Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng

Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Tính cấp thiết của đề tài

Kế toán với chức năng thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin các hoạt động kinh tế, tài chính của một tổ chức để phục vụ nhu cầu quản lý của các đối tượng bên trong và bên ngoài đơn vị. Đặc biệt trong những năm gần đây đang trong quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng với nền kinh tế quốc tế và khu vực, trong xu thế đó tất yếu phải từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp với các nước trên thế giới. Theo đó, hệ thống pháp lý kế toán Việt Nam không ngừng được đổi mới và phát triển từng bước đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị trường và xu hướng mở cửa, hội nhập kinh tế thế giới. Trên cơ sở hệ thống pháp lý về kế toán của Nhà nước, các đơn vị tiến hành tổ chức công tác kế toán phù hợp với đặc điểm của đơn vị mình; những nội dung công tác kế toán là trọng tâm xuyên suốt trong quá trình xây dựng và vận dụng hệ thống pháp lý về kế toán vào từng đơn vị cụ thể. Tổ chức công tác kế toán tốt sẽ tạo điều kiện cho đơn vị có cơ hội phát huy tốt hơn thế mạnh và giảm thiểu tối đa những yếu kém trong quá trình hoạt động và phát triển. 

Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam là đơn vị sự nghiệp công lập mới được thành lập trực thuộc UBND tỉnh hoạt động theo nguyên tắc tự đảm bảo kinh phí, thực hiện nhiệm vụ làm chủ đầu tư các dự án công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh giao.

Trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm (2016-2020) của UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam được giao làm chủ đầu tư nhiều dự án thuộc các lĩnh vực thủy lợi, đê điều, chỉnh trị sông biển, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp, định canh định cư và các dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn khác. Được giao quản lý nhiều dự án hơn, nguồn vốn đầu tư XDCB tăng lên, cùng với nhiều thay đổi về chính sách quản lý đầu tư XDCB của nhà nước chặt chẽ hơn, nhiều thủ tục hành chính hơn cũng làm cho công việc của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam nói chung và công việc kế toán đầu tư XDCB nói riêng cũng tăng lên. Qua thực tế do Ban quản lý mới được thành lập nên công tác tổ chức kế toán còn nhiều hạn chế. Việc giải ngân thanh toán chậm trễ, sai sót, chậm quyết toán và tất toán tài khoản, dẫn đến nợ đọng vốn đầu tư XDCB ở mức cao và có xu hướng ngày càng tăng…, Những thất thoát, lãng phí trong xây dựng làm giảm sút chất lượng của công trình, ảnh hưởng đến tuổi thọ của công trình so với thiết kế. Đây cũng là một thất thoát vốn mà Nhà nước phải tính đến, bởi lẽ công trình chỉ phục vụ được trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với thời gian sử dụng trong dự án được duyệt làm giảm hiệu quả đầu tư từ nguồn vốn ngân sách nhà nước.

Chính vì vậy, việc hoàn thiện tổ chức công tác kế toán đầu tư XDCB là một yêu cầu cấp bách và hết sức cần thiết có ý nghĩa rất lớn trong giai đoạn đầu mới đi vào hoạt động. Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam ”.

Mục tiêu nghiên cứu

– Hệ thống hóa lý luận chung về công tác kế toán đầu tư XDCB tại các Ban quản lý dự án.

– Đánh giá thực trạng công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

– Đề xuất các giải pháp mang tính đồng bộ nhằm hoàn thiện công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tương nghiên cứu của đề tài: Công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án xây dựng.

– Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:

+ Về không gian: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại các Ban quản lý dự án.

+ Về thời gian: Phạm vi nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, luận văn sử dụng hệ thống các số liệu của năm 2017.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài được tác giả sử dụng phương pháp duy vậy biện chứng kết hợp với phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp kiểm tra, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu. Nhằm thực hiện các mục tiêu nghiên cứu đã trình bày ở trên, tác giả sử đã sử dụng một số phương pháp sau đây:

Phương pháp thu thập thông tin: Thu thập từ những kiến thức học được từ các bài giảng, sách giáo khoa, tài liệu của các giảng viên trong và ngoài nhà trường, thông tin trên Internet, các bài luận văn, luận án của các thạc sỹ, tiến sỹ các năm trước; Thu thập thông tin trực tiếp tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam và tham khảo các tài liệu liên quan đến các dự án của Ban quản lý trong giai đoạn gần đây nhất và các văn bản có liên quan của Ban Quản lý dự án.

Phương pháp phân tích: Phân tích các dữ liệu đã thu thập và thống kê được nhằm đưa ra nhận xét, đánh giá và kết quả về thực trạng công tác kế toán của tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Phương pháp đánh giá: Đánh giá thực tiễn về công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam về công tác này, xem xét Ban đã hoàn thành tốt hay chưa, để làm cơ sở cho những giải pháp và kiến nghị về sau.

Phương pháp quy nạp: Sử dụng lý thuyết về công tác kế toán nói chung, kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban Quản lý nói riêng, các nội dung hay phương pháp cụ thể của công tác kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam và kết quả nghiên cứu để đưa ra kết luận chung cho luận văn.

Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp kết quả nghiên cứu để làm cơ sở cho những nhận xét, đánh giá của tác giả.

Đó là những phương pháp phù hợp và cần thiết nhất với nghiên cứu này bởi chúng giúp tác giả tìm hiểu, thăm dò và khám phá thực trạng của công tác kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua, từ đó, đề xuất các giải pháp thiết thực để hoàn chỉnh công tác kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn tới.

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Bố cục luận văn

Bao gồm ba chương:

Chương 1 : Cơ sở lý luận về công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án.

Chương 2 : Thực trạng công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Chương 3: Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐẦU TƯ

XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN

1.1. Khái quát về công tác đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý

1.1.1. Một số khái niệm cơ bản

* Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản:

Đầu tư xây dựng cơ bản là quá trình sử dụng các nguồn lực vào hoạt động sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng tài sản cố định, nhằm từng bước tăng cường và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế.

* Khái niệm Dự án đầu tư xây dựng:

– Theo Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2014 “Dự án đầu tư xây dựng là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo công trình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tư xây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xây dựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng”.

* Khái niệm vốn đầu tư xây dựng cơ bản:

– Theo Nghị định số 385/HĐBT ngày 7 tháng 11 năm 1990 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính Phủ): “Vốn đầu tư xây dựng cơ bản là toàn bộ chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đầu tư, bao gồm: Chi phí cho việc khảo sát quy hoạch, chi phí chuẩn bị đầu tư, chi phí thiết kế và xây dựng, chi phí mua sắm lắp đặt máy móc, thiết bị và chi phí khác được ghi trong tổng dự toán”. Sau này các văn bản, Nghị định không còn định nghĩa về vốn đầu tư xây dựng cơ bản nữa. Tuy nhiên thuật ngữ “ vốn đầu tư XDCB vẫn được sử dụng rộng rãi trong nhiều văn bản pháp luật hiện nay.

1.1.2. Trình tự tiến hành đầu tư xây dựng cơ bản

* Khái niệm:

Trình tự đầu tư và xây dựng là thứ tự theo thời gian tiến hành những công việc của quá trình đầu tư để nhằm đạt được mục tiêu đầu tư.

* Các giai đoạn của trình tự đầu tư và xây dựng:

Theo chế độ hiện hành thì trình tự đầu tư và xây dựng được chia làm 3 giai đoạn:

Chuẩn bị đầu tư

Thực hiện đầu tư

Kết thúc xây dựng, đưa công trình vào khai thác sử dụng

1.1.3. Các hình thức tổ chức thực hiện dự án

Các hình thức tổ chức quản lý thực hiện dự án xây dựng ở Việt Nam hiện nay về cơ bản là giống với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các hình thức đó bao gồm: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án; Chủ nhiệm điều hành dự án; Chìa khóa trao tay và hình thức tự làm. Mỗi hình thức nói trên đều có nội dung, ưu nhược điểm và yêu cầu vận dụng khác nhau. Tùy theo điều kiện cụ thể của dự án mà chủ đầu tư có thể lựa chọn áp dụng một trong các hình thức quản lý này.

1.1.4. Quyết toán vốn đầu tư khi công trình hoàn thành

Quyết toán vốn đầu tư là toàn bộ chi phí hợp pháp đã thực hiện trong quá trình đầu tư để đưa dự án vào khai thác sử dụng. Chi phí hợp pháp là chi phí theo đúng hợp đồng đã ký kết và thiết kế dự toán được phê duyệt, bảo đảm đúng tiêu chuẩn, định mức, đơn giá, chế độ tài chính – kế toán và những quy định hiện hành của Nhà nước có liên quan.

1.2. Khái quát công tác kế toán tại Ban quản lý dự án

1.2.1. Nguyên tắc chung công tác kế toán tại Ban quản lý

– Tổ chức công tác kế toán phải đúng với quy định, điều lệ tổ chức kế toán được Nhà nước ban hành và phải phù hợp với chính sách, chế độ quản lý XDCB của Nhà nước theo từng thời kỳ.

– Tổ chức công tác kế toán phải phù hợp với đặc điểm, quy mô và tổ chức quản lý của từng đơn vị Ban Quản lý dự án.

– Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo nguyên tắc gọn nhẹ, tiết kiệm và hiệu quả.

1.2.2. Yêu cầu công tác kế toán tại Ban Quản lý dự án

Thứ nhất, Công tác kế toán phải đảm bảo yêu cầu khoa học và hợp lý, trên cơ sở chấp hành đúng các nguyên tắc tổ chức phù hợp với các chính sách, chế độ thể lệ quy chế tài chính hiện hành

Thứ hai, Công tác kế toán phải đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế, đặc điểm tổ chức quản lý, quy mô và địa bàn họat động của đơn vị.

Thứ ba, Công tác kế toán phải phù hợp với biên chế, khả năng và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán hiện có tại đơn vị.

Thứ tư, Công tác kế toán phải đảm bảo cung cấp thông tin,tài liệu tổng hợp và chi tiết phục vụ cho việc điều hành quản lý các hoạt động của đơn vị

Thứ năm, Công tác kế toán phải đảm bảo giúp kiểm tra, kiểm soát tình hình sử dụng tài sản, nguồn kinh phí và các hoạt động kinh tế tài chính của đơn vị.

1.2.3. Nhiệm vụ của kế toán tại Ban Quản lý dự án

Kế toán là một trong các công cụ quản lý quan trọng của Ban Quản lý dự án. Do vậy, tổ chức công tác kế toán khoa học và hợp lý là điều kiện cần thiết để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ và vai trò của kế toán, đảm bảo được chất lượng và hiệu quả của công tác kế toán tại Ban Quản lý dự án với những nhiệm vụ chính.

– Thu thập, ghi chép Phản ánh kịp thời, đầy đủ, chính xác và trung thực mọi hoạt động tài chính, kinh tế phát sinh, tổng hợp đầy đủ, kịp thời chính xác thông tin về nguồn vốn đầu tư hình thành và tình hình sử dụng vốn đầu tư XDCB. Thông qua việc ghi chép sẽ phản ánh, kiểm tra, giám sát việc sử dụng hợp lý tiết kiệm vốn đầu tư, việc thực hiện kế hoạch đầu tư XDCB;

– Đảm bảo quản lý chặt chẽ, toàn diện, liên tục mọi khoản tài sản, vật tư, tiền vốn;

– Tính toán và phản ánh chính xác, đầy đủ, kịp thời số lượng và giá trị từng loại, từng thứ tài sản cố định và tài sản lưu động tăng lên do đầu tư xây dựng mang lại; Quyết toán vốn đầu tư khi công trình hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng;

– Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành các tiêu chuẩn định mức, các chế độ, chính sách quản lý tài chính về đầu tư và xây dựng của nhà nước và của đơn vị, kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư, tài sản, tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán, dự toán;

– Lập và nộp đúng hạn báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên và các cơ quan thanh toán, cho vay và nhà tài trợ vốn, cơ quan thống kê. Cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu cho hoạt động đầu tư và xây dựng. Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư ở đơn vị chủ đầu tư.

1.2.4. Nội dung công tác kế toán tại Ban Quản lý dự án

1.2.4.1. Tổ chức bộ máy kế toán

Bộ máy kế toán trên góc độ tổ chức lao động kế toán là tập hợp đồng bộ các nhân viên kế toán để đảm bảo thực hiện khối lượng công tác kế toán với đầy đủ các chức chức năng thông tin và kiểm tra hoạt động của đơn vị . Các nhân viên kế toán trong bộ máy kế toán có mối liên hệ chặt chẽ qua lại xuất phát từ sự phân công lao động trong bộ máy kế toán. Mỗi cán bộ, nhân viên đều được quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, để từ đó tạo thành mối liên hệ có tính vị trí, lệ thuộc, chế ước lẫn nhau. Công tác kế toán hoạt động có hiệu quả là do sự phân công, tạo lập mối liên hệ chặt chẽ giữa các lao động kế toán theo tính chất khác nhau của khối lượng công việc kế toán. Quan hệ giữa các lao động kế toán trong bộ máy kế toán có thể được thể hiện theo các cách sau:

* Mô hình tổ chức bộ máy kế toán tập trung  

Hình thức này thường được áp dụng ở các đơn vị có quy mô vừa và nhỏ, phạm vi làm việc tương đối tập trung trên một địa bàn nhất định, có khả năng đảm bảo việc luân chuyển chứng từ các bộ phận trong đơn vị nhanh chóng, kịp thời. 

Theo hình thức này chỉ tổ chức một phòng kế toán trung tâm, tất cả các công việc kế toán như phân loại chứng từ, kiểm tra chứng từ ban đầu, định khoản kế toán, ghi sổ tổng hợp chi tiết, lập báo cáo, thông tin kinh tế đều được thực hiện tập trung ở phòng

Hình thức này có ưu điểm là bảo đảm sự tập trung, thống nhất và chặt chẽ trong việc chỉ đạo công tác kế toán giúp đơn vị kiểm tra, chỉ đạo hoạt động của đơn vị kịp thời, chuyên môn hoá cán bộ kế toán, giảm nhẹ biên chế, tạo điều kiện cho việc  ứng dụng các phương tiện tính toán hiện  đại có hiệu quả nhưng có nhược điểm là hạn chế việc kiểm tra, giám sát tại chỗ của kế toán đối với mọi hoạt động của đơn vị; không cung cấp kịp thời các số liệu cần thiết phục vụ cho lãnh đạo và quản lý ở từng đơn vị, bộ phận phụ thuộc trong nội bộ đơn vị nếu địa bàn hoạt động rộng (được thể hiện trên phụ lục 1.5).

* Mô hình tổ chức kế toán phân tán

Đối với những đơn vị có các dự án cách xa địa bàn hoạt động rộng, có các đơn vị phụ thuộc ở xa trung tâm chỉ huy, trong trường hợp này, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công việc ở cơ sở, mặt khác đảm bảo việc cập nhật sổ sách kế toán trong toàn đơn vị, sự cần thiết khách quan là tại các đơn vị phụ thuộc hình thành tổ chức kế toán hay nói cách khác người lãnh đạo đơn vị phải phân cấp việc hạch toán kế toán cho các đơn vị phụ thuộc. Tức là chứng từ kế toán phát sinh từng công trình ở địa bàn nào, cơ sở đó tự thanh toán và hạch toán không phải gửi chứng từ về phòng kế toán trung tâm như những đơn vị chưa được phân cấp hạch toán kế toán. 

Quan hệ giữa phòng kế toán cấp trên với bộ phận kế toán ở đơn vị phụ thuộc là quan hệ chỉ đạo nghiệp vụ và tiếp nhận thông tin thông qua chế độ báo cáo kế toán do đơn vị quy định.

Như  vậy công việc ở phòng kế toán trung tâm chủ yếu là tổng hợp, kiểm tra báo cáo ở các  đơn vị phụ thuộc gửi lên và chỉ trực tiếp thanh toán, hạch toán những chứng từ kế toán của những đơn vị trực thuộc không có tổ chức hạch toán kế toán (thể hiện trên phụ lục 1.6).

Hình thức này có  ưu  điểm là tạo  điều kiện cho các  đơn vị phụ thuộc nắm được tình hình hoạt động một cách chính xác, kịp thời nhưng có nhược  điểm là số  lượng nhân viên lớn, bộ máy cồng kềnh.

* Mô hình tổ chức kế toán vừa tập trung vừa phân tán  

Đây là một hình thức kết hợp  đặc  điểm của hai hình thức trên nhằm phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng đơn vị. Theo hình thức này đơn vị chỉ tổ chức một phòng kế toán trung tâm. Nhưng những người quản lý ở các đơn vị trực thuộc thì ngoài việc ghi chép ban đầu còn được giao thêm một số phần việc mang tính chất kế toán.

Đây là mô hình tổ chức bộ máy kế toán linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và điều kiện của mỗi đơn vị, nhờ vậy khắc phục được nhược điểm của hai mô hình trên như tạo điều kiện cho kế toán gắn liền với các hoạt động của đơn vị, kiểm tra, giám sát chặt chẽ các hoạt động một cách có hiệu quả.

1.2.4.2 Xử lý thông tin theo chu trình kế toán

Tổ chức chứng từ kế toán được áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư phải thực hiện đúng nội dung, phương pháp lập, ký chứng từ theo luật kế toán và Nghị định số 174/2016/NĐ-CP ngày 30/12/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Kế toán, mẫu chứng từ kế toán được quy định như sau:

– Mẫu chứng từ kế toán bắt buộc là mẫu chứng từ đặc biệt có giá trị như tiền gồm: séc, biên lai thu tiền, vé thu phí, lệ phí, trái phiếu, tín phiếu, công trái, các loại hoá đơn bán hàng và mẫu chứng từ bắt buộc khác. Mẫu chứng từ kế toán bắt buộc do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định nội dung, kết cấu của mẫu mà đơn vị kế toán phải thực hiện đúng về biểu mẫu, nội dung, phương pháp ghi các chỉ tiêu và áp dụng thống nhất cho các đơn vị kế toán hoặc từng đơn vị kế toán cụ thể.

– Mẫu chứng từ kế toán hướng dẫn là mẫu chứng từ kế toán do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; ngoài các nội dung quy định trên mẫu, đơn vị kế toán có thể bổ sung thêm chỉ tiêu hoặc thay đổi hình thức mẫu biểu cho phù hợp với việc ghi chép và yêu cầu quản lý của đơn vị.

1.2.4.3. Tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán:

Công việc này chính là tổ chức vận dụng hệ thống tài khoản kế toán theo quy định phù hợp với đặc điểm các loại tài sản, các khoản nợ phải trả và các loại nguồn vốn ở đơn vị, đảm bảo mọi đối tượng kế toán có một tài khoản phản ánh tình hình hiện có và sự biến động của đối tượng đó, đáp ứng yêu cầu quản lý của từng đơn vị.

Hệ thống tài khoản áp dụng chi tiết cho Ban quản lý dự án đầu tư theo Danh mục tài khoản được đính kèm tại phụ lục 1.4, cụ thể như sau:

Trường hợp Ban quản lý dự án đầu tư cần bổ sung Tài khoản cấp 1, cấp 2 hoặc sửa đổi Tài khoản cấp 1, cấp 2 về tên, ký hiệu, nội dung và phương pháp hạch toán các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đặc thù phải được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính trước khi thực hiện.

Các Ban quản lý dự án đầu tư có thể mở thêm Tài khoản cấp 2 và Tài khoản cấp 3 đối với những tài khoản không có quy định Tài khoản cấp 2, Tài khoản cấp 3 tại Danh mục Hệ thống tài khoản kế toán đã quy định trong Thông tư này nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của Đơn vị chủ đầu tư mà không phải đề nghị Bộ Tài chính chấp thuận.

1.2.4.4. Lựa chọn hình thức sổ kế toán tại Ban quản lý dự án

Mỗi hình thức kế toán thích hợp với Ban quản lý dự án ở từng thời kỳ, phù hợp với từng quy mô, trình độ quản lý , trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ nhân viên kế toán, tình hình tiến bộ khoa học áp dụng trong lĩnh vực kế toán.

Các hình thức sổ kế toán áp dụng thống nhất cho Ban quản lý dự án gồm: Nhật ký sổ cái, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký chung. Ban Quản lý căn cứ vào quy mô, đặc điểm hoạt động, yêu cầu quản lý, trình độ nghiệp vụ của cán bộ kế toán, điều kiện cụ thể để lựa chọn một hình thức sổ kế toán cho phù hợp.

Xây dựng hệ thống sổ kế toán (sổ tổng hợp, sổ chi tiết) áp dụng cho phù hợp với hình thức kế toán đã lựa chọn.

1.2.4.5. Lập hệ thống báo cáo kế toán

Lập các báo cáo về thông tin tài chính kế toán ở Ban quản lý chính là công việc lập, công khai và sử dụng các báo cáo tài chính và các báo cáo khác cho các đơn vị có liên quan.

Báo cáo tài chính của Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm 04 báo cáo và 05 phụ biểu bắt buộc như sau:

– Báo cáo tài chính: Bảng cân đối kế toán (Mẫu số B01-CĐT); Nguồn vốn đầu tư (Mẫu số B02-CĐT); Thực hiện đầu tư xây dựng (Mẫu số B03-CĐT); Thuyết minh báo cáo tài chính (Mẫu số B04-CĐT).

– Phụ biểu báo cáo tài chính: Chi tiết nguồn vốn đầu tư (Mẫu số F02-CĐT); Thực hiện đầu tư theo dự án, công trình, hạng mục công trình (Mẫu số F03A-CĐT); Quyết toán vốn đầu tư theo dự án, công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao sử dụng (Mẫu số F03B-CĐT); Chi phí khác (Mẫu số F03C-CĐT); Chi phí Ban quản lý dự án đầu tư (Mẫu số F03D-CĐT);

Ngoài các mẫu báo cáo trên Ban Quản lý dự án còn phải thực hiện báo cáo tình hình thực hiện và thanh toán kế hoạch vốn đầu tư các dự án do Trương ương và tỉnh quản lý.

1.3. Kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý

1.3.1. Kế toán nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản

Nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản của ban quản lý dự án được hình thành do ngân sách nhà nước cấp hằng năm, cấp trên cấp, được bổ sung từ các khoản thu tại đơn vị, hoặc được viện trợ, tài trợ, biếu tặng cho hoạt động đầu tư xây dựng. Kế toán phải theo dõi chi tiết việc sử dụng từng nguồn vốn đầu tư theo từng dự án, công trình và hạng mục công trình.

Kế toán phải mở sổ sách kế toán chi tiết theo dõi sự hình thành và sử dụng từng nguồn vốn đầu tư XDCB làm cơ sở quyết toán vốn đầu tư.

Đối với các khoản đóng góp bằng ngày công hoặc hiện vật phải được quy đổi thành tiền tại thời điểm đóng góp để hạch toán và phải được quản lý theo dõi riêng, việc quy đổi đảm bảo phù hợp với giá cả thị trường ở từng địa phương.

Kế toán phải theo dõi số vốn đầu tư nhận được hàng năm, số lũy kế vốn đầu tư nhận được từ khi khởi công đến khi dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng.

Khi báo cáo quyết toán vốn đầu tư hoàn thành được cấp có thẩm quyền phê duyệt, kế toán ghi giảm nguồn vốn đầu tư và chi phí đầu tư xây dựng.

* Tài khoản sử dụng:

Dùng phản ánh số liệu hiện có và tình hình tăng, giảm nguồn vốn đầu tư của Ban QLDA, được theo dõi chi tiết và lũy kế cho từng dự án. Khi dự án hoàn thành đưa vào sử dụng Ban QLDA phải lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư. Nếu dự án được đầu tư từ nhiều nguồn khác nhau Ban QLDA phải phân tích rõ từng nguồn vốn. Khi báo cáo quyết toán vốn đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, ghi giảm vốn đầu tư và chi phí xây dựng, kế toán có thể sử dụng các tài khoản sau:

– TK 441: Nguồn vốn đầu tư XDCB, tài khoản này có 3 tài khoàn cấp 2

+ TK 4411: Nguồn kinh phí Nhà nước cấp

+ TK 4412: Nguồn kinh phí viện trợ

+ TK 4418: Nguồn khác

TK 4411 “ Nguồn vốn Ngân sách nhà nước” : Phản ảnh số vốn đầu tư do Ngân sách nhà nước cấp để thực hiện dự án đầu tư xây dựng.

TK 4412: “Nguồn kinh phí viện trợ” : Phản ánh số vốn đầu tư thuộc nguồn vốn chủ sở hữu của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế chuyển sang để thực hiện dự án. Đối với doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư được hình thành từ các nguồn: Vốn ngân sách nhà nước cấp; Vốn khấu hao TSCĐ; Quỹ đầu tư phát triển; Các khoản thu của Nhà nước để lại cho doanh nghiệp; Quỹ phúc lợi (sử dụng đầu tư cho các công trình phúc lợi).

TK 4418 “Nguồn khác”: Phản ảnh các nguốn vốn khác để thực hiện dự án đầu tư xây dựng như vốn đóng góp từ những người hưởng lợi từ dự án, lãi tiền gửi được ghi tăng nguồn vốn đầu tư….

– Phương pháp kế toán

441

241 Nguồn kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản 111,112,331

BQLDA phải nộp NSNN các khoản tiền phát hiện Nhận kinh phí đầu tư của NSNN bằng tiền mặt

Qua kiểm tra TGNH hoặc để thanh toán cho người bán,

nhà thầu Đồng thời ghi:

0092

Chí phí chưa Phân bổ chi phí ĐTXD

Có thuế GTGT được duyệt QT 642 111,112,152 138

Trả lại Phần chi phí ĐTXD Nhận kinh phí đầu tư trực tiếp cho BQLDA

Tiền vật không được phê

Còn thừa phải thu hồi 133

Thuế GTGT (nếu có)

133

Thuế GTGT 413 211

(Nếu có) Trường hợp dư

Có TK413 Nhận kinh phí đầu tư XDCB bằng TSCĐ

413 466 642

Trường hợp

Dư nợ 152,153

TK413

Nhận kinh phí bằng NVL, thiết bị

133

Thuế GTGT (nếu có)

Thuế GTGT (nếu có)

241

Nhận kinh phí đầu tư trực tiếp cho công trình

336,338

Hoàn trả các khoản vay nội bộ hoặc bên ngoài

241,111

112,152,153

Nhận công trình đang làm dở dang của chủ

Đầu tư khác để tiếp tục thi công

133

421

Thu hồi các khoản chênh lệch thu lơn hơn chi do phá dỡ công trình cũ để XD công trình mới

Được phép bổ sung nguồn kinh phí đầu

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ hạch toán tổng hợp nguồn kinh phí đầu tư XDCB

1.3.2. Kế toán quá trình chi phí đầu tư xây dựng

Tài khoản 241 mở chi tiết theo từng dự án, tiểu dự án, dự án thành phần, mỗi dự án mở chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình

Dùng để phản ánh chi phí đầu tư xây dựng và tình hình quyết toán vốn đầu tư ở các Ban quản lý dự án đầu tư, bao gồm các loại chi phí sau:

– Chi phí xây dựng bao gồm: Chi phí phá và tháo dỡ các vật kiến trúc cũ có tính đến giá trị vật tư, vật liệu thu hồi được để giảm vốn đầu tư; chi phí san lấp mặt bằng xây dựng; chi phí công trình tạm, công trình phụ trợ phục vụ thi công, nhà tạm …; chi phí xây dựng các hạng mục công trình; chi phí lắp đặt thiết bị; chi phí vận chuyển thiết bị thi công và lực lượng xây dựng.

Chi phí thiết bị gồm: Chi phí mua sắm thiết bị công nghệ, các trang thiết bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình; chi phí vận chuyển, chi phí lưu kho, lưu bãi, bảo quản, bảo dưỡng…; Thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình.

– Chi phí bồi thường hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng

– Chi phí quản lý dự án

– Chi phí tư vấn đầu tư xây dựng

Chi phí khác: Do đặc điểm riêng biệt của các khoản chi phí này nên nội dung của từng loại chi phí được phân theo các giai đoạn của quá trình đầu tư và xây dựng cụ thể chia thành chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư; chi phí ở giai đoạn thực hiện đầu tư và chí phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng bàn giao đưa vào khai thác sử dụng.

* Tài khoản sử dụng:

Tài khoản 241 – Chi phí đầu tư xây dựng, có 2 tài khoản cấp 2

– Tài khoản 2411 – Chi phí đầu tư xây dựng dỡ dang : Phản ánh chi phí đầu tư xây dựng dở dang và tình hình quyết toán vốn đầu tư xây dựng. Phản ánh vào tài khoản này bao gồm chi phí xây dựng, lắp đặt, giá trị thiết bị, chi phí khác. Tài khoản này được mở chi tiết cho từng dự án, công trình, hạng mục công trình và phải theo dõi chi tiết theo nội dung chi phí đầu tư xây dựng.

– Tài khoản 2412 – Dự án công trình, hạng mục công trình đưa vào sử dụng chờ phê duyệt quyết toán: Phản ánh giá trị dự án, công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành đưa vào sử dụng trong giai đoạn chờ quyết toán, tình hình quyết toán vốn đầu tư. Tài khoản này được mở theo từng dự án , công trình, hạng mục công trình và theo dõi chi tiết theo nội dung chi phí đầu tư xây dựng.

Phương pháp kế toán

241 152,154,155

331 241: Chi phí đầu tư xây dựng 138,331,421

Khi nhận giá trị khối lượng xây dựng hoặc lắp đặt Các khoản thu hồi ghi giảm chi phí ĐTXD

Hoàn thành do nhà thầu giao

133 Thuế GTGT

(nếu có)

152(1523,1522

1524),153 441

Xuất thiết bị không cần lắp đặt từ kho, thiết bị Khi bàn giao dự án đầu tư xây dựng dở dang cần lắp đặt, công cụ, dụng cụ cho BQLDA đầu tư khác tiếp tục xây dựng 111,112,152,153

Bàn giao các tài sản

111,112

441,331,141

BQLDA ĐT trực tiếp chi các khoản chi khác 133

Thuế GTGT (nếu có)

133

Thuế GTGT (nếu có)

138 111,112

Trường hợp BQLDA ĐT không trực tiếp thực hiện Lãi tiền gửi từ vốn NS cấp tạm thời chư sử dụng

đền bù mà các tổ chức chuyên trách của địa

phương thực hiện

642 338,441,138

Phân bổ chi phí BQLDA vào chi phí đầu tư XDCT Khi quyết toán vốn đầu tư hoàn thành được duyệt

338 133

Chi phí bảo lãnh và thực hiện dự án thuế GTGT (nếu có)

133 Thuế GTGT (nếu có)

Thuế GTGT (nếu có)

111,112,331

Chi phí chạy thử không tải, chi phí công trình

Phụ trợ, nhà tạm 421

Kết chuyển khoản chênh lệch thu lớn hơn chi

421 của hoạt động thanh lý công trình tạm CT phụ trợ

Kết chuyển chênh lệch thu nhỏ hơn chi của hoạt

Động thanh lý công trình tạm, công trình phụ trợ 413

Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh lũy kế trong

413 quá trình đầu tư (trường hợp TK 413 có số dư có

Khoản chênh lệch tỷ giá phát sinh lũy kế trong

quá trình đầu tư (trường hợp TK 413 có số dư nơ)

2411 2412 Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành tạm bàn giao đưa vào sử dụng

Sơ đồ 1.2. Sơ đồ hạch toán kế toán chi phí đầu tư xây dựng

1.3.3. Kế toán chi phí quản lý dự án

Dùng để phản ánh các chi phí cho hoạt động của Ban quản lý dự án đầu tư. Chi phí cho hoạt động của Ban quản lý dự án được tính theo quy mô và loại công trình, được tính bằng cấp trị số định mức tỷ lệ % theo định mức chi phí xây lắp và chi phí thiết bị được duyệt trong tổng mức đầu tư xây dựng công trình. Chi phí hoạt động của Ban Quản lý dự án phát sinh trong kỳ được phân bổ cho từng dự án.

* Tài khoản sử dụng : Loại tài khoản này dùng để phản ảnh các chi phí cho hoạt động của Ban Quản lý dự án đầu tư. Loại tài khoản này có một tài khoản 642 – Chi phí ban quản lý dự án đầu tư (TK này không có số dư cuối kỳ)

– Phương pháp kế toán

334 642: Chi phí ban quản lý dự án 136

Tiền lương trả cho nhân viên BQLDA Khi phân bổ chí phí QLDA ĐT của cấp trên

Cho cấp dưới

338 241 Các khoản trích theo lương (BHYT, BHXH

KPCĐ, BHTN Phân bổ chí phí BQLDA ĐT vào chí phí đầu tư

Xây dựng theo từng công trình

111,112

441,331,141

Mua vật tư,CCDC sữ dụng ngay cho hoạt động

Của BQLDA không qua nhập kho

133

Thuế GTGT (nếu có)

152

Xuất vật liệu, CCDC sử dụng cho hoạt động BQL

111,112,331 211

Mua TSCĐ sử dựng cho BQL

133

Thuế GTGT (nếu có)

466

Đồng thời ghi Nguồn hình thành TSCĐ

111,112,331

Các chi phí của BQLDA

133

Thuế GTGT (nếu có)

441

BQLDA ĐT cấp dưới nhận chi phí của

BQLDA ĐT cấp trên phân bổ xuống

Sơ đồ 1.3. Sơ đồ hạch toán tổng hợp chi phí BQLDA

1.3.4. Kế toán quyết toán vốn đầu tư XDCB.

Kế toán khi thực hiện việc lập báo cáo quyết toán dự án hoàn thành, trong đó phải tính toán xác định đầy đủ, chính xác giá trị các tài sản hình thành qua đầu tư và chi phí không tính vào giá trị tài sản; đồng thời phải đảm bảo đúng nội dung, thời gian lập báo cáo theo quy định.

Đối với các dự án có nhiều hạng mục công trình, tùy theo quy mô, tính chất và thời hạn xây dựng công trình, Ban QLDA có thể thực hiện lập báo cáo quyết toán, trình cấp có thẩm quyền thẩm tra và phê duyệt quyết toán vốn đầu tư xây dựng cho từng hạng mục công trình hoặc từng gói thầu độc lập ngay sau khi hạng mục công trình, gói thầu độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng theo yêu cầu của người quyết định đầu tư.

Các biểu mẫu báo cáo quyết toán được thực hiện theo quy định hiện hành của các cấp có thẩm quyền và Thông tư 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016; Thông tư 64/2018/TT-BTC ngày 30/7/2018 của Bộ Tài chính.

Kế toán Ban quản lý dự án trình hồ sơ phê duyệt quyết toán gồm : Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán công trình, hạng mục công trình; Các văn bản pháp lý có liên quan kèm theo; Các hồ sơ lập dự án – Tổng mức đầu tư, thiết kế bản vẽ thi công – Tổng dự toán; Hợp đồng có liên quan; Các biên bản nghiệm thu hoàn thành hạng mục công việc theo hợp đồng; Biên bản nghiệm thu dự án, công trình hoàn thành đưa vào sử dụng; Toàn bộ hồ sơ hoàn công các bản quyết toán khối lượng A-B; Báo cáo kết quả kiểm toán dự án hoàn thành của kiểm toán độc lập; Kết luận của kiểm toán nhà nước, thanh tra… (nếu có).

Theo quy định hiện hành tại Thông tư 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước, chậm nhất là sau khi công trình hoàn thành 03 tháng đối với nhóm C, 06 tháng đối với nhóm B và 09 tháng đối với nhóm A chủ đầu tư phải lập báo cáo quyết toán công trình hoàn thành trình cấp thẩm tra và ra thông báo phê duyệt.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong chương I, tác giả đã trình bày khái quát các vấn đề cơ bản về đầu tư xây dựng cơ bản, trình tự tiến hành đầu tư xây dựng cơ bản, các hình thức tổ chức thực hiện dự án, từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quyết toán dự án đầu tư xây dựng cơ bản hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng; nhiệm vụ của kế toán, yêu cầu công tác kế toán và nội dung công việc kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án. Luận văn đã thể hiện cụ thể nội dung tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản áp dụng cho đơn vị chủ đầu tư theo tinh thần thông tư 195/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính bao gồm: Tổ chức hình thức kế toán, tổ chức lựa chọn tài khoản sử dụng, tổ chức hệ thống chứng từ, tổ chức hạch toán kế toán và tổ chức hệ thống sổ sách báo cáo.

Từ những cơ sở lý luận cho thấy việc tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản, đơn vị chủ đầu tư cũng khá phức tạp, đòi hỏi mỗi đơn vị cần phải quan tâm chú trọng việc tổ chức công tác kế toán bước đầu sao cho thật hợp lý khoa học nhằm đáp ứng tốt yêu cầu của công tác quản lý, điều hành cả một hệ thống hoạt động.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG NAM

2.1. Khái quát về Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

2.1.1. Quá trình hình thành Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Trước đây Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và phát triển nông thôn Quảng Nam, trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam là đơn vị sự nghiệp công lập, hoạt động theo loại hình sự nghiệp có thu, tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên; có tư cách pháp nhân để thực hiện xuyên suốt các dự án của Chủ đầu tư, có nhiệm vụ tham mưu cho Giám đốc Sở chuẩn bị dự án đầu tư, giúp Chủ đầu tư quản lý, điều hành và thực hiện các dự án được cấp thẩm quyền giao Sở làm chủ đầu tư, từ công tác chuẩn bị đầu tư, thực hiện dự án cho đến khi nghiệm thu, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng, quyết toán dự án hoàn thành. Trong quá trình triển thực hiện các Ban Quản lý trực thuộc sở còn một số tồn tại, hạn chế như:

– Các chính sách, chế độ trong đầu tư chưa đồng bộ và liên tục thay đổi nên công tác quản lý điều hành về đầu tư xây dựng gặp không ít khó khăn; việc phân công, phân cấp trong xây dựng chưa cụ thể rõ ràng, còn nhiều chồng chéo.

– Công tác phối hợp với các địa phương trong giải phóng mặt bằng còn chưa tốt, trách nhiệm chưa rõ ràng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ thực hiện dự án…

– Công tác chuẩn bị đầu tư các dự án còn chậm, kéo dài, thiếu tính đồng bộ và phụ thuộc vào nguồn vốn huy động.

Để công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đảm bảo đúng các quy định hiện hành của nhà nước, đảm bảo chất lượng, hiệu quả trong triển khai đầu tư trên địa bàn tỉnh, việc sắp xếp, kiện toàn bộ máy các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh làm chủ đầu tư là cần thiết theo các quy định tại Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ; Xuất pháp từ yêu cầu trên, ngày 11/01/2016 UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số: 81/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam về việc thành lập Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam (sau đây gọi tắt là BQL) trên cơ sở hợp nhất Ban Quản lý dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ban Quản lý tiểu dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Phú Ninh thuộc Sở Nông nhiệp và phát triển nông thôn.

Trụ sở làm việc đặt tại : Số 28 Trần Phú – Phường Tân Thạnh – Thành phố Tam Kỳ – Tỉnh Quảng Nam .Điện thoại: 0235.03811706 – Fax: 02353.859177.

BQL tổ chức hoạt động theo Quy chế do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tại Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 11/1/2016 được quy định như sau:

BQL là đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc UBND tỉnh, hoạt động theo nguyên tắc tự đảm bảo kinh phí theo quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, thực hiện nghĩa vụ và quyền hạn theo quy định Luật Xây dựng năm 2014 và Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015; của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng, Nghị định số 42/2017/NĐ-CP ngày 05/04/2017 của Chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều Nghị định 59/2015/NĐ-CP; chịu sự quản lý, chỉ đạo, điều hành trực tiếp và toàn diện của UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh; đồng thời chịu sự hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn liên quan ở Trung ương và ở tỉnh.

BQL có tư cách pháp nhân, có con dấu và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng để hoạt động theo quy định của pháp luật.

BQL có nhiệm vụ và quyền hạn:

– Làm chủ đầu tư các dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn trên đại bàn tỉnh được UBND tỉnh giao (bao gồm các dự án: Thủy lợi, đê điều, chỉnh trị sông biển, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp, định canh định cư, nước sạch nông thôn và các dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn khác); quản lý sử dụng vốn để đầu tư theo quy định của Luật xây dựng, Luật Đầu tư công và pháp luật khác liên quan.

– Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn được UBND tỉnh ủy quyền trong quá trình quản lý thực hiện dự án, Việc ủy quyền có thể thực hiện ngay từ khi bắt đầu triển khai chương trình, dự án hoặc theo từng giai đoạn và được quy định trong quy chế hoạt động của Ban Quản lý hoặc tại từng văn bản ủy quyền cụ thể.

– Tư vấn quản lý, điều hành dự án đầu tư xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn; giám sát thi công xây dựng công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với các cơ quan, đơn vị làm chủ đầu tư nhưng không đủ điều kiện trực tiếp quản lý dự án, không đủ điều kiện năng lực giám sát thi công xây dựng theo quy định của pháp luật. Cụ thể của các UBND huyện thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các ngành không có chuyên ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn thông qua việc ký kết hợp đồng.

– Thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý dự án theo các nội dung quy định tại Điều 63 của Luật Xây dựng năm 2014 và các nhiệm vụ công việc khác có liên quan, bao gồm:

+ Nhiệm vụ lập kế hoạch dự án gồm: Lập và phê duyệt kế hoạch thực hiện dự án hàng năm (kế hoạch giải ngân, kế hoạch chi tiêu, kế hoạch dấu thầu…), trong đó xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả…

+ Các nhiệm vụ chuẩn bị dự án gồm : Nghiên cứu, khảo sát dự án đầu tư; trình thẩm định, phê duyệt dự án theo quy định; cân đối nguồn vốn cho dự án; lựa chọn nhà đầu tư (nếu có); thực hiện các thủ tục liên quan đế quy hoạch xây dựng, sử dụng đất đai, tài nguyên, hạ tầng kỹ thuật tại khu vực địa điểm xây dựng …

+ Các nhiệm vụ thực hiện dự án gồm: Thuê tư vấn thực hiện khảo sát, thiết kế xây dựng và trình thẩm định, phê duyệt hoặc tự tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán (theo phân cấp); chuẩn bị mặt bằng xây dựng; lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng; thi công xây dựng và giám sát quá trình thực hiện; giải ngân và thanh toán hợp đồng xây dựng và các công việc cần thiết khác.

+ Các nhiệm vụ kết thúc xây dựng, bàn giao công trình đưa vào sử dụng gồm: Nghiệm thu, bàn giao công trình hoàn thành; vận hành chạy thử; quyết toán hợp đồng xây dựng và quyết toán dự án hoàn thành; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng theo quy định của pháp luật.

+ Các nhiệm vụ quản lý tài chính, tài sản và giải ngân: Quản lý tài chính, tài sản của Ban Quản lý dự án và thực hiện các thủ tục tiếp nhận, giải ngân vốn đầu tư, quyết toán vốn đầu tư theo niên độ ngân sách; lập dự toán, thanh quyết toán chi phí quản lý dự án,… theo đúng quy định của pháp luật.

+ Các nhiệm vụ hành chính, điều phối và trách nhiệm giải trình: Tổ chức văn phòng và quản lý nhân sự Ban Quản lý dự án, thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, viên chức thuộc phạm vi quản lý ; thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, tập hợp, phân loại , lưu trữ toàn bộ thông tin, tư liệu gốc liên quan đến dự án; cung cấp thông tin chính xác, kịp thời về nội dung, tổ chức, tiến độ thực hiện và ngân sách dự án cho chính quyền địa phương, các cơ quan dân cử; các cơ quan bảo vệ pháp luật, thanh tra, kiểm toán, nhà tài trợ (nếu có), các cơ quan thông tin đại chúng và cá nhân liên quan trong phạm vi nhiệm vụ, trách nhiệm được giao.

+ Các nhiệm vụ theo dõi, đánh giá và báo cáo tình hình thực hiện: Hướng dẫn: kiểm tra, đánh giá về hoạt động của Ban Quản lý dự án; theo dõi, đánh giá và lập báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các dự an định kỳ và đột xuất theo quy định hiện hành; tổng hợp tình hình thực hiện và gửi đến cơ quan quyết định thành lập Ban Quản lý dự án, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, nhà tài trợ (nếu có) để theo dõi, giám sát và hỗ trợ quá trình thực hiện.

– Thực hiện các nhiệm vụ khác do UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh giao hoặc ủy quyền.

2.1.2. Nguyên tắc hoạt động

Dựa trên lý thuyết về các mô hình quản lý thực hiện dự án đầu tư được trình bày ở chương 1, kết hợp với chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể của BQL ở phần trên, có thể thấy rõ Ban hoạt động theo mô hình “Chủ đầu tư trực tiếp quản lý dự án và thực hiện tư vấn quản lý dự án”. Nghĩa là, Ban Quản lý trực tiếp quản lý đối với những dự án do người quyết định đầu tư giao và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định tại điều 68, 69 Luật xây dựng số 50/2014/QH13, còn đối với các dự án ký hợp đồng tư vấn quản lý dự án tùy theo từng chủ đầu tư chọn hình thức hợp đồng một số hoặc toàn bộ công việc quản lý dự án.

Cụ thể hơn, BQL là đơn vị quản lý điều hành thực hiện toàn bộ các công việc từ khâu chuẩn bị đầu tư đến khảo sát lập dự án, khảo sát thiết kế bản vẽ thi công – Tổng dự toán, mua sắm, lắp đặt thiết bị công trình, thi công xây dựng đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng trong phạm vi tổng mức đầu tư của dự án được phê duyệt gồm cả trường hợp tổng mức đầu tư được điều chỉnh theo quy định. Sau khi hoàn thành các công việc trên, sẽ giao cho các đơn vị quản lý vận hành, khai thác sử dụng theo quyết định của UBND tỉnh.

Dưới đây là mô hình quản lý dự án theo hình thức “Chủ đầu tư trực tiếp thực hiện quản lý dự án” cụ thể được áp dụng tại BQL:

10

Sơ đồ 2.1. Sơ đồ mô hình tổ chức chủ đầu tư trực tiếp Quản lý dự án tại Ban QL dự án ĐTXD các công trình NN&PTNT tỉnh Quảng Nam

(Nguồn: Bộ phận Kế toán của Ban Quản lý dự án)

Bên cạnh những dự án trực tiếp thực hiện quản lý dự án, BQL đã ký kết hợp đồng tư vấn quản lý dự án với các chủ đầu tư khác tổ chức nhiều cuộc đấu thầu để lựa chọn các nhà thầu có đủ năng lực, kinh nghiệm để trực tiếp thi công và hoàn thành các dự án.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và bộ máy kế toán

2.1.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Theo Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 11/01/2016 của UBND tỉnh Quảng Nam, cơ cấu tổ chức của BQL gồm có Ban giám đốc và các phòng chuyên môn, nghiệp vụ được nêu trong Sơ đồ 2.2.

Giám đốc BQLDA

Văn phòng

Các P. Giám

đốc

Phòng quản lý dự án

Phòng Kế hoạch kỹ thuật

BQL Tiểu dự án HĐH hệ thồng thủy lợi Phú Ninh

Sơ đồ 2.2. Sơ đồ Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

(Nguồn: Văn phòng của Ban Quản lý dự án)

a) Ban Giám đốc Ban quản lý gồm có Giám đốc và 03 Phó Giám đốc

– Giám đốc là người đứng đầu trong đơn vị, trực tiếp quản lý, điều hành mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được quy định tại Quy chế tổ chức và hoạt động của BQL tại Quyết định số 82/QĐ-UBND ngày 11/01/2016, đảm bảo thực hiện đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước UBND tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh toàn bộ hoạt động của Ban quản lý; Giám đốc lãnh đạo toàn bộ mọi hoạt động của Ban và trực tiếp phụ trách công tác tổ chức, kế hoạch và tài chánh.

– Phó Giám đốc là người giúp Giám đốc giải quyết các công việc do Giám đốc ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ cụ thể,

Theo dõi, giải quyết công việc cụ thể thuộc lĩnh vực phụ trách theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với chỉ đạo của Giám đốc. Đối với những công việc có liên quan đến lĩnh vực khác, Phó Giám đốc chủ động trao đổi với các Phó Giám đốc khác có liên quan để thống nhất giải quyết, trường hợp không thống nhất báo cáo Giám đốc quyết định. Đối với những công việc mới phát sinh, chưa có chủ trương hoặc vượt quá thẩm quyền thì xin ý kiến Giám đốc hoặc đưa ra cuộc họp lãnh đạo Ban Quản lý giải quyết;

Trường hợp Phó Giám đốc giải quyết sự việc không hợp lý, sai quy định về những lĩnh vực phân công phụ trách thì Giám đốc có quyền trực tiếp điều chỉnh, sửa đổi hoặc yêu cầu Phó Giám đốc điều chỉnh, sửa đổi;

Khi được Giám đốc ủy quyền chủ tài khoản, Phó Giám đốc làm chủ tài khoản chịu trách nhiệm quản lý kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất cơ quan theo quy định của pháp luật hiện hành;

Khi được Giám đốc ủy quyền quản lý điều hành, giải quyết công việc chung của cơ quan, Phó Giám đốc chịu trách nhiệm thực hiện và báo cáo Giám đốc kết quả trong thời gian được ủy quyền;

Các Phó Giám đốc khi tham gia các Ban, Hội đồng của tỉnh phải được Giám đốc phân công và được sự chấp thuận của cấp có thẩm quyền.

b) Các Phòng chuyên môn, nghiệp vụ có:

– Văn phòng : là phòng chuyên môn có chức năng tham mưu giúp cho lãnh đạo Ban Quản lý dự án về các lĩnh vực: Tổ chức bộ máy, quản lý lao động, quản lý tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, chế độ chính sách, công tác hành chính, công tác mua sắm tài sản, …

Thực hiện công tác tài chính kế toán, thống kê theo Luật Kế toán và các văn bản có liên quan đến công tác tài chính, lập và gửi đúng hạn các báo cáo tài chính theo quy định của Nhà nước, báo cáo định kỳ theo yêu cầu của Giám đốc Ban và cơ quan liên quan

+ Thực hiện công tác giải ngân vốn đầu tư, đôn đốc thu hồi tạm ứng, thanh, quyết toán vốn đầu tư theo qui định pháp luật hiện hành và các quy định của nhà tài trợ;

+ Tổ chức công tác kiêm kê tài sản theo định kỳ, chuẩn bị các thủ tục và tài liệu cần thiết cho việc xử lý các khoản mất mát, hao hụt, hư hỏng, đề xuất các biện pháp giải quyết và xử lý;

+ Trực tiếp làm việc với các phòng chuyên môn của Sở Tài chính, Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng, cơ quan thuế, cơ quan chủ quản và các cơ quan hữu quan để thực hiện công tác kế toán, tài chính theo quy định của pháp luật hiện hành;

+ Chủ trì thực hiện kịp thời, đầy đủ công tác thanh quyết toán cho các đối tác và thu hồi công nợ;

+ Tổ chức quản lý, lưu trữ các hồ sơ, tài liệu kế toán, bảo mật các số liệu không được phổ biến theo quy định hiện hành;

+ Chủ trì phối hợp với các phòng, ban chuyên môn liên quan soạn thảo, tham mưu lãnh đạo Ban ký kết các hợp đồng kinh tế với các đối tác liên quan;

+ Phối hợp với các phòng chuyên môn thực hiện công tác báo cáo định kỳ, đột xuất và tổ chức thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của cơ quan;

+ Lập báo cáo quyết toán các dự án do Ban làm chủ đầu tư và làm dịch vị tư vấn;

+ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Ban phân công.

– Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật : có chức năng, nhiệm vụ tham mưu giúp cho lãnh đạo Ban Quản lý dự án thực hiện nhiệm vụ chuyên môn về công tác Kế hoạch, Kỹ thuật từ khi xúc tiến đầu tư cho đến ký kết hợp đồng thi công xây lắp cụ thể

+ Thực hiện các công việc xúc tiến đầu tư; kế hoạch và Tổng hợp báo cáo các công việc thuộc các dự án do Ban quản lý làm chủ đầu tư (hoặc ký kết hợp đồng quản lý dự án); và các công việc khác do Ban quản lý thực hiện;

+ Phối hợp với các phòng chuyên môn của Sở, ban, ngành tham mưu cho Lãnh đạo Ban tìm các dự án/công trình cần xây dựng mới hoặc nâng cấp, sửa chữa trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, thuộc ngành Nông nghiệp và xây dựng kế hoạch trung hạn để Lãnh đạo Ban trình các cấp có thẩm quyền xem xét đưa vào kế hoạch trung hạn của tỉnh để ưu tiên lựa chọn các dự án đầu tư;

+ Thực hiện công tác lập Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư, đề cương nhiệm vụ khảo sát, nhiệm vụ lập dự án và thiết kế xây dựng công trình, phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng, công tác đánh giá tác động môi trường;

+ Thực hiện công tác đấu thầu và lựa chọn nhà thầu từ giai đoạn lập dự án cho đến khi kết thúc dự án gồm: Lập kế hoạch đấu thầu, tham gia hội đồng chọn thầu, tổ chức lựa chọn và thương thảo hợp đồng với các nhà thầu; Lập và quản lý hồ sơ mời thầu, dự thầu và xét thầu; Lập báo cáo xét thầu các gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hoá, xây lắp và các gói thầu khác có liên quan;

+ Thực hiện công tác giám sát khảo sát, quản lý lập dự án và thiết kế xây dựng công trình; nghiệm thu kết quả khảo sát, nghiệm thu công tác lập dự án, nghiệm thu kết quả thiết kế xây dựng công trình và các công việc khác có liên quan;

+ Tham mưu cho Lãnh đạo Ban trình các cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt: Thông báo thỏa thuận địa điểm; Báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư và thẩm định nguồn vốn cho dự án; Kế hoạch đấu thầu Tổng thể; Báo cáo nghiên cứu khả thi (Dự án); Báo cáo kinh tế kỹ thuật; Thiết kế BVTC và TDT; kế hoạch thu hồi đất cho các dự án theo từng năm (Nếu có); Phê duyệt phương án và dự toán hạng mục rà phá bom mìn; Và các công việc khác theo quy định hiện hành của nhà nước và nhà tài trợ;

+ Thẩm định và tham mưu cho Lãnh đạo Ban phê duyệt các hạng mục công việc đối với các dự án do Ban làm chủ đầu tư: Kế hoạch đấu thầu các công việc của dự án trước khi có quyết định phê duyệt dự án; nhiệm vụ và dự toán khảo sát lập dự án, khảo sát lập thiết kế BVTC; Hồ sơ mời thầu tư vấn, xây lắp; kết quả đấu thầu tư vấn, xây lắp; dự toán gói thầu và các công việc khác theo quy định hiện hành của nhà nước và nhà tài trợ;

+ Đối với các dự án Ban Quản lý dự án ký kết hợp đồng để quản lý dự án thì tham mưu cho Lãnh đạo Ban trình Chủ đầu tư phê duyệt: Nhiệm vụ, dự toán khảo sát lập dự án, TKBVTC, lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; Kế hoạch đấu thầu trước khi phê duyệt dự án; các công việc lựa chọn nhà thầu từ lựa chọn nhà thầu Khảo sát lập dự án đến ký kết hợp đồng thi công xây lắp. Và các công việc khác theo quy định hiện hành của nhà nước và nhà tài trợ;

+ Lưu trữ, bảo quản các văn bản hồ sơ, tài liệu liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

+ Phối hợp với các phòng trực thuộc Ban làm việc với các cơ quan: Thanh tra, kiểm toán và quyết toán các công việc, nhiệm vụ do phòng thực hiện;

+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc Ban giao.

– Phòng Quản lý dự án:

Có chức năng, nhiệm vụ quản lý tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Ban quan lý làm chủ đầu tư (hoặc hợp đồng quản lý dự án của các chủ đầu tư khác) từ giai đoạn thi công cho đến khi Quyết toán hoàn thành công trình; làm việc với các cơ quan: Thanh tra, kiểm toán và quyết toán công trình do Ban quản lý thực hiện cụ thể:

+ Thực hiện công tác giám sát thi công xây dựng công trình/gói thầu từ khi triển khai thi công cho đến khi kết thúc dự án của Ban làm chủ đầu tư (hoặc hợp đồng quản lý dự án của các chủ đầu tư khác) theo luật xây dựng và các văn bản dưới luật; Theo dõi, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của các kỹ sư tư vấn giám sát đối với các công trình xây dựng do Ban quản lý thuê các tổ chức cá nhân tư vấn giám sát thực hiện;

+ Phối hợp với các phòng và các địa phương thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, tái định cư và công tác khai thác khoán sản phục vụ dự án; tiếp nhận, quản lý các mốc giới, rà phá bom mìn, vật nổ và chuẩn bị mặt bằng xây dựng của toàn bộ dự án;

+ Thực hiện công tác điều chỉnh bổ sung dự án/thiết kế BVTC trong quá trình thi công xây dựng công trình (nếu có); Tham mưu cho lãnh đạo Ban trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt điều chỉnh, bổ sung các nội dung trên;

+ Lưu trữ, bảo quản các văn bản hồ sơ, tài liệu liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

+ Tham gia làm việc với các cơ quan: Thanh tra, kiểm toán và quyết toán các công việc, nhiệm vụ do phòng thực hiện;

+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Giám đốc Ban giao.

– Ban Quản lý tiểu dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Phú Ninh: Có chức năng, nhiệm vụ tham mưu lãnh đạo Ban Quản lý tổ chức thực hiện dự án thành phần Cải thiện nông nghiệp có tưới tỉnh Quảng Nam (WB7) cụ thể như sau:

– Lập kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hằng năm thực hiện chương trình, dự án;

– Chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trình, dự án;

– Thực hiện các hoạt động đấu thầu, tuyển chọn tư vấn, quản lý hợp đồng và giám sát thi công; thực hiện công tác theo dõi và đánh giá tình hình thực hiện chương trình, dự án;

– Chuẩn bị để chủ dự án, chủ đầu tư nghiệm thu và bàn giao các kết quả đầu ra của chương trình, dự án sau khi hoàn thành; hoàn tất công tác kiểm toán, bàn giao tài sản của chương trình, dự án; lập báo cáo kết thúc và báo cáo quyết toán chương trình, dự án; thực hiện các nhiệm vụ khác trong khuôn khổ chương trình, dự án do chủ đầu tư giao.

2.1.3.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán

Bộ phận kế toán tại BQL biên chế gồm có 4 người, 01 Kế toán trưởng, 01 kế toán tổng hợp kiêm kế toán thanh toán vốn đầu tư XDCB, 01 kế toán thanh toán vốn đầu tư XDCB kiêm kế toán chi phí Ban quản lý dự án, đền bù giải phóng mặt bằng, 01 kế toán thanh toán quản lý dự án thành phần Cải thiện nông nghiệp có tưới (WB7), Ban Quản lý sử dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ, trình tự ghi sổ kế toán theo mô hình chương trình kế toán máy hình thức ghi sổ kế toán, dùng hình thức Chứng từ ghi số, để quản lý thực hiện dự án cụ thể theo hình dưới đây:

Chánh Văn phòng – Kế toán trưởng

Kế toán toán thanh toán dự án thành phần Cải thiện nông nghiệp có tưới (WB7)

Kế toán thanh toán kiêm kế toán chi phí Ban quản lý, đền bù GPMB

Kế toán vốn đầu tư XDCB – Kế toán tổng hợp

Hình

Sơ đồ 2.3. Sơ đồ Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán

(Nguồn: Văn phòng của Ban Quản lý dự án)

2.1.4. Tổ chức quản lý thực hiện dự án tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

2.1.4.1. Đặc điểm các dự án:

– BQL thực hiện quản lý các dự án đầu tư XDCB trên địa bàn tỉnh được UBND tỉnh giao bao gồm các dự án: Thủy lợi, đê điều, chỉnh trị sông biển, thủy sản, lâm nghiệp, diêm nghiệp, định canh định cư, nước sạch nông thôn và các dự án nông nghiệp và phát triển nông thôn khác, bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn Trái phiếu Chính phủ, vốn ODA do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ủy Ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam giao.

– Quy trình nhận vốn

+ Đối với các dự án quy hoạch : Có đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch và dự toán chi phí công tác quy hoạch được duyệt theo thẩm quyền.

+ Đối với các dự án chuẩn bị đầu tư: Phải phù hợp với quy hoạch phát triển ngành và lãnh thổ được duyệt; có dự toán chi phí công tác chuẩn bị đầu tư được duyệt theo thẩm quyền.

+ Đối với các dự án thực hiện đầu tư: Phải có quyết định đầu tư trước thời điểm 31 tháng 10 năm trước năm kế hoạch hoặc trong năm kế hoạch.

– Công tác lập kế hoạch vốn: Theo quy định của Luật NSNN về việc lập dự án NSNN hàng năm và Luật Đầu tư công, căn cứ vào tiến độ và mục tiêu thực hiện dự án, Ban Quản lý lập kế hoạch vốn năm gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư đối với các dự án do UBND tỉnh quyết định đầu tư, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với các dự án do Bộ quản lý.

2.1.4.2. Quy trình thủ tục thanh toán vốn cho các công trình:

a) Mở tài khoản:

Chủ đầu tư (Ban Quản lý dự án) được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước nơi thuận tiện cho giao dịch của chủ đầu tư và phù hợp cho việc kiểm soát thanh toán của Kho bạc Nhà nước.

Việc mở tài khoản thực hiện theo quy định của Bộ Tài chính về chế độ mở và sử dụng tài khoản tại Kho bạc Nhà nước.

Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn chủ đầu tư mở tài khoản để được thanh toán vốn.

b) Tài liệu cơ sở của dự án:

– Đối với dự án quy hoạch:

+ Văn bản của cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương quy hoạch;

+ Đề cương hoặc nhiệm vụ dự án quy hoạch được duyệt theo thẩm quyền;

+ Dự toán chi phí cho công tác quy hoạch được duyệt;

+ Văn bản lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu;

+ Hợp đồng giữa chủ đầu tư với nhà thầu.

– Đối với dự án chuẩn bị đầu tư:

+ Văn bản của cấp có thẩm quyền phê duyệt chủ trương đầu tư dự án;

+ Quyết định phê duyệt dự toán chuẩn bị đầu tư của cấp có thẩm quyền kèm theo dự toán chi phí cho công tác chuẩn bị đầu tư;

+ Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu;

+ Hợp đồng giữa chủ đầu tư với nhà thầu.

– Đối với dự án thực hiện đầu tư:

+ Quyết định đầu tư của cấp có thẩm quyền, các quyết định Điều chỉnh dự án (nếu có) kèm theo dự án đầu tư xây dựng công trình (hoặc báo cáo kinh tế – kỹ thuật đối với dự án chỉ lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật);

+ Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu theo quy định của Luật Đấu thầu; (Riêng đối với trường hợp tự thực hiện: văn bản của cấp có thẩm quyền cho phép tự thực hiện dự án)

+ Hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu hoặc nhà cung cấp và các tài liệu kèm theo hợp đồng như: phụ lục hợp đồng, điều kiện riêng, điều kiện chung liên quan đến việc tạm ứng, thanh toán hợp đồng, hợp đồng bổ sung, điều chỉnh (nếu có); Riêng đối với trường hợp tự thực hiện: văn bản giao việc hoặc hợp đồng giao khoán nội bộ;

+ Dự toán và quyết định phê duyệt dự toán của cấp có thẩm quyền đối với từng công việc, hạng mục công trình, công trình đối với trường hợp chỉ định thầu hoặc tự thực hiện và các công việc thực hiện không thông qua hợp đồng (trừ dự án chỉ lập báo cáo kinh tế – kỹ thuật); Dự toán và quyết định phê duyệt dự toán gói thầu của cấp có thẩm quyền đối với trường hợp thanh toán hợp đồng theo đơn giá. Riêng công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư phải kèm theo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

c) Hồ sơ thanh toán:

Ngoài tài liệu cơ sở nêu trên, khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu theo giai đoạn thanh toán và điều kiện thanh toán trong hợp đồng, chủ đầu tư lập hồ sơ đề nghị thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước, bao gồm:

– Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu và đại diện bên nhận thầu (phụ lục số 03.a theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính).

– Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh (nếu có) ngoài phạm vi hợp đồng đề nghị thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu và đại diện bên nhận thầu (phụ lục số 04 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC, ngày 18/01/2016 của Bộ Tài chính)

– Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư – phụ lục số 05 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC.

– Chứng từ chuyển tiền ban hành theo quy định hệ thống chứng từ kế toán của Bộ Tài chính.”

2.2. Thực trạng công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

2.2.1. Thực trạng kế toán nguồn vốn đầu tư XDCB

Đầu tư XDCB là hoạt động đòi hỏi có lượng vốn lớn, có tính chất lâu dài, vì vậy, quản lý và cấp phát vốn đầu tư XDCB phải thiết lập các biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, tránh thất thoát, tồn đọng, để đảm bảo cho quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện đúng kế hoạch và tiến độ đã được xác định. Kế toán phải theo dõi chi tiết việc sử dụng nguồn vốn đầu tư theo từng dự án, công trình, hạng mục công trình từ khi chuẩn bị đầu tư cho đền khi dự án hoàn thành đưa vào khai thác, sử dụng, đơn vị phải lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư. Nếu dự án được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn khác nhau, trong báo cáo quyết toán cần phải nêu rõ từng nguồn vốn. Khi báo cáo quyết toán vốn đầu tư được cấp thẩm quyền phê duyệt, kế toán tiến hành ghi giảm nguồn vốn đầu tư.

