Hoàn thiện công tác kiểm soát cho vay dự án đầu tư tại Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng
Nguồn vốn tín dụng đầu tư là nguồn lực quan trọng đối với việc đầu tư phát triển cho kinh tế – xã hội của một quốc gia để phát triển. Thông qua nguồn vốn tín dụng đầu tư, Nhà nước nói chung và các địa phương nói riêng khuyến khích các ngành, lĩnh vực phát triển và tăng trưởng bền vững theo định hướng chiến lược đã hoạch định.
Thành phố Đà Nẵng những năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn về kinh tế – xã hội, bộ mặt đô thị ngày càng được đổi mới, phát triển. Do đó, nhu cầu về nguồn vốn trung, dài hạn cho đầu tư phát triển hạ tầng đô thị của thành phố là rất lớn. Tuy nhiên, thực trạng công tác đầu tư phát triển của thành phố còn nhiều khó khăn, hạn chế. Hiệu quả các công trình dự án đầu tư còn thấp, thiếu tập trung dẫn đến hiệu quả đầu tư chưa cao, gây lãng phí nguồn lực. Vì vậy, Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng được thành lập với mục tiêu tập trung nguồn lực đầu tư vào kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng đô thị ngày càng tăng theo định hướng chiến lược hoạt động của thành phố, hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển thành phố trong thời gian qua đã có những bước trưởng thành đáng kể và những đóng góp đáng ghi nhận cho sự phát triển của thành phố.
Tuy nhiên, qua thực tiễn hoạt động và phát triển của Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng đồng thời khái quát các tài liệu đã nghiên cứu về hoạt động của Quỹ, còn một số vấn đề đặt ra trong việc kiểm soát hoạt động cho vay đầu tư:
- Nguồn vốn sử dụng để cho vay đầu tư còn thấp, chưa đảm bảo tài trợ cho các dự án lớn, trọng điểm của thành phố;
- Hạn chế cho vay đối với các dự án không đủ tài sản đảm bảo;
- Chủ đầu tư không đáp ứng đủ năng lực tài chính theo điều kiện của Quỹ;
Những khó khăn trên chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và sâu sát để tìm ra các giải pháp khắc phục, hạn chế. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện kiểm soát công tác cho vay đầu tư tại Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng là một việc cấp thiết và góp phần giúp cho Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng ngày một phát triển hơn. Vì vậy tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát cho vay dự án đầu tư tại Quỹ Đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng” để nghiên cứu.
– Hệ thống hóa lý luận về KSNB hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển.
– Đánh giá thực trạng KSNB hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng.
– Đề xuất giải pháp hoàn thiện kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu là công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay dự án đầu tư tại các quỹ đầu tư phát triển.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: tại Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng
+ Về thời gian: Sử dụng số liệu thực tế giai đoạn từ năm 2013-2018.
Phương pháp nghiên cứu của luận văn là phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp quan sát, phương pháp tiếp cận thu thập thông tin, phương pháp thống kê, phân tích, phương pháp so sánh.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển.
Chương 2: Thực trạng công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ hoạt động cho vay đầu tư tại Quỹ đầu tư phát triển thành phố Đà Nẵng
6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG
CHO VAY ĐẦU TƯ TẠI QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN
1.1. KHÁI QUÁT VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG TỔ CHỨC
1.1.1. Khái niệm kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế như hiện nay, với mức độ tăng truởng ngày càng cao của nguồn vốn kinh doanh tại mỗi doanh nghiệp, đặc biệt là quá trình đẩy nhanh việc vốn hoá thị trường vốn của môi trường kinh doanh thì áp lực suy thoái và những khó khăn nhiều chiều từ nền kinh tế, các doanh nghiệp ngày càng quan tâm nhiều hơn đến Quản trị rủi ro và xây dựng hệ thống Kiểm soát nội bộ (KSNB) nhằm giúp tổ chức hạn chế những sự cố, mất mát, thiệt hại, và tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan”.[Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 315, ban hành theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC có hiệu lực từ ngày 01/01/2014 thay thế chuẩn mực 400].
Luật Kế toán 2015 cho rằng “KSNB là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra” [Điều 39 Luật Kế toán số 88/2015/QH13, có hiệu lực từ 01/01/2017, trang 18-19]
Kiểm soát nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ cùng có chung mục đích, đều do con người xây dựng, thiết lập nhưng chúng có những điểm khác nhau. Kiểm soát nội bộ thường đi vào kiểm soát với những chính sách, thủ tục, nguyên tắc, quy định có tính hệ thống được thừa nhận rộng rãi, phổ biến và bao trùm. Kiểm soát nội bộ thường quan tâm đến mục tiêu kiểm soát hơn là các hành vi cụ thể và thủ tục kiểm soát với những quan điểm khác nhau trong từng điều kiện và giai đoạn cụ thể. Loại kiểm soát hành vi với những thủ tục cụ thể người ta gọi là các thủ tục kiểm soát. Với loại kiểm soát này, có những quan điểm hiện nay cho rằng đó là loại kiểm soát quản lý, hay kiểm soát độc lập trong kiểm soát trực tiếp các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính.
Còn khi nói hệ thống kiểm soát nội bộ là nói đến các chính sách, thủ tục, các bước kiểm soát do lãnh đạo đơn vị xây dựng có tính chất bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong đơn vị. Vậy, hệ thống KSNB bao gồm cả KSNB và bản thân con người cùng với những phương tiện có tính chất kỹ thuật, cấu trúc hướng vào kiểm soát mang tính bền vững, ổn định, đảm bảo và lâu dài. Hệ thống KSNB thường được bản thân các lãnh đạo đơn vị xây dựng, thiết lập hướng vào kiểm soát các hoạt động trong phạm vi và trách nhiệm của đơn vị. Có rất nhiều quan điểm về hệ thống KSNB khác nhau do yêu cầu và góc độ nhìn nhận khác nhau. Tuy nhiên, quan điểm chung được thừa nhận rộng rãi nhất hiện nay thì hệ thống KSNB là toàn bộ các chính sách, những quy định, các thủ tục kiểm soát, các bước công việc do lãnh đạo đơn vị xây dựng và áp dụng nhằm quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị đạt kết quả. Hệ thống KSNB nhằm vào 3 vấn đề lớn, đó là: Tuân thủ luật pháp và quy định; Đảm bảo mục tiêu của hoạt động (hiệu quả hoạt động và hiệu năng quản lý); Đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính.
Theo Thông tư số 13/2018/TT-NHNN ngày 18/05/2018 của NHNN Việt Nam quy định về hệ thống KSNB và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan và được tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Hệ thống kiểm soát nội bộ thực hiện giám sát của quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đủ vốn và kiểm toán nội bộ.”[ Điều 3, trang 1]
Theo Thông tư số 16/2011/TT-NHNN ngày 17/8/2011 của NHNN quy định về KSNB, kiểm toán nội bộ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hệ thống KSNB Ngân hàng Nhà nước là tổng thể các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của đơn vị thuộc Ngân hàng Nhà nước được thiết lập phù hợp với các quy định của pháp luật và được tổ chức thực hiện nhằm đảm bảo các nguồn lực được quản lý và sử dụng đúng pháp luật, đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả; ngăn ngừa rủi ro, phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi gian lận, sai sót; cung cấp thông tin trung thực, phục vụ kịp thời cho việc ra các quyết định quản lý; đảm bảo thực hiện được các mục tiêu đã đề ra.
– Hệ thống KSNB không chỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cả mọi cấp độ trong đơn vị.
– HĐQT và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lập một văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho hệ thống KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệu quả của hệ thống này một cách liên tục. Tất cả các thành viên của tổ chức đều tham gia.
1.1.2. Vai trò, mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.2.1. Vai trò, sự cần thiết của hệ thống kiểm soát nội bộ
– Giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong SXKD (sai sót vô tình gây thiệt hại, các rủi ro làm chậm kế hoạch. Tăng giá thành, giảm chất lượng sản phẩm…).
– Đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính.
– Đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy, quy chế, quy trình hoạt động của tổ chức chức cũng như các quy định của luật pháp.
– Đảm bảo tổ chức hoạt động hiệu quả, sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra.
– Bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông.
– Lập BCTC kịp thời, hợp lệ và tuân thủ theo các yêu cầu pháp định có liên quan. Đối với ngành Ngân hàng, vấn đề kiểm soát nội bộ lại càng có ý nghĩa quan trọng đối với đơn vị có quy mô lớn. Ví khi quy mô của đơn càng lớn thì
+ Quyền hạn càng phân chia cho nhiều cấp
+ Mối quan hệ giữa các bộ phận càng phức tạp
+ Tài sản càng phân tán cho nhiều địa điểm/chi nhánh và hoạt động + Sự truyền đạt, phản hồi thông tin và thu thập thông tin càng khó khăn.
Do đó, một hệ thống KSNB tốt thực sự có vai trò rất lớn và rất cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp/công tác điều hànhquản lý của nhà lãnh đạo.
1.1.2.2. Mục tiêu hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
a) Mục tiêu kết quả hoạt động (Hiệu quả và hiệu năng hoạt động)
– Sử dụng có hiệu quả các tài sản và các nguồn lực;
– Đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên để đạt được mục tiêu của DN với hiệu năng và sự nhất quán;
– Tránh được các chi phí không đáng có/ việc đặt các lợi ích khác (của nhân viên, của khách hàng…) lên trên lợi ích của DN.
b) Mục tiêu thông tin (Độ tin cậy, tính hoàn thiện và cập nhật của thông tin tài chính và thông tin quản lý)
– Các báo cáo cần thiết được lập đúng hạn và đáng tin cậy để ra quyết định trong nội bộ DN;
– Thông tin gửi đến Ban GĐ, HĐQT, các cổ đông và các cơ quan quản lý phải có chất lượng và tính nhất quán;
– BCTC và các báo cáo quản lý khác được trình bày một cách hợp lý và dựa trên các chính sách kế toán đã được xác định rõ ràng.
c) Mục tiêu tuân thủ đảm bảo mọi hoạt động của đơn vị đều tuân thủ
– Các luật và quy định của NN;
– Các chính sách và quy trình nghiệp vụ của đơn vị. Những mục tiêu của HTKSNB rất rộng, bao trùm lên mọi mặt hoạt động

1.1.2.3. Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Theo quan điểm của Ủy ban COSO thì một hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm 5 yếu tố: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, giám sát.
Môi trường kiểm soát bao gồm các tiêu chuẩn, quy trình và cấu trúc (structure) của tổ chức, cung cấp nền tảng cho việc thực hiện KSNB tổ chức. Con người chính là yếu tố trung tâm, quan trọng nhất trong môi trường kiểm soát. Cần xây dựng một môi trường văn hóa đạo đức cho DN mà trong đó ban quản lý là những người đi đầu thực hiện, thể hiện tính trung thực, giá trị đạo đức để lan tỏa xuống toàn DN. Việc phát triển nguồn nhân lực là vô cùng quan trọng. Có được nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, năng động sáng tạo, thích ứng linh hoạt với vị trí công việc và có sự gắn bó lâu dài cùng sự phát triển của tổ chức sẽ tạo ra một lợi thế quan trọng trong hoạt động kinh doanh của DN. Tuy nhiên môi trường kiểm soát tốt chưa thể đảm bảo cho các quá trình kiểm soát và cả hệ thống KSNB là tốt. Song môi trường kiểm soát không thuận lợi sẽ ảnh hưởng lớn đến tính hiệu lực, hiệu quả của hệ thống KSNB. Một số nhân tố chính thuộc môi trường kiểm soát như sau:
– Yêu cầu thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức truyền đạt thông tin và truyền đạt thong tin: Đây là những yếu tố then chốt ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thiết kế, vận hành và giám sát các kiểm soát; Tính chính trực và hành vi đạo đức là sản phẩm của chuẩn mực về hành vi và đạo đức của đơn vị cũng như việc truyền đạt và thực thi các chuẩn mực này trong thực tế.
Việc thực thi tính chính trực và các giá trị đạo đức bao gồm các nội dung như: biện pháp của Ban Giám đốc để loại bỏ hoặc giảm thiểu các động cơ xúi giục nhân viên tham gia vào các hành động thiếu trung thực, bất hợp pháp, hoặc phi đạo đức.
Việc truyền đạt các chính sách của đơn vị về tính chính trực và các giá trị đạo đức có thể bao gồm truyền đạt tới nhân viên các chuẩn mực hành vi thông qua các chính sách của đơn vị, các quy tắc đạo đức và bằng tấm gương điển hình.
– Sự độc lập của bộ phận kiểm tra: Sự độc lập tương đối của từng cá nhân, thành viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát. Đảm bảo không bị các lợi ích khác chi phối để đáp ứng cho mỗi nhiệm vụ cụ thể.
– Sự tham gia của Ban quản trị: Ban quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến nhận thức về kiểm soát của đơn vị. Ban quản trị có trách nhiệm quan trọng và trách nhiệm đó được đề cập trong các quy định do Ban quản trị ban hành. Ngoài ra, Ban quản trị còn có trách nhiệm giám sát việc thiết kế các thủ tục soát xét tính hiệu quả của KSNB của đơn vị.
– Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc: Triết lý và phong cách điều hành của Ban Giám đốc có nhiều đặc điểm:
+ Quan điểm và hành động của Ban Giám đốc về việc lập và trình bày báo cáo tài chính (có thể được thể hiện qua việc lựa chọn các nguyên tắc kế toán một cách thận trọng hoặc ít thận trọng khi có nhiều lựa chọn khác nhau về nguyên tắc kế toán, hoặc sự kín kẽ và thận trọng khi xây dựng các ước tính kế toán) .
+ Cách tiếp cận đối với việc quản lý và chấp nhận rủi ro kinh doanh.
+ Quan điểm đối với việc xử lý thông tin, công việc kế toán và nhân sự.
– Cơ cấu tổ chức: Cơ cấu tổ chức trong đơn vị phản ánh việc phân chia quyền lực, trách nhiệm và nghĩa vụ của mọi người trong tổ chức ấy cũng như mối quan hệ hợp tác, phối hợp, kiểm soát và chia sẻ thông tin lẫn nhau giữa những người khác nhau trong cùng một tổ chức. Một cơ cấu tổ chức hợp lý không những giúp cho 13 sự chỉ đạo, điều hành của nhà quản lý được thực hiện thông suốt mà còn giúp cho việc kiểm soát lẫn nhau được duy trì thường xuyên và chặt chẽ hợn .
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong đơn vị sẽ tạo môi trường kiểm soát tốt và đảm bảo một hệ thống hoạt động xuyên suốt từ trên xuống dưới trong việc ban hành các quyết định. Sự phù hợp của cơ cấu tổ chức phụ thuộc một phần vào quy mô và đặc điểm hoạt động của đơn vị.
– Phân công quyền hạn và trách nhiệm: Cách thức phân công quyền hạn và trách nhiệm đối với các hoạt động; cách thức thiết lập trình tự hệ thống báo cáo và sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các cấp.
