kỳ ổn định ngân sách căn cứ vào tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và mức bổ sung cân đối từ ngân sách cấp huyện đã được giao; đối với năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, căn cứ vào chế độ phân cấp ngân sách và dự toán thu, chi ngân sách huyện do UBND tỉnh giao.
Năm là, số kiểm tra về dự toán ngân sách do sở tài chính thông báo.
Sáu là, tình hình thực hiện dự toán ngân sách của năm trước và một số năm gần kề.
b. Phương pháp lập dự toán
Việc lập dự toán thu, chi ngân sách được dựa trên các giả định thực tế, không tính toán không tính quá thấp các khoản chi tiêu bắt buộc và không tính toán quá cao các chỉ tiêu về thu ngân sách để đảm bảo tính khả thi của kế hoạch ngân sách. Lập dự toán hàng năm được tổ chức như sau:
Cách tiếp cận từ trên xuống: xác định tất cả các nguồn lực trong năm tài chính; lập bảng tổng hợp số liệu kiểm tra về dự toán thu, chi cho các đơn vị phù hợp với chính sách của Nhà nước, tình hình thực tế tại đơn vị, thông báo số kiểm tra cho các đơn vị, hướng dẫn lập dự toán.
Cách tiếp cận từ dưới lên: các đơn vị đề xuất dự toán của mình trên cơ sở các hướng dẫn của cấp trên.
Trao đổi, đàm phán, thương lượng: đàm phán dự toán ngân sách giữa các đơn vị với cơ quan tài chính là rất quan trọng để xác định dự toán ngân sách cuối cùng trình lên cơ quan có thẩm quyền quyết định trên cơ sở đạt được sự nhất quán giữa mục tiêu và nguồn lực sẵn có.
c. Quy trình lập dự toán NSNN huyện
Để việc lập dự toán thu, chi NSĐP đảm bảo trình tự, thời gian thì quy trình lập được thực hiện theo các giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Các cấp có thẩm quyền, cơ quan chuyên môn hướng dẫn lập dự toán ngân sách năm sau và thông báo số kiểm tra
– Sau khi có chỉ thị về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán NSNN năm sau của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư hướng dẫn lập dự toán NSNN và thông báo số kiểm tra về dự toán NSNN cho UBND các tỉnh của Bộ Tài chính, UBND cấp tỉnh có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn và thông báo số kiểm tra cho Sở Tài chính. Sau đó, Sở Tài chính sẽ chỉ đạo và phối hợp các đơn vị và UBND huyện xây dựng dự toán NSNN cho năm tới. Đối với ngân sách cấp huyện: Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện sẽ thực hiện trên cơ sở hướng dẫn của Sở Tài chính, đồng thời phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng dự toán thu – chi NSNN trên địa bàn.
– UBND cấp huyện tiếp tục hướng dẫn và thông báo số kiểm tra cho các đơn vị thụ hưởng ngân sách trên địa bàn huyện.
Giai đoạn 2: Lập và thảo luận dự toán ngân sách các cấp:
Các cơ quan được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách như Cơ quan thuế, cơ quan hải quan,… căn cứ vào các luật, pháp lệnh về thuế, các chế độ thu ngân sách và kế hoạch sản xuất – kinh doanh của các doanh nghiệp, dự kiến số thuế và các khoản phải nộp ngân sách.
Các đơn vị trên cơ sở số kiểm tra và các văn bản hướng dẫn tiến hành lập dự toán thu, chi ngân sách trong phạm vi nhiệm vụ được giao. Cơ quan tài chính các cấp tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán ngân sách với cơ quan, đơn vị cùng cấp và UBND (đối với năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách); Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện phải tổ chức làm việc để thảo luận về dự toán với các đơn vị dự toán ngân sách trực thuộc cấp huyện trong quá trình lập dự toán. Sau đó tổng hợp, báo cáo Sở Tài chính. Sở Tài chính xem xét, tổng hợp dự toán của các đơn vị cấp dưới trực thuộc lập, gửi đơn vị dự toán cấp I. Đơn vị dự toán cấp I xem xét, tổng hợp, lập dự toán tổng thể báo cáo cơ quan tài chính, cơ quan kế hoạch và đầu tư cùng cấp trước ngày 20 tháng 7, UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư trước ngày 25 tháng 7 năm trước kèm theo bản thuyết minh chi tiết căn cứ tính toán từng khoản thu, chi.
Giai đoạn 3: Quyết định, giao dự toán ngân sách:
Trước ngày 20 tháng 11, UBND tỉnh sẽ được Chính Phủ phân bổ dự toán thu – chi năm tới từ NSTƯ. Sở Tài chính căn cứ vào các Nghị quyết của HĐND tỉnh trình UBND tỉnh giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng sở, ban ngành, cơ quan thuộc tỉnh và UBND các huyện, thành phố theo từng lĩnh vực; nhiệm vụ thu, chi, tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương với NSĐP và mức bổ sung cân đối, mức bổ sung có mục tiêu.
Phòng Tài chính – Kế hoạch chủ trì phối hợp với Chi cục thuế và các cơ quan liên quan cùng cấp tổng hợp, lập dự toán ngân sách cấp huyện theo lĩnh vực ở cấp mình. Đề xuất các phương án cân đối thu – chi ngân sách và các biện pháp nhằm thực hiện chính sách tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách.
a. Khái niệm phân bổ NSNN
Từ thực tiễn hoạt động quản lý, sử dụng NSNN huyện, phân bổ NSNN huyện được hiểu là: Việc thiết lập, vận hành các cơ chế phân bổ nguồn tài chính giữa các cấp ngân sách, giữa đơn vị quản lý và sử dụng ngân sách theo những nguyên tắc, căn cứ, tiêu chí, định mức, đồng thời đưa ra những phương pháp tính toán nhất định nhằm đảm bảo cho mỗi cấp ngân sách, mỗi đơn vị có đủ nguồn lực tài chính để thực hiện các nhiệm vụ theo chức năng được giao, phát triển kinh tế – xã hội, góp phần giảm thiểu sự bất bình đẳng tài chính giữa các địa phương, đơn vị, thực hiện quản lý và PBNS theo đúng chủ trương, quan điểm, mục tiêu của địa phương từng thời kỳ.
b. Căn cứ phân bổ NSNN
Ngoài những căn cứ pháp lý theo quy định chung đối với NSNN, thì việc phân bổ dự toán NSĐP còn phải căn cứ vào các yếu tố sau đây:
– Nhiệm vụ, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội và đảm bảo quốc phòng, an ninh của địa phương.
– Chính sách phân cấp quản lý thu NSĐP; định mức phân bổ NSĐP trong thời kỳ ổn định ngân sách do HĐND cấp tỉnh quy định; một số chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi do địa phương ban hành theo thẩm quyền.
– Quyết định của Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của địa phương; Quyết định của Bộ trưởng Bộ tài chính về giao dự toán thu, chi ngân sách cho địa phương.
c. Nguyên tắc phân bổ NSNN
– Thực hiện theo đúng quy định của Luật NSNN và các văn bản pháp luật có liên quan về việc phân bổ NSNN.
– Hệ thống tiêu chí, định mức phân bổ ngân sách chi thường xuyên và chi đầu tư từ NSNN phải đảm bảo phù hợp với khả năng cân đối NSNN; cơ bản thực hiện được các chế độ, chính sách của Đảng, Nhà nước; đảm bảo và đáp ứng nguồn lực cho việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
– Tăng cường tính công khai, minh bạch trong phân bổ NSNN.
– Nâng cao tính chủ động, linh hoạt và trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương trong quản lý và sử dụng ngân sách.Tăng cường tính chủ động, linh hoạt cho các cơ quan địa phương trong xây dựng dự toán ngân sách cũng như trong quản lý và sử dụng ngân sách.
d. Tiêu chí và định mức phân bổ NSNN
Tiêu chí và định mức phân bổ NSNN được hoạch định nhằm hướng tới mục tiêu bảo đảm tính công bằng, khách quan, công khai, minh bạch, qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương và cả nước. Đây là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của chính sách phân bổ NSNN, đòi hỏi các cấp phải công khai quy trình, thủ tục phân bổ NSNN, cũng như các tiêu chí, định mức phân bổ NSNN đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH của địa phương trong từng thời kỳ.
Trong điều kiện nguồn lực NSNN hạn hẹp, thì các tiêu chí, định mức phân bổ NSNN là thước đo quan trọng để cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhất là cơ quan tài chính có căn cứ lập dự toán, phương án PBNS, kiểm tra quá trình chấp hành ngân sách và thẩm tra, xét duyệt quyết toán của các đơn vị sử dụng ngân sách. Ở hầu hết các địa phương, HĐND cấp tỉnh quyết định ban hành các tiêu chí, định mức phân bổ NSĐP trên cơ sở các quy định về tiêu chí, định mức phân bổ NSNN do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Tiêu chí phân bổ ngân sách cho các cấp địa phương được thực hiện theo 02 nhóm tiêu chí sau:
(1) Tiêu chí dân số dựa trên dân số trung bình, dân số trong độ tuổi đến trường (từ 1-18 tuổi), dân số còn lại (không kể từ 1-18 tuổi). Theo đó, ngân sách được phân theo các vùng: đô thị; đồng bằng; miền núi; đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu, vùng cao – hải đảo.
(2) Các tiêu chí bổ sung sẽ được áp dụng đối với từng lĩnh vực chi và theo từng vùng để bảo đảm công bằng, ví dụ như:
– Tiêu chí theo lĩnh vực kinh tế – xã hội
Bên cạnh đó, định mức phân bổ và định mức chi ngân sách cũng là căn cứ để các đơn vị sử dụng ngân sách triển khai thực hiện theo đúng chế độ quy định. Định mức chi ngân sách được biểu hiện như: Tiền lương, phụ cấp lương, công tác phí, thanh toán cước phí điện thọai, nước, xăng xe… Loại định mức này khá đa dạng do chi thường xuyên bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
Định mức phân bổ NSNN gắn liền với việc hoạch định và thực thi chính sách phân bổ NSNN, vì nó là loại định mức mang tính chất tổng hợp. Loại định mức này biểu hiện như: Định mức kinh phí hành chính trên một biên chế, định mức cho một học sinh thuộc các cấp học, một giường bệnh; định mức cho sự nghiệp văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể dục thể thao tính trên một người dân… Định mức này có thể ban hành hàng năm hoặc tính cho cả một thời kỳ ổn định ngân sách, có tính đến yếu tố điều chỉnh ngân sách tăng hàng năm do trượt giá. Định mức PBNS được ban hành để áp dụng cho các ngành, các cấp, các đơn vị thụ hưởng ngân sách, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và khả năng ngân sách của từng cấp và từng ngành.
Các tiêu chí, định mức PBNS có vai trò quan trọng trong việc quản lý NSNN. Tiêu chí và định mức PBNS là căn cứ tốt nhất cho việc phân bổ nguồn lực một cách khách quan, công bằng, hợp lý và hiệu quả; đảm bảo nguồn lực để thực hiện các chính sách đã ban hành, vốn cho đầu tư phát triển những công trình quan trọng then chốt, an ninh, quốc phòng của địa phương.
1.2.3. Mối liên hệ giữa lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện
Sau khi nhận được quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách của UBND tỉnh; UBND huyện trình HĐND cùng cấp quyết định dự toán thu, chi ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách cấp mình chậm nhất là 10 ngày kể từ ngày HĐND tỉnh trực tiếp quyết định dự toán và phân bổ ngân sách.
Căn cứ Nghị quyết của HĐND huyện, UBND huyện ban hành quyết định giao nhiệm vụ thu, chi ngân sách cho từng cơ quan, đơn vị thụ hưởng ngân sách huyện và giao nhiệm vụ thu, chi và định mức PBNS cho từng xã, thị trấn trước ngày 25 tháng 12 hàng năm. Chậm nhất 7 ngày sau khi HĐND thông qua Nghị quyết phân bổ dự toán ngân sách hoặc dự toán ngân sách điều chỉnh, UBND huyện có trách nhiệm báo cáo UBND tỉnh và Sở Tài chính.
Phòng Tài chính – Kế hoạch kiểm tra Nghị quyết về dự toán ngân sách của HĐND cấp xã, trong trường hợp cần thiết báo cáo UBND huyện yêu cầu HĐND cấp xã điều chỉnh lại dự toán ngân sách cấp xã.
1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến lập dự toán, phân bổ NSNN cấp huyện
a. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội
Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác lập dự toán và phân bổ NSNN. Ở những nơi có điều kiện tự nhiên thuận lợi thì việc tổ chức các hoạt động của cơ quan nhà nước gặp nhiều thuận lợi và ngược lại. Vì vậy, chính quyền các cấp cần có những chính sách PBNS cho phù hợp để phát triển đồng đều kinh tế – xã hội giữa các vùng, khu vực trong địa phương mình.
Điều kiện kinh tế – xã hội là cơ sở xây dựng chiến lược và chính sách phát triển, tư đó tác động trực tiếp đến việc lập dự toán và PBNS. Điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương tốt thì việc PBNS tới địa phương sẽ dễ dàng hơn và địa phương có điều kiện phát huy khả năng thế mạnh của mình.
Quy mô dân số và trình độ dân trí là những yếu tố có vai trò hết sức quan trọng và ảnh hưởng đến mức độ lập dự toán cho từng, ngành lĩnh vực được địa phương ưu tiên phát triển.
b. Cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý địa phương
Chất lượng và cơ cấu tổ chức của bộ máy quản lý địa phương: Cơ cấu tổ chức và chất lượng bộ máy quản lý có ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động của địa phương. Công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP là một nhiệm vụ quan trọng xuyên suốt trong công tác quản lý điều hành ngân sách, do đó cơ chế tổ chức, phối hợp có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến hiệu quả công tác lập dự toán và PBNS.
Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách và các đơn vị sử dụng ngân sách: Đây là tập hợp của các lực lượng và yếu tố nằm bên ngoài hệ thống quản lý nhưng lại có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến công tác lập, phân bổ và giao dự toán NSĐP. Địa phương nào phát huy tốt vai trò của mình trong việc sử dụng nguồn vốn ngân sách phân bổ thì có thể được chú ý đến hơn trong công tác lập dự toán và PBNS ở các kỳ sau và ngược lại.
c. Chế độ, chính sách của Nhà nước
Công tác lập, phân bổ dự toán NSĐP hiện nay được điều chỉnh bởi rất nhiều các văn bản, bên cạnh những ưu điểm là kịp thời có những hướng dẫn cụ thể để các tổ chức, cá nhân thực hiện, một số văn bản lại có nhiều điểm chưa thống nhất, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật có liên quan. Nhiều văn bản thường xuyên thay đổi trong thời gian ngắn, tính nhất quán giữa các văn bản không cao, thiếu tính dự báo, làm cho việc triển khai thực hiện bị động, lúng túng nên ảnh hưởng không nhỏ đến công tác này.
d. Năng lực, trình độ cán bộ
Sự phát triển của một đơn vị luôn gắn với một đội ngũ cán bộ, nhân viên nói chung và các cán bộ, nhân viên làm công tác lập dự toán ngày càng có chất lượng. Một đội ngũ cán bộ có năng lực, trình độ và phẩm chất đạo đức tốt sẽ làm cho chất lượng của công tác này không ngừng được nâng lên tương ứng. Ngoài ra, việc ứng dụng các công nghệ thông tin trợ giúp cho cán bộ trong việc cập nhật, xử lý thông tin được nhanh và chính xác hơn.
Ngoài ra tính trung thực và giá trị đạo đức của cán bộ, nhân viên; cơ cấu tổ chức, sự phân công trách nhiệm, sự phân chia quyền lực, chính sách về nhân sự trong đơn vị cũng là những yếu tố không nhỏ ảnh hưởng tới công tác này.
1.2.5. Tiêu chí đánh giá kết quả của công tác lập dự toán, phân bổ NSNN cấp huyện
Do ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của tài chính công,
lĩnh vực tổng hòa các mối quan hệ kinh tế trong xã hội và tổng thể nội dung
các giải pháp tài chính tiền tệ của một quốc gia, nên công tác lập dự toán và phân bổ NSNN phải đảm bảo các tiêu chí sau:
– Dự toán ngân sách của các đơn vị dự toán các cấp phải lập theo đúng nội dung, biểu mẫu, thời hạn kèm theo báo cáo thuyết minh rõ ràng cơ sở, căn cứ tính toán.
– Dự toán NSNN phải bảo đảm tổng số thu thuế và phí, lệ phí phải lớn hơn chi thường xuyên và các khoản chi trả nợ; bội chi phải nhỏ hơn chi đầu tư phát triển.
– Phân bổ NSNN đúng định mức đã được xây dựng và phải phù hợp với từng ngành, lĩnh vực theo định hướng phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đảm bảo cân đối thu – chi trong năm.
– Dự toán chi giao đầu năm cho các đơn vị đảm bảo đủ kinh phí thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – chính trị trong năm nhưng phải tiết kiệm triệt để các khoản chi ngay từ khâu phân bổ dự toán và trong quá trình thực hiện, hạn chế tối đa việc đề nghị bổ sung kinh phí, ứng trước dự toán năm sau; tỷ lệ giải ngân trong năm đạt tỷ lệ % so với dự toán được giao theo quy định của HĐND cùng cấp; Dự toán giao thu phải đảm bảo đúng các khoản thu, chống thất thu NSNN và phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của từng địa phương.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
NSNN giữ vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính quốc gia là công cụ góp phần phát triển kinh tế xã hội của các địa phương. Quản lý NSNN ngày càng trở nên quan trọng đối với các chính quyền địa phương. Hệ thống NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, trong hệ thống đó ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, ngân sách địa phương là ngân sách của các cấp chính quyền bên dưới phù hợp với địa giới hành chính các cấp.
Qua việc nghiên cứu những vấn đề của Chương 1 chúng ta đã tìm hiểu về các vấn đề lý luận cơ bản về lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện. Các khái niệm cơ bản của công tác lập dự toán, PBNS cấp huyện và nội dung của Chương này giúp chúng ta nhìn nhận rõ hơn từ căn cứ, yêu cầu, phương pháp, quy trình, vai trò của nó để dự toán ngân sách thật sự là công cụ quản lý ngân sách ngày càng hiệu quả.
Để hiểu rõ hơn về tầm quan trọng đó, trong Chương 2 sẽ đi sâu phân tích thực trạng công tác lập dự toán và phân bổ NSNN cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My trong những năm 2017 – 2019. Từ đó, đánh giá những kết quả đạt được, những mặt còn tồn tại, hạn chế trong công tác lập dự toán và PBNS để đưa ra các giải pháp khắc phục và đề xuất một số khuyến nghị để thực hiện tốt hơn công tác lập, phân bổ dự toán NSĐP cho Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My.
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC LẬP DỰ TOÁN VÀ PHÂN BỔ NSNN CẤP HUYỆN TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ HOẠCH HUYỆN BẮC TRÀ MY
2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN BẮC TRÀ MY VÀ PHÒNG TÀI CHÍNH – KẾ HOẠCH HUYỆN BẮC TRÀ MY
2.1.1. Khái quát về đặc điểm tự nhiên, KTXH huyện Bắc Trà My
a. Khái quát đặc điểm tự nhiên
Huyện Bắc Trà My là huyện miền núi nằm phía Tây Nam của tỉnh Quảng Nam, có tổng diện tích tự nhiên là 84.669,4 hecta. Địa giới hành chính phía Đông giáp huyện Núi Thành và tỉnh Quảng Ngãi, phía Tây giáp huyện Phước Sơn; phía Nam giáp huyện Nam Trà My; phía Bắc giáp các huyện Tiên Phước, huyện Hiệp Đức.
Toàn huyện có 13 đơn vị hành chính cấp xã (thị trấn Trà My; xã Trà Ka, Trà Giáp, Trà Giác, Trà Bui, Trà Đốc, Trà Sơn, Trà Tân, Trà Giang, Trà Dương, Trà Đông, Trà Nú, Trà Kót) với 46 thôn, tổ dân phố.
Khu vực Bắc Trà My chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa (từ tháng 10 đến tháng 01 năm sau) và mùa khô (từ tháng 02 đến tháng 9); là một trong hai vùng có lượng mưa lớn nhất của tỉnh Quảng Nam. Mạng thủy văn trong khu vực cung cấp nguồn nước mặt khá dồi dào cho sản xuất và sinh hoạt, có tiềm năng, đã phát triển thủy điện vừa và nhỏ.
Dòng chảy chính của huyện là sông Tranh dài khoảng 43 km, đây là hợp lưu của thượng nguồn sông Thu Bồn, bắt nguồn từ phía Tây chảy qua địa phận Bắc Trà My, đoạn chảy qua huyện khoảng 20 km. Ngoài ra trên địa bàn huyện có các nhánh sông: sông Bui, sông Tam Lang, sông Trường… và nhiều khe suối, hồ chứa khác. Sông suối khu vực Bắc Trà My có độ dốc lớn, nhiều thác ghềnh, phân bố chằng chịt, không thuận lợi cho việc phát triển hạ tầng về giao thông, thủy lợi…
Đất đai của Bắc Trà My có nhiều nhóm, gồm: nhóm đất mùn phân bố trên những vùng núi cao, đất vàng đỏ phân bố hầu hết các xã và đất phù sa phân bổ tập trung chính ở các xã Trà Nú, Trà Kót.
Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp có rừng của Bắc Trà My là 58.108,85 hecta, chiếm 70,4% diện tích tự nhiên. Rừng Bắc Trà My rộng lớn có nhiều gỗ quý, hiếm (Dổi, Lim, Sến, Chua, Huỳnh Đàn…) và cây dược liệu. Trữ lượng gỗ đạt trên 7 triệu m3. Rừng ở đây có sự phân tầng, tán rõ: tầng trên là cây thân gỗ, tầng dưới có các loại cây leo, cây hỗn tạp và cây bụi. Hệ động vật cũng rất phong phú đa dạng với nhiều loài thú quý hiếm như hổ, voi, gấu, vọc, mang, nai, … Nhiều loại động vật nằm trong sách đỏ Việt Nam.
Qua một số tài liệu và đánh giá ban đầu, trên địa bàn huyện hiện có các loại khoáng sản: vàng sa khoáng có ở các xã Trà Đông, Trà Bui, Trà Tân, Trà Giác, Trà Đốc…, một số loại quặng có giá trị kinh tế như thiếc, titan ở Trà Đốc, Trà Tân, kẽm ở Trà Sơn, Trà Giác, Trà Tân, Trà Giang.
b. Tình hình KTXH của huyện Bắc Trà My
Trong những năm qua, mặc dù quá trình phát triển kinh tế xã hội của huyện còn gặp nhiều khó khăn do đặc điểm nền kinh tế nông lâm nghiệp chiếm tỷ trọng cao nên phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Song với nỗ lực và quyết tâm của các cấp, các ngành và của nhân dân toàn huyện đã đạt được kết quả sau:
Đơn vị tính: Tỷ đồng
| TT | Nội dung | 2017 | 2018 | 2019 |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Tổng GTSX theo giá so sánh 2010 | 874,9 | 1.009,9 | 1.143,1 |
| 1.1 | Nông lâm thủy sản | 309,4 | 335,7 | 356,5 |
| 1.2 | Công nghiệp – Xây dựng | 218,2 | 258,9 | 301,4 |
| 1.3 | Dịch vụ | 347,3 | 415,3 | 485,2 |
| 2 | Theo giá hiện hành | 1.184,2 | 1.341,9 | 1.448,5 |
| 2.1 | Nông lâm thủy sản | 468,3 | 516,9 | 547,7 |
| 2.2 | Công nghiệp – Xây dựng | 287,4 | 331,4 | 370,9 |
| 2.3 | Dịch vụ | 428,5 | 493,6 | 529,9 |
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Bắc Trà My)
Bảng 2.1: Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn của một số ngành chủ yếu (trường hợp không tính thủy điện Sông Tranh 2)
Theo bảng số liệu nêu trên cho thấy giá trị sản xuất của huyện Bắc Trà My giai đoạn 2017 – 2019 không ngừng biến động theo chiều hướng gia tăng qua các năm. Trong cơ cấu sản xuất giá trị sản xuất nông – lâm nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao trên 30% và tỷ trọng này có xu hướng biến động theo chiều hướng tăng qua các năm. Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành dịch vụ có xu hướng tăng mạnh qua các năm cả về giá trị lẫn tỷ trọng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nêu trên phù hợp với xu thế phát triển và quy hoạch phát triển KT-XH của huyện, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn.
| TT | Nội dung | 2017 | 2018 | 2019 |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Cơ cấu kinh tế | 100% | 100% | 100% |
| 1.1 | Nông lâm thủy sản | 39,5% | 38,5% | 37,8% |
| 1.2 | Công nghiệp – Xây dựng | 24,3% | 24,7% | 25,6% |
| 1.3 | Dịch vụ | 36,2% | 36,8% | 36,6% |
| 2 | Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất | 14,3% | 15,4% | 13,2% |
| 2.1 | Nông lâm thủy sản | 12,4% | 8,5% | 6,2% |
| 2.2 | Công nghiệp – Xây dựng | 14,0 % | 18,7 % | 16,4 % |
| 2.3 | Dịch vụ | 16,2 % | 19,5 % | 16,8 % |
(Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Bắc Trà My)
Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng giá trị sản xuất các ngành giai đoạn 2017 – 2019 (trường hợp không tính thủy điện Sông Tranh 2)
Dân số và lao động
– Dân số: Trung bình năm 2019 là 41.344 người, tỷ lệ tăng dân số 0,66%; trong đó dân số sống ở nông thôn 34.050 người, chiếm 82,36%. Mật độ dân số 47,2 người/km2, là một trong những huyện có mật độ dân số thưa của tỉnh Quảng Nam.
– Lao động: Số người trong độ tuổi lao động năm 2019 có 24.222 người đạt tỷ lệ 58,6% so với tổng dân số. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế năm 2019 là 27,15%.
Giáo dục – Đào tạo
Năm 2019, toàn huyện có 44 trường học gồm: 01 trường mầm non, 13 trường mẫu giáo; 14 trường tiểu học; 14 trường trung học cơ sở; 01 trường trung học phổ thông và 01 trường phổ thông dân tộc nội trú Nước Oa có 02 cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông trực thuộc tỉnh.
Đội ngũ cán bộ, giáo viên hằng năm được tăng cường, ổn định về số lượng và nâng cao về chất lượng. Năm học 2018 – 2019, toàn huyện có 839 giáo viên.
– Mô hình y tế trên địa bàn huyện bao gồm: Trung tâm Dân số – Kế hoạch hóa gia đình trực thuộc Chi cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình tỉnh (Sở Y tế), thực hiện công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình trên địa bàn huyện.
– Trung tâm Y tế huyện gồm: Hệ điều trị: 01 bệnh viện huyện với 55 giường bệnh và 01 phòng khám khu vực với 05 giường bệnh thực hiện công tác khám, chữa bệnh. Hệ dự phòng: thực hiện công tác phòng chống dịch bệnh và Chương trình mục tiêu quốc gia về y tế trên địa bàn huyện.
– Tuyến xã, thị trấn: gồm 13 trạm y tế xã, thị trấn (mỗi trạm có 05 giường kê). Tỷ lệ giường bệnh (không tính giường trạm y tế xã là 15 giường/vạn dân).
* Văn hóa
13/13 xã, thị trấn được thành lập Trung tâm Văn hóa – Thể thao. Trong 3 năm qua, lĩnh vực văn hóa ở Bắc Trà My đã có sự tập trung cao cho mục tiêu xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng con người mới.
Địa bàn huyện hiện có khá nhiều di tích lịch sử, văn hoá, tiêu biểu có: Di tích lịch sử cách mạng Trung Trung Bộ – Nước Oa (Trà Tân), Di tích chiến thắng Đồn xã Đốc (Trà Đốc), di tích Sơn Phòng Dương Yên (Trà Dương), công tác bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị tại các khu di tích thời gian gần đây đã được chú trọng nghiên cứu thường xuyên, hiện đang trong giai đoạn hình thành làng du lịch cộng đồng Cao Sơn.
2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My
a. Vị trí và chức năng
Phòng Tài chính – Kế hoạch là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực tài chính, tài sản theo quy định của pháp luật.
Việc thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về kinh tế tập thể, hợp tác xã, kinh tế tư nhân của Phòng Tài chính – Kế hoạch do Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Nội vụ hướng dẫn.
Phòng Tài chính – Kế hoạch có con dấu và tài khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của Ủy ban nhân dân cấp huyện; đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực tài chính của Sở Tài chính.
b. Nhiệm vụ và quyền hạn
Phòng Tài chính – Kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật về lĩnh vực tài chính và các nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau:
– Trình Ủy ban nhân dân cấp huyện ban hành các quyết định, chỉ thị; quy hoạch, kế hoạch dài hạn, 5 năm và hàng năm về lĩnh vực tài chính; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước trong lĩnh vực tài chính thuộc trách nhiệm quản lý của Phòng.
– Tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, các quy hoạch, kế hoạch, chương trình đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và tham mưu, giúp UBND cấp huyện theo dõi thi hành pháp luật trong lĩnh vực tài chính, đầu tư trên địa bàn.
– Hướng dẫn các cơ quan, đơn vị dự toán thuộc huyện, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) xây dựng dự toán ngân sách hàng năm; xây dựng trình Ủy ban nhân dân cấp huyện dự toán ngân sách huyện theo hướng dẫn của Sở Tài chính.
– Tổng hợp, lập dự toán thu ngân sách nhà nước đối với những khoản thu được phân cấp quản lý, dự toán chi ngân sách cấp huyện và tổng hợp dự toán ngân sách cấp xã, phương án phân bổ ngân sách huyện trình Ủy ban nhân dân cấp huyện; lập dự toán ngân sách điều chỉnh trong trường hợp cần thiết để trình Ủy ban nhân dân cấp huyện; tổ chức thực hiện dự toán ngân sách đã được quyết định.
– Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý tài chính, ngân sách, giá, thực hiện chế độ kế toán của chính quyền cấp xã, tài chính hợp tác xã, tài chính kinh tế tập thể và các cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp của nhà nước thuộc cấp huyện.
– Phối hợp với cơ quan có liên quan trong việc quản lý công tác thu ngân sách nhà nước trên địa bàn theo quy định của pháp luật.
– Thẩm tra quyết toán các dự án đầu tư do huyện quản lý; thẩm định quyết toán thu, chi ngân sách xã; lập quyết toán thu, chi ngân sách huyện; tổng hợp, lập báo cáo quyết toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện (bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách huyện và quyết toán thu, chi ngân sách cấp xã) báo cáo Ủy ban nhân dân huyện để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê chuẩn.
Tổ chức thẩm tra, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt quyết toán đối với dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện. Thẩm tra, phê duyệt quyết toán các dự án đầu tư bằng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng cơ bản thuộc ngân sách huyện quản lý.
– Quản lý tài sản nhà nước tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp thuộc cấp huyện quản lý theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Thẩm định, trình Ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định theo thẩm quyền việc mua sắm, thuê, thu hồi, điều chuyển, thanh lý, bán, tiêu hủy tài sản nhà nước.
– Quản lý nguồn kinh phí được ủy quyền của cấp trên; quản lý các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật.
– Quản lý giá theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; kiểm tra việc chấp hành niêm yết giá và bán theo giá niêm yết của các tổ chức, cá nhân kinh doanh hoạt động trên địa bàn; tổ chức thực hiện đăng ký giá, kê khai giá theo phân công, phân cấp của Ủy ban nhân dân tỉnh và theo quy định của pháp luật; chủ trì thực hiện thẩm định giá đối với tài sản nhà nước tại địa phương theo phân cấp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
– Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; xây dựng hệ thống thông tin, lưu trữ phục vụ công tác quản lý tài chính và chuyên môn nghiệp vụ được giao.
– Thực hiện chế độ thông tin báo cáo định kỳ và đột xuất về tài chính, ngân sách, đầu tư, giá thị trường với Ủy ban nhân dân cấp huyện và Sở Tài chính.
– Chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan kiểm tra việc thi hành pháp luật tài chính; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về tài chính theo quy định của pháp luật.
– Quản lý cán bộ, công chức và tài chính, tài sản được giao theo quy định của pháp luật và phân công của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
– Thực hiện các nhiệm vụ khác về quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính theo phân công, phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật.
F:\TÀI LIỆU ĐÃ LƯU\NĂM 2020/ LẬP DỰ TOÁN VÀ PHÂN BỔ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My Hoàn thiện công tác lập dự toán và phân bổ ngân sách nhà nước cấp huyện tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện Bắc Trà My