Việc vận dụng hệ thống tài khoản tại Ban Quản lý thể hiện qua số liệu thu thập tài liệu liên quan đến quản lý, thanh toán vốn đầu tư XDCB năm 2017 tại BQL , tác giả chọn và sử dụng toàn bộ dữ liệu cụ thể của dự án Mở rộng khu neo đậu tàu thuyền, kết hợp xây dựng cảng cá Hồng Triều để mô tả thực trạng tổ chức kế toán, sổ sách và báo cáo kế toán tại Ban quản lý dự án.

2.2.1.1. Chứng từ và quy trình thủ tục kế toán nguồn vốn đầu tư XDCB

a) Chứng từ:

Chứng từ mệnh lệnh: Các quyết định, văn bản thống nhất chủ trương đầu tư, phê duyệt dự án, Quyết định phân bổ kế hoạch vốn năm, kế hoạch đấu thầu, Thiết kế bản vẽ thi công – Tổng dự toán … của các cấp thẩm quyền có liên quan đến dự án, công trình, hạng mục công trình.

Chứng từ ghi số: Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư, Giấy rút vốn đầu tư… để ghi vào tài khoản nguồn vốn đầu tư XDCB.

b) Quy trình kế toán nguồn vốn đầu tư XDCB

Sau khi có chủ trương đầu tư của Hội đồng nhân dân, UBND tỉnh liên quan đến dự án, công trình, hạng mục công trình, Giám đốc Ban quản lý chuyển Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật xử lý.

Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật trình Giám đốc Ban xem xét quyết định lựa chọn đơn vị tư vấn.

Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật làm việc với đơn vị tư vấn kiểm tra, khảo sát địa hình, địa chất và lập tổng mức đầu tư, Tổng dự toán. Nếu Giám đốc Ban đồng ý, Phòng Kế hoạch – Kỹ thuật thực hiện lập tờ trình kèm theo danh mục các dự án, công trình đề nghị UBND tỉnh phê duyệt bố trí kế hoạch vốn năm.

Sau khi các cơ quan chuyên môn kiểm tra, xem xét toàn bộ hồ sơ pháp lý có liên quan trình, UBND tỉnh ra quyết định giao chỉ tiêu kế hoạch vốn năm cho Ban. Đồng thời chuyển quyết định giao chỉ tiêu ngân sách cho Sở Tài chính nhập TABMIS vào tài khoản của Ban.

Sau khi có quyết định giao kế hoạch vốn của UBND tỉnh Giám đốc Ban chuyển cho bộ phận kế toán. Kế toán được phân công theo dõi quản lý dự án căn cứ vào hồ sơ có liên quan đến dự án, công trình, hạng mục công trình lập các thủ tục tạm ứng hợp đồng, thanh toán khối lượng cho các đơn vị có liên quan và hạch toán.

c) Những bất cập trong công tác lập kế hoạch vốn và hạch toán kế toán nguồn vốn đầu tư XDCB

– Số liệu trong tổng mức đầu tư của đơn vị tư vấn lập đã được các đơn vị tư vấn thẩm tra, cơ quan chuyên môn thẩm định, tuy nhiên những số đó chưa phải là số cuối cùng. Vì trong quá trình triển khai thực hiện phải thay đổi quy mô, thiết kế, khối lượng phát sinh… dẫn đến việc hạch toán chỉnh sửa số liệu thường xuyên, gây khó khăn trong công tác hạch toán kế toán của Ban.

– Công tác phê duyệt Thiết kế bản vẽ thi công – Tổng dự toán các công trình thường kéo dài hơn thời gian quy định do phụ thuộc vào các cơ quan chuyên ngành nên việc theo dõi thanh toán kế hoạch vốn được bố trí cho các dự án, công trình cũng chậm theo dễ phát sinh những sai sót, chẳng hạn có những công trình thừa vốn, có những công trình thiếu vốn so với thực hiện.

– Trường hợp khi xác định dự toán công trình sai lệch dẫn đến việc bố trí vốn cho mỗi công trình không được chính xác dẫn đến phải điều chỉnh dự toán, điều chỉnh kế hoạch vốn nhiều lần.

2.2.1.2. Sổ sách sử dụng và báo cáo

Hiện nay BQL đang sử dụng hệ thống sổ cái tài khoản 4411 và báo cáo tổng hợp số dư tài khoản 441.

Sổ cái tài khoản 441: Nguồn vốn đầu tư Được nêu tại phụ lục 2.1

2.2.2. Thực trạng kế toán chi phí đầu tư XDCB

Chi phí đầu tư xây dựng cơ bản ở Ban quản lý dự án chủ yếu là chi phí do các nhà thầu thuê ngoài thực hiện. Ngoài ra còn có các chi phí do BQLDA thực hiện và các chi phí thẩm định phê duyệt của các đơn vị quản lý nhà nước thực hiện. Trong đó chi phí do các nhà thầu thuê ngoài thực hiện được xác định theo hợp đồng và biên bản nghiệm thu khối lượng công việc hoàn thành nhưng không được vượt kết quả trúng thầu của gói thầu, tổng dự toán và tổng mức đầu tư của dự án. Chi phí do BQLDA và chi phí do các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện được xác định dựa trên định mức chi phí do Bộ xây dựng quy định và tổng dự toán dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt.

2.2.2.1. Công tác kế toán tạm ứng và thu hồi tạm ứng

a) Đặc điểm chung

Tạm ứng hợp đồng xây dựng là khoản kinh phí mà bên giao thầu (Ban Quản lý) dùng tiền ngân sách Nhà nước ứng trước không lãi suất cho bên nhận thầu để thực hiện các công tác chuẩn bị cần thiết trước khi triển khai thực hiện các công việc theo nội dung hợp đồng đã được ký kết.

Theo quy định tại Nghị định số 37/2015/NĐ-CP việc tạm ứng hợp đồng chỉ được thực hiện sau khi hợp đồng xây dựng có hiệu lực, riêng đối với hợp đồng thi công xây dựng thì phải có cả kế hoạch giải phóng mặt bằng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng, đồng thời bên giao thầu đã nhận được bảo lãnh tiền tạm ứng (nếu có) tương ứng với giá trị của từng loại tiền mà các bên đã thỏa thuận. Mức tạm ứng, thời điểm tạm ứng và việc thu hồi tạm ứng phải được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng. Mức tạm ứng và số lần tạm ứng hợp đồng xây dựng phải được ghi cụ thể trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu hoặc trong dự thảo hợp đồng xây dựng.

Mức tạm ứng hợp đồng không được vượt quá 50% giá trị hợp đồng tại thời điểm ký kết (bao gồm cả dự phòng nếu có). Trường hợp đặc biệt cần tạm ứng với mức cao hơn phải được người quyết định đầu tư cho phép hoặc Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân cấp tỉnh; mức tạm ứng tối thiểu được quy định như sau:

– Đối với hợp đồng tư vấn:

+ Tối thiểu 15% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 10 tỷ đồng.

+ Tối thiểu 20% giá hợp đồng đối với các hợp đồng có giá trị đến 10 tỷ đồng.

– Đối với hợp đồng thi công xây dựng công trình:

+ Tối thiểu 10% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị trên 50 tỷ đồng.

+ Tối thiểu 15% giá hợp đồng đối với hợp đồng có giá trị từ 10 tỷ đồng đến 50 tỷ đồng.

+ Tối thiểu 20% giá hợp đồng đối với các hợp đồng có giá trị dưới 10 tỷ đồng.

– Đối với hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ, hợp đồng EC, EP, PC và EPC, hợp đồng chìa khóa trao tay và các loại hợp đồng xây dựng khác: Tối thiểu 10% giá hợp đồng.

Tiền tạm ứng được thu hồi dần qua các lần thanh toán, mức thu hồi của từng lần do hai bên thống nhất ghi trong hợp đồng nhưng phải bảo đảm tiền tạm ứng được thu hồi hết khi giá trị thanh toán đạt 80% giá hợp đồng đã ký kết.

Riêng tạm ứng đền bù, giải phóng mặt bằng và tạm ứng chi phí ban quản lý dự án, căn cứ vào phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt và dự toán thu chi chi phí quản lý dự án trong năm kế hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt mà tạm ứng phù hợp theo từng giai đoạn nhưng không vượt phương án và dự toán đã được duyệt.

b) Chứng từ và quy trình thủ tục kế toán tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu từ xây dựng.

* Chứng từ:

Chứng từ mệnh lệnh là các Quyết định, văn bản đồng ý chủ trương đầu tư, phê duyệt dự toán, công nhận đơn vị thi công và cho phép khởi công công trình, Quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu, Quyết định chỉ định thầu… của cấp có thẩm quyền liên quan đến công trình, hạng mục công trình; Hợp đồng; Văn bản xin tạm ứng của nhà thầu.

Chứng từ ghi sổ : Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư, Giấy rút vốn đầu tư…. để ghi vào tài khoản tạm ứng.

* Quy trình kế toán tạm ứng vốn và thu hồi tạm ứng

Sau khi tổ chức đấu thầu, có kết quả, BQL có văn bản trình chủ đầu tư phê duyệt kết quả đấu thầu. Trên cơ sở tính pháp lý của báo cáo đánh giá hồ sơ dự thầu và các văn bản pháp lý có liên quan, Chủ đầu tư phê duyệt kết quả đấu thầu và chuyển Quyết định về BQL để tiến hành soạn thảo, ký kết hợp đồng với nhà thầu. Sau đó, theo các điều khoản ghi trong hợp đồng, nhà thầu có văn bản đề nghị tạm ứng kinh phí theo hợp đồng.

Sau khi nhận được giấy đề nghị tạm ứng kinh phí theo hợp đồng của nhà thầu, Giám đốc phê duyệt và chuyển bộ phận kế toán xử lý.

* Tạm ứng hợp đổng cho các đơn vị nhà thầu:

– Chứng từ: Ngoài tài liệu cơ sở của dự án đã nêu, sau khi hợp đồng đã được ký kết, kế toán căn cứ vào giá hợp đồng tiến hành thực hiện lập cam kết chi (theo mẫu số C2-12/NS được qui định tại thông tư 39/2016/TT-BTC, ngày 01/3/2016 của Bộ Tài Chính) của từng hợp đồng có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên trình cơ quan kiểm soát chi là Kho Bạc Nhà nước phê duyệt, sau đó mới tiến hành lập các chứng từ tạm ứng, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản; chứng từ tạm ứng gồm có: Hợp đồng giữa chủ đầu tư và nhà thầu hoặc nhà cung cấp, trong đó có điều khoản tạm ứng hợp đồng; bảo lãnh tạm ứng hợp đồng (nếu có); giấy đề nghị tạm ứng của nhà thầu; Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư – phụ lục số 05 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC; Chứng từ chuyển tiền ban hành theo quy định hệ thống chứng từ kế toán của Bộ Tài chính.

* Tạm ứng chi phí đền bù giải phóng mặt bằng:

– Hồ sơ chứng từ gồm: Phương án đền bù, giải phóng mặt bằng được phê duyệt (Phương án đền bù thuộc địa bàn huyện nào, thì UBND huyện đó phê duyệt. Riêng phương án đền bù liên huyện thì UBND tỉnh phê duyệt); Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư – phụ lục số 05 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC; Chứng từ chuyển tiền ban hành theo quy định hệ thống chứng từ kế toán của Bộ Tài chính.

* Tạm ứng chi phí Ban quản lý dự án:

– Hồ sơ chứng từ gồm: Dự toán thu, chi quản lý dự án năm …. Được Sở Tài chính phê duyệt; Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư – phụ lục số 05 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC; Chứng từ chuyển tiền ban hành theo quy định hệ thống chứng từ kế toán của Bộ Tài chính.

* Thanh toán khối lượng hoàn thành cho các nhà thầu:

Nhà thầu có khối lượng thực hiện hoàn thành theo hợp đồng được BQL nghiệm thu trên cơ sở đó kế toán tính toán đề xuất số tiến cần thu hồi tạm ứng và thanh toán theo hợp đồng trình Giám đốc BQL xem xét quyết định.

Hồ sơ chứng từ gồm: Hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành được nghiệm thu giữa A, B; Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán; Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư; Giấy rút vốn đầu tư, Hóa đơn GTGT.

441 3311 3312 2411

Tạm ứng HĐ Thanh toán giảm Nghiệm thu

trừ tạm ứng HĐ khối lượng HĐ

111,112

Tạm ứng đề bù Chi trả đền Thanh toán giảm trừ

bù Tạm ứng đền bù Phân bổ chi phí

đền bù vào giá trị công trình

642

Tạm ứng chi Phân bổ chi phí ban

phí ban Thanh toán chi phí ban QLDA vào giá trị công

trình

Sơ đồ 2.4. Sơ đồ quy trình hạch toán kế toán tạm ứng và

thu hồi tạm ứng vốn đầu từ xây dựng:

c) Sổ sách sử dụng và báo cáo

Hiện nay, Ban đang sử dụng, Chứng từ ghi sổ, sổ cái các tài khoản 3311,3312 và báo cáo tổng hợp số dư từng tài khoản 3311,3312.

Báo cáo Tổng hợp số dư tài khoản 3311.

Nhìn chung, đối với việc tổ chức kế toán trong khâu tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư về cơ bản đáp ứng được yêu cầu báo cáo của lãnh đạo BQL. Tuy nhiên, về lâu dài để công tác kế toán tạm ứng và thu hồi tạm ứng phục vụ tốt cho công tác báo cáo thường xuyên và đột xuất thì cần xây dựng phần mền kế toán thật chi tiết về việc theo dõi các đối tượng tạm ứng đồng thời cần mã hóa các đối tượng tạm ứng để dễ dàng hơn trong việc quản lý các đối tượng phát sinh khác của các công trình lớn về sau.

Sổ cái Tài khoản 3311 : Trả trước cho nhà cung cấp được nêu tại phụ lục 2.2

2.2.2.2. Công tác kế toán thanh toán khối lượng hoàn thành:

a) Kế toán thanh toán khối lượng xây dựng công trình hoàn thành

* Đặc điểm chung: Khối lượng xây dựng công trình hoàn thành theo hình thức đấu thầu, chỉ định thầu hay hình thức tự thực hiện dự án được thanh toán là giá trị khối lượng thực hiện được nghiệm thu theo hợp đồng đã ký kết; đồng thời phải đảm bảo yêu cầu của thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật cho công trình và quy định của pháp luật liên quan có đủ điều kiện sau:

– Khối lượng nghiệm thu phải đúng thiết kế bản vẽ thi công được duyệt.

– Có dự toán được duyệt theo đúng quy định hiện hành về định mức, đơn giá của Nhà nước.

– Đối với khối lượng xây dựng công trình hoàn thành theo hình thực đấu thầu hoặc theo hợp đồng EPC được thanh toán là khối lượng thực hiện đã được nghiệm thu theo tiến độ, có trong hợp đồng đã ký. Căn cứ thời gian thực hiện hợp đồng, tính chất hợp đồng, việc thanh toán thực hiện theo các phương thức sau:

+ Thanh toán theo hợp đồng trọn gói: BQL thanh toán cho nhà thầu theo giá khoán gọn trong hợp đồng khi nhà thầu hoàn thành các nghĩ vụ theo đúng trong hợp đồng.

+ Thanh toán theo đơn giá cố định : BQL thanh toán cho nhà thầu các công việc hoàn thành được nghiệm thu theo đơn giá đã được xác định trước trong hợp đồng.

+ Thanh toán theo đơn gía điều chỉnh: áp dụng cho các gói thầu mà tại thời điểm ký hợp đồng không đủ điều kiện xác định chính xác về số lượng và khối lượng hoặc có biến động lớn về giá cả do Nhà nước thay đổi và hợp đồng có thời gian thực hiện trên 365 ngày.

Trường hợp khối lượng phát sinh tăng hoặc giảm so với khối lượng trong hợp đồng nhưng trong phạm vi của hồ sơ mời thầu và không do lỗi của nhà thầu thì khối lượng phát sinh tăng giảm phải phù hợp với các điều kiện cụ thể quy định trong hợp đồng, có văn bản phê duyệt, được tính theo đơn giá của hợp đồng. Giá trị hợp đồng sau khi điều chỉnh không được vượt dự toán, tổng dự toán hoặc giá gói thầu được duyệt, trừ trường hợp được người có thẩm quyền cho phép.

Những khối lượng phát sinh vượt hoặc ngoài hợp đồng phải có văn bản phê duyệt của cấp có thẩm quyền về khối lượng và đơn giá.

Trên cơ sở khối lượng đã nghiệm thu, chủ đầu tư và nhà thầu xác định tiến độ thực hiện theo hợp đồng để đề nghị thanh toán.

* Chứng từ và quy trình kế toán thanh toán khối lượng xây dựng công trình hoàn thành:

– Chứng từ: Khi có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu theo giai đoạn thanh toán và Điều kiện thanh toán trong hợp đồng, chủ đầu tư (Ban Quản lý ) lập hồ sơ đề nghị thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước, bao gồm:

+ Bảng xác định giá trị khối lượng công việc hoàn thành theo hợp đồng đề nghị thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu và đại diện bên nhận thầu (phụ lục số 03a theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC).

+ Khi có khối lượng phát sinh ngoài hợp đồng, chủ đầu tư gửi Bảng xác định giá trị khối lượng phát sinh ngoài phạm vi hợp đồng đề nghị thanh toán có xác nhận của đại diện bên giao thầu và đại diện bên nhận thầu (phụ lục số 04 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC).

+ Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư – phụ lục số 05 theo Thông tư số 08/2016/TT-BTC.

+ Chứng từ chuyển tiền ban hành theo quy định hệ thống chứng từ kế toán của Bộ Tài chính.

– Quy trình kế toán thanh toán khối lượng xây dựng công trình hoàn thành:

+ Khi có khối lượng nghiệm thu hoàn thành, nhà thầu sẽ hoàn chỉnh hồ sơ thanh toán trình cán bộ kỹ thuật phòng Quản lý dự án kiểm tra khối lượng hoàn thành đúng theo thực tế nghiệm thu và đầy đủ hồ sơ pháp lý theo yêu cầu sẽ trình Giám đốc BQL quyết định, nếu không có ý kiến chỉnh sửa Giám đốc chuyển Phòng Quản lý dự án phối hợp với bộ phận kế toán tham mưu mức thanh toán và mức thu hồi tạm ứng theo hợp đồng.

+ Giám đốc BQL phê duyệt mức thanh toán và thu hồi tạm ứng và chuyển bộ phận kế toán lập các thủ tục có liên quan để thanh toán cho nhà thầu.

+ Kế toán thanh toán tập hợp chứng từ có liên quan, làm thủ tục thanh toán và thu hồi tạm ứng gồm Giấy đề nghị thanh toán vốn đầu tư; Giấy rút vốn đầu tư; Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng; xử lý những vấn đề phát sinh liên quan đến nộp hộ thuế cho nhà thầu. Khi đó kế toán thanh toán chuyển hồ sơ đến Kho bạc Nhà nước Quảng Nam để thanh toán cho nhà thầu.

+ Sau khi Kho bạc Nhà nước chuyển thanh toán cho nhà thầu sẽ hoàn trả chứng tư cho BQL. Kế toán thanh toán lưu trữ chứng từ và hạch toán giá trị thanh toán khối lượng đồng thời ghi giảm số tạm ứng trước của nhà thầu (nếu có). Đồng thời, kế toán thanh toán thông báo với nhà thầu về số tiền thanh toán và thu hồi tạn ứng, nhà thầu cung cấp hóa đơn GTGT cho kế toán thanh toán để kế toán tập hợp hồ sơ chứng từ hạch toán kế toán và lưu trữ.

+ Ưu điểm: Có sự phối hợp chặt chẽ trong công việc giữa các phòng với nhau, phân chia công việc rõ ràng theo nghiệp vụ, chuyên môn.

+ Tồn tại : Việc tính toán khối lượng thanh toán cho tứng đợt thanh toán là tương đối, nên số liệu đôi lúc còn chưa được chính xác. Bộ phận kế toán thanh toán chỉ làm nhiệm vụ thanh toán, không tham gia vào việc xác định khối lượng, đơn giá từ ban đầu cho đến lúc thanh toán khối lượng hoàn thành nên khó có thể đánh giá được mức độ chính xác của việc kiểm tra khối lượng hoàn thành. Việc kiểm tra khối lượng, đơn gía, thành tiền phụ thuộc vào cán bộ kỹ thuật. Khó có thể kiểm tra sai sót hay gian lận trong việc thanh toán,vì mọi đầu mối phụ thuộc vào rất nhiều ở bộ phận kỹ thuật

441 3311 3312 2411

Thanh toán giảm trừ Nghiệm thu khối

Tạm ứng HĐ(nếu có) lượng hợp HĐ

Thanh toán giá trị KLHT nghiệm thu còn lại sau khi giảm trừ T/U

Sơ đồ 2.5. Sơ đồ Quy trình kế toán thanh toán khối lượng

xây dựng công trình hoàn thành:

* Sổ sách sử dụng và báo cáo

Ban quản lý dự án đang sử dụng, Chứng từ ghi sổ, sổ cái các tài khoản 3311, 3312, sổ cái tài khoản 2411, 441.

Sổ cái tài khoản 2411- Chi phí đầu tư xây dựng dỡ dang được nêu trong phụ lục 2.3

b) Kế toán thanh toán khối lượng công tác tư vấn hoàn thành

* Đặc điểm chung: Khối lượng công tác tư vấn hoàn thành theo hình thức đấu thầu, chỉ định thầu được thanh toán là giá trị khối lượng thực hiện được nghiệm thu theo hợp đồng đã ký kết và kế hoạch vốn đầu tư năm được giao. Công tác tư vấn ở đây được hiểu gồm những công việc như: Giám sát thi công công trình, thiết kế bản vẽ thi công – Tổng dự toán, Lập dự án đầu tư và một số công việc khác có liên quan đến công tác quản lý dự án.

* Chứng từ, quy trình kế toán và sổ sách sử dụng báo cáo thanh toán khối lượng tư vấn hoàn thành: tương tự đối với kế toán thanh toán khối lượng xây dựng công trình hoàn thành.

2.2.3. Kế toán chi phí ban quản lý dự án

* Đặc điểm chung: Chi phí ban quản lý dự án là toàn bộ chi phí cho hoạt động của BQL, được trang trải bằng nguồn thu từ hoạt động quản lý dự án đầu tư gồm chi phí quản lý dự án, tư vấn giám sát kỹ thuật, lập hồ sơ mời thầu, đánh giá hồ sơ dự thầu do Ban quản lý dự án thực hiện. Chi phí ban quản lý dự án gồm: chi tiền lương, tiền công, thu nhập tăng thêm, tiền thưởng, chi phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (nếu có), kinh phí công đoàn, trích nộp khác đối với các cá nhân được hưởng lương từ dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền, chi thanh toán dịch vụ, chi mua vật tư văn phòng, chi thanh toán thông tin, tuyên truyền, liên lạc, chi phí hội nghị, chi thanh toán công tác phí, chi phí thuê mướn, chi đoàn ra, chi đoàn vào, chi sửa chữa tài sản, chi phí mua sắm tài sản dùng cho quản lý dự án, chi phí khác. Chi phí hoạt động của BQL phát sinh trong kỳ được được tập hợp chung sẽ phân bổ cho từng dự án thực hiện vào cuối kỳ..

* Chứng từ và quy trình thành toán chi phí quản lý dự án:

Để theo dõi chi phí ban quản lý dự án kế toán sử dụng các mẫu chứng từ quy định tại thông tư 195/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính và các loại chứng từ được quy định tại các văn bản pháp luật khác có liên quan như:

– Chứng từ lao động tiền lương như bảng chấm công, bảng thanh toán tiền lương, thu nhập tăng thêm, tiền thưởng, phụ cấp, bảng kê trích nộp các khoản theo lương.

– Chứng từ tiền tệ: Phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tạm ứng, biên bản kiểm kê quỹ, giấy đề nghị thanh toán.

– Biên bản giao nhận TSCĐ, biên bản thanh lý TSCĐ, bảng tính hao mòn TSCĐ…

– Hóa đơn bán hàng, hóa đơn GTGT, hóa đơn bán lẻ, giấy chứng nhận nghỉ ốm hưởng BHXH, danh sách người hưởng trợ cấp ốm đau, thai sản…

Kết thúc niên độ kế toán, kế toán tiến hành tập hợp chi phí ban quản lý dự án để phân bổ cho từng dự án cụ thể. Kế toán phân bổ chi phí ban quản lý dự án theo nguyên tắc:

– Đối với các khoản chi phí trực tiếp cho dự án nào thì phân bổ cho dự án đó.

– Đối với các chi phí ban quản lý dự án chung cho tất cả các dự án được phân bổ theo tỷ lệ tương ứng với giá trị khối lượng hoàn thành được nghiệm thu trong năm kế hoạch.

Ban quản lý dự án được mở một tài khoản tiền gửi tại kho bạc nhà nước để trích các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án về tài khoản. Từ tài khoản này, ban quản lý dự án có kinh phí để chi trả cho các khoản chi phí ban quản lý dự án.

Căn cứ dự toán thu, chi được duyệt, định mức chi tiêu của nhà nước và quy chế chi tiêu nội bộ của BQL, kế toán thanh toán các khoản chi tiêu cho hoạt động của Ban quản lý.

* Sổ kế toán:

Hiện nay, Ban đang sử dụng Chứng từ ghi số, số cái và sổ chi tiết tài khoản 642. Sổ kế toán chi tiết chi phí quản lý dự án được ghi chi tiết theo 18 mục chi phí.

2.2.4. Công tác lập báo cáo quyết toán công trình hoàn thành tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam

a) Đặc điểm chung

Các công trình xây dựng sử dụng vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ và vốn nhà nước ngoài ngân sách sau khi hoàn thành đều phải thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình. Chủ đầu tư , Ban Quản lý có trách nhiệm lập Hồ sơ quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình và quy đổi vốn đầu tư công trình xây dựng sau khi hoàn thành được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng để trình người quyết định đầu tư phê duyệt theo Thông tư số 09/2016/TT-BTC ngày 18/01/2016, chậm nhất là 9 tháng đối với các dự án quan trọng quốc gia và dự án nhóm A, 6 tháng đối với dự án nhóm B và 3 tháng đối với dự án nhóm C kể từ ngày công trình hoàn thành, đưa vào khai thác, sử dụng. Sau 6 tháng kể từ khi có quyết định phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án hoàn thành, chủ đầu tư (BQLDA) có trách nhiệm giải quyết công nợ, tất toán tài khoản dự án tại cơ quan thanh toán vốn đầu tư.

b) Hồ sơ và quy trình kế toán quyết toán các công trình hoàn thành

– Chủ đầu tư (Ban Quản lý) gửi 01 bộ hồ sơ đến cơ quan thẩm tra phê duyệt quyết toán, hồ sơ bao gồm các tài liệu sau:

+ Tờ trình đề nghị phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư (bản chính). Trường hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán, tờ trình phải nêu rõ những nội dung thống nhất, nội dung không thống nhất và lý do không thống nhất giữa chủ đầu tư và đơn vị kiểm toán độc lập;

+ Biểu mẫu báo cáo quyết toán theo quy định tại Điều 7 Thông tư: 09/TT-BTC ngày 18/01/2016 của Bộ Tài Chính về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước.Cụ thể Mẫu số: 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07/QTDA (bản chính);

+ Toàn bộ các văn bản pháp lý có liên quan theo Mẫu số 02/QTDA (bản chính hoặc bản do chủ đầu tư sao y bản chính);

+ Hồ sơ quyết toán của từng hợp đồng gồm bản chính các tài liệu: hợp đồng xây dựng; các biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo giai đoạn thanh toán; các văn bản phê duyệt điều chỉnh, bổ sung, phát sinh, thay đổi (nếu có); biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành toàn bộ hợp đồng; bảng tính giá trị quyết toán hợp đồng (quyết toán A-B); hồ sơ hoàn công, nhật ký thi công xây dựng công trình đối với hợp đồng có công việc thi công xây dựng (bản chính hoặc bản do chủ đầu tư sao y bản chính); biên bản thanh lý hợp đồng đối với trường hợp đã đủ điều kiện thanh lý hợp đồng theo quy định của pháp luật về hợp đồng; các tài liệu khác theo thỏa thuận trong hợp đồng;

+ Biên bản nghiệm thu công trình hoặc hạng mục công trình độc lập hoàn thành đưa vào sử dụng, văn bản chấp thuận kết quả nghiệm thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bản chính);

+ Báo cáo kiểm toán quyết toán dự án hoàn thành của đơn vị kiểm toán độc lập trong trường hợp thuê kiểm toán độc lập thực hiện kiểm toán (bản chính);

+ Kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra, báo cáo kiểm toán của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước trong trường hợp các cơ quan thanh tra, kiểm tra, Kiểm toán Nhà nước thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm toán dự án; kết quả điều tra của các cơ quan pháp luật trong trường hợp chủ đầu tư vi phạm pháp luật bị cơ quan pháp luật điều tra; báo cáo tình hình chấp hành các báo cáo trên của chủ đầu tư.

– Trong quá trình thẩm tra, khi cơ quan thẩm tra quyết toán có văn bản yêu cầu, chủ đầu tư có trách nhiệm xuất trình các tài liệu khác có liên quan để phục vụ công tác thẩm tra quyết toán.

– Trường hợp nhà thầu không thực hiện quyết toán hợp đồng theo quy định, chủ đầu tư có văn bản yêu cầu nhà thầu thực hiện quyết toán hợp đồng hoặc bổ sung hoàn thiện hồ sơ, tài liệu quyết toán hợp đồng kèm theo thời hạn thực hiện (theo Mẫu số 14/QTDA). Sau khi chủ đầu tư đã gửi văn bản lần thứ 03 đến nhà thầu, nhưng nhà thầu vẫn không thực hiện các nội dung theo yêu cầu; chủ đầu tư được căn cứ những hồ sơ thực tế đã thực hiện của hợp đồng để lập hồ sơ quyết toán (không cần bao gồm quyết toán A-B), xác định giá trị đề nghị quyết toán trình cấp có thẩm quyền phê duyệt. Nhà thầu chịu hoàn toàn các tổn thất, thiệt hại (nếu có) và có trách nhiệm chấp hành quyết định phê duyệt quyết toán dự án của cấp có thẩm quyền.

331 2411 2412 4411

Nghiệm thu KLHT Khi công trình, hạng mục giá trị quyết toán

công trình hoàn thành tạm bàn giao đưa vào công trình

sử dụng

Sơ đồ 2.6. Sơ đồ Quy trình kế toán quyết toán các công trình:

Trường hợp: Giá trị phê duyệt quyết toán nhỏ hơn giá trị nghiệm thu, Ban quản lý dự án sẽ yêu cầu các đơn vị nộp trả ngân sách theo giá trị tương ứng giảm; đồng thời hạch toán điều chỉnh giảm giá trị khối lượng nghiệm thu hoàn tương ứng.

– Những bất cập trông công tác quyết toán công trình hoàn thành:

+ Số liệu quyết toán của đơn vị thi công đề nghị đã được cán bộ kỹ thuật của BQL kiểm tra và đơn vị kiểm toán độc lập kiểm tra lại, tuy nhiên những số liệu đó chưa phải là cuối cùng. Quyết định cuối cùng thuộc về Sở Tài chính là đơn vị thẩm tra quyết toán nên số liệu đôi lúc chưa có sự thống nhất, dẫn đến việc hạch toán chỉnh sửa số liệu thường xuyên, gây khó khăn cho công tác hạch toán kế toán của BQL.

+ Thời gian quyết toán dự án, công trình kéo dài nên Ban phải tổ chức theo dõi việc thanh quyết toán các dự án, công trình, hạng mục công trình này trong thời gian kéo dài sẽ rất tốn kém và dễ phát sinh nhiều sai sót do thay đổi chính sách.

c) Sổ sách sử dụng và báo cáo

Ban quản lý dự án đang sử dụng, Chứng từ ghi sổ, sổ cái các tài khoản 3311, 3312, 2411; sổ cái tài khoản 2412; số cái tài khoản 4411.

2.3. Đánh giá thực trạng công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

2.3.1. Về công tác kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Trong điều kiện kinh tế nước ta hiện nay, nhất là Ban quản lý được giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 141/2016/NĐ-CP ngày 10/10/2016 của Chính phủ; Thông tư 72/2017/TT-BTC ngày 17/7/2017 của Bộ Tài chính Quy định về quản lý, sử dụng các khoản thu từ hoạt động quản lý dự án của các chủ đầu tư, Ban quản lý dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước., Thông tư 190/2015/TT- BTC ngày 17/11/2015 của Bộ Tài chính quy định việc quản lý, sử dụng chi phí trong quá trình lựa chọn nhà thầu các dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước và vốn trái phiếu Chính phủ. Việc quản lý hợp lý nguồn lao động có ý nghĩa vô cùng to lớn. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa người lao động với tư liệu lao động, môi trường lao động sẽ góp phần tăng năng suất lao động mang lại hiệu quả rất lớn cho đơn vị. Thấy được tầm quan trọng của công tác quản lý lao động. Ban quản lý dự án đã sắp xếp sử dụng các phòng, Ban chuyên môn nghiệp vụ tương đối hợp lý đáp ứng khá tốt yêu cầu nhiệm vụ đã đề ra. Tuy nhiên do hiện nay các văn bản hướng dẫn sau luật về đầu tư XDCB thường xuyên liên tục thay đổi đòi hỏi Ban quản lý dự án cũng phải liên tục cập nhật điều chỉnh cho phù hợp, nhằm đáp yêu cầu thực tế về chế độ chính sách đầu tư XDCB nhất thiết phải bỏ nhiều quỹ thời gian nghiên cứu để lãnh đạo chỉ đạo các phòng, Ban chuyên môn nghiệp vụ, nhất là phòng Quản lý dự án, Phòng Kế hoạch – kỹ thuật nên đối với công tác kế toán tại đơn vị, chưa được lãnh đạo Ban quản lý dự án thật sự quan tâm, tổ chức thực hiện cho đúng với vai trò vốn có của nó. Mặt khác, BQL được thành lập trên cơ sở hợp nhất Ban Quản lý dự án Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ban Quản lý tiểu dự án hiện đại hóa hệ thống thủy lợi Phú Ninh. Nên việc bố trí sắp xếp bộ máy kế toán chưa thật sự hoàn chỉnh, bên cạnh đó trình độ chuyên môn cũng như trình độ lý luận chính trị một số cán bộ còn yếu chưa nắm rõ đặc điểm của đơn vị nên trong quá trình tổ chức công tác kế toán vẫn còn nhiều bất cập. Việc sử dụng chứng từ cũng còn chưa đúng quy định dẫn đến khó khăn cho công tác lưu trữ. Công tác báo cáo số liệu phục vụ cho công tác quản lý vẫn chưa kịp thời, các biểu mẫu báo cáo chưa có sự thống nhất, khó để so sánh, đối chiếu giữa số liệu trên biểu này với cùng một số liệu nhưng được thiết kế trên biểu mẫu khác. Đối với công tác kiểm tra nội bộ vẫn chưa được thực hiện, bộ phận kế toán tự làm và tự kiểm tra, nên sai sót là điều khó tránh khỏi.

Những vấn đề đặt ra từ thực trạng công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam là:

a) Đối với công tác lập dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình để tính toán giá gói thầu

Vấn đề về giá gói thầu và các phát sinh có liên quan đến giá gói thầu khi thanh toán khối lượng hoàn thành theo hợp đồng cũng ảnh hưởng ít nhiều đến chất lượng kế toán. Cụ thể khi Ban quản lý ký kết hợp đồng với nhà thầu theo giá trọn gói, giá cố định và giá điều chỉnh. Đối với giá trọn gói, giá cố định, việc phát sinh cao hơn so với hợp đồng ban đầu rất ít. Nhưng đối với một số công trình, hạng mục công trình ký kết hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh sau khi có sự thay đổi của đơn gía đầu vào lập tức nhà thầu yêu cầu tính ra số chênh lệch giá tăng còn chênh lệch giảm thì không đặt vấn đề. Chính điều này đã làm cho Ban gặp nhiều khó khăn trong việc lập điều chỉnh dự toán công trình, hạng mục công trình, chứng từ, biểu mẫu cũng thay đổi theo.

Đối với công tác hoàn thiện hệ thống chứng từ kế toán và hạch toán ban đầu:

Có những chứng từ vẫn chưa đúng theo biểu mẫu quy định hiện hành và một số chứng từ khác thuộc chuyên môn ngành xây dựng nên đối với chuyên ngành kế toán rất khó kiểm tra được loại chứng từ này, đơn vị chỉ lư trữ trên phê duyệt của phòng Kế hoạch – Kỹ thuật. Do đó vấn đề đặt ra là giữa bộ phận kế toán và bộ phận kỹ thuật phải thống nhất chứng từ, hồ sơ làm căn cứ thanh toán.

Bên cạnh đó, việc kiểm tra số liệu giữa dự toán và hồ sơ quyết toán được duyệt vẫn còn nhiều sai sót và chênh lệnh giữ số đề nghị quyết toán của các nhà thầu và số thẩm tra quyết toán của cấp có thẩm quyền, dẫn đến nhiều hệ lụy về sau nhất là làm cho công tác hạch toán, thu hồi nguồn vốn đã thanh toán vượt cho nhà thầu cũng gặp khó khăn như theo dõi điều chỉnh số liệu, chứng từ đã lưu trữ phải thay đổi cho phù hợp.

b) Đối với việc vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

Việc vận dụng hệ thống tài khoản tại Ban quản lý dự án cũng còn nhiều tồn tại, mặc dù đơn vị đã mở sổ chi tiết cho các đối tượng tạm ứng, thanh toán, tuy nhiên chưa tổ chức được việc theo dõi nguồn kinh phí năm trước, năm nay và năm sau cho phù hợp. Do đó, rất khó biết được nguồn vốn năm nay là bao nhiêu, năm trước bao nhiêu hay sử dụng nguồn nào để thanh toán.

c) Đối với việc lựa chọn hình thức sổ kế toán

Công tác tổ chức lựa chọn hình thức ghi sổ còn nhiếu bất cập, biểu mẫu còn rườm rà, phức tạp, mặc dù đã đi nhiều vào chi tiết, tuy nhiên sổ thiết kế vẫn khó hiểu.

Tổ chức thiết kế sổ sách để theo dõi từng hạng mục công trình còn chưa có, nên chưa đáp ứng được việc báo cáo đột xuất cho các cơ quan liên quan một cách kịp thời và chính xác. Bộ phận kế toán của Ban quản lý còn thụ động trong việc lập báo cáo và cung cấp số liệu.

d) Đối với hệ thống báo cáo kế toán

Hiện nay, việc lập báo cáo tài chính hàng quý, năm được thực hiện bằng phương pháp bán thủ công nên dẫn đến nhiều sai sót.

Công tác báo cáo còn chưa kịp thời cho cơ quan chủ quản cấp trên và các cơ quan chuyên môn có liên quan do biểu mẫu chưa được quy định chặt chẽ, báo cáo rời rạc, các Sở, ngành có liên quan chưa có biện pháp để thống nhất biểu mẫu cũng như thời gian báo cáo.

Đối với việc tổ chức bộ máy kế toán

Các văn bản hướng dẫn có liên quan đến công tác kế toán chỉ tập trung về mặt số liệu, biểu mẫu, ít đề cập đến việc tuân thủ các chế độ hiện hành.

Đội ngũ cán bộ kế toán tại Ban quản lý chưa đủ mạnh để hướng dẫn các phòng, ban thuộc đơn vị thực hiện đúng quy định cũng như các khó khăn trong quá trình tổ chức công tác kế toán. Bên cạnh đó một số cán bộ của Ban quản lý mới được tuyển dụng nên chưa nắm bắt hết các chính sách, văn bản, định mức, chưa cập nhập kịp thời các văn bản mới.

đ) Đối với việc thực hiện kiểm tra kế toán nội bộ

Việc tổ chức thực hiện kiểm tra kế toán nội bộ chưa được thực hiện tại Ban quản lý nên chưa phát huy được vai trò kiểm soát giữa các bộ phận liên quan.

e) Đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán

Việc ứng dụng tin học trong công tác kế toán của Ban quản lý chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý. Với việc bán thủ công mọi công tác kế toán như hiện nay, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót do số lượng công trình, hạng mục công trình phát sinh nhiều

2.3.2. Về công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Đơn vị đã sử dụng chương trình kế toán máy tính, Các chứng từ được sử dụng trong quá trình hạch toán ban đầu phù hợp với yêu cầu nghiệp vụ kinh tế phát sinh và cơ sở pháp lý của nghiệp vụ. Các chứng từ đều được sử dụng đúng mẫu của Bộ Tài chính, những thông tin kinh tế về nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều được nghi đầy đủ, chính xác vào chứng từ, các chứng từ đều được kiểm tra, giám sát chặt chẽ, điều chỉnh và xử lý kịp thời.

Đối với công tác hạch toán tổng hợp: áp dụng đầy đủ chế độ tài chính, kế toán của Bộ Tài chính ban hành để phù hợp với tình hình và đặc điểm của Ban quản lý dự án, kế toán đã mở các tài khoản cấp 2, cấp 3 nhằm phản ánh một cách chi tiết hơn, cụ thể hơn, tình hình biến động của các tài khoản đã giúp cho kế toán thuận tiện hơn cho việc nghi chép một cách đơn giản, rõ ràng mang tính thiết thực, giảm nhẹ phần việc kế toán, tránh sự chồng chéo, việc ghi chép kế toán; đồng thời với hệ thống sổ sách kế toán tổng hợp khá đầy đủ, hoàn thiện với việc ghi chép số liệu trung thực và khách quan theo đúng quy định của nhà nước. Hệ thống sổ sách chứng từ ban đầu luôn phản ánh đầy đủ số lượng và chất lượng.

Bên cạnh những ưu điểm kế toán vẫn không tránh khỏi những sai sót do đội ngũ cán bộ còn hạn chế về mặt số lượng nên mỗi cán bộ phải đảm nhiệm những phần việc khác nhau và quản lý nhiều dự án cùng một lúc, điều này dẫn đến tình trạng một số phần việc kế toán còn làm tắt như vậy là phản ánh chưa đúng với yêu cầu của công tác, bên cạnh đó là những hạn chế như:

– Việc kiểm soát, kiểm tra các chứng từ còn hạn chế, nhiều sai sót đến khi lập báo cáo quyết toán mới phát hiện. Kế toán mới chỉ thực hiện chức năng kiểm tra, cung cấp thông tin sơ bộ, để phân tích sâu hơn về mặt tài chính của đơn vị thì chưa đáp ứng được, chưa thực hiện chức năng kế toán quản trị.

– Đơn vị thường xuyên kiểm tra hồ sơ, chứng từ kế toán để phát hiện kịp thời những sai sót. Tuy nhiên, đối với công tác chuyên môn, việc lập chứng từ đôi khi có tính chất đối phó, chạy theo nguồn vốn được giao trong năm, nhiều khi lập chứng từ thanh toán trước cho các dự án, sau đó mới hoàn thiện sản phẩm sau. Chính sự kiểm soát không chặt chẽ này dẫn đến kế toán vất vả trong khâu kiểm soát chứng từ để phục vụ công tác quyết toán.

– Phân loại, định khoản và ghi sổ chứng từ : Đơn vị áp dụng phầm mền DT SOFT, số liệu nhập thủ công, nhiều khi định khoản vào máy nhầm nên việc kiểm tra thông tin chứng từ lập vào máy so với chứng từ gốc sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc pháp hiện những sai sót trong khâu lập chứng từ vào máy.

– Khâu lưu trữ và bảo quản chứng từ: do điều kiện khó khăn về cơ sở vật chất nên một số chứng từ lưu trữ trong thời gian dài thường bị ẩm mốc. Đơn vị chưa phân loại hợp lý theo nội dung chứng từng của từng dự án để thuận lợi cho việc lưu trữ và sử dụng lại chứng từ nên khi cần tìm tài liệu trong kho rất vất vả, mất nhiều thời gian. Nhiều tài liệu, chứng từ đã hết thời hạn lưu trữ nhưng đơn vị vẫn không xử lý, gây ảnh hưởng cho công tác bảo quản và lưu trữ.

– Việc phối hợp giữa các nhân viên kế toán và bộ phận nhân viên kỹ thuật của các phòng, ban, chưa thật sự khoa học dẫn đến một số thủ tục để hoàn chỉnh hợp đồng trước khi ký kết chuyển đến bộ phận kế toán còn chậm trễ dẫn đến việc lập cam kết chi để thanh toán vốn đầu tư còn chậm so với quy định, việc nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo hợp đồng để giải ngân thanh toán kế hoạch vốn đầu XDCB được giao thường bị ùn ứ vào thời điểm cuối năm (tức là thời điểm hết hạn nộp hồ sơ giải ngân kế hoạch vốn năm), từ đó gây áp lực rất lớn cho bộ phận kế toán.

– Công tác quyết toán công trình, hạng mục công trình hoàn thành chưa được quan tâm đúng mức; qua khảo sát có khá nhiều hạng mục công trình đã hoàn thành khá lâu nhưng chưa được quyết toán. Bên cạnh đó, công tác lập dự toán ban đầu của một số dự án vẫn còn nhiều sai sót, chênh lệch so với hồ sơ thanh toán thực tế, cũng như giá trị phê duyệt quyết toán dự án hoàn thành…

– Việc tổ chức chứng từ cũng còn nhiều bất cập dẫn đến khó khăn cho công tác lưu trữ và tìm kiếm sau này.

– Công tác báo cáo số liệu phục vụ cho công tác quản lý vẫn chưa thật sự khoa học nề nếp. Các biểu mẫu báo cáo cũng gần như chưa có sự thống nhất, khó để so sánh, đối chiếu giữa số liệu trên biểu này với cùng một số liệu nhưng được thiết kế trên biểu mẫu khác.

– Công tác kiểm tra nội bộ vẫn chưa được thực hiện, bộ phận kế toán tự làm và tự kiểm tra, nên chắc chắn sẽ tồn tại nhiều sai sót…

2.3.2.1. Ưu điểm

a) Về tổ chức bộ máy kế toán:

Bộ máy kế toán BQL được tổ chức theo mô hình tập trung, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các kế toán phần hành khác nhau, tập trung trách nhiệm vào từng người, đảm bảo cho sự kiểm tra chính xác về số liệu cũng như ngăn chặn được những sai sót có thể xảy ra trong quá trình thực hiện đầu tư xây dựng cơ bản.

Việc tổ chức bộ phận kế toán rất được chú trọng, vừa không cồng kềnh, vừa đảm bảo sắp xếp công việc được thuận lợi. Bộ phận kế toán được phân chia theo các công đoạn thực hiện dự án. Mỗi nhân viên kế toán sẽ đảm nhận một hoặc một số phần hành nhất định trong quản lý dự án, phù hợp với trình độ chuyên môn của từng người. Ngoài ra, đội ngũ cán bộ ở phòng kế toán có trình độ nghiệp vụ cao, đều có trình độ Đại học, có kinh nghiệm và bản lĩnh, đội ngũ nhân viên kế toán luôn tự giác học hỏi nhằm nâng cao kiến thức cho bản thân, chủ động liên hệ với các phòng ban có liên quan, do đó công tác kế toán đạt được hiệu quả tương đối cao, hạn chế được nhiều thiếu sót và đáp ứng được nhu cầu quản lý của ban lãnh đạo.

b) Về hệ thống chứng từ kế toán áp dụng:

Chứng từ kế toán tại BQL được xây dựng theo mẫu có đủ các yếu tố cơ bản cần thiết đảm bảo theo quy định của Nhà nước. Chứng từ được xếp theo thứ tự nội dung và theo từng tháng, từng quý và cho từng dự án. Chứng từ kế toán đảm bảo phản ánh kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Công tác kế toán thanh, quyết toán vốn các khoản kinh phí, cấp phát vốn đầu tư cho dự án rõ ràng theo từng quyết định phân bổ vốn và cho từng dự án nên việc hạch toán kế toán thuận lợi.

Việc đối chiếu nguồn vốn với Kho bạc cho từng dự án, từng tài khoản, từng nguồn vốn định kỳ thực hiện kịp thời, chính xác.

Các thông tin và nội dung của các nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh đều được ghi chép đầy đủ và chính xác trong từng mục theo quy định của chứng từ kế toán.

Trình tự luân chuyển chứng từ tương đối khoa học, đảm bảo được sự thuận lợi và hợp lý, đồng thời công tác sắp xếp và lưu trữ chứng từ theo thời gian thuận tiện cho công tác quản lý và kiểm tra kế toán.

c) Về tài khoản kế toán:

Hệ thống tài khoản kế toán tại BQL được xây dựng trên cơ sở hệ thống tài khoản theo thông tư số 195/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài chính, ngoài ra Ban quản lý dự án huyện Sóc Sơn còn mở các tài khoản chi tiết ngoài bảng như TK 3311, TK 3312… góp phần phản ánh kịp thời chính xác các nghiệm vụ kinh tế phát sinh. Các tài khoản BQL sử dụng thống nhất trong nhiều kỳ kế toán, tuân thủ nguyên tắc nhất quán.

d) Về hình thức kế toán và sổ kế toán

BQL dự án huyện Sóc Sơn thực hiện hình thức chứng từ ghi sổ để hạch toán, phù hợp với tình hình hoạt động của Ban. Ngoài ra BQL cũng đang sử dụng phần mềm kế toán làm công cụ hỗ trợ công tác hạch toán, lập báo cáo kế toán, báo cáo tài chính khá hiệu quả.

Sổ kế toán áp dụng theo hình thức chứng từ ghi sổ bao gồm sổ chứng từ ghi sổ, sổ quỹ tiền mặt, sổ tiền gửi ngân hàng, kho bạc, sổ tài sản cố định, sổ theo dõi tài sản cố định và công cụ, dụng cụ, sổ chi tiết các tài khoản, sổ chi tiết các khoản thu, sổ chi phí thanh toán với người bán, sổ chi phí đầu tư xây dựng, sổ chi phí ban quản lý dự án đầu tư, sổ chi tiết nguồn vốn đầu tư, sổ chi tiết thu chi bán hồ sơ mời thầu. Các ghi chép rõ ràng, số liệu kế toán đảm bảo vì thông qua sự kiểm soát chặt chẽ của kế toán trưởng, có thể phát hiện được sai sót một cách kịp thời từ đó có biện pháp xử lý các nghiệp vụ phát sinh.

d) Về báo cáo kế toán:

Kế toán kiểm tra đối chiếu số liệu giữa số liệu của Ban quản lý dự án và cơ quan thanh toán, ngân hàng, các tài khoản các sổ sách kế toán có liên quan giữa sổ kế toán chi tiết và sổ kế toán tổng hợp. Công tác lập báo cáo vào cuối quý, năm được kế toán tiến hành đầy đủ theo quy định hiện hành.

e) Về quyết toán đầu tư XDCB:

Quyết toán dự án hoàn thành, quyết toán thu, chi quản lý dự án, quyết toán vốn đầu tư XDCB được ban quản lý dự án thực hiện tương đối kịp thời, chính xác, đầy đủ, đúng mẫu theo quy định.

      1. 2.3.2.2. Nhược điểm

a) Về tổ chức bộ máy kế toán

Hiện nay tổ chức bộ máy kế toán tại Ban quản lý dự án còn chưa hợp lý: Mỗi cán bộ kế toán chỉ làm một công đoạn trong công tác kế toán đầu tư xây dựng một dự án như tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ, làm thanh toán và hạch toán, quyết toán dự án, mà không phụ trách cả một dự án, hay một mảng dự án. Do vậy, rất khó để nắm bắt được tiến độ thực hiện dự án, đồng thời chất lượng tiến độ công việc của người này phụ thuộc rất lớn vào người khác.

Một số cán bộ làm công tác kế toán xử lý số liệu còn chậm trễ, trong quá trình thực hiện việc thanh toán toán vốn đầu tư còn trậm chễ và nhiều sai sót. Việc tập huấn cho cán bộ làm công tác chuyên môn và kế toán chưa được kịp thời.

Công việc hạch toán các nghiệp vụ tương đối nhiều vì Ban quản lý dự án thực hiện đồng thời rất nhiều dự án do đó việc hạch toán kế toán còn chưa kịp thời. Trong quá trình thực hiện thanh toán các dự án còn phụ thuộc rất nhiều vào việc kiểm soát thanh toán của KBNN tỉnh Quảng Nam.

b) Về kế toán chi phí ban quản lý dự án

Chi phí ban quản lý dự án ở BQL khá phong phú, phát sinh tương đối nhiều trong năm, do đó việc phân bổ chi phí ban quản lý dự án vào cuối năm là khó khăn.

c) Về kế toán nguồn vốn đầu tư XDCB

– Về thanh toán, tạm ứng vốn đầu tư XDCB:

+ Thủ tục thanh toán vốn qua kho bạc còn rườm rà, thiếu chủ động, vẫn còn gây nhũng nhiễu với các nhà thầu thanh toán vốn đầu tư. Việc thanh toán vốn đầu tư còn mang tính áp đặt từ trên xuống dẫn đến kế toán không chủ động được thanh toán cho các đơn vị tư vấn, nhà thầu thi công.

+ Đến thời điểm kết thúc niên độ NSNN hàng năm, tạm ứng vốn đầu tư XDCB luôn có số dư lớn, trong đó có nhiều trường hợp đã có khối lượng XDCB hoàn thành nhưng chưa làm thủ tục thanh toán, do các nguyên nhân:

+ Các khoản thanh toán tạm ứng vốn đầu tư chủ yếu phụ thuộc giá trị hợp đồng và kế hoạch cấp vốn hàng năm, còn việc thu hồi tạm ứng được thực hiện dần theo tỷ lệ thanh toán khối lượng hoàn thành, quá trình đó không có sự ràng buộc về thời gian theo niên độ năm ngân sách.

+ Việc thu hồi vốn tạm ứng chi đầu tư phải có khối lượng hoàn thành được nghiệm thu và tính giá trị thanh toán do bên nhận thầu lập có xác nhận của Ban quản lý dự án và Kho bạc Nhà nước kiểm soát chấp nhận giá trị thanh toán, trên cơ sở đó BQL dự án lập “Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng vốn đầu tư” và đây là chứng từ để KBNN hạch toán chuyển từ tạm ứng sang thực chi. Theo quy định hiện hành cho thấy nếu có khối lượng xây dựng hoàn thành nhưng vì nguyên nhân nào đó mà một trong các khâu công việc của các bên có trách nhiệm trong thanh toán tạm ứng vốn đầu tư chưa thực hiện công việc của mình thì chưa thể thu hồi vốn tạm ứng được, Ví dụ: gói thầu đã có khối lượng hoàn thành rất nhiều những đã hết kế hoạch vốn thanh toán thì nhà thầu cũng chẳng quan tâm lập hồ sơ thanh toán (nhiều khi chậm lập hồ sơ thanh toán còn có lợi nhờ chính sách, chế độ thay đổi,…).

– Chưa theo dõi nguồn vốn và tiến độ thực hiện dự án để kịp thời trình cấp thẩm quyền điều chỉnh cho phù hợp, dẫn đến hàng năm đều phải trả lại nguồn vốn đầu tư về NSNN do không thực hiện.

d) Hệ thống chứng từ kế toán thanh toán vốn đầu tư:

– Do các dự án đầu tư XDCB thường có số vốn đầu tư lớn và thời gian đầu tư kéo dài nhiều năm, đặc biệt các dự án bị dừng triển khai, dự án vướng mắc mặt bằng kéo dài nhiều năm, luân chuyển nhiều cán bộ quản lý theo dõi dẫn đến mất, thất lạc chứng từ, hồ sơ, gây khó khăn trong quyết toán dự án hoàn thành

– Chứng từ thanh toán gửi ra kho bạc vẫn còn nhiều sai sót, bị trả về, dẫn đến mất nhiều thời gian thanh toán.

d) Về quyết toán chi phí quản lý dự án: Do tính chất dự án đầu tư xây dựng cơ bản thường kéo dài nhiều năm, vốn cấp cho dự án hàng năm thường không đủ. Vốn thường được ưu tiên cho các nhà thầu để triển khai hoàn thành dự án kịp tiến độ, do đó việc trích chi phí quản lý dự án không kịp thời, phải sử dụng từ nguồn chi phí quản lý dự án của dự án khác. Ngoài ra do phải tiết kiệm nguồn thu dự phòng cho tương lai và tâm lý sợ phải thu hồi nộp ngân sách do cơ quan thẩm tra quyết toán giảm trừ, nên kế toán thường không trích hết chi phí quản lý dự án theo tiến độ thực hiện dự án. Vì vậy số liệu quyết toán chi phí ban quản lý dự án phân bổ hàng năm không phải là cơ sở để quyết toán dự án hoàn thành.

e) Về quyết toán dự án hoàn thành:

– Dự toán của dự án đầu tư XDCB thường điều chỉnh rất nhiều lần trong quá trình thực hiện, trong quá trình quyết toán dự án hoàn thành, kế toán phải căn cứ vào quyết định phê duyệt tổng mức đầu tư, tổng dự toán xây dựng điều chỉnh lần cuối cùng để tránh việc giá trị đề nghị quyết toán không vượt giá trị TMĐT, TDT của dự án. Việc này phần mềm kế toán chưa đáp ứng được

Sau khi dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, đơn vị B mới bắt đầu lập quyết toán A-B, hồ sơ hoàn công để trình phòng Quản lý dự án thẩm định hồ sơ quản lý chất lượng dự án hoàn thành. Đối với các đơn vị nhà thầu thiếu chuyên nghiệp thì việc này mất rất nhiều thời gian, dẫn đến kéo dài thời gian lập quyết toán vốn dự án hoàn thành dẫn đến việc chủ đầu tư quyết toán chậm.

– Nhân sự quyết toán dự toán hoàn thành của bộ phận tài vụ chưa chuyên nghiệp, do chỉ được đạo tạo về mảng tài chính kế toán, không có kiến thức chuyên sâu về mảng kỹ thuật xây dựng, do vậy trong quá trình kiểm soát hồ sơ quyết toán còn nhiều thiếu sót, dẫn đến thời gian thẩm tra quyết toán dự án hoàn thành kéo dài vì chờ hoàn thiện hồ sơ quyết toán.

f) Về quyết toán vốn đầu tư XDCB theo niên độ ngân sách: Quyết toán vốn đầu tư XDCB theo niên độ ngân sách tại BQL vẫn còn nhiều sai sót trong số liệu báo cáo do việc theo dõi số dư tạm ứng vốn đầu tư các dự án chưa được BQL quan tâm đúng mức.

Kế toán lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư XDCB theo niên độ trên phần mềm Excel, do phần mềm kế toán chưa đáp ứng được mẫu biểu báo cáo theo quy định.

2.3.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế

– Tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức luân chuyển chứng từ còn chưa hợp lý

– Văn bản hướng dẫn xây dựng có nhiều thay đổi, chưa rõ ràng và kịp thời, gây khó khăn trong triển khai dự án, giải phóng mặt bằng, dẫn đến vốn thường tồn đọng về cuối năm.

– Thủ tục thanh toán qua kho bạc còn rườm rà, phức tạp, chưa thống nhất, trách nhiệm hướng dẫn thanh quyết toán vốn đầu tư của Kho bạc Nhà nước chưa thực sự phát huy hiệu quả, dẫn đến nhiều khoản thanh toán, hoàn ứng, nộp trả ngân sách tại Kho bạc nhà nước phải chuyển đi chuyển lại nhiều lần.

– Việc bố trí vốn cho các dự án còn chưa hợp lý, phân bổ vốn dàn trải cho nhiều dự án, dẫn đến nhiều dự án cùng thiếu vốn đầu tư gây ra nợ đọng xây dựng cơ bản nhiều và nhiều dự án bị dừng hoãn do trong thời gian chờ vốn có nhiều thay đổi chính sách, thay đổi quy hoạch, có thể làm tăng tổng mức đầu tư hoặc buộc dừng hoãn dự án gây lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Tác giả đã tập trung nêu thực trạng tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam bao gồm: Giới thiệu tổng quan về Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán và cách thức tổ chức thực hiện dự án tại đơn vị. Trong đó tác giả tập trung vào thực trạng tổ chức kế toán tạm ứng hợp đồng, thu hồi tạm ứng, tổ chức kế toán thanh toán khối lượng hoàn thành và tổ chức kế toán quyết toán vốn đầu tư hoàn thành các công trình. Với sự trình bày chi tiết có minh họa số liệu bằng các bảng biểu, luận văn đã đánh giá được hiệu quả của công tác tổ chức kế toán tại đơn vị, đồng thời nêu lên những ưu điểm, hạn chế trong công tác tổ chức kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Qua phân tích, đánh giá cho thấy, mặc dù với bộ máy kế toán khá mỏng về số lượng, nhưng đã thực hiện quản lý vốn đầu tư xây dựng với số lượng dự án và giá trị công trình rất lớn, rất nhiều hạng mục nhỏ lẻ trong một công trình cho thấy rằng việc tổ chức kế toán đối với đơn vị là không hề đơn giản. Với sự năng nổ, nhiệt tình hiện tại bộ phận kế toán trong Ban quản lý dự án đã và đang thực hiện nhiệm vụ cơ bản hoàn thành tốt nhiệm theo yêu cầu kế hoạch đề ra. Tuy nhiên về lâu dài cần có sự thay đổi bổ sung hoàn thiện quá trình tổ chức công tác kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản Ngành Nông nghiệp trong tỉnh nhà.

CHƯƠNG 3

HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN TẠI BAN QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁC CÔNG TRÌNH NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TỈNH QUẢNG NAM

3.1. Định hướng chung trong việc công tác kế toán XDCB tại Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Hai năm qua, BQL đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, đứng trước thách thức của quá trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, Ban Quản lý cần phải phát triển và hoàn thiện hơn nữa cho phù hợp với tình hình mới.

Kế toán với chức năng thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin về quá trình và kết quả hoạt động của đơn vị, là công cụ quản lý kinh tế của đơn vị nên thông tin do kế toán cung cấp có vai trò hết sức quan trọng và không thể thiếu. Xuất phát từ chức năng của mình mà các thông tin, số liệu của kế toán vừa mang tính chất cung cấp vừa mang tính chất kiểm tra thực trạng tài chính và kết quả hoạt động tại Ban Quản lý.

Mặt khác, kế toán có hệ thống phương pháp khoa học để thực hiện chức năng đó một cách thường xuyên, liên tục, toàn diện và hệ thống. Vai trò của công tác kế toán đối với công tác quản lý của Ban được thể hiện ở chỗ nhiều đối tượng khác nhau quan tâm sử dụng thông tin, số liệu do kế toán cung cấp theo những góc độ và mục đích khác nhau.

Tuy nhiên, chức năng và nhiệm vụ của kế toán chỉ có thể thực hiện một cách tốt nhất, vai trò của kế toán phát huy được một cách hiệu quả nhất khi công tác kế toán tại Ban Quản lý được tổ chức một cách khoa học và hợp lý. Chính vì vậy, việc hoàn thiện công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban Quản lý là hết sức cần thiết. Để hoàn thiện công tác kế toán tại Ban quản lý đi vào khuôn khổ theo quy định và mang lại hiệu quả quản lý một cách tốt nhất, tác giả đưa ra những định hướng sau:

* Đối với cấp lãnh đạo:

– Như phần thực trạng bộ máy tổ chức kế toán đã nêu ở chương 2, hiện nay bộ phận kế toán của Ban Quản lý nằm trong Văn phòng do vậy công tác kế toán bị chi phối bởi nhiều yếu tố, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo điều hành của phần việc kế toán, trong thời gian tới lãnh đạo Ban quản lý dự án cần quan tâm hơn nữa đến công tác sắp xếp, kiện toàn lại bộ máy kế toán, nhằm tổ chức thực hiện cho đúng với vai trò vốn có của nó.

– Thiết lập hoàn thiện và nâng cao công tác phối hợp đối với cán bộ viên chức giữa các phòng, ban chuyên môn nghiệp vụ tại đơn vị, nhằm khắc phục những thiếu sót không đáng có sảy ra như đã nêu trên.

– Chỉ đạo nâng cao công tác lập, thẩm định dự toán công trình, hạng mục công trình, tăng cường công tác kiểm tra, đối chiếu công tác lập dự toán nhằm đảm bảo số liệu dự toán lập phải đúng nhất về đơn giá, định mức qui định từng thời kỳ, tránh sai sót chênh lệch về sau.

* Đối với công tác kế toán:

Một là, nâng cao công tác thẩm định dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình, tăng cường công tác kiểm tra khối lượng, định mức lập dự toán để đảm bảo số liệu giữa dự toán và quyết toán sai lệch ít nhất, tránh những sai sót khi được các đơn vị thanh tra, kiểm toán.

Hai là, quy định và thống nhất các chứng từ thanh toán, đồng thới tăng cường công tác kiểm tra chứng từ đầu vào để làm cơ sở thanh quyết toán và lưu trữ.

Ba là, tổ chức lại hệ thống sổ sách kế toán theo hình thức kế toán đã được lựa chọn, sổ sách phải theo dõi được chi tiết từng hạng mục công trình

Đảm bảo cung cấp số liệu trung thực và nhanh chóng phục vụ cho việc báo cáo thường xuyên cũng như đột xuất.

Bốn là, thống nhất các biểu mẫu BCTC và báo cáo định kỳ gửi các cơ quan có liên quan các số liệu báo cáo phải trung thực và kịp thời. Vì hiện nay các biểu mẫu BCTC của Ban vẫn còn chưa thống nhất giữa Trung ương và địa phương cũng như khá rườm rà cho việc theo dõi, đối chiếu và lập báo cáo quyết toán.

Năm là, tăng cường công tác kiểm tra nội bộ của Ban quản lý đảm bảo chắc chắn rằng việc ghi chép số sách kế toán được diễn ra một cách toàn diện, cúng như công tác lập dự toán phải đúng các quy định hiện hành, có sự kiểm tra giữa các bên có liên quan để số liệu được chính xác và trung thực… Làm tốt điều này nhằm tạo nên sự kiểm soát chặt chẽ đối với hoạt động tài chính mà còn đảm bảo sự kiểm soát tính chính xác cảu công tác tổ chức kế toán.

Sáu là, tiếp tục phát huy tối đa hiệu quả việc ứng dụng công nghệ tin học trong công việc, xây dựng phần mềm chương trình kế toán đầu tư XDCB, nhằm đưa công tác hạch toán kế toán đi vào khuôn khổ quy định, đảm bảo tính chính xác và kịp thời của thông tin cung cấp. Đồng thời, đào tạo, bồi dưỡng nâng cáo nghiệp vụ chuyên môn cho bộ phận kế toán của Ban quản lý.

3.2. Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

Qua phân tích chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc hoàn thiện công tác kế toán đầu tư XDCB, thực trạng cũng như nguyên nhân của những yếu kém, bất cập trong công tác tổ chức kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý. Để nâng cao chất lượng công tác kế toán đầu tư XDCB trong thời gian đến nhằm đảm bảo hoạt động công tác kế toán của Ban quản lý đi vào nề nếp, cung cấp số liệu trung thực, đầy đủ, chính xác tác giả xin nêu ra các giải pháp sau:

3.2.1. Hoàn thiện công tác lập dự toán cho từng công trình, hạng mục công trình

Để thực hiện dự án đầu tư xây dựng, Ban quản lý dự án đầu tư hoặc đơn vị tư vấn phải căn cứ vào giá xây dựng của Nhà nước ban hành để lập dự toán cho dự án và trình cấp thẩm quyền phê duyệt làm căn cứ để xét duyệt và ra quyết định. Tùy từng giai đoạn thực hiện dự án mà dự toán đầu tư XDCB được lập theo cách khác nhau, cụ thể:

Ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư, Chủ đầu tư phải lập tổng mức đầu tư cho dự án đầu tư. Tổng mức đầu tư là giới hạn chi phí tối đa mà người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép để chủ đầu tư lựa chọn các phương án thực hiện dự án đầu tư. Tổng mức đầu tư chỉ là khái toán chi phí của dự án đầu tư xây dựng công trình làm cơ sở để lập kế hoạch và quản lý vốn đầu tư, xác định hiệu quả đầu tư của dự án. Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách Nhà nước thì tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình. Tổng mức đầu tư bao gồm: Chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, chi phí đền bù giải phóng mặt bằng và tái định cư; chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác và chi phí dự phòng.

Tổng mức đầu tư được xác định trên cơ sở khối lượng chủ yếu các công việc cần thực hiện của dự án theo thiết kế cơ sở và các khối lượng khác dự tính hoặc được xác định theo chi phí xây dựng của các dự án có tiêu chuẩn kinh tế-kỹ thuật tương tự đã thực hiện hoặc theo suất đầu tư xây dựng công trình.

Ở giai đoạn thực hiện dự án, Ban quản lý dự án phải lập tổng dự toán xây dựng công trình. Tổng dự toán là toàn bộ chi phí cần thiết dự tính để đầu tư xây dựng các công trình, hạng mục công trình thuộc dự án và là căn cứ để quản lý chi phí xây dựng công trình. Tổng dự toán bao gồm: Các chi phí được tính theo các dự toán xây dựng công trình, hạng mục công trình gồm chi phí xây dựng, chi phí thiết bị, các chi phí tư vấn đầu tư xây dựng, chi phí khác, chi phí quản lý dự án, chi phí dự phòng. Tổng dự toán không bao gồm: Chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư kể cả chi phí thuê đất thời gian xây dựng, chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật (nếu có). Dự toán được xây dựng trên cơ sở khối lượng công việc, định mức tiêu hao vật tư, nguyên liệu và nhân công theo định mức xây dựng của nhà nước ban hành, cụ thể:

Dự toán chi phí đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư: bao gồm chi phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho dự án được Ban quản lý dự án xác định trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và trình cấp thẩm quyền phê duyệt.

Dự toán chi cho việc thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được xác định trên định mức các khoản chi bao gồm: Chi tuyên truyền các chính sách, chế độ về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; tổ chức vận động các đối tượng liên quan thực hiện quyết định thu hồi đất; Chi kiểm kê, đánh giá đất đai, tài sản thực tế bị thiệt hại; Chi cho công tác xác định giá đất; Chi lập, phê duyệt, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Chi thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Chi phục vụ việc kiểm tra, hướng dẫn thực hiện chính sách bồi thường, giải quyết những vướng mắc trong công tác bồi thường và tổ chức thực hiện chi trả bồi thường; Chi thuê văn phòng, trang thiết bị làm việc của tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường và cơ quan thẩm định (nếu có); Chi in ấn, phô tô tài liệu, văn phòng phẩm và xăng xe; Chi thuê nhân công thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (nếu có); Các nội dung chi khác có liên quan trực tiếp đến việc tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Dự toán thu, chi quản lý dự án: Đầu năm ngân sách, Ban quản lý dự án phải lập dự toán thu chi hoạt động quản lý dự án được sử dụng theo từng dự án suốt quá trình quản lý dự án trong năm dự toán, bao gồm chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn do đơn vị tự thực hiện và khoản thu khác, trình Sở Tài chính phê duyệt, cụ thể:

+ Chi cho công chức, viên chức, lao động hợp đồng: gồm tiền lương, thưởng, phụ cấp, thu nhập tăng thêm, các khoản đóng góp.

+ Chi mua sắm, sửa chữa tài sản dùng cho BQLDA

+ Chi hoạt động chung của BQLDA: gồm chi thanh toán dịch vụ, mua vật tư văn phòng, cước thông tin liên lạc, chi phí hội nghị, công tác phí, chi khác.

+ Chi dự phòng.

Thiết lập xây dựng quy chế mối quan hệ, phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ phòng Kế hoạch – Kỹ thuật chuyên trách về lập dự toán với bộ phận kế toán trong việc lập dự toán của từng dự án, công trình, hạng mục công trình, đồng thời đào tạo nâng cao công tác lập dự toán xây dựng cho đội ngũ cán bộ chuyên trách, cần xem đây là một trong những nhiệm vụ cốt lõi, then chốt trong công tác quản lý điều hành.

3.2.2. Hoàn thiện hệ thống chứng từ trong thanh toán

Các dự án đầu tư XDCB thường có số vốn đầu tư lớn và thời gian đầu tư kéo dài nhiều năm. Do vậy tổ chức hệ thống chứng từ kế toán là khâu đặc biệt quan trọng, liên quan đến sự chính xác, trung thực của hệ thống thông tin. Do đó, hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán tại Ban Quản lý có ý nghĩa quan trọng. Nội dung hoàn thiện gồm:

– Lập chứng từ kế toán và phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh:

+ Nhập số liệu đã phản ánh trên chứng từ vào máy. Với đặc điểm kế toán thực hiện trên máy vi tính là thông tin và kết quả của công tác kế toán từ tổng hợp đến chi tiết đều xử lý trên cơ sở số liệu từ chứng từ gốc. Do đó việc nhập thông tin vào máy là yêu cầu tuyệt đối, việc nhập thông tin vào máy phải đảm bảo chính xác và mã hóa những thông tin cần thiết, đối với thông tin mã hoá phải khoa học, nhất quán và phù hợp với đặc điểm của chương trình phần nềm DT SOGT tạo điều kiện thuận lợi cho việc hòan chỉnh chứng từ và lập chứng từ vào máy.

+ Để đáp ứng được yêu cầu trên, trước khi nhập số liệu vào máy thì chứng từ phải hoàn chỉnh. Chứng từ phải tuân thủ theo chế độ chứng từ kế toán hiện hành. Đối với những chứng từ bắt buộc, khi thực hiện lập cần theo đúng mẫu, đảm bảo lập theo đúng các yếu tố cơ bản của chứng từ để chứng từ đó phản ảnh trung thực nghiệp vụ phát sinh.

+ Đối với các phòng làm thêm giờ, phải có đầy đủ chữ ký theo mẫu thì kế toán mới lập thủ tục thanh toán. Đối với nhiệm vụ chuyên môn, thực hiện dự án, thì phải có sản phẩm hoàn thành, kế toán mới thanh toán. Trong trường hợp chưa hoàn thành thì đơn vị báo cáo UBND tỉnh kéo dài tiến độ thực hiện và cho phép kéo dài nguồn vốn thanh toán sang năm sau.

+ Các chứng từ cùng loại, kế toán nên phân loại và lập thành các bảng tổng hợp chứng từ cùng loại để hạch toán vào sổ kế toán một lần nhằm giảm nhẹ công việc cho kế toán và thuận lợi cho việc kiểm tra, kiểm soát.

– Khâu lưu trữ và bảo quản chứng từ: Chứng từ sau khi sử dụng xong phải đóng tập đưa vào lưu trữ, bảo quản và xếp gọn gàng, khoa học theo thời gian và nội dung kinh tế như phân loại chứng từ tiền, TSCĐ… để dễ dàng tìm được khi cần thiết. Bộ phận kế toán cần kiến nghị Ban Giám đốc bố trí kinh phí từ nguồn chi phí quản lý dự án, xây dựng kho lưu trữ chứng từ kế toán, sau khi đã sử dụng xong phải đóng tập đưa vào lưu trữ, bảo quản theo chế độ hiện hành, không để tình trạng ẩm mốc, mối mọt, thuận tiện khi cần dùng đến. Đồng thời, cũng cần có kế hoạch hủy các chứng từ đã hết thời hạn lưu trữ để công tác bảo quản chứng từ được thuận lợi.

– Việc xác định trách nhiệm của từng đối tượng trong từng khâu của quá trình luân chuyển chứng từ không được xác định rõ ràng. Đây cùng là nguyên nhân dẫn đến hiệu quả kiểm tra kiểm soát không thực sự hiệu quả đối với đơn vị . Đơn vị cần xây dựng kế hoạch luân chuyển chứng từ riêng cho từng loại nghiệp vụ kinh tế phát sinh thường xuyên liên tục để có thể xác định quyền lợi cũng như trách nhiệm của các đối tượng có liên quan đến nghiệp vụ đảm bảo đúng thời gian theo luật định, tránh những sai sót không đáng có xảy ra.

– Về hồ sơ thanh toán:

+ Chuyển hợp đồng và các thủ tục liên quan đến bộ phận kế toán chậm nhất sau 3 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, để kế toán lập thủ tục cam kết chi trình cơ quan Kho Bạc nhà nước phê duyệt và tiến hành lập thủ tục tạm ứng thanh toán kịp thời. Nếu hợp đồng chuyển chậm, khi lập cam kết chi quá thời gian quy định (10 ngày làm việc theo Thông tư số 40/2016/TT – BTC ngày 01/03/2016 về sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư số 113/2008/TT-BTC) thì chủ đầu tư, Ban quản lý dự án sẽ bị phạt hành chính, từ đó sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến đơn vị sau này.

+ Đối với khối lượng nghiệm thu hạng mục mà trong đó các vật liệu, thiết bị được nghiệm thu không có đơn giá theo thông báo giá vật liệu xây dựng của liên sở Tài chính – Xây dựng, ngoài thẩm định giá của các vật liệu, thiết bị đó, tác giả đề xuất nhà thầu cung cấp thêm hóa đơn đầu vào (bản photo công chứng) để xem xét, đối chiếu trước khi thanh toán.

– Thêm vào đó Kế toán cần tham khảo các văn bản pháp luật và các ý kiến góp ý qua các cuộc thanh tra, kiểm tra để xây dựng một hệ thống chứng từ hoàn chỉnh.

3.2.3. Hoàn thiện việc thiết kế sổ sách để theo dõi từng hạng mục công trình

Với bộ phận kế toán mới được sáp nhập còn mới chưa có nhiều kinh nghiệm, Ban quản lý cần thiết lập hệ thống sổ sách để theo dõi chi tiết từng hạng mục công trình, đảm bảo số liệu chính xác và trung thực cho việc báo cáo thường xuyên và đột xuất. Đồng thời, cần theo dõi chi tiết nguồn vốn cấp phát trên giao hay điều chỉnh tăng, giảm kế hoạch vốn cho đơn vị trong từng năm cho từng công trình, hạng mục công trình một cách cách đầy đủ và chính xác.

Tác giả đề xuất Ban quản lý dự án cần tổ chức thiết kế sổ sách để theo dõi riêng cho từng công trình như sau :

– Sổ chi tiết nguồn vốn đầu tư được thiết kế như sau

Bảng 3.1. Sổ chi tiết nguồn vốn đầu tư

Tài khoản 441 – Nguồn vốn đầu tư

Tháng …… năm 2017

Công trình (HMTC): Mở rộng khu neo đậu tàu thuyền, kết hợp xây dựng cảng cá Hồng Triều

Ngày tháng khởi công: ……………..; ngày tháng hoàn thành:

Tổng dự toán:

Chứng từDiễn giảiTK

đối ứng

Số tiền
SốNgàyNợCó
00406/10/2017Tạm ứng chi phí đền bù, GPMB33111.777.794.139
00528/6/2017Thanh toán đợt 1 Chi phí KS TKBVTC33111.363.692.750
00720/10/2017Tạm ứng hợp đồng xây lắp gói thầu: Đường vào khu neo đậu33122.749.550.000
….….……………….
Tổng cộng :5.891.036.889

– Sổ chi tiết chi phí đầu tư xây dựng cơ bản

Bảng 3.2. Sổ chi tiết

Tài khoản 2411 – Chi phí đầu tư xdcb dở dang

Tháng …… năm 2017

Công trình (HMTC): Mở rộng khu neo đậu tàu thuyền, kết hợp xây dựng cảng cá Hồng Triều

Ngày tháng khởi công: ……………..; ngày tháng hoàn thành:

Tổng dự toán:

Ngày thángDiễn giảiTTK đối ứngNội dung chi
Tổng sốXây lắpĐền bùChí BQLChi phí tư vấnChi phí khác
2/4/2017Nghiệm KLHT đợt 1 XL. Công ty Cổ phần 6.3331124.738.639.0004.738.639.000
27/6/2017Nghiệm thu KLHT Khảo sát thiết kế BVTC331121.695.906.0001.695.906.000
18/7/2017Nghiệm thu KLHT công tác giám sát33112288.140.000288.140.000
………….…..………..……..………..………..……….………..
31/12/2017Phân bổ chi phí ban QL6642180.131.0000180.131.000
Tổng cộng6.902.816.0004.738.639.000180.131.0001.984.046.000

– Tương tự như trên Ban quản lý dự án thiết kế các sổ chi tiết theo nhu cầu quản lý như : Sổ chi tiết tài khoản 3311, 3312, 642….

3.2.4. Hoàn thiện việc xây dựng hệ thống biểu mẫu báo cáo kế toán phục vụ cho mục đích báo cáo quyết toán định kỳ và báo cáo cho các cơ quan có liên quan theo yêu cầu:

Hiện nay hầu hết các báo cáo đều thực hiện theo biểu mẫu quy định, tuy nhiên vẫn còn phát sinh những báo cáo đột xuất phục vụ cho thanh tra, kiểm toán, báo cáo khác phục vụ cho việc tổng hợp của các Sở, ngành liên quan, hầu hết các báo cáo đều có biểu mẫu thiết kế khác nhau, khó hiểu. Do đó đòi hỏi phải thiết kế thống nhất các biểu mẫu, trong đó có những nội dung mà những báo cáo thường kỳ, đột xuất yêu cầu.

Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về kinh tế tài chính của đơn vị phục vụ cho công tác kiểm tra, kiểm soát, thanh quyết toán các khoản thu, chi, tình hình thực hiện đầu tư, thanh toán nguồn vốn đầu tư của Ban Quản lý; là cơ sở để đánh giá tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách trong năm, tình hình thực hiện các chế độ định mức của Nhà nước. Tuy nhiên, để khắc phục những hạn chế thì Ban nên thực hiện một số nội dung sau:

Bộ phận kế toán phải lập, in lưu trữ và nộp báo cáo tài chính đầy đủ, đúng kỳ hạn nhằm giúp lãnh đạo Ban và cơ quan chủ quản nắm bắt thông tin kịp thời, đưa ra được các quyết định tốt nhất.

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm phải là báo cáo tổng hợp phản ảnh đầy đủ tình hình tài chính của đơn vị . Nên, đơn vị cần lập báo cáo tổng hợp tất cả các nguồn kinh phí, sau đó theo yêu cầu quản lý mới phân chia thành nguồn tự chủ, nguồn không tự chủ…

Báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách hằng năm phải phù hợp và thống nhất với chỉ tiêu dự toán năm tài chính, đảm bảo có thể so sánh được giữa số liệu thực hiện với số dự toán, giữa các kỳ kế toán với nhau.

Nâng cao chất lượng của “ Thuyết minh báo cáo tài chính” . Thuyết minh báo cáo tài chính phải phân tích được tình hình thực hiện từng nguồn kinh phí trong năm của đơn vị, nguyên nhân tăng, giảm; những thuận lợi và khó khăn trong quá trình tổ chức quản lý, sử dụng ngân sách. Qua đó cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình tài chính của đơn vị cho người đọc báo cáo tài chính.

Tác giải đề xuất thiết kế 02 biểu mẫu báo cáo sau đây, hy vọng căn cứ vào số liệu thu thập được từ 02 báo cáo này, các bộ phận sẽ có đầy đủ tư liệu để báo cáo cho lãnh đạo trong mọi tình huống, theo yêu cầu.

  • Báo cáo định kỳ:

Bảng 3.3. Báo cáo công tác thanh toán vốn đầu tư

ĐVT: ngàn đồng

STTCông trình, hạng mục công trìnhĐơn vị thực hiệnGiá trị hợp đồngKhối lượng thực hiệnTạm ứngTổng giá trị thanh toán, trong đó
Tổng sốThanh toán thực tếThu hồi tạm ứngCòn lại phải thanh toán
I Mở rộng khu neo đậu tàu thuyền, kết hợp xây dựng cảng cá Hồng Triều.
1 HM xây dựng Cty Cổ phần 6.3 49.330.000 27.149.297 7.399.500 27.149.297 17.028.049 7.399.500 2.721.748
2 HM Khảo sát, thiết kế -TDT Công ty CP TV XD Bắc Quảng Nam 2.385.029 2.385.029 740.000 2.385.029 1.592.892 740.000 52.137
3 HM: …………. …. ……… …….
II Dự án XD các khu TĐC trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020
1 HM: Xây lắp thôn Âp Trung. Đại Minh,Đại Lộc Cty CP Sao Kim Việt 3.252.582 1.952.791 1.626.000 1.952.791 280.192 1.626.000 46.599
2 HM :XL Thôn Trà Đông, Đông Bình, Duy Xuyên Cty TNHH Thanh Tiến 2.705.777 2.277.233 1.352.000 2.277.233 900.000 1.352.000 25.233
3 HM : TV

KS, lập BCNCKT

Cty TNHH TVXD Quảng Nam 390.607 389.862 190.000 389.862 175.862 190.000 24.000
4 HM: TV

Ks, lập TKBVTC-TDT

Cty TNHH TV Công trình Dương Nguyễn 1.677.638 759.741 670.000 759.741 500.000 259.741
Tổng cộng (I+II+ …)59.741.63334.913.95311.977.50034.913.95320.476.99511.567.2412.896.717

Tác dụng của báo cáo định kỳ: tại mỗi kỳ báo cáo, đơn vị sẽ cung cấp cho cơ quan có liên quan như lãnh đạo Ban, Sở Tài chính, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Quảng Nam…. các thông tin về các dự án, công trình, hạng mục công trình đang tiến hành với khối lượng thực hiện đạt bao nhiêu, số thu hồi tạm ứng đạt mức nào, số thanh toán cho nhà thầu… các thông tin này giúp cho lãnh đạo đơn vị cũng như cơ quan chuyên môn có liên quan sớm có những chỉ đạo đúng đắn để đẩy nhanh tiến độ thi công của những công trình không đạt tiến độ theo yêu cầu được giao hoặc có những những chế tài hợp lý để yêu cầu nhà thầu đảy nhanh tiến độ thi công.

  • Báo cáo đột xuất:

Bảng 3.4. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch vốn năm 2017

ĐVT:ngàn đồng

TTCông trình, hạng mục công trìnhKH vốn nămGiá trị KL thực từ đầu năm báo cáoGiá trị giải ngân từ đầu năm B/CTrong đó: Tạm ứng năm báo cáoLũy kế từ khởi công
Khối lượng thực hiệnTổng giá trị giải ngânTrong đó: tạm ứng
1 Dự án Cảng cá Hồng Triều 15.000.000 19.904.075 15.000.000 3.794.848 22.107.915 25.080.000 4.055.237
2 Dự án XD các khu TĐC trên địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2016-2020 17.775.000 14.141.240 17.775.000 11.101.264 18.007.352 35.085.000 17.850.228
Tổng cộng32.775.00034.045.31532.775.00014.896.11240.115.26760.165.00021.905.465

Báo cáo đột xuất:

Với việc xây dựng mẫu báo cáo đột xuất như trên giúp cho lãnh đạo Ban kiểm soát được kế hoạch vốn giao cho đơn vị hằng năm cho từng dự án, công trình đã sử dụng, từ đó có thể só sánh với giá trị khối lượng nhà thầu thực hiện để có cái nhìn tổng quan hơn về toàn bộ dự án như tiến độ thực hiện, dự kiến thời gian hoàn thành và đánh giá các hệ lụy liên quan…. Đồng thời lãnh đạo Ban có những quyết định đối với số kế hoạch vốn còn lại không sử dụng hết để xin chủ trương điều chuyển cho các dự án khác còn thiếu vốn.

3.2.5. Hoàn thiện việc xây dựng bộ phận kiểm tra kế toán nội bộ

Kiểm tra kế toán là một trong những vấn đề rất quan trọng, đảm bảo cho công tác kế toán tại Ban Quản lý đi vào nề nếp, thực hiện đúng những chế độ tài chính quy định, ngăn ngừa hành vi tiêu cực. Trong điều kiện hiện nay, khi yêu cầu về chất lượng được đặt lên hàng đầu đòi hỏi Ban quản lý cần phải xây dựng một bộ phận kiểm tra kế toán nội bộ có quy trình kiểm soát khoa học, có đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn, am hiểu về nghiệp vụ kiểm tra, kiểm soát, có năng lực, kinh nghiệm và phẩm chất đạo đức tốt.

Một bộ máy thực hiện kiểm tra kế toán nội bộ một cách có hiệu quả sẽ khắc phục được những sai sót, nhầm lẫn trong quá trình thực hiện công việc, hạn chế tình trạng quan liêu, những nhiễu, tiêu cực trong quản lý, nâng cao tinh thần trách nhiệm và nghiệp vụ chuyên môn của các cán bộ quản lý trong quá trình thực hiện công việc từ khâu lập, thẩm định, tổng hợp dự toán đến khâu nghiệm thu quyết toán.Hơn nữa công tác kiểm tra kế toán nội bộ có tính độc lập cao sẽ tác động tích cực đối với việc phát hiện và điều chỉnh những sai sót trong công tác quản lý. Vì vậy, kiểm tra công tác kế toán cần được thực hiện từng bước và đảm bảo có hiệu quả.

Tác giả đề xuất cần sớm xây dựng hệ thống kiểm tra và kiểm soát nội bộ bao gồm : Giám đốc Ban quản lý dự án, Kế toán trưởng, Trưởng phòng Kế hoạch – Kỹ thuật, Ban thanh tra nhân dân và một số cán bộ chuyên môn khác.

– Hàng năm Ban quản lý dự án cần xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác lập dự toán xây dựng công trình; Dự toán thu, chi quản lý dự án, công tác đấu thầu, nghiệm thu khối lượng hoàn thành theo hợp đồng ….

– Mục đích của công tác tự kiểm tra là đánh giá chất lượng hoạt động, tình hình chấp hành cơ chế chính sách và quản lý lập dự toán xây dựng công trình; các khoản thu, chi tài chính, quản lý và sử dụng tài sản, tiền vốn, sử dụng quỹ lương, quỹ thưởng, các quỹ của cơ quan và công tác quản lý đầu tư xây dựng cơ bản trong đơn vị; Phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các sai phạm, áp dụng các biện pháp xử lý các sai phạm theo đúng thẩm quyền đã được phân cấp. Đồng thời tổ chức rút kinh nghiệm, đánh giá những tồn tại, tìm ra nguyên nhân và đưa ra phương hướng, biện pháp khắc phục nhằm tăng cường công tác quản lý tài chính, kế toán tại đơn vị.

– Trình tự và phương pháp tự kiểm tra:

+ Thu thập, xử lý các tài liệu liên quan đến cuộc kiểm tra về các chế độ chính sách hiện hành, các quy định nội bộ đơn vị.

+ Kiểm tra, phát hiện, ghi chép và tổng hợp số liệu, thông tin liên quan đến cuộc kiểm tra.

+ Đối soát các hành vi phát hiện được trong quá trình kiểm tra với các chế độ chính sách hiện hành của Nhà nước, quy định của đơn vị, dự toán, công việc được giao. Tiến hành thẩm tra, xác minh đối với trường hợp có nghi vấn.

+ Đánh giá mức độ của các sai phạm, nghiên cứu và đề ra những biện pháp khắc phục, xử lý kết quả kiểm tra theo thẩm quyền.

3.2.6. Hoàn thiện chương trình kế toán máy tại ban quản lý dự

Kế toán máy đang trở nên khá phổ biến và chứng minh tính hữu hiệu của nó trong công tác kế toán cũng như trong hoạt động quản lý của đơn vị. Với việc ứng dụng kế toán máy cho phép kế toán viên cung cấp số liệu một cách nhanh chóng chính xác, đồng thời cũng giảm nhẹ khối lượng công việc của kế toán tiết kiệm, chi phí vì vậy hết sức cần thiết để xây dựng hoàn thiện chương trình kế toán máy này.

– Hoàn thiện chương trình kế toán máy theo đúng tinh thần thông tư 195/2012/TT-BTC ngày 15/11/2012 của Bộ Tài Chính các các văn bản hướng dẫn khác theo quy định hiện hành. Đảm bảo khi lên báo cáo tài chính phải đầy đủ các biểu mẫu theo quy định, biểu mẫu được thiết kế dễ hiểu, dễ tra cứu thông tinm không cung cấp trùng lắp thông tin và có thể bóc tách số liệu trong một số các biểu mẫu để hoàn thành các biểu mẫu theo yêu cầu của các cơ quan có liên quan.

– Trong quá trình nhập liệu, kế toán hạch toán kiểm tra, đối chiếu các yếu tố trên chứng từ nhấp vào chương trình đảm bảo số được nhập chính xác và đầy đủ theo yêu cầu thiết kế của chương trình.

– Phát huy sáng tạo trong ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác kế toán.

+ Hiện nay, bộ phận Kế toán và các phòng, ban trong Ban quản lý dự án đã hòa mạng Internet. Đây là một cách giúp các cán bộ nhân viên tiếp cận thông tin bên ngoài một cách nhanh và rộng nhất. Việc nối mạng nội bộ trong phòng và trong Ban quản lý dự án giúp cho việc truy cập thông tin tiện lợi và dễ dàng hơn. Ví dụ: Để phục vụ công tác báo cáo, ngày tháng bộ phận kế toán chỉ việc tổng hợp số liệu theo mẫu đã thống nhất phần 3.2.3 gởi Email chung của Ban quản lý được tạo sẵn, Ban Giám đốc và các thành viên trong Ban sẽ lấy dữ liệu từ đây, không cần phải gửi báo cáo cho từng bộ phận theo cách truyền thống.

Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam
Hoàn thiện công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam

3.2.7. Nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ kế toán, cán bộ kiểm tra công tác lập dự toán của Ban quản lý dự án

Để đảm bảo cho việc hoàn thiện công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban Quản lý vừa mang tính khả thi, vừa đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nói chung và công tác quản lý tài chính nói riêng thì các giải pháp hoàn thiện phải đáp ứng các yêu cầu:

* Về mặt tổ chức nhân sự:

Rà soát, đánh giá lại lực lượng làm công công tác kế toán và cán bộ kiểm tra kỹ thuật, dự toán công trình tại đơn vị, phân loại trình độ để có phương án đào tạo, chuẩn hóa phù hợp. Khuyến khích cán bộ viên chức tự học tập, nâng cao trình độ nghiệp vụ. Thường xuyên nghiên cứu nắm bắt kịp thời các chính sách, chế độ, văn bản quy định của Nhà nước để kịp thời đưa ra những đề xuất đúng đắn cho Lãnh đạo trong công tác tổ chức kế toán tại đơn vị. Đây là điều kiện cần thiết để giúp cho bộ máy kế toán được gọn nhẹ hiệu quả sẽ giúp cho Ban Quản lý tiết kiệm được chi phí, giảm bớt các bộ phận hoặc thao tác trung gian tạo điều kiện để việc cung cấp thông tin được nhanh chóng, kịp thời.

Sắp xếp những người làm kế toán có kinh nghiệm vào phần hành kế toán phức tạp và khối lượng công việc nhiều. BQL cần phân công nhân sự kế toán phụ trách dự án liền mạch từ khi công trình bắt đầu chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc đầu tư dự án, để phục vụ kịp thời công tác báo cáo định kỳ và quyết toán.

Cần bổ sung thêm số lượng nhân viên kế toán. Trong bộ phận nên bố trí 04 kế toán viên luân phiên, hỗ trợ nhau phụ trách hoạt động kế toán thanh toán vốn đầu tư XDCB và kế toán tổng hợp. Giao trách nhiệm vụ cụ thể cho từng người để thuận tiện cho việc chuyên môn hoá nhằm giảm bớt sự trùng lặp trong công việc cũng như tránh rơi vào tình trạng không được giao việc cụ thể nên khó xác định trách nhiệm trong công việc. Cụ thể cần giao cho 3 kế toán viên theo dõi tình hình thanh toán vốn đầu tư XDCB, 1 kế toán viên làm kế toán tổng hợp, đồng thời kiểm tra, giám sát các phần hành kế toán như kế toán thanh toán, kế toán đền bù và kế toán chi phí ban quản lý dự án, định kỳ hàng năm có kế hoạch luân chuyển vị trí giữa 04 kế toán này, nhằm bổ sung kinh nghiệm thực tiễn cho nhau; đồng thời tránh lạm quyền trong thực thi nhiệm vụ. Tuy nhiên cho dù công việc được phân công rõ ràng cụ thể từng phần song giữa các cá nhân này vẫn cần thiết phải có sự kết hợp trong quá trình theo dõi và phân tích tình hình tài chính của Ban quản lý dự án để đảm bảo tính thống nhất trong hạch toán và theo dõi các nghiệp vụ.

* Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ viên chức trong Ban quản lý dự án nói chung, cho bộ phận kế toán nói riêng.

Hiện nay hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước đang trong giai đoạn hoàn thiện, kéo theo đó là các văn bản hướng dẫn sau luật phải thay đổi thường xuyên liên tục để đáp ứng phù hợp với tình hình thực tế. Bên cạnh đó việc sử dụng máy tính và các phần mềm kế toán đòi hỏi kế toán viên phải có trình độ chuyên môn và kiến thức tốt về tin học thì mới phát huy được hết chức năng của các phần mềm đó. Vì vậy hàng năm cần có kế hoạch tổ chức cho cán bộ làm công tác kế toán tham gia các lớp đào tạo, tập huấn về đầu tư XDCB, kế toán chủ đầu tư, quản lý vốn đầu tư. Cán bộ chuyên viên hoạt động ở lĩnh vực nào thì được đào tạo chuyên sâu về lĩnh vực đó.

Bố trí thời gian, kinh phí và phối hợp với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng tổ chức đào tạo ngoài giờ làm việc, tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề để trao đổi kinh nghiệm công tác.

Tăng cường, nâng cao trình độ cán bộ làm công tác kế toán, cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ thông tin, nâng cáo hiệu suất xử lý các khâu trong kế toán đầu tư XDCB.

Rèn luyện, nâng cao ý thức đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ trong toàn đơn vị, nhất là đội ngũ cán bộ kế toán, vì đây là lĩnh vực nhạy cảm có nhiều hiện tượng tiêu cực xảy ra. Do đó những nhân sự tham gia vào lĩnh vực công tác kế toán tại Ban quản lý nói chung và kế toán thanh toán vốn đầu tư nói riêng phải có tinh thần tuân thủ đạo đức nghề nghiệp rất cao, có bản lĩnh để đảm bảo không bị chi phối bởi lợi ích cá nhân gây ảnh hưởng đến hình tượng của kế toán nói chung và kế toán tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam nói riêng.

3.3. Một số kiến nghị đối với cơ quan quản lý nhà nước

Nước ta đang trong quá trình tiếp tục đổi mới các lĩnh kinh tế xã hội theo hướng hội nhập. Do đó từ nhận thức đến quan điểm, môi trường pháp lý, chính sách của Nhà nước cần có những bước chuyển biến nhất định để phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong đó, những quy định về công tác kế toán tại Ban quản lý dự án là đơn vị sự nghiệp công lập cũng cần được hoàn thiện.

Để hoàn thiện công tác kế toán , trước hết, các cơ quan quản lý cần có các chính sách, chế độ quản lý tài chính chi tiết, ổn định và thống nhất cho các Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng cơ bản.

3.3.1. Kiến nghị với Nhà nước

– Các cơ quan nhà nước cần nâng cao chất lượng công tác soạn thảo, ban hành các văn bản quy định pháp luật về quản lý chi phí đầu tư XDCB, quản lý đầu thầu và quản lý nguồn vốn đầu tư XDCB. Hạn chế các tồn tại bất cập, chồng chéo không kịp thời, tính thực tiễn không cao.

– Cơ quan có thẩm quyền cần bố trí kế hoạch vốn hàng năm cho các dự án đầu tư để đảm bảo tiến độ thanh toán dự án theo kế hoạch hàng năm của BQL dự án, tránh tình trạng đến cuối quí 3 đầu quí 4 mới bố trí bổ sung kế hoạch vốn năm cho dự án và cắt giảm thủ tục hành chính đối với công tác đầu tư XDCB.

– Cần phải quy định cụ thể công tác thanh tra, kiểm toán thường xuyên đối với các dự án tránh tình trạng cùng một dự án trong cùng một năm vừa có đoàn thanh tra của Bộ chuyên ngành vào làm việc xong lại đến đoàn của kiểm toán nhà nước vào làm việc với cùng một nội dung.

3.3.2. Kiến nghị với UBND tỉnh

UBND tỉnh phân cấp và giao quyền chủ đầu tư cho BQL theo nội dung các Nghị định của Chính phủ, đồng thời tăng cường đối với công tác thanh kiểm tra, giám sát để tăng tính chịu trách nhiệm và hiệu quả giải quyết các vấn đề điều chỉnh, phát sinh của dự án đầu tư, vốn đầu tư.

UBND tỉnh cần quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ hiện có của địa phương nói chung và Ban quản lý dự án nói riêng nhằm nâng cao trình độ năng lực chuyên môn đáp ứng tốt được những yêu cầu của công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.

Căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, UBND tỉnh Quảng Nam cần có kế hoạch dài hạn, trung hạn, ngắn hạn về nhu cầu vốn đầu tư để phân bổ nguồn lực hợp lý và tiết kiệm. Phân cấp quản lý vốn đầu tư cho các đơn vị trực thuộc huyện (xã, thị trấn) để cơ sở có quyền chủ động trong công tác quản lý vốn đầu tư, đẩy nhanh tốc độ giải ngân, tập trung quyết toán dứt điểm đối với các công trình đã hoàn thành để bàn giao đưa vào sử dụng.

Tổ chức và hướng dẫn công tác kế toán đầu tư XDCB cho Ban quản lý, rà soát kiểm tra lại cách thức tổ chức kế toán đầu tư XDCB để khắc phục những điểm chưa hợp lý trong công tác kế toán hay tìm ra những ưu điểm từ đó nhân rộng mô hình áp dụng trong phạm vi kế toán đầu tư XDCB cho các Ban quản lý trên địa bàn tỉnh.

3.3.3. Kiến nghị với các Sở, Ban ngành liên quan

Sở Tài chính, Sở Nội vụ cần thẩm định đơn vị Ban quản lý dự án là đơn vị tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập; cần quy định thống nhất cách lập dự toán thu, chi phí quản lý dự án ở cả hai loại hình đơn vị Ban quản lý dự án và đơn vị sự nghiệp có thu này.

Sở Tài chính cần chủ động nhập dự toán vào hệ thống Tabmis cho toàn bộ các dự án được phân bổ theo quyết định giao chỉ tiếu kế hoạch vốn ngay từ đầu năm cho các dự án để kế toán BQL dự án chủ động làm thủ tục thanh toán cho các đơn vị. Đối với công tác quyết toán dự án hoàn thành: Ngay sau khi nhận được hồ sơ trình thẩm tra phê duyệt quyết toán của chủ đầu tư, Sở Tài chính phải nhanh chóng kiểm tra hồ sơ để yêu cầu các đơn vị bổ sung kịp thời, tránh kéo dài thời gian thẩm tra phê duyệt quyết toán.

Chỉ đạo cho Ban quản lý tăng cường công tác kiểm tra kế toán nội bộ, xây dựng các quy chế kiểm soát chặt chẽ và chế độ trách nhiệm quản lý tài chính trong đơn vị, đảm bảo việc chi tiêu cho dự án cũng như chi phí quản lý dự án đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và đúng chế độ quy định.

Định kỳ, đột xuất kiểm tra công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý như kiểm tra hệ thống công tác lưu trữ chứng từ, công tác hạch toán kế toán ban đầu, số sách, báo cáo kế toán, để kịp thời phát hiện và hiệu chỉnh sai sót (nếu có).

Các Sở, ngành khi ban hành các biểu mẫu báo cáo quá trình sử dụng nguồn vốn đầu tư, quá trình đầu tư… các biểu mẫu này phải có tính thống nhất để thực hiện.

Sở tài chính cần tăng cường kiểm tra, hướng dẫn đơn vị thực hiện đúng công tác kế toán đầu tư XDCB theo quy định.

Chủ đầu tư (BQL) cần lựa chọn những đơn vị tư vấn, đơn vị thi công đủ điều kiện về năng lực, kinh nghiệm, tài chính, đội ngũ cán bộ, công nhân lành nghề, trang thiết bị đầy đủ để lập dự án, thiết kế và thi công, xây dựng, lắp đặt thiết bị.

Đối với Kho bạc nhà nước tỉnh Quảng Nam khi gửi hồ sơ thanh toán qua bộ phận một cửa đã kiểm soát đầy đủ thì không nên kéo dài thời gian thanh toán của các đơn vị và cũng không gây phiền hà trong quá trình thực hiện kiểm soát hồ sơ thanh toán.

3.3.4. Những hạn chế trong nghiên cứu và các vấn đề đặt ra

Mặc dù đã rất cố gắng, song với hạn chế về thời gian và năng lực, đề tài nghiên cứu trên của tôi vẫn còn có những hạn chế sau:

– Do thời gian nghiên cứu và kiến thức của tác giả về nghiên cứu khoa học, về kế toán đầu tư XDCB còn nhiều hạn chế nên không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình xem xét, nghiên cứu chi tiết thực trạng đưa ra các giải pháp, kiến nghị tốt nhất để hoàn thiện kế toán hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.

– Đề tài mới chỉ nghiên cứu dưới góc độ kế toán tài chính, chưa đề cập đến góc độ kế toán quản trị.

– Đề tài mới chỉ dừng lại nghiên cứu về công tác kế toán hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản ở các Ban quản lý dự án là đơn vị sự nghiệp mà cụ thể là Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

Qua luận văn này, tác giả mới chỉ đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện toán kế toán hoạt động đầu tư xây dựng tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam. Với đặc thù riêng là Ban quản lý dự án trực thuộc tỉnh là đơn vị sự nghiệp công lập có thu, phải tuân thủ theo những quy định của Nhà nước những hoạt động đầu tư XDCB còn rất nhiều vấn đề cần được nghiên cứu.

Trong tương lai nếu có điều kiện nghiên cứu tiếp, tác giả sẽ hoàn thiện các hạn chế của đề tài và nghiên cứu thêm về kế toán quản trị tại các Ban quản lý dự án là đơn vị sự nghiệp.

KẾT LUẬN

Hiện nay Nhà nước đang có chủ trương sắp xếp lại các Ban quản lý dự án theo hướng chuyên ngành. Cụ thể căn cứ vào Thông tư 16/2016/TT-BXD hướng dẫn Nghị định 59/2015/NĐ-CP về hình thức tổ chức quản lý dự án (QLDA) đầu tư xây dựng, Nghị định số 42/2017/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 59/2015/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng.

Theo đó, việc sắp xếp, kiện toàn, thành lập các Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng theo quy định hiện hành nhằm thành lập các đơn vị chuyên trách trong lĩnh vực về đầu tư xây dựng cơ bản; tập trung thực hiện công tác chuyên môn có khoa học theo quy định (không kiêm nhiệm), đúng ngành nghề đảm bảo đủ năng lực về chuyên môn và kinh nghiệm đáp ứng tình hình mới; làm đầu mối phối hợp với các sở, ngành, các tổ chức, cá nhân chuyên môn trong việc triển khai và giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều hành và quản lý nhà nước về lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản của UBND tỉnh một cách hiệu quả và đúng quy định. Cùng với đó, ngoài những công việc tổ chức ban đầu cho một đơn vị đi vào hoạt động ổn định lâu dài, thì cần thiết phải tổ chức công tác kế toán tương ứng để góp phần tạo nên sự ổn định hoạt động lâu dài cho một Ban quản lý dự án, giúp công tác tổng hợp của đơn vị được thuận tiện và chuyên nghiệp đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong tình hình mới hiện nay.

Với quan điểm tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản theo hướng nâng cao chất lượng về công tác tổ chức quản lý, góp phần quản lý vốn được hiệu quả, hệ thống sổ sách, chứng từ được tạo lập và lưu trữ khoa học, tạo sự chuyên nghiệp trong công tác tổ chức kế toán Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam luận văn cũng đã nêu được thực tế về công tác tổ chức công tác kế toán đầu tư XDCB, những mặt đã đạt được và những vấn đề còn tồn tại; những giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán đầu tư XDCB tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng. Tuy nhiên các giải pháp này có phần mang tính chủ quan từ bản thân tác giả, việc có được thực hiện hay không các giải pháp còn cần phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm lãnh đạo của từng đơn vị. Nhưng với một số đề xuất giải pháp nêu trên, tác giả tin tưởng cũng sẽ ít nhiều tạo được những thuận lợi trong quá trình thực hiện tổ chức công tác kế toán đầu tư xây dựng cơ bản tại các ban quản lý dự án.

Được sự hướng dẫn tận tình của Thầy giáo PGS. TS. Lê Đức Toàn, sự góp ý nhiệt tình của lãnh đạo cũng như các đồng nghiệp tại Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, tác giả đã có nhiều nỗ lực cố gắng, nhưng những kết quả nghiên cứu không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp, bổ sung của các Thầy giáo, Cô giáo, và các đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.

Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô trực tiếp hướng dẫn, các thầy cô trong khoa sau đại học và khoa kế toán của trường Đại học Duy Tân, các anh chị trong bộ phận kế toán và các phòng, ban trong Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN DINH HONG KT\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *