Hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán ngân sách địa phương

Hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán ngân sách địa phương

Hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán ngân sách địa phương tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang

1. Tính cấp thiết của đề tài

Công tác quyết toán NSNN hàng năm đã được quy định trong Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật NSNN, đây là khâu cuối trong quy trình ngân sách, nhưng có sự gắn kết với các nhiệm vụ khác để đánh giá cả quá trình thực hiện nhiệm vụ của ngân sách trong năm.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, địa phương đã phối hợp với cơ quan tài chính các cấp trong công tác chỉ đạo, thực hiện đúng quy định quyết toán NSNN. Tuy nhiên, qua công tác quyết toán NSNN vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc, bất cập chưa được giải quyết triệt để. Việc giao dự toán bổ sung cho các đơn vị sử dụng ngân sách và điều chỉnh dự toán ngân sách thực hiện rất chậm (sau 31/1 năm sau) dẫn đến khó khăn, vướng mắc cho địa phương, đơn vị đầu tư và cả KBNN trong quá trình quyết toán. Công tác chuyển nguồn NSNN thực hiện chậm và kéo dài sau thời hạn quy định (ngày 15/3 năm sau). Chưa tập trung phối hợp với cơ quan tài chính các cấp đối chiếu số liệu, tìm nguyên nhân để phối hợp điều chỉnh số liệu kịp thời, gồm cả điều chỉnh theo kết quả thẩm định quyết toán của cơ quan tài chính cùng cấp, dẫn đến khó khăn cho các cơ quan, đơn vị báo cáo quyết toán và việc tổng hợp số liệu quyết toán còn một số nội dung bị sai sót.

Nhằm tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính, thúc đẩy quản lý, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực tài chính NSNN, thực hiện nghiêm quy định quyết toán NSNN hàng năm, hạn chế những sai sót tương tự, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán ngân sách địa phương tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang” làm luận văn tốt nghiệp với mong muốn góp một phần ý kiến vào những lợi ích thiết thực và những quan điểm đổi mới trong quản lý ngân sách, góp phần tăng cường hiệu quả quyết toán NSĐP cho những năm tiếp theo.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

– Hệ thống hóa lý luận về công tác kiểm soát quyết toán NSNN ĐP tại Sở Tài chính.

– Đánh giá được thực trạng công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang từ năm ngân sách 2014-2016, nhằm rút ra các ưu, nhược điểm và nguyên nhân cơ bản;

– Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang góp phần nâng cao hiệu quả quản lý NSNN, đẩy mạnh phát triển KT-XH của ĐP một cách vững chắc trong thời gian đến.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

– Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu về công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang.

+ Về thời gian: Sử dụng số liệu quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang từ năm 2014 đến năm 2016 và các giải pháp được đề xuất áp dụng trong thời kỳ ổn định ngân sách từ năm 2017 đến năm 2020.

4. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp cụ thể sau: phương pháp tổng hợp – phân tích, phương pháp phỏng vấn, quan sát, phương pháp thống kê và suy luận….

– Phương pháp tổng hợp phân tích được tác giả sử dụng để tổng hợp của các tác giả trước để phân tích ưu, nhược điểm của các nghiên cứu đó, từ đó hình thành hướng nghiên cứu cho luận văn. Ngoài ra, phương pháp tổng hợp phân tích còn được tác giả kết hợp với phương pháp thống kê để tổng hợp số liệu thứ cấp từ các đơn vị và tiến hành phân tích đưa ra các nhận định về tình hình kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính Kiên Giang.

– Phương pháp quan sát: tác giả sử dụng để phỏng vấn các đối tượng trong quy trình kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở tài chính Kiên Giang để thấy được các nội dung kiểm soát trong quy trình, đồng thời kết hợp với quan sát thực tiễn kiểm soát tại Sở Tài chính sẽ hình thành nên bước kiểm soát và mô tả lại các nội dung các bước kiểm soát đó.

5. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kiến nghị và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn bao gồm các nội dung chủ yếu ở 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm soát quyết toán NSĐP.

Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NSNN VÀ QUYẾT TOÁN NSNN

1.1.1. Khái quát chung về Ngân sách Nhà nước

1.1.1.1. Khái niệm chung về NSNN

NSNN phản ánh về kế hoạch, dự toán thu, chi của nhà nước trong một thời gian nhất định với hình thái biểu hiện là quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước, nhà nước sử dụng quỹ tập trung đó để trang trải cho các khoản chi tiêu của mình.

1.1.1.2. Bản chất của Ngân sách Nhà nước

Một là, quan hệ tài chính giữa Nhà nước và các DN hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhóm quan hệ tài chính này phát sinh trong quá trình động viên nguồn lực tài chính của NSNN, dưới nhiều hình thức động viên khác nhau từ tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế. Ngoài ra Nhà nước còn đầu tư lại cho DN hoạt động trong một số ngành mà Nhà nước thấy cần thiết. Đồng thời Nhà nước có thể kiểm tra thường xuyên toàn diện về mặt tài chính đối với DN theo chính sách và pháp luật tài chính.

Hai là, quan hệ tài chính giữa NSNN với các đơn vị QLNN nằm trong các lĩnh vực sự nghiệp văn hóa xã hội, hành chính và an ninh quốc phòng, phát sinh trong quá trình phân phối lại các khoản thu nhập bằng việc NSNN cấp phát kinh phí theo dự toán hàng năm và các đơn vị này quản lý, sử dụng quỹ NSNN.

Ba là, quan hệ kinh tế giữa NSNN với hộ gia đình và dân cư. Mối quan hệ này được thể hiện thông qua quan hệ phân phối lại, dân cư làm nghĩa vụ tài chính với Nhà nước thông qua các khoản thuế, lệ phí ủng hộ tự nguyện, đồng thời một bộ phận dân cư khác nhận từ NSNN các khoản trợ cấp xã hội theo chính sách được qui định của Nhà nước và được hưởng các lợi ích xã hội từ việc Nhà nước đầu tư CSHT như đầu tư đường giao thông, trường học, bệnh viện,…

Bốn là, quan hệ kinh tế giữa NSNN với thị trường tài chính.