– Các chính sách và thông lệ về nhân sự: Các chính sách và thông lệ liên quan đến các hoạt động tuyển dụng, định hướng, đào tạo, đánh giá, hướng dẫn, thăng tiến nhân viên, lương, thưởng và các biện pháp khắc phục sai sót
Ví dụ, tiêu chuẩn về tuyển dụng các ứng viên có trình độ cao nhất (chú trọng về nền tảng giáo dục, kinh nghiệm làm việc trước đó, các thành tích trong quá khứ và các bằng chứng về tính chính trực và hành vi đạo đức) thể hiện cam kết của đơn vị đối với những người có năng lực và đáng tin cậy.
Các chính sách đào tạo trong đó truyền đạt vai trò và nhiệm vụ tương lai, gồm các hoạt động như tổ chức trường đào tạo và hội thảo, thể hiện yêu cầu về kết quả công việc và hành vi mong đợi. Việc đề bạt dựa trên đánh giá định kỳ về hiệu 14 quả công việc thể hiện cam kết của đơn vị trong việc bổ nhiệm những nhân sự có khả năng vào những trọng trách cao hơn.
Hiệu quả của việc thiết kế môi trường kiểm soát liên quan đến sự tham gia của Ban quản trị chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề như:
(1) Sự độc lập của Ban quản trị đối với Ban Giám đốc và khả năng đánh giá hoạt động của Ban Giám đốc;
(2) Hiểu biết của Ban quản trị về các nghiệp vụ kinh doanh của đơn vị;
(3) Mức độ Ban quản trị đánh giá về tính phù hợp của báo cáo tài chính đối với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.
b) Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là một quy trình động và tác động lẫn nhau nhằm nhận diện và phân tích các rủi ro để đạt được các mục tiêu của tổ chức, hình thành nền tảng cho việc quyết định các rủi ro nên được quản lý như thế nào. Kết quả nghiên cứu cho thấy, đánh giá rủi ro có tác động mạnh và cùng chiều với hiệu quả hoạt động của DN. Do vậy, các DN cần tăng cường đánh giá và kiểm soát rủi ro, cần chủ động trong việc nhận diện rủi ro, xây dựng quy trình đánh giá và phân tích các rủi ro đó, từ đó xây dựng các chiến lược để giảm thiểu tác hại của rủi ro đến hoạt động kinh doanh. Nhà quản lý cân nhắc những thay đổi có thể xảy ra của môi trường bên ngoài cũng như bên trong tổ chức; những thay đổi này có thể cản trở khả năng đạt được các mục tiêu… Ví dụ đánh giá rủi ro Cho mục tiêu lập và trình bày báo cáo tài chính: Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị bao gồm việc Ban Giám đốc xác định các rủi ro kinh doanh có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính, ước tính độ rủi ro, đánh giá khả năng xảy ra rủi ro và quyết định các hành động nhằm xử lý, quản trị rủi ro và kết quả thu được. Quy trình đánh giá rủi ro của đơn vị có thể gồm đánh giá cách đơn vị xem xét khả năng ghi nhận thiếu các giao dịch, hoặc cách xác định và phân tích các ước tính quan trọng được ghi nhận trên báo cáo tài chính. Các rủi ro liên quan đến độ tin cậy của báo cáo tài chính bao gồm các sự kiện trong hay ngoài đơn vị, các giao dịch hoặc các tình huống có thể phát sinh và có ảnh hưởng bất lợi đến khả năng tạo lập, ghi chép, xử lý và báo cáo dữ liệu tài chính phù hợp với các cơ sở dẫn liệu của Ban Giám đốc trong báo cáo tài chính. Ban Giám đốc có thể lập các chương trình, kế hoạch hoặc hành động để xử lý những rủi ro cụ thể hoặc quyết định chấp nhận rủi ro do tính đến hiệu quả kinh tế hay do xem xét các yếu tố khác. Trên thực tế, mỗi DN đều phải thường xuyên đối mặt với nhiều rủi ro từ bên trong và bên ngoài. Do đó, việc đánh giá rủi ro sẽ đạt chất lượng nếu:
– Ban lãnh đạo quan tâm và khuyến khích nhân viên quan tâm phát hiện, đánh giá và phân tích định lượng tác hại của các rủi ro hiện hữu và tiềm tàng.
– DN đã đề ra các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác động của rủi ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó; hoặc DN đã có biện pháp để toàn bộ nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà đơn vị có thể chấp nhận được.
– DN đã đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc. KSNB cần được điều chỉnh để có thể xử lý thỏa đáng các rủi ro mới phát sinh hoặc các rủi ro trước đó không kiểm soát được.
c) Các hoạt động kiểm soát
– Các hoạt động kiểm soát là các hành động được thiết lập bới các chính sách và thủ tục để đảm bảo những chỉ dẫn của nhà quản lý trong việc giảm thiểu rủi ro để đạt được các mục tiêu.
– Các hoạt động kiểm soát nên là một phần không thể tách rời trong các tác nghiệp hàng ngày của một doanh nghiệp. Một hệ thống KSNB có hiệu quả cần có cơ cấu kiểm soát đúng đắn với các hoạt động kiểm soát được xác định ở tất cả các cấp của tổ chức và tại rất nhiều giai đoạn của quá trình hoạt động, bao gồm cả môi trường công nghệ.
– Khi tiến hành kiểm soát thì các hành động kiểm soát phải đạt được những nội dung sau:
+ Phân chia trách nhiệm thích hợp: Khi phân chia không cho phép một cá nhân hay một bộ phận nào được thực hiện toàn bộ quy trình nghiệp vụ mà phải phân chia cho nhiều bộ phận tham gia.
+ Phê chuẩn đúng đắn: Tất cả các nghiệp vụ hoạt động đều phải được phê chuẩn bởi các cấp quản lý trong phạm vi quyền hạn cho phép. Riêng đối với phê chuẩn cụ thể thì người quản lý phải phê chuẩn cho từng nghiệp vụ một cách cụ thể.
+ Kiểm soát chứng từ: (1) – Biểu mẫu chứng từ đầy đủ, rõ ràng;(2) – Đánh số trước liên tục; (3) – Lập kịp thời; (4) – Lưu chuyển chuyển chứng từ khoa học; (5) – Bảo quản và lưu chữ chứng từ.
+ Kiểm soát sổ sách: (1) – Thiết kế sổ sách; (2) – Ghi chép kịp thời, chính xác; (3) – Bảo quản và lưu chữ.
+ Kiểm soát vật chất: Phải hạn chế được việc tiếp cận tài sản bằng cách sử dụng các thiết bị bảo vệ, hạn chế người tiếp cận và bảo vệ thông tin. Kiểm kê đúng giá trị của tài sản, xác định được quyền đối với tài sản đó.
+ Kiểm tra độc lập việc thực hiện: Khi tiến hành kiểm tra lại việc thực hiện các loại thủ tục kiểm soát, để có thể phát hiện các biến động bất thường, tìm ra nguyên nhân và xử lý kịp thời.
– Các thủ tục kiểm soát là những chính sách, quy định thủ tục về kỹ thuật nghiệp vụ giúp cho việc thực hiện các chỉ đạo của nhà quản lý. Nó đảm bảo các hoạt động cần thiết để quản lý các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Các thủ tục kiểm soát được thiết kế phù hợp với từng loại nghiệp vụ và với đặc điểm của đơn vị nên rất khác nhau gữa các đơn vị và các nghiệp vụ. Các hoạt động kiểm soát được xây dựng theo 3 nguyên tắc chỉ đạo chung sau đây:
Thứ nhất: Về nguyên tắc phân công, phân nhiệm
Trong một tổ chức có nhiều người tham gia thì các công việc cần phải được phân công cho tất cả mọi người, không để trình trạng một số người làm quá nhiều việc trong khi một số khác lại không có người làm. Theo nguyên tắc này, trách nhiệm và công việc cần được phân loại cụ thể cho nhiều bộ phận và cho nhiều người trong bộ phận. Việc phân công phân nhiệm rõ ràng tạo sự chuyên môn hóa trong công việc, sai sót ít xảy ra và khi xảy ra thường dễ phát hiện.
Mục đích của nguyên tắc này là không để cho cá nhân hay bộ phận nào có thể kiểm soát được mọi mặt của nghiệp vụ. Khi đó, công việc của người này được kiểm soát tự động bởi công việc của một nhân viên khác. Phân công công việc làm giảm rủi ro xảy ra gian lận và sai sót, đồng thời tạo điều kiện nâng cao chuyên môn của nhân viên.
Thứ hai: Nguyên tắc bất kiêm nhiệm
Nguyên tắc này quy định sự cách ly thích hợp về trách nhiệm trong các nghiệp vụ có liên quan nhằm ngăn ngừa các sai phạm (nhất là sai phạm cố ý) và hành vi lạm dụng quyền hạn.
Thứ ba: Nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn
Để thỏa mãn các mục tiêu kiểm soát thì tất cả các nghiệp vụ kinh tế phải được phê chuẩn đúng đắn. Trong một tổ chức, nếu ai cũng làm mọi việc thì sẽ xảy ra hỗn loạn, phức tạp. Phê chuẩn là biểu hiện cụ thể của việc quyết định và giải quyết một công việc trong phạm vi nhất định. Sự phê chuẩn được thực hiện qua 2 loại:
– Phê chuẩn chung: Được thực hiện thông qua việc xây dựng các chính sách chung về những mặt hoạt động cụ thể cho các cán bộ cấp dưới tuân thủ.
– Phê chuẩn cụ thể: Được thực hiện cho từng nghiệp vụ kinh tế riêng biệt. Phê chuẩn cụ thể được áp dụng đối với những nghiệp vụ có số tiền lớn hoặc quan trọng, những nghiệp vụ không thường xuyên xảy ra.
d) Thông tin và truyền thông
Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một hệ thống thông tin và truyền thông hữu hiệu trong toàn doanh nghiệp, phục vụ việc thực hiện các mục tiêu kiểm soát. Thông tin và truyền thông cần được thực hiện xuyên suốt theo chiều từ trên xuống và từ dưới lên, giúp cho mọi nhân viên đều nhận được những thông tin cần thiết, hiểu rõ thông điệp từ nhà quản lý cấp cao.
Chất lượng hệ thống thông tin chỉ đạt được khi các nội dung sau được đảm bảo:
– DN thường xuyên cập nhật các thông tin quan trọng cho ban lãnh đạo và những người có thẩm quyền.
– Hệ thống truyền thông của DN đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức; đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định.
– DN đã thiết lập các kênh thông tin nóng, cho phép nhân viên báo cáo về các hành vi, sự kiện bất thường có khả năng gây thiệt hại cho DN.
– DN đã lắp đặt hệ thống bảo vệ số liệu phòng ngừa sự truy cập, tiếp cận của những người không có thẩm quyền.
– DN đã xây dựng các chương trình, kế hoạch phòng chống thiên tai, hiểm họa hoặc kế hoạch ứng cứu sự cố mất thông tin số liệu.
Một hệ thống KSNB đòi hỏi phải có các kênh thông tin hiệu quả, đảm bảo truyền tải đúng đối tượng. Kênh thông tin theo chiều từ dưới lên đảm bảo thông tin được báo cáo tới HĐQT và Ban TGĐ để họ nhận biết được các rủi ro kinh doanh và kết quả hoạt động của ngân hàng. Kênh thông tin theo chiều từ trên xuống đảm bảo các mục tiêu, chiến lược, kỳ vọng và thủ tục/chính sách của ngân hàng được truyền đến các cấp quản lý thấp hơn và nhân sự liên quan đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Cuối cùng thông tin liên lạc giữa các phòng ban, bộ phận chia sẽ thông tin và phối hợp hoạt động hiệu quả. Một hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả cần có các kênh liên lạc hiệu quả để đảm bảo tất cả nhân viên của doanh nghiệp hiểu thấu đáo và tuân thủ theo các chính sách, thủ tục có liên quan đến nhiệm vụ và trách nhiệm của họ và các thông tin liên lạc khác đến đúng được nhân viên cần biết.
e) Giám sát
Giám sát kiểm soát là quy trình đánh giá hiệu quả hoạt động của KSNB trong từng giai đoạn. Quy trình này bao gồm việc đánh giá tính hiệu quả của các kiểm soát một cách kịp thời và tiến hành các biện pháp khắc phục cần thiết. Ban Giám đốc thực hiện việc giám sát các kiểm soát thông qua các hoạt động liên tục, các đánh giá riêng biệt hoặc kết hợp cả hai. Các hoạt động giám sát liên tục thường gắn liền với các hoạt động lặp đi lặp lại của một đơn vị và bao gồm các hoạt động quản lý và giám sát thường xuyên.
– Các hoạt động giám sát của Ban Giám đốc cũng sử dụng những thông tin thu thập từ bên ngoài như các khiếu nại của khách hàng và các ý kiến của cơ quan quản lý có thể cho thấy các vấn đề hoặc các lĩnh vực cần cải thiện.
– Trách nhiệm quan trọng của Ban Giám đốc là thiết lập và duy trì KSNB một cách thường xuyên. Việc Ban Giám đốc giám sát các kiểm soát bao gồm việc xem xét liệu các kiểm soát này có đang hoạt động như dự kiến và liệu có được thay đổi phù hợp với sự thay đổi của đơn vị hay không. Việc giám sát các kiểm soát có thể bao gồm các hoạt động như: Ban Giám đốc soát xét liệu bảng đối chiếu với ngân hàng đã được lập kịp thời hay chưa, kiểm toán viên nội bộ đánh giá sự tuân thủ của nhân viên phòng kinh doanh đối với các quy định của đơn vị về hợp đồng bán hàng, bộ phận pháp lý giám sát sự tuân thủ các chuẩn mực đạo đức và chính sách hoạt động của đơn vị,.. Việc giám sát cũng là để đảm bảo rằng các kiểm soát tiếp tục hoạt động một cách hiệu quả theo thời gian. Ví dụ, nếu không giám sát việc lập bản đối chiếu với ngân hàng thì các nhân sự chịu trách nhiệm có thể sẽ không lập tài liệu này.
– Kiểm toán viên nội bộ hoặc nhân sự thực hiện những chức năng tương tự có thể tham gia vào việc giám sát các kiểm soát của đơn vị thông qua các đánh giá riêng rẽ. Thông thường, những người này cung cấp thông tin một cách đều đặn về hoạt động của KSNB, và tập trung sự chú ý vào việc đánh giá tính hiệu quả của KSNB, và trao đổi thông tin về các điểm mạnh, điểm yếu cũng như đưa ra các khuyến nghị để cải thiện KSNB.
– Các hoạt động giám sát có thể bao gồm việc sử dụng thông tin có được qua trao đổi với các đối tượng ngoài đơn vị mà những thông tin đó có thể cho thấy các vấn đề hoặc các khu vực cần được cải thiện. Khách hàng thường xác minh các thông tin trong hóa đơn thông qua việc thanh toán hóa đơn hoặc khiếu nại về số tiền phải trả. Ngoài ra, các cơ quan quản lý cũng có thể thông tin cho đơn vị về các vấn đề có thể ảnh hưởng tới hoạt động của KSNB, ví dụ như, các thông tin liên quan đến cuộc kiểm tra của cơ quan quản lý ngân hàng. Đồng thời, khi thực hiện hoạt động giám sát, Ban Giám đốc cũng có thể xem xét các trao đổi thông tin từ kiểm toán viên độc lập liên quan đến KSNB.
Như vậy, chức năng KTNB là một phần quan trọng trong yếu tố “giám sát” của hệ thống KSNB. Để thực hiện được chức năng, KTNB cần được tạo điều kiện và đảm bảo cung cấp về nguồn lực, đặc biệt là nhân sự. KTNB phải được giao cho các nhân viên có trình độ, được đào tạo bài bản, hiểu rõ trách nhiệm và vai trò của mình. Đồng thời, KTNB cần được trao quyền chủ động trong việc thực hiện công việc của mình, được quyền tiếp cận với tất cả các hoạt động ngân hang thực hiện, bao gồm cả hoạt động ở chi nhánh và công ty con. Mặt khác, giữa KTNB với các chức năng hang ngày của ngân hang phapr đảm bảo sử độc lập. Nghĩa là bộ phận KTNB và các KTV không tham gia vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp/lựa chọn hay triển khai các biện pháp KSNB; trực tiếp báo cáo tới tấp quản lý cao trong doanh nghiệp, điển hình là HĐQT hoặc Ủy ban kiểm toán và Ban TGĐ nhằm đảm bảo sự khách quan trong cung cấp thông tin, không bị chi phối bởi bất kỳ cấp quản lý nào được đề cập trong báo cáo. Bản than bộ phận KTNB cũng yêu cầu phải được đánh giá một cách độc lập bởi một bên thứ ba độc lập như Kiểm toán độc lập hay Ủy ban kiểm toán.
Tóm lại, toàn bộ 5 yếu tố trên tạo thành một nền tảng vững chắc cho hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp. Hoạt động KSNB góp phần tạo lập được một văn hóa doanh nghiệp chú trọng đến tính chịu trách nhiệm. Những hoạt động kiểm soát và những cơ chế tương ứng sẽ được chủ động thiết lập nhằm đối phó và hạn chế những rủi ro trọng yếu.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN ĐỊA PHƯƠNG
1.2.1. Khái niệm, cơ cấu tổ chức Quỹ Đầu tư phát triển địa phương
1.2.1.1. Khái niệm
Các Quỹ đầu tư phát triển địa phương được thành lập dựa trên sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ nhằm huy động mọi nguồn lực của xã hội và nền kinh tế cho đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của địa phương trong cả nước. Khung pháp lý chủ yếu để các Quỹ hoạt động bao gồm: Nghị định 138/2007/NĐ-CP ngày 28 tháng 8 năm 2007, Nghị định 37/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2013 quy định về tổ chức và hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và các quy định pháp lý có liên quan.
Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính nhà nước của địa phương, thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán riêng, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam.
Quỹ Đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro, chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi nguồn vốn chủ sở hữu của mình.
Tên gọi của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là Quỹ Đầu tư phát triển, ghép với tên tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
1.2.1.2. Cơ cấu tổ chức
Tổ chức bộ máy của Quỹ đầu tư phát triển địa phương bao gồm: Hội đồng quản lý, Ban Kiểm soát và bộ máy điều hành.
a) Hội đồng quản lý Quỹ đầu tư phát triển địa phương
Hội đồng quản lý có tối đa 05 (năm) thành viên, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế quyết định số lượng thành viên của Hội đồng quản lý Quỹ theo nguyên tắc số lượng thành viên Hội đồng quản lý Quỹ phải là số lẻ.
Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
b) Ban kiểm soát Quỹ đầu tư phát triển địa phương
Ban Kiểm soát có tối đa 03 (ba) thành viên, được hưởng phụ cấp và các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật.
c) Bộ máy điều hành của Quỹ đầu tư phát triển địa phương
Bộ máy điều hành của Quỹ đầu tư phát triển địa phương gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc) và các Phòng, Ban nghiệp vụ.
Căn cứ vào tình hình thực tế của từng Quỹ mà có thể thành lập các phòng ban nghiệp vụ cho phù hợp.
Bộ máy điều hành của Quỹ đầu tư phát triển địa phương gồm Ban Giám đốc (Giám đốc, Phó Giám đốc) và các Phòng, Ban nghiệp vụ.
Giám đốc Quỹ là Uỷ viên của Hội đồng quản lý do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, là người đại diện pháp nhân của Quỹ đầu tư phát triển địa phương, chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Hội đồng quản lý và trước pháp luật về toàn bộ hoạt động nghiệp vụ của Quỹ đầu tư phát triển địa phương.
Phó Giám đốc và kế toán trưởng do Giám đốc Quỹ đề nghị Hội đồng quản lý xem xét, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm.
Việc tổ chức các Phòng, Ban Nghiệp vụ của Quỹ đầu tư phát triển địa phương do Hội đồng quản lý quyết định căn cứ thực tế hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương, phù hợp với hướng dẫn tại Điều lệ mẫu về tổ chức và hoạt động của Quỹ đầu tư phát triển địa phương.
1.2.2. Vai trò và đặc điểm của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương
1.2.2.1. Vai trò
Là một công cụ tài chính và đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Quỹ thực hiện vai trò huy động nguồn vốn trung dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước để đầu tư cho những công trình trọng điểm, những dự án mục tiêu phát triển kết cấu cơ sở hạ tầng của địa phương như: giao thông, cấp nước, hạ tầng các khu công nghiệp, khu đô thị mới…
– Đa dạng hóa các phương thức huy động vốn phù hợp với nhu cầu về đầu tư phát triển của địa phương
Tạo ra cơ chế linh hoạt để huy động và khai thác các nguồn vốn cho đầu tư phát triển: tiếp nhận các nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước, khai thác và huy động nguồn vốn nhàn rỗi thuộc các thành phần kinh tế, viện trợ từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Hình thành một định chế tài chính trung gian góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn trong nước; hoạt động huy động vốn của Quỹ đầu tư phát triển gắn liền với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương;
– Hoạt động sử dụng vốn đa dạng của Quỹ thực hiện thông qua nhiều hình thức như:Đầu tư trực tiếp, cho vay đầu tư, hợp vốn đầu tư; tham gia góp vốn thành lập công ty, tham gia đầu tư cổ phần tại các doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đầu tư của Quỹ. Với cơ quan chủ quan của Quỹ là Ủy ban nhân dân cấp địa phương thì Quỹ sẽ thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng, ngân hàng tham gia đầu tư vào các dự án đầu tư có tỷ suất sinh lời ở mức vừa phải nhưng lại cấp thiết cho phát triển kinh tế – xã hội. Những hoạt động như vậy sẽ góp phần xã hội hoá hoạt động đầu tư của địa phương, thu hút nhiều nguồn vốn của dân cư, tổ chức tham gia đầu tư các mục tiêu phát triển của địa bàn.
– Sử dụng vốn có hiệu quả
Đặc thù hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển là gắn với chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, vừa bám sát các chủ trương, định hướng phát triển của tỉnh, thành phố vừa phù hợp với nhu cầu thực tế của nền kinh tế. Chính lợi thế này sẽ tạo điều kiện để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của Quỹ Đầu tư phát triển. Mặt khác, nếu uy tín của Quỹ Đầu tư phát triển trong hoạt động đầu tư và trên thị trường tài chính, Quỹ có thể trở thành đầu mối định hướng đầu tư và thu hút các thành phần trong xã hội cùng tham gia, và như vậy hoạt động đầu tư sẽ ngày càng được mở rộng, phát triển và có hiệu quả hơn.
1.2.2.2. Đặc điểm
Mô hình hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có các đặc điểm khác cơ bản so với các định chế tài chính như Ngân hàng thương mại, Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính,… Quỹ là định chế tài chính của địa phương mà nhiệm vụ chủ yếu là công cụ tài chính của địa phươngđể hỗ trợ hoạt động đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế – xã hội trên địa bàn tỉnh, thành phố. Do đó chịu sự chi phối, chỉ đạo từ chính quyền địa phương về mặt định hướng và chiến lược phát triển tổng thể, kế hoạch hoạt động ngắn hạn và dài hạn, từ Trung ương về nghiệp vụ hoạt động… Tuy nhiên hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương vẫn phải đáp ứng phù hợp với nhu cầu thực tế của nền kinh tế tại địa phương đó. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động độc lập, không thay thế cho ngân sách địa phương thực hiện cấp phát vốn cho các dự án đầu tư, mà tập trung các nguồn vốn từ nhiều khu vực khác để đầu tư vào các dự án cơ sở hạ tầng thuộc chương trình phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và có thu hồi vốn.
Hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương không đơn thuần là tìm kiếm lợi nhuận như các Ngân hàng thương mại, doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa cao hơn là định hướng, tạo động lực thúc đẩy quá trình phát triển cơ sở hạ tầng của địa phương, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của địa phương.
Điểm khác biệt trong chức năng hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển là không có chức năng làm dịch vụ thanh toán, một thế mạnh tuyệt đối của các ngân hàng thương mại. Hiện nay, các Ngân hàng thương mại triển khai hàng trăm loại hình dịch vụ, gấp hàng chục lần số lượng những nghiệp vụ mà các Quỹ có thể thực hiện được. Do vậy mà mỗi Quỹ Đầu tư phát triển muốn phát triển thì không thể thực hiện các dịch vụ cạnh tranh với ngân hàng mà phải định hướng vào khả năng phát huy năng lực vuợt trội của mình để tồn tại và phát triển.
Ngoài nguồn vốn ngân sách nhà nước, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương còn có thể vay từ ngân hàng, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước, kêu gọi các tổ chức và cá nhân cùng hợp vốn để đầu tư, phát hành trái phiếu để huy động vốn, …tạo các nguồn lực sẵn có để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Tuy nhiên do đặc điểm đầu tư vào các dự án kết cấu hạ tầng có thời gian đầu tư dài nên Quỹ Đầu tư phát triển địa phương không được huy động vốn ngắn hạn mà chỉ thực hiện huy động vốn trung và dài hạn để đảm bảo bảo nguồn vốn hoạt động, tránh rủi ro cho hoạt động đầu tư.
Từ các đặc thù này, các Quỹ Đầu tư phát triển đã từng bước khẳng định được vị thế tồn tại và vai trò tất yếu khách quan của mình, tận dụng và phát huy tối đa những thuận lợi về sự khác biệt từ quy mô hoạt động để đẩy mạnh và phát triển sâu rộng hoạt động kinh doanh.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN THANH SON