Xuất phát từ thị trường tiền tệ, từ cung cầu về vốn trên thị trường, Nhà nước có thể tham gia trên thị trường tài chính bằng việc phát hành các loại chứng khoán KBNN, nhằm huy động vốn của các chủ thể trong xã hội đáp ứng yêu cầu cân đối vốn của NSNN và mối quan hệ kinh tế này trong quá trình phân phối lại các nguồn vốn của xã hội luôn luôn gắn liền với yêu cầu sinh lợi và hiệu quả sử dụng vốn.

1.1.1.3. Chức năng của NSNN

1.1.1.4. Mô hình tổ chức hệ thống NSNN ở Việt Nam

1.1.1.5. Tổ chức bộ máy điều hành NSNN ở địa phương

1.1.2. Khái quát chung về quyết toán NSNN

1.1.2.1. Khái niệm quyết toán ngân sách nhà nước

Quyết toán NSNN là phản ánh, đánh giá và kiểm tra lại quá trình lập và chấp hành NSNN. Quyết toán NSNN được thực hiện tốt có ý nghĩa quan trọng trong việc nhìn nhận lại quá trình chấp hành ngân sách qua một năm, rút ra những bài học kinh nghiệm thiết thực bổ sung cho công tác lập ngân sách cũng như chấp hành ngân sách ở những chu trình tiếp theo.

1.1.2.2. Nguyên tắc quyết toán NSNN

Về quyết toán NSNN, có nhiều nội dung và khía cạnh được quan tâm đến khi thực hiện quyết toán NSNN phải tuân thủ, đó là những nguyên tắc quyết toán NSNN. Để một quyết toán NSNN đạt yêu cầu, giải quyết được các vấn đề đặt ra phải tuân thủ các nguyên tắc sau

(a)Nguyên tắc đầy đủ

(b)Nguyên tắc thống nhất

(c)Nguyên tắc cân đối

(d) Nguyên tắc rõ ràng, trung thực và chính xác

(e) Nguyên tắc thường niên (hay nguyên tắc theo niên độ ngân sách)

(f) Nguyên tắc công khai, minh bạch

(g) Nguyên tắc lập quyết toán từ cơ sở

(h) Nguyên tắc hạn định (nguyên tắc thực thanh thực chi)

1.1.2.3. Nội dung quyết toán ngân sách nhà nước

Thứ nhất, căn cứ quyết định giao dự toán NSNN hàng năm của Thủ tướng Chính phủ, hướng dẫn của Bộ Tài chính, thực hiện phân bổ, giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc và cấp dưới theo đúng thời hạn quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn Luật để các đơn vị chủ động tổ chức thực hiện ngay từ đầu năm, tránh dồn vào cuối năm.

Thứ hai, thời hạn khóa sổ NSNN hàng năm là hết ngày 31/01 năm sau theo đúng quy định tại Thông tư 108/2008/TT-BTC ngày 18/11/2008 của Bộ Tài chính. Các khoản chi NSNN từ nguồn của năm trước sau ngày 31/01 năm sau phải hạch toán vào ngân sách năm sau, kể cả các khoản ghi thu, ghi chi theo chế độ quy định.

Thứ ba, cơ quan Tài chính phối hợp với KBNN cùng cấp khẩn trương rà soát đối chiếu, điều chỉnh số liệu ghi thu, ghi chi vốn vay nợ, viện trợ liên quan, đảm bảo khớp đúng giữa KBNN và cơ quan Tài chính, xong trước ngày 30/4 năm sau. Trong đó khoản vay nợ (ODA) chỉ được rút vốn ghi thu, ghi chi trong phạm vi dự toán ngân sách nhà nước được giao theo từng dự án, chương trình theo quy định của Luật Đầu tư công và Luật Ngân sách nhà nước.

Thứ tư, KBNN các cấp thực hiện đối chiếu chi tiết số liệu về tình hình sử dụng dự toán ngân sách năm trước với các đơn vị sử dụng ngân sách. Đồng thời, lập và gửi báo cáo thu, chi ngân sách, tình hình sử dụng dự toán ngân sách cho cơ quan Tài chính đồng cấp, UBND cấp xã trước ngày 15/3 năm sau đối với ngân sách cấp xã, ngân sách cấp huyện; trước ngày 01/4 năm sau đối với ngân sách cấp tỉnh và ngân sách Trung ương theo quy định tại Thông tư số 108/2008/TT-BTC và Thông tư 210/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính.

Thứ năm, số liệu thu, chi NSNN hàng năm đến hết ngày 31/01 năm sau là cơ sở để Kho bạc Nhà nước đối chiếu, xác nhận với các cơ quan, đơn vị dự toán ngân sách và cơ quan Thuế, Hải quan, Tài chính các cấp, đồng thời làm cơ sở xử lý ngân sách cuối năm và lập báo cáo quyết toán ngân sách hàng năm (bao gồm cả các khoản đã được KBNN kiểm soát chi theo đúng quy định nhưng chưa quyết toán toàn bộ dự án, công trình) theo quy định tại Thông tư 108/2008/TT-BTC và Thông tư 210/2010/TT-BTC của Bộ Tài chính. Sau thời điểm KBNN thực hiện xác nhận số liệu cho các đơn vị sử dụng ngân sách, nếu có sự điều chỉnh, thay đổi về số liệu theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền, đơn vị sử dụng ngân sách có văn bản đề nghị với KBNN nơi giao dịch điều chỉnh, xác nhận lại số liệu theo quy định.

Thứ sáu, thực hiện theo chế độ quy định và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ đối với việc xử lý chuyển nguồn dự toán hàng năm đã giao cho các cơ quan, đơn vị và số bổ sung cho ngân sách cấp dưới, hoàn thành chậm nhất ngày 15/3 năm sau theo quy định tại Thông tư 108/2008/TT-BTC.

Thứ bảy, các Bộ, cơ quan Trung ương, địa phương cần đối chiếu, xác nhận số liệu quyết toán giữa các cơ quan liên quan và gửi báo cáo về Bộ Tài chính trước ngày 01/10 năm sau theo quy định tại Điều 75 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn Luật NSNN.

Thứ tám, các Bộ, cơ quan Trung ương, các đơn vị dự toán cấp I thuộc ngân sách địa phương trong phạm vi 10 ngày kể từ ngày nhận được Thông báo thẩm định quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, cơ quan Tài chính địa phương, khẩn trương có thông báo cho các đơn vị trực thuộc và cấp dưới thực hiện điều chỉnh theo đúng số liệu đã được duyệt tại Thông báo thẩm định quyết toán NSNN đảm bảo số liệu hạch toán trên hệ thống TABMIS khớp đúng với số liệu tại Thông báo thẩm định của cơ quan Tài chính cùng cấp. Khi đơn vị sử dụng ngân sách gửi đề nghị điều chỉnh số liệu đến KBNN nơi giao dịch phải kèm theo bản sao Thông báo thẩm định quyết toán của cơ quan Tài chính để KBNN có cơ sở thực hiện theo quy định.

1.2. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT VÀ HỆ THỐNG KSNB

1.2.1. Khái niệm về kiểm soát trong quản lý và hệ thống kiểm soát nội bộ

a. Khái niệm kiểm soát quản lý và hệ thống kiểm soát nội bộ

b. Quá trình kiểm soát

c. Các loại hình kiểm soát 

Tùy theo các tiêu thức khác nhau mà chúng ta có thể phân loại các hoạt động kiểm soát, cụ thể:

(1) Căn cứ theo nội dung của kiểm soát: kiểm soát hành chính và kiểm soát kế toán.

(2) Căn cứ vào mục tiêu của kiểm soát: kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh

(3) Căn cứ vào thời điểm thực hiện trong quá trình tác nghiệp: kiểm soát trước, kiểm soát hiện hành và kiểm soát sau.

(4) Kiểm soát nội bộ:

Kiểm soát nội bộ là một hệ thống gồm các chính sách, thủ tục được thiết lập tại đơn vị nhằm đảm bảo cho các nhà quản lý đạt được các mục đích: bảo vệ tài sản, bảo đảm tin cậy của hệ thống thông tin, duy trì và kiểm tra tuân thủ các chính sách liên quan đến hoạt động của đơn vị, đảm bảo hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý.

1.2.2. Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát; Đánh giá rủi ro; các hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông;giám sát

Toàn bộ 5 yếu tố trên tạo thành một nền tảng vững chắc cho hệ thống kiểm soát nội bộ. Hoạt động KSNB góp phần tạo lập được một văn hóa doanh nghiệp chú trọng đến tính chịu trách nhiệm. Những hoạt động kiểm soát và những cơ chế tương ứng sẽ được chủ động thiết lập nhằm đối phó và hạn chế những rủi ro trọng yếu.

1.3. NỘI DUNG KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NSNN QUA SỞ TÀI CHÍNH

1.3.1. Quy trình quyết toán NSNN tại đơn vị dự toán và các cấp chính quyền

1.3.1.1. Quyết toán NSNN tại đơn vị dự toán

1.3.1.2. Quyết toán NSNN tại các cấp xã, huyện, tỉnh

1.3.2. Nội dung kiểm soát của cơ quan tài chính địa phương đối với quyết toán NSNN địa phương

1.3.2.1. Về cơ sở pháp lý

1.3.2.2. Về công tác thanh tra, kiểm tra

1.3.2.3. Về công tác điều hành ngân sách

1.3.2.4. Về công tác quyết toán ngân sách năm

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH

KIÊN GIANG

2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH KIÊN GIANG

2.1.1. Đặc điểm tự nhiên tỉnh Kiên Giang

2.1.2. Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Kiên Giang

2.1.3. Hệ thống văn bản về chế độ, chính sách của địa phương

Thực hiện Luật NSNN ngày 16 tháng 12 năm 2002; Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 6 năm 2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật NSNN; Quyết định số 59/2010/QĐ-TTg ngày 30 tháng 9 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NS trong giai đoạn ổn định NS từ năm 2011 đến năm 2015; Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23 tháng 6 năm 2003 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 60/2003/NĐ-CP; Thông tư số 188/2010/TT-BTC ngày 22 tháng 11 năm 2010 của Bộ Tài chính quy định tiêu thức phân cấp nguồn thu và phân chia các khoản thu giữa NS các cấp chính quyền ĐP; Các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính về việc giao chỉ tiêu thu chi NS qua các năm. HĐND, UBND tỉnh Kiên Giang đã ban hành những cơ chế chính sách trong phân cấp quản lý NSNN ở ĐP, cụ thể như sau:

– Nghị quyết số 144/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010; Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 về việc định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NS trong giai đoạn ổn định NS từ năm 2011-2015;

– Nghị quyết số 139/2010/NQ-HĐND ngày10/12/2010 của HĐND tỉnh; Quyết định số 06/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND tỉnh về việc phân cấp nguồn thu-nhiệm vụ chi đối với NS tỉnh; NS huyện, TX, TP; NS xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang từ năm 2011-2015;

– Nghị quyết số 146/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của HĐND tỉnh; Quyết định số 07/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND tỉnh về việc ban hành một số mức chi NS xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;

– Nghị quyết số 140/2010/NQ-HĐND ngày 10/12/2010 của HĐND tỉnh; Quyết định số 10/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND tỉnh về tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NS tỉnh, NS cấp huyện, NS cấp xã từ năm 2011-2015.

– Các văn bản quy định chế độ chi tiêu và định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho NS các cấp, đơn vị dự toán….

2.1.4. Chu trình quản lý ngân sách tỉnh Kiên Giang

Căn cứ vào Luật NSNN, hàng năm theo sự chỉ đạo của Chính phủ và hướng dẫn của Bộ Tài chính, ĐP phải tổ chức lập dự toán NS của mình bao gồm cả dự toán thu và dự toán chi phù hợp với từng điều kiện của ĐP, sau đó tổ chức điều hành NS và quyết toán NS. Quá trình này được tiến hành qua các bước sau đây:

* Lập, xét duyệt, phê duyệt dự toán NSĐP:

– Bắt đầu từ tháng 6-7 các cơ quan Tài chính phải phối hợp với các ngành các cấp đánh giá khả năng, tình hình thực hiện NS năm kế hoạch, lập dự toán thu – chi trình UBND trước khi làm việc vòng 1 với Bộ Tài chính.

– Trên cơ sở định hướng chung, chính quyền ĐP phải tiến hành làm việc cụ thể với các đơn vị cơ sở (ngành, huyện, xã) để nắm chắc các yêu cầu và khả năng NS của từng nơi. Bước này bắt đầu từ tháng 10 – 11, UBND tỉnh tổng hợp dự toán thu chi NS gởi Chính phủ và Bộ Tài chính. Trường hợp chưa thống nhất về chỉ tiêu thu, nhiệm vụ chi thì tỉnh phải làm việc vòng 2 với Bộ Tài chính về dự toán NS của mình.

– Trên cơ sở dự toán NSNN đã được Quốc hội thông qua, Chính phủ có phương án cụ thể phân bổ cho các Bộ, ĐP. Chính phủ giao Bộ Tài chính thông báo NS cho UBND tỉnh và làm việc với ĐP để xác định rõ hơn nhiệm vụ thu và mức chi. UBND các ĐP căn cứ vào chỉ tiêu dự toán NS Chính phủ giao, chỉnh lý lại NS cấp mình sao cho sát với tình hình thực tế để thông qua Ban Kinh tế NS HĐND đóng góp, sửa đổi, hoàn chỉnh trước khi trình ra HĐND thảo luận, quyết định dự toán NSĐP.

* Quá trình tổ chức thực hiện NS:

Sau khi dự toán NSĐP được HĐND thông qua bằng các Nghị quyết, UBND các ĐP tổ chức thực hiện NS.

– Về quản lý nguồn thu: Lãnh đạo ngành Thuế, phối hợp với các ngành trong tỉnh tổ chức thực hiện các khoản thu nộp, bảo đảm thu đúng, thu đủ, nộp kịp thời các khoản phải thu vào NSNN. Cơ quan Kho bạc phải căn cứ vào sự phân chia nguồn thu giữa NSTW và NSĐP để hạch toán tiền thu vào các tài khoản của từng cấp NS đúng với chế độ qui định.

– Về điều hành nhiệm vụ chi: Căn cứ vào dự toán chi được UBND quyết định, cơ quan tài chính thông báo hạn mức chi theo lĩnh vực cho ngành, đơn vị, trên cơ sở dự toán được cơ quan có thẩm quyền duyệt.

– Về quản lý quỹ NS: Mỗi cấp NS hình thành một quỹ NS do Kho bạc trực tiếp quản lý. Do nguồn thu thường không đều (một số khoản thu mang tính thời vụ), do vậy có lúc quỹ không có khả năng đảm bảo chi. Trong trường hợp đó NSTW được tạm ứng vay Ngân hàng Nhà nước và sử dụng khoản tồn quỹ tại Kho bạc, giải quyết cho NSĐP được tạm vay.

* Công tác quyết toán NS:

Năm NS kết thúc vào 31/12 hàng năm, tất cả các đơn vị quản lý nguồn thu và có sử dụng NS đều phải thực hiện quyết toán kinh phí với cơ quan Tài chính, thực hiện tổng hợp báo cáo theo nguyên tắc mọi khoản thu phải theo đúng luật, mọi khoản chi phải có trong dự toán được duyệt, theo chế độ chính sách qui định và có chứng từ hợp lý, hợp lệ. Ngoài ra còn đánh giá hiệu quả sử dụng quỹ NS tại đơn vị. Sau đó, cơ quan Tài chính các cấp sẽ tổng hợp trình HĐND từng cấp phê chuẩn.

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NSĐP TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG

2.2.1. Về tình hình thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

2.2.1.1. Nguồn thu của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương

a) Nguồn thu của ngân sách trung ương

b) Nguồn thu của ngân sách địa phương

* Nguồn thu của ngân sách tỉnh

* Nguồn thu của ngân sách huyện

* Nguồn thu của ngân sách xã

2.2.1.2. Nhận xét về thu ngân sách giữa các cấp ngân sách

2.2.1.3. Nhiệm vụ chi các cấp ngân sách của địa phương

2.2.2.Tình hình quyết toán thu, chi NSNN địa phương tại tỉnh Kiên Giang

Tổng hợp báo cáo quyết toán thu, chi NSĐP được thể hiện chi tiết từ năm 2014 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Kiên Giang qua từng năm, cụ thể như sau:

2.2.2.1. Quyết toán thu ngân sách địa phương:

2.2.2.2. Quyết toán chi ngân sách địa phương

2.2.3. Thực trạng và kết quả công tác kiểm soát quyết toán thu, chi ngân sách tại Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang

2.2.3.1. Kiểm tra, rà soát toàn bộ dự toán cấp 0, dự toán của các đơn vị dự toán thuộc trách nhiệm cơ quan tài chính nhập vào TABMIS

Dự toán chi NSĐP, theo ngành, lĩnh vực được HĐND tỉnh quyết định hàng năm, bao gồm: dự toán chi ngân sách trong cân đối ngân sách tỉnh, huyện và dự toán chi ngân sách từ nguồn thu quản lý qua ngân sách. Trong thời gian qua, việc rà soát nhập dự toán cấp 0 cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình tổng hợp số liệu. Việc nhập dự toán cấp 0 tại Sở Tài chính được phân công cho 02 công chức thuộc 2 phòng gồm: Phòng Quản lý ngân sách nhập dự toán cấp 0 từ nguồn vốn chi thường xuyên; phòng Đầu tư nhập dự toán cấp 0 từ nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản, từ đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình đối chiếu số liệu dự toán được cấp thẩm quyền phê duyệt và ảnh hưởng đến khâu tổng hợp theo dõi từng nguồn công tác kiểm soát cuối năm như: tổng dự toán được sử dụng trong năm, số thực hiện, số dư dự toán và dư tạm ứng, số hủy dự toán.

2.2.3.2. Việc kiểm tra, đối chiếu số liệu chi NSNN bằng lệnh chi tiền đã nhập vào TABMIS, các khoản tạm vay, tạm ứng chưa đưa vào cân đối, cân đối nguồn vốn ngân sách các cấp để chủ động xử lý.

– Đối với lệnh chi tiền: việc hạch toán lệnh chi tiền trên hệ thống TABMIS được Bô Tài chính hướng dân theo Công văn số 8858/BTC – KBNN ngày 9 tháng 7 năm 2013, cụ thể như sau:

Khi tiến hành cấp kinh phí bằng lệnh chi tiền cho đối tượng thụ hưởng do cơ quan Tài chính các cấp hạch toán vào hệ thống TABMIS. Kế toán viên KBNN có trách nhiệm nhận chứng từ trên hệ thống, kiểm soát, in Lệnh chi tiền phục hồi từ hệ thống, đệ trình phê duyệt và thực hiện thanh toán cho đơn vị thụ hưởng. Trường hợp này Lệnh chi tiền giấy được lưu tại cơ quan tài chính, KBNN thực hiện hạch toán trên cơ sở lệnh chi tiền phục hồi in từ hệ thống TABMIS.

Lệnh chi tiền để thực hiện ghi thu, ghi chi NSNN; Lệnh chi tiền cấp bổ sung ngân sách đồng thời thu hồi khoản đã tạm ứng cho NS cấp dưới, LCT chi chuyển nguồn, các trường hợp điều chỉnh khoản chi đã cấp bằng LCT: Do cơ quan tài chính lập và chuyển chứng từ giấy cho KBNN, KBNN nhập và hạch toán chi trên hệ thống TABMIS.

Theo trình tự quy định nêu trên, Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang được cử 02 cán bộ thuộc 2 phòng nhập lệnh chi tiền gồm: phòng Quản lý ngân sách cấp kinh phí đối với các đơn vị mang tính chất hỗ trợ (Tòa án, viện kiểm sát, Cục thi hành án, các hội không mang tính chất đặc thù được cấp theo nhiệm vụ được giao; Phòng Hành chính tài chính sự nghiệp cấp đối với Văn phòng Tỉnh ủy, Bảo hiểm, cấp tạm ứng các Sở ban, ngành cấp tỉnh…Do đó, việc tổng hợp cũng gặp không ít khó khăn trong quá trình đối chiếu số liệu quyết toán cuối năm với Kho bạc tỉnh, hoặc trong quá trình thuyết minh đối với chi khác ngân sách (Khoản 369, không kể chi chuyển nguồn sang năm sau).

– Đối với các khoản tạm vay, tạm ứng chưa đưa vào cân đối: Việc đối chiếu và báo cáo rất chặt chẽ (tháng, quý, năm). Do đó, trong khâu tổng hợp, đối chiếu với kho bạc tỉnh không gặp khó khăn, vướng mắc gì hết. Cuối năm, Sở Tài chính tổng hợp số liệu đối chiếu khớp số với Kho bạc tỉnh đồng ý và trình chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục theo dõi.

2.2.3.3. Về đối chiếu số liệu ghi thu-ghi chi

– Đối chiếu vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài: Sở Tài chính phối hợp với KBNN cùng cấp đảm bảo hạch toán đầy đủ, kịp thời các lệnh ghi thu – ghi chi phần thu chuyển giao NSĐP vốn vay nợ, viện trợ nước ngoài và chi dự án (kể cả việc ghi tạm ứng chi ngân sách cho các dự án, công trình), gửi Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại

– Đối với nguồn thu học phí, việc tổng hợp đối chiếu giữa Sở Tài chính với Kho bạc cũng giống như vốn viện trợ. Tuy nhiên, việc đối chiếu với Kho bạc cần có cụ thể từng điểm trường và chi tiết từng tiểu mục.

2.2.3.4. Về đối chiếu với dự toán chi chuyển giao NSTW cho NSĐP và ngân sách tỉnh với ngân sách huyện, thị xã, thành phố

– Đối chiếu số liệu với NSTW: Hàng năm, trên cơ sở thông báo bổ sung mục tiêu, bổ sung cân đối do Vụ NSNN gửi về Sở Tài chính và Sở Tài chính làm thủ tục rút dự toán gửi qua Kho bạc hạch toán theo từng nội dung cụ thể. Số liệu đối chiếu cuối năm được Sở Tài chính tổng hợp gửi Kho bạc xác nhận sau đó gửi Vụ NSNN – Bộ Tài chính.

– Đối chiếu số liệu với ngân sách huyện, thị xã, thành phố: Các bước tiến hành cũng giống như trên, nhưng khác là huyện gửi số liệu về Sở Tài chính. Việc đối chiếu số liệu tại phòng ngân sách cũng gặp không ít khó khăn, do dự toán cấp 0 được phiên từ 02 phòng (phòng Quản lý Ngân sách và phòng Đầu tư). Do đó, phòng Quản lý ngân sách thêm một bước nữa là phối hợp với phòng Đầu tư tập hợp số liệu cụ thể như: dự toán được sử dụng trong năm (kể cả chuyển nguồn); thực hiện trong năm; chuyển nguồn sang năm sau; hủy dự toán. Do đó, các bước gặp rất nhiều khó khăn trong việc tổng hợp số liệu. Về nguyên tắc đối chiếu số liệu đã hạch toán trên hệ thống TABMIS và quyết định giao dự toán đảm bảo chính xác, tránh trường hợp các huyện, thị xã, thành phố rút dự toán không đúng quy định.

2.2.3.5. Về Phối hợp với KBNN cùng cấp rà soát, đối chiếu, điều chỉnh số dư tạm ứng, ứng trước, dự toán ngân sách của các cấp ngân sách tương ứng chi tiết theo từng nguồn: đầu tư, thường xuyên, chuyển giao, khác,…

Về nguyên tắc đảm bảo số liệu khớp đúng giữa số hạch toán trên hệ thống TABMIS với số theo dõi của cơ quan tài chính, xử lý kịp thời các khoản tạm vay, tạm ứng chi chưa đưa vào cân đối NSNN đúng thời hạn quy định.

Tuy nhiên, trong quá trình đối chiếu cũng gặp không ít khó khăn như đơn vị muốn điều chỉnh giảm ứng thì kho bạc hạch toán trực tiếp trên hệ thống TABMIS, trong khi tài chính hạch toán dựa giấy xác nhận điều chỉnh chứng từ của kho bạc.

2.2.3.6. Về kiểm tra, đối chiếu số liệu vốn Chương trình mục tiêu quốc gia

Vốn chương trình mục tiêu quốc gia được quyết toán hàng năm trên cơ sở số liệu tổng hợp báo cáo quyết toán trong hệ thống TABMIS. Tuy nhiên, giữa số liệu cán bộ theo dõi (tổng hợp) so với số liệu quyết toán của chương trình không khớp với nhau. Do, nguồn vốn chương trình mục tiêu có mã dự án, khi cán bộ nhập dự toán phân bổ từ cấp 0 đến cấp 4 cho đơn vị, không nhập mã dự án nên dẫn đến việc triển khai, thực hiện tại đơn vị quyết toán trên hệ thống TABMIS không thể hiện. Từ đó dẫn đến số liệu chênh lệnh, do đó cần phải đối chiếu khi tổng hợp quyết toán chung trên địa bàn toàn tỉnh.

2.2.3.7. Về Kiểm tra, rà soát và xử lý các giao dịch dở dang trên hệ thống TABMIS

Về nguyên tắc khóa sổ quyết toán cuối năm đảm bảo số liệu chính xác phục vụ công tác đối chiếu với KBNN khi thực hiện khóa sổ kế toán niên độ. Tuy nhiên, việc rà soát, điều chỉnh giao dịch dở dang tại cơ quan Tài chính các cấp dẫn còn hạn chế như:

– Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính các cấp, những năm gần đây đã được đào tạo cơ bản về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tuy nhiên, một số địa phương nhất là cấp xã (ở một số xã vùng sâu, vùng xa) trình độ chuyên môn còn hạn chế, thường xuyên thay đổi, ít được tiếp cận những kiến thức mới về công tác kế toán và công nghệ thông tin (nhất là Hệ thống TABMIS), nên trong quá trình triển khai thực hiện còn nhiều thiếu sót: tham mưu cho chính quyền địa phương trong quản lý điều hành ngân sách chưa đúng quy định, ứng dụng hệ thống TABMIS chậm, thực hiện chưa đầy đủ đúng theo quy trình…, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến công tác quản lý và quyết toán ngân sách toàn tỉnh.

– Nghiệp vụ thực hiện trên chương trình TABMIS tương đối mới và phức tạp đối với đa số cán bộ nên ảnh hưởng đến quá trình sử dụng. Việc nhập liệu và xử lý số liệu trên hệ thống tương đối phức tạp nên quá trình thực hiện, cán bộ tài chính một số huyện còn nhập lỗi số liệu, ảnh hưởng đến công tác quản lý của hệ thống.

Hệ thống TABMIS không theo dõi hạch toán riêng từng nguồn kinh phí và chưa hỗ trợ cho việc lập báo cáo quyết toán theo Thông tư 59/2003/TT-BTC ngày 26/3/2003 của Bộ Tài chính, ảnh hưởng đến việc theo dõi, quản lý nguồn kinh phí cũng như công tác quyết toán ngân sách các cấp; Nhiều huyện thành phố hạch toán các khoản chi ngân sách trên hệ thống TABMIS chưa đúng với tính chất nguồn kinh phí nên cuối năm quyết toán NSĐP thường không đúng với dự toán phân bổ đầu năm.

2.2.3.8. Về công tác thẩm tra và xét duyệt quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính

Qua công tác thẩm tra quyết toán ngân sách các huyện thành phố và xét duyệt quyết toán các đơn vị HCSN cấp tỉnh Sở Tài chính nhận thấy: một số huyện, thành phố lập báo cáo quyết toán chưa đầy đủ biểu mẫu theo quy định; phản ánh các thông tin trên biểu mẫu quyết toán chưa đúng quy định; thực hiện chuyển nguồn và chuyển số dư ngân sách chưa đúng thời gian; một số đơn vị dự toán ngân sách sử dụng kinh phí chưa đúng theo định mức và chế độ quản lý tài chính hiện hành, mở số sách theo dõi, hạch toán kế toán và lập báo cáo quyết toán chưa đảm bảo đúng quy định. Sở Tài chính đã ra thông báo kiến nghị Phòng Tài chính- Kế hoạch các huyện, thành phố, các đơn vị HCSN lập lại các biểu mẫu và bổ sung các biểu mẫu quyết toán theo đúng quy định; kiến nghị chuyển nguồn và chuyển số dư ngân sách theo đúng quy định; Báo cáo UBND tỉnh xuất toán thu hồi các khoản chi sai quy định, thực hiện giảm cấp phát nguồn kinh phí năm sau đối với các huyện thành phố, đơn vị HCSN sử dụng nguồn kinh phí chưa đúng mục đích…

-Việc lập báo cáo quyết toán của một số huyện, đơn vị HCSN chưa đảm bảo đúng biểu mẫu và thời gian theo quy định, dẫn đến việc quyết toán NSĐP rất khó khăn. Số liệu quyết toán ngân sách chủ yếu dựa vào số liệu kết xuất trên hệ thống TABMIS. Tuy nhiên Sở Tài chính đã có nhiều cố gắng đảm bảo báo cáo quyết toán NSĐP đúng thời gian và biểu mẫu theo quy định.

2.2.3.9. Về xử lý kết dư ngân sách, khóa sổ và quyết toán NSĐP

– Công tác xử lý ngân sách cuối năm nhìn chung đảm bảo theo quy định. Sở Tài chính đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện xử lý số dư ngân sách, thực hiện chuyển nguồn theo quy định. Tuy nhiên, các khoản tạm ứng cuối năm còn lớn chưa được đôn đốc thu hồi, thanh toán dứt điểm, chi chuyển nguồn, kết dư ngân sách còn khá lớn, trong khi nhu cầu nhiệm vụ chi NSĐP cho phát triển kinh tế xã hội là rất cao. Điều đó chứng tỏ điều hành chi NSĐP chưa thực sự hiệu quả, chưa phát huy hết nguồn lực hiện có của NSĐP.

Việc đề xuất chuyển nguồn các nhiệm vụ chi ngân sách cấp huyện và các đơn vị dự toán cấp tỉnh còn chậm, dẫn đến công tác tổng hợp của Sở Tài chính đề xuất cấp có thẩm quyền quyết định chuyển nguồn NSĐP chậm hơn so với quy định, làm bị động đến việc sử dụng và quyết toán kinh phí chuyển nguồn trong năm sau.

Một số cơ quan đơn vị HCSN cấp tỉnh, huyện chưa rà soát chặt chẽ nên đã đề nghị chuyển nguồn kinh phí bổ sung có mục tiêu một số nội dung chưa đúng quy định, nhiều khoản chi đã hết nhiệm vụ chi không thực hiện nộp trả ngân sách tỉnh mà đề xuất chuyển nguồn. Sở Tài chính chưa kiểm soát chặc chẽ và còn chạy đua theo thời gian nên trong việc xét chuyển nguồn NSĐP (nhất là cấp ngân sách huyện, xã) đề xuất chi chuyển nguồn một số nội dung chưa đúng quy định.

– Việc thẩm tra quyết toán ngân sách huyện, xét duyệt quyết toán các đơn vị dự toán cấp tỉnh chưa kịp thời, chưa đúng thời gian theo quy định; Chất lượng thẩm định, xét duyệt quyết toán chưa cao; chưa kiên quyết trình cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại ở các đơn vị dự toán và ngân sách cấp dưới.

– Quyết toán chi NSĐP chưa thuyết minh rõ các nội dung tăng, giảm so với năm trước và so với dự toán đầu năm; chưa đi sâu phân tích, đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu KT-XH của địa phương, tình hình thực hiện nghị quyết HĐND các cấp và rút ra những bài học kinh nghiệm có ích, phục vụ cho việc quản lý và điều hành chi NSNN ở địa phương những năm tiếp theo.

– Công tác Thanh tra kiểm tra đã có nhiều cố gắng nhưng do đội ngũ còn mỏng, năng lực chuyên môn có hạn nên chưa thực hiện đầy đủ chức năng giám đốc các khoản chi ngân sách đảm bảo đúng quy định.

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN NSĐP TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG

2.3.1. Một số tồn tại chủ yếu trong công tác quyết toán thu, chi NSNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

2.3.1.1. Hệ thống ngân sách hiện nay còn chồng chéo

2.3.1.2. Về phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi chưa hợp lý

Phân cấp quản lý NSNN liên quan không những đến công tác quản lý ngân sách mà còn liên quan đến tổ chức bộ máy nhà nước và các vấn đề kinh tế xã hội. Tỉnh Kiên Giang phân cấp quản lý ngân sách đã thực hiện từ khá sớm và ở mức độ khác nhau trong mỗi thời kỳ, nhưng kể từ khi Luật NSNN năm 1996 được ban hành ngày 20/3/1996, việc phân cấp quản lý ngân sách đã tuân thủ theo nguyên tắc cơ bản và tương đối ổn định, rõ ràng, công khai, minh bạch, đảm bảo tính chủ động của chính quyền các cấp ở ĐP. Tuy nhiên trong phân cấp quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Kiên Giang vẫn còn can thiệp vào công việc của NS cấp dưới (cấp huyện, cấp xã), từ đó cho thấy chính sách phân cấp quản lý còn chưa trọn vẹn, vừa trao quyền, song vừa can thiệp đã làm hạn chế quyền NS cấp dưới, cụ thể sau:

a) Về phân cấp nguồn thu ngân sách

b) Về nhiệm vụ chi ngân sách

2.3.1.3. Quy định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NS các cấp ở địa phương còn phân tán, chưa đồng đều

2.3.1.4. Việc ban hành định mức phân bổ và các chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi còn chưa phù hợp

Định mức phân bổ chi thường xuyên cơ bản đã xây dựng các tiêu chí làm cơ sở tính toán và phân bổ dự toán ngân sách hàng năm. Định mức phân bổ vẫn còn một số giới hạn như tiêu chí chưa bao quát hết các lĩnh vực chi, mức chi vẫn còn eo hẹp, chưa đảm bảo đầy đủ các chế độ, chính sách của nhà nước đã ban hành; trung ương đã ban hành nhiều chế độ chính sách mới liên quan đến chi ngân sách địa phương đã được trung ương đảm bảo hoặc hỗ trợ một phần có mục tiêu… làm phát sinh nguồn chi thường xuyên của ngân sách địa phương. Cụ thể sau:

a) Định mức phân bổ chi sự nghiệp giáo dục

b) Chi sự nghiệp y tế

c) Định mức chi quản lý nhà nước, đảng, đoàn thể

d) Chi Quốc phòng – An ninh

đ) Định mức chi trợ giá, trợ cước

e) Chi sự nghiệp môi trường

f) Chi sự nghiệp kinh tế

g) Chi hoạt động một số lĩnh vực

2.3.1.5. Mối quan hệ giữa quản lý ngân sách theo ngành, lĩnh vực và chính quyền địa phương chưa chặt chẽ

2.3.1.6. Một số qui định còn hạn chế chưa phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương

a) Về kinh phí ủy quyền

b) Về huy động vốn để đầu tư CSHT đối với ngân sách cấp tỉnh

c) Về dự phòng ngân sách

d) Về sử dụng Quỹ dự trữ tài chính ở địa phương

e) Đối với cơ chế hỗ trợ hụt thu so dự toán cho ngân sách cấp dưới

f) Về sử dụng tăng thu ngân sách

g) Về điều tiết nguồn thu về NS cấp trên trong trường hợp thu NS cấp dưới có số tăng thu đột biến trong thời kỳ ổn định NS

h) Tính minh bạch, chế độ giải trình, công khai chưa được chú trọng

i) Quy trình lập, phân bổ dự toán ngân sách còn hạn chế

2.3.2. Nguyên nhân của tồn tại

2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan

Một là, Nhà nước chưa ban hành đồng bộ, có hệ thống các chính sách, chế độ, cơ chế quản lý tài chính – NS cho ĐP. Các chế độ tiêu chuẩn chi tiêu hiện hành đang còn hiệu lực nhưng không sát thực tế, không phù hợp với điều kiện cụ thể của các ĐP, chưa bao quát hết phạm vi chi tiêu của NSNN, nhất là các hoạt động sự nghiệp, chi tài trợ cho hoạt động của các tổ chức xã hội…. Nhưng đến nay chậm được sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện theo tinh thần đổi mới.

Hai là, quyền quản lý thống nhất về tài chính NS của ĐP chưa được đảm bảo, đáng chú ý là tổ chức hệ thống tài chính bị phân tán, chưa phù hợp với chức năng nhiệm vụ của chính quyền các cấp, nhất là cấp tỉnh.

Ba là, đội ngũ cán bộ tài chính, NS còn thiếu và yếu về trình độ, chưa đáp ứng kịp với yêu cầu đổi mới của đất nước, còn nhiều mặt hạn chế trong hoạt động quản lý.

2.3.2.2. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, tổ chức hệ thống NS của tỉnh chưa phù hợp, chức năng, nhiệm vụ của mỗi cấp NS chưa sát với thực tế quản lý trên địa bàn đôi lúc gây khó khăn trong công tác kiểm soát quyết toán.

Thứ hai, CSHT và trình độ phát triển KT-XH ở các huyện, TX, TP trên địa bàn tỉnh không đồng đều, còn có chênh lệch lớn giữa ĐP vùng đồng bằng với khu vực vùng sâu, vùng hải đảo, biên giới.

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG TẠI SỞ TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG

3.1. MỤC TIÊU CỦA NGÀNH TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG GIAI ĐOẠN 2017-2020

3.1.1 Mục tiêu tổng quát

3.1.2. Mục tiêu cụ thể:

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUYẾT TOÁN NSĐP TẠI SỞ TÀI CHÍNH KIÊN GIANG

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách trong quản lý điều hành NSĐP

3.2.1.1. Sớm khắc phục chồng chéo thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp

3.2.1.2. Hoàn thiện phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi ngân sách

3.2.1.3. Hoàn thiện qui định tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu phân chia giữa NS các cấp ở địa phương

3.2.1.4. Hoàn thiện các định mức chi tiêu tài chính nhà nước tại địa phương

3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra đối chiếu số liệu quyết toán thu, chi ngân sách tại Sở Tài chính Kiên Giang.

3.2.2.1. Hoàn thiện việc ứng dụng Hệ thống TABMIS trong công tác kế toán

3.2.2.2. Hoàn thiện công tác xử lý kết dư, khóa sổ và quyết toán ngân sách hàng năm

3.2.2.3. Về kinh phí uỷ quyền

3.2.2.4. Mức huy động đầu tư cơ sở hạ tầng

3.2.2.5. Về sử dụng dự phòng ngân sách

3.2.2.6. Về sử dụng Quỹ dự trữ tài chính ở địa phương

3.2.2.7. Về cơ chế hỗ trợ hụt thu cho ngân sách cấp dưới

3.2.2.8. Về sử dụng tăng thu ngân sách

3.2.2.9. Về điều hành ngân sách địa phương để đối phó với những biến động bất thường về tài chính – ngân sách nhà nước

3.2.2.10. Về điều tiết nguồn thu về ngân sách cấp trên trong trường hợp thu ngân sách cấp dưới có số tăng thu đột biến trong thời kỳ ổn định ngân sách

3.2.3. Nhóm giải pháp tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra tài chính

3.3. KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT QUYẾT TOÁN NSĐP TẠI SỞ TÀI CHÍNH KIÊN GIANG

3.3.1. Đối với Trung ương

3.3.2. Đối với địa phương

3.3.2.1. Đối với UBND tỉnh:

3.3.2.3. Đối với UBND huyện

3.3.2.4. Đối với UBND xã

KẾT LUẬN

Đối với tỉnh Kiên Giang, trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng QLNN về tài chính, NSNN; Hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính là nhiệm vụ thiết thực trong giai đoạn hiện nay. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn không chỉ riêng đối với Sở Tài chính Kiên Giang mà còn liên quan đến tất cả các cấp chính quyền địa phương, các sở ban ngành, đoàn thể, các đơn vị có quan hệ với NSĐP. Quá trình nghiên cứu, Luận văn đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản sau đây:

Thứ nhất, về mặt lý luận, luận văn đã hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về khái niệm, đặc điểm, chức năng, vai trò và những nguyên tắc cơ bản của NSNN. Nội dung quan trọng trong công tác quyết toán nhằm quản lý NS hiệu quả hơn, phát huy vai trò và chức năng của NSNN với tư cách là phương tiện vật chất duy trì sự tồn tại của bộ máy nhà nước và công cụ điều tiết vĩ mô nền KT-XH.

Thứ hai, về thực tiễn, luận văn đã nêu khái quát thực trạng công tác quyết toán NSĐP tại Sở Tài chính từ năm 2014 – 2016, những tác động tích cực và những tồn tại, vướng mắc. Rút ra những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán NSĐP trong thời gian tới.

Thứ ba, xuất phát từ quan điểm chiến lược phát triển KT-XH của tỉnh đến năm 2020. Luận văn nêu lên một số vấn đề chung về quan điểm, mục tiêu và giải pháp hoàn thiện công tác quyết toán trong giai đoạn tới, với kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn, tác giả đã nêu ra các mục tiêu và giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát quyết toán ngân sách tại Sở Tài chính với mong muốn góp một phần nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà.

Mặt dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và trình bày, nội dung Luận văn đưa ra mang tính chất thực tế, tuy nhiên vẫn còn thiếu sót không thể tránh khỏi. Bản thân tôi rất mong được sự đóng góp của quí thầy, cô giáo và các bạn để cho bản thân tôi có nhiều kinh nghiệm thực tế hơn trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ công tác tại cơ quan và trong cuộc sống./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LOP KIEN GIANG\TRAN VU EM

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *