Hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan

Hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan

Hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan tại Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam

Lý do chọn đề tài

Sức khỏe là vốn quý con người, không có sức khỏe thì không thể làm được việc gì, có thể gây ra hậu quả rất lớn cho gia đình và xã hội. Trong những năm qua ở nước ta, nhiều căn bệnh nảy sinh ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng, hạn chế đến sự phát triển kinh tế và nâng cao thu nhập cho người dân.

Thực tế cho thấy, phát triển sản phẩm mới trong lĩnh vực dược phẩm là vấn đề rất cần thiết và rất quan trọng đối với việc bảo vệ sức khỏe con người trong việc ngăn ngừa, phòng chống và điều trị bệnh xảy ra nhằm đảm bảo cho mọi người đều có một thể trạng khỏe mạnh để thực hiện các mục tiêu của Nhà nước nói chung và của mỗi người nói riêng.

Trong môi trường hiện nay, khi các ngành khoa học công nghệ phát triển đặc biệt là ngành công nghiệp sinh học và hóa học đã đem lại lợi ích cho con người, nhưng mặt trái của nó là phải đối mặt với các hóa chất, thực phẩm gây ra nhiều bệnh tật đòi hỏi phải có nhiều thứ thuốc điều trị, ngăn ngừa, phục hồi tế bào, tăng cường khả năng miễn dịch, bệnh tật để đưa con người trở lại với hoạt động bình thường

Ở các thành phố lớn ở nước ta, người dân sống ở các khu chung cư, nhà trọ tạm bợ thiếu nguồn nước sinh hoạt môi trường sinh thái bị ô nhiễm .Ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa người dân vẫn còn thiếu nước hoặc nước bị kém chất lượng, học sinh đến tuổi đi học vẫn không được đến trường, dịch vụ y tế cộng đồng kém ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống.Ngày 01/06/2010 cơ quan quốc tế Nghiên cứu Ung thư (IARC) công bố gánh nặng ung thư trên toàn cầu của năm 2008 (GLOBOCAN 2008).

Ung thư là sát thủ mạnh tay nhất so với các bệnh khác. Toàn hành tinh có 12,7 triệu người mới mắc và 7,8 triệu người chết. Ung thư thường gặp ở phổi, vú, ruột già. Ung thư gây chết nhiều nhất là ung thư phổi, dạ dày và gan. Năm 2030 sẽ có xấp xỉ 21,4 triệu ca và 13,2 triệu ca chết hàng năm).

Theo thống kê khoảng 80% nguyên nhân gây ra ung thư là do những gì con người ăn uống, hít thở, cọ xát hoặc phơi trãi. Khói thuốc lá gây ra 1/3 gánh nặng ung thư trên hành tinh. Một số virut, vi khuẩn gây 1/5 các ung thư của loài người. Như virut HBV, HCV (gan) ; HPV (cổ tử cung); vi khuẩn H.pylori (dạ dày). Ăn uống không lành mạnh kèm theo thiếu vận động và béo phì tạo 1/3 gánh nặng (ii)

Ở Việt Nam năm 2008 số người mắc là 116.000, số tử vong là 82.000. Cứ 100.000 người dân, thì có 138,7 người mới mắc, có 101 người chết.

Khi tỷ lệ mắc bệnh ung thư ngày càng cao đang diễn ra ở Việt Nam và các nước trên thế giới thì xu hướng tìm về lối sống lành mạnh, quan tâm hơn đến các sản phẩm chiết xuất từ thiên nhiên.

Là công ty đầu tiên và duy nhất được tại Việt Nam được Viện nghiên cứu khoa học và ứng dụng Nha Trang chuyển giao máy móc, thiết bị và bản quyền về sản xuất sản phẩm có chứa tinh chất Fucoidan tại Việt Nam. Ngay từ ban đầu công ty xác định phát triển sản phẩm có chứa tinh chất Fucoidan tại Việt Nam trong giai đoạn ban đầu rất khó khăn. Do sản phẩm được sản xuất từ trong nước chịu sự cạnh tranh bởi các đối thủ là các sản phẩm ngoại nhập thâm nhập vào thị trường Việt Nam thông qua con đường xách tay.

Nguồn lực nội tại của công ty còn rất kém, nguồn vốn thiếu do đầu tư tài sản cố định, nguồn nguyên liệu gặp khó khăn do chưa có nguồn hàng dồi dào, chưa tìm kiếm được các đối tác lớn chuyên nghiệp, nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của Hội đồng quản trị.

Quá trình thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan tại Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam thời gian qua còn nhiều vấn đề đặt ra về xây dựng, tổ chức thực hiện, còn tồn tại nhiều yếu kém, hạn chế về các mặt.

Sau khi phân tích thực trạng, chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan Việt Nam, bản thân tôi mong muốn nghiên cứu “ đưa sản phẩm có hàm lượng fucoidan của công ty sẽ là sự lựa chọn hàng đầu của khách hàng để ngăn ngừa ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch đáp ứng yêu cầu, sự lựa chọn của khách hàng để góp phần ngăn chặn, phòng ngừa bệnh ung thư tại thị trường Việt Nam. Vì vậy tôi quyết định chọn đề tài “ Hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan tại Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam” nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình.

Mục đích nghiên cứu

– Hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến chiến lược phát triển sản phẩm mới của Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam.

– Đánh giá thực trạng chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan tại Công ty cổ phần Fuoidan Việt Nam. Từ đó, làm căn cứ đề ra các biện pháp tiếp tục hoàn thiện chiến lược sản phẩm Fuoidan Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của công ty trong thời gian đến.

Nhiệm vụ nghiên cứu

– Phân tích đánh giá thực trạng chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan thời gian qua. Từ đó, đánh giá những mặt mạnh, những mặt yếu kém trong quá trình thực hiện chiến lược và tìm các nguyên nhân của những hạn chế nói trên và đưa ra các giải pháp hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan tại Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

-Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn liên quan đến việc chiến lược phát triển sản phẩm Fucoidan của Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam tại thị trường Việt Nam

-Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tại Công ty cổ phần Fucoidan Việt Nam, trong thời gian 5 năm: 2009-2013.

Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp lý luận gắn với thực tế, phương pháp phân tích tổng hợp, điều tra xã hội học.

Tổng quan đề tài nghiên cứu

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHIẾN LƯỢC

PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. KHÁI NIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC, CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DOANH NGHIỆP

1.1.1. Khái niệm về chiến lược

Chiến lược là tổng thể các quan điểm, đường lối của một tổ chức cần hướng đến trong tương lai và biện pháp để đưa nó trở thành hiện thực. Nó được thể hiện thông qua hai bộ phận, đó là bộ phận xây dựng và tổ chức thực hiện để đưa nó trở thành hiện thực như mong muốn. Hai nội dung cơ bản này không tách rời nhau mà nó hỗ trợ và thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển chiến lược.

Chiến lược là những hành động được lên kế hoạch để đạt tới tầm nhìn. Nhiệm vụ của công ty là tập trung lên thị trường để phục vụ và sản xuất ra hàng hóa sản phẩm. Điều cơ bản, nhiệm vụ được xem là ý định cốt lõi nhất của công ty để thực hiện công việc như đã định hướng. Điều này đòi hỏi chủ thể phải xây dựng được tầm nhìn một cách đúng đắn và truyền đạt ý nghĩa tầm nhìn cho các đối tượng quản lý để họ có nhận thức một cách sâu sắc từ đó quyết tâm thực hiện mục tiêu, chiến lược đề ra.

Chiến lược được hình thành dựa vào các thông tin bên trong và bên ngoài công ty và lựa chọn theo một tiến trình mang tính khoa học. Đồng thời, trong quá trình quản trị chiến lược, các nhà quản trị luôn giám sát những biến động của môi trường kinh doanh và điều chỉnh chiến lược khi cần thiết.

1.1.2. Chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp

Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa trên cơ sở thực hiện pháp luật của Nhà nước quy định. Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân và được nhà nước công nhận có tính pháp lý và được thực hiện điều pháp luật không cấm. Hiện nay doanh nghiệp được chia làm 2 loại doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài nhà nước. Do đặc điểm khác nhau cho nên bộ doanh nghiệp có chiến lược khác nhau để khai thác tiềm năng thế mạnh và tính đặc thù sự khác biệt. Chiến lược đối với doanh nghiệp đặc biệt quan trọng trong việc định hướng mục tiêu phát triển trong tương lai.

Chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp là chiến lược được xác định trên cơ sở tiềm năng thế mạnh của các doanh nghiệp phù hợp với thị trường trong quá trình cạnh tranh ngày càng nghiệt ngã. Điều này thể hiện khả năng khai thác những thế mạnh trong quá trình phát triển sản phẩm đảm bảo sự khác biệt về mẫu mã và thị hiếu, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp luôn được hoàn thiện, đổi mới để ngày càng đáp ứng yêu cầu của thực tiễn hoạt động kinh doanh đang đòi hỏi.

Chiến lược phát triển sản phẩm doanh nghiệp là một sự kết hợp giữa tính khoa học và tính nghệ thuật trong khai thác sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp nhằm tạo ra các lợi thế cạnh tranh và thúc đẩy cạnh tranh dài hạn trong điều kiện môi trường mới. Thực tế cho thấy, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp nó thể hiện khả năng, ý chí tiến thủ của doanh nghiệp trên thị trường cạnh tranh ngày càng nghiệt ngã để tìm kiếm lợi nhuận tối đa. Bất cứ chiến lược nào được xây dựng và tổ chức thực hiện đều dựa trên tiềm năng, thế mạnh những hạn chế, yếu kém, tranh thủ cơ hội, đầy lùi nguy cơ. Có như vậy chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp mới mang lại hiệu quả trong thực tiễn thông qua các phương pháp, nguyên tắc quản trị chiến lược.

1.2. VAI TRÒ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

Vai trò chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp được thể hiện trên nhiều mặt và nhiều góc độ khác nhau, thể hiện rõ nét là :

– Chiến lược phát triển sản phẩm giúp cho doanh nghiệp nhận rõ được mục đích hướng đi của mình trong tương lai làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy nếu một doanh nghiệp không có chiến lược phát triển sản phẩm cho riêng mình thì doanh nghiệp đó không có định hướng và tầm nhìn dài hạn trong kinh doanh và dẫn đến nguy cơ thua lỗ và phá sản.

– Chiến lược phát triển sản phẩm giúp cho doanh nghiệp hướng hoạt động trong dài hạn của mình, là cơ sở vững chắc cho việc thực hiện các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp . Nếu một doanh nghiệp không có chiến lược hoặc chiến lược thiết lập không rõ ràng, không có luận cứ vững chắc sẽ làm cho hoạt động của doanh nghiệp mất phương hướng hoặc lúng túng bị động, không có chiến lược thì sẽ không định hướng được mục tiêu của mình. Điều này làm cho doanh nghiệp chỉ thấy trước mắt mà không xác định được lâu dài hoặc chỉ thấy cục bộ mà không thấy được mối quan hệ bên trong bên ngoài trong toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp trong thời gian đến. Thực tế đã cho thấy nếu doanh nghiệp có một chiến lược phát triển sản phẩm một cách đúng đắn trên cơ sở đẩy mạnh công tác quản trị chiến lược thì sẽ mang lại hiệu quả cao.

– Chiến lược phát triển sản phẩm giúp cho doanh nghiệp khai thác được tiềm năng thế mạnh, hạn chế yếu kém nắm bắt và tận dụng các cơ hội kinh doanh, đồng thời có biện pháp chủ động đối phó với những nguy cơ và mối đe dọa trên thương trường kinh doanh.

– Chiến lược phát triển sản phẩm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng cường vị thế của doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và bền vững. Khi chiến lược phát triển sản phẩm có hiệu quả là điều kiện để thúc đẩy việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp tạo ra giá trị mới ngày càng cao thông qua việc khai thác tiềm năng, lợi thế so sánh của doanh nghiệp trên thương trường.

– Chiến lược phát triển sản phẩm tạo ra các căn cứ vững chắc cho doanh nghiệp đề ra các quyết định phù hợp với sự biến động của thị trường. Nó tạo ra cơ sở cho hoạt động nghiên cứu và triển khai, đầu tư phát triển, đào tạo, bồi dưỡng nhân sự, mở rộng thị trường và phát triển sản phẩm. Thực tế chứng minh rằng vai trò của chiến lược đối với việc thúc đẩy và tạo nền tảng cho doanh nghiệp phát triển tốc độ nhanh, ổn định và bền vững. Chỉ khi nào doanh nghiệp có chiến lược phát triển đúng đắn có tầm nhìn dài hạn thì lúc đó doanh nghiệp mới chủ động được các hoạt động của mình và tập trung để thực hiện các mục tiêu đề ra. Điều đó cho thấy vai trò của việc thực hiện các chiến lược sản phẩm có ý nghĩa rất lớn đến việc tồn tại, phát triển doanh nghiệp.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP

Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển sản phẩm của doanh nghiệp, nhưng có các nhân tố chủ yếu sau :

Thứ nhất, nguồn nhân lực của doanh nghiệp.

– Năng lực trình độ của lãnh đạo doanh nghiệp trong quá trình thực hiện chiến lược.

Nếu trình độ năng lực của lãnh đạo của doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển chiến lược thì quá trình nói trên sẽ mang lại hiệu quả. Thực tế cho thấy nếu lãnh đạo doanh nghiệp nào có trình độ năng lực yếu kém thì quá trình xây dựng thực hiện chiến lược sẽ không đảm bảo yêu cầu mục tiêu đề ra. Ngược lại, nếu trình độ năng lực lãnh đạo được đáp ứng thì việc nâng cao hiệu quả của quá trình nói trên sẽ đạt được yêu cầu đề ra. Do đó, nhân tố này có vị trí đặc biệt quan trọng đối với quá trình xây dựng phát triển chiến lược.

– Khả năng hoạch định chiến lược của lãnh đạo doanh nghiệp: công tác lập kế hoạch không chỉ dừng ở lại việc vạch ra những bước công việc cần thiết để nâng cao chất lượng các hoạt động tác nghiệp bên trong doanh nghiệp mà còn phải tạo ra những thế lực mới giúp cho doanh nghiệp có thể đứng vững và phát triển ở môi trường cạnh tranh khắc nghiệt bên ngoài.

Doanh nghiệp cần phải xác định được đâu là thị trường trọng điểm và tương ứng với ngành mình tập trung nhằm phân bổ nguồn lực cũng như mục tiêu định hướng phát triển thời kỳ trước. Cơ sở việc lập kế hoạch chính là việc lượng hóa những điều không chắc chắn trong môi trường kinh doanh cũng như môi trường chính trị – xã hội dưới góc nhìn của các nhà chuyên môn. Những kết quả nghiên cứu được sắp xếp lại, được xem xét và quyết định của nhà quản trị. Công tác quản trị chiến lược lúc đó mọi quyết định được sự thống nhất của tập thể, của một bộ phận, của một nhóm người hay thậm chí một người nhưng nó đều căn cứ trên cơ sở khoa học.

– Năng lực tổ chức của lãnh đạo doanh nghiệp: tổ chức thực hiện chiến lược sản phẩm của một doanh nghiệp, nếu năng lực tổ chức lãnh đạo thực hiện chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp được nâng lên thì sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện chiến lược có hiệu quả, ngược lại nếu năng lực tổ chức hạn chế sẽ không phát huy, và phù hợp chiến lược với yêu cầu chiến lược của doanh nghiệp. Thông qua tổ chức để tạo thành sức mạnh tổng hợp trong quá trình thực hiện chiến lược. Vì thế, tổ chức và hình thành một cơ cấu tổ chức hợp lý là một vấn đề hết sức khó khăn đặt ra trước các nhà quản trị cao cấp. Không thể nói doanh nghiệp có được một chiến lược tốt nếu không có sự nhất quán trong cách nhìn nhận về cơ cấu doanh nghiệp. Một yêu cầu quan trọng của doanh nghiệp là lôi cuốn mọi người vào công tác quản trị đạt được chiến lược và những mục tiêu chung của doanh nghiệp.

– Trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp. Đây là những người trực tiếp thực hiện chiến lược, do đó có tác động rất lớn đến hiệu quả chiến lược, họ là người thực thi các mệnh lệnh của lãnh đạo nhằm đưa chiến lược vào cuộc sống có hiệu quả.

+ Năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong thực hiện chiến lược rất quan trọng, bởi vì trong quá trình sản xuất kinh doanh chính là quá trình thực hiện chiến lược.Do đó nếu trình độ, năng lực của họ yếu kém sẽ không đáp ứng yêu cầu đòi hỏi .Nếu đội ngủ cán bộ,công nhân có năng lực thực sự là điều kiện quan trọng của quá trình thực hiện chiến lược sản phẩm có hiệu quả. Kinh nghiệm, phong cách làm việc, khả năng hiểu biết về kinh doanh là vấn đề cần thiết đòi hỏi nguồn nhân lực của công ty phải đảm bảo yêu cầu. Yêu cầu này không chỉ xuất phát từ thực tế là đội ngũ lao động của một doanh nghiệp là từ năng lực tổng hợp riêng thu được từ việc kết hợp nguồn lực của từng doanh nghiệp với các nguồn lực về tổ chức và vật chất. Nguồn nhân lực của một doanh nghiệp với trình độ kiến thức, khả năng, ý thức trách nhiệm và thực hiện công việc sẽ phản ánh chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có kế hoạch thường xuyên đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Thứ hai, nhân tố thị trường và khách hàng

– Thị trường là tập hợp những người mua và bán giá cả theo quan hệ cung cầu. Nhân tố thị trường thể hiện sự cạnh tranh của các doanh nghiệp và lựa chọn của khách hàng, nếu sản phẩm của doanh nghiệp nào giá cả vừa phải nhưng chất lượng, mẫu mã đảm bảo và phục vụ khách hàng tốt sẽ thu hút được khách hàng mua sản phẩm của doanh nghiệp.

Yếu tố thị trường được thể hiện trên nhiều khía cạnh ,ngoài khía cạnh thị trường về giá,còn khía cạnh thị trừơng lao động, thị trường vốn, thị trường tư liệu sản xuất. Tất cả thị trường nói trên đều ảnh hưởng đến việc chiến lược của sản phẩm của doanh nghiệp.

– Khách hàng:

Nhân tố khách hàng trong quá trình tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp có vị trí rất quan trọng, vì nó là tài sản lớn nhất của doanh nghiệp. Do đó, bất cứ chiến lược nào cùng đều hướng đến khách hàng, coi khách hàng là mục tiêu cái đích cần hướng đến và nó là động lực thúc đẩy doanh nghiệp phát triển có hiệu quả đáp ứng yêu cầu của họ. Khách hàng có nhiều loại khác nhau như :khách hàng truyền thống, khách hàng mới, khách hàng khó tính, khách hàng chiến lược, vì vậy khi hình thành chiến lược doanh nghiệp luôn quan tâm đến khách hàng, coi đó là sự thanh công và thất bại cũng đều xuất phát từ khách hàng.

Khách hàng có thể tạo áp lực lên những nhà cung cấp, với sức ép giảm giá,nhưng vẫn giữ nguyên chất lượng và dịch vụ tốt. Các doanh nghiệp muốn làm tăng giá trị cho khách hàng bằng những chương trình giảm giá. Những người mua hàng hóa luôn có sức mạnh trong quyết định chọn lựa sản phẩm dịch vụ. Khách hàng là một bộ phận không tách rời trong môi trường cạnh tranh. Sự tín nhiệm của khách hàng có thể là tài sản giá trị nhất của doanh nghiệp

Thứ ba, nhân tố kênh phân phối tiêu thụ sản phẩm

Khi doanh nghiệp thực hiện chiến lược sản phẩm thì việc đưa sản phẩm ra thị trường gắn với khách hàng là phải do hệ thống kênh phân phối. Do đó nhân tố này không kém phần quan trọng trong phát triến sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu sản phẩm có chất lượng tốt, nhưng hệ thống kênh phân phối không thực hiện được chức năng này thì sẽ hạn chế đến chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp. Do đó, khi nói đến chiến lược sản phẩm doanh nghiệp thì phải nói đến đầu ra của sản phẩm, tức là nói đến hệ thống kênh phân phối.

Hệ thống kênh phân phối là một trong những nhân tố quan trọng trong việc thực hiện, hoàn thiện chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp Nếu kênh phân phối tăng chi phí cho sản phẩm hay dịch vụ sẽ làm giảm lợi nhuận của công ty, hoặc ưu tiên bán cho các đối tác khác thì người mua hàng sẽ tăng chi phí cơ hội, có thể gây ảnh hưởng đến hoạt động cung ứng của doanh nghiệp. Doanh nghiệp muốn duy trì và tồn tại hoạt động kinh doanh sản phẩm của mình ,đòi hỏi phải có kênh phân phối đủ mạnh để đảm bảo chức năng phân phối cũng như đối phó với tình huống bất lợi xảy ra.

Thứ tư, nhân tố hệ thống chính sách, pháp luật của Nhà nước:

Hệ thống chính sách, pháp luật của nhà nước là nhân tố tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình thực hiện chiến lược sản phẩm doanh nghiệp. Nếu chính sách pháp luật phù hợp sẽ thúc đẩy việc thực hiện chiến lược sản phẩm doanh nghiệp có hiệu quả. Ngược lại, chính sách, pháp luật còn hạn chế sẽ làm cho việc thực hiện chiến lược sản phẩm doanh nghiệp gặp khó khăn và cản trở. Ví dụ : luật thuế nhà nuớc ban hành một cách đúng đắn sẽ làm động lực thúc đẩy doanh nghiệp mở rộng chiến lược kinh doanh sản phẩm của mình. Ngược lại, chính sách thuế không phù hợp, quá cao dẫn đến doanh nghiệp không muốn phát triển chiến lược sản phẩm của mình và có xu thế thu hẹp. Do vậy, hệ thống chính sách ,pháp luật nhà nước có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp.

Thứ năm, nhân tố về vốn, công nghệ

– Nhân tố vốn ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện chiến lược của doanh nghiệp. Nếu nhân tố này không đảm bảo thì khả năng mở rộng phát triển chiến lược mở rộng rất khó khăn. Nếu doanh nghiệp thiếu vốn thì khả năng mở rộng chiến lược sẽ bị hạn chế và không thực hiện được mục tiêu chiến lược đề ra ảnh hưởng đến việc thực hiện chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp.

– Nhân tố về công nghệ có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình thực hiện chiến lược nếu công nghệ lạc hậu thì việc thực hiện chiến lược sẽ bị trục trặc và hiệu quả thấp. Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp có chiến lược rất đúng đắn, nhưng do công nghệ lạc hậu, lỗi thời đã làm cho chiến lược này không đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy, quan tâm đến công nghệ là một yêu cầu rất lớn trong việc thực hiện chiến lược.

Rõ ràng nhân tố về vốn và công nghệ ảnh hưởng , tác động không nỏ đến quá trình thực hiện chiến lược của công ty, do đó đòi hỏi trong bất cứ điều kiện nào, doanh nghiệp cũng phải quan tâm, đảm bảo nguồn vốn, sử dụng công nghệ hợp lý đáp ứng yêu cầu rất lớn trong quá trình này.

Nguồn vốn và công nghệ là nguồn lực cơ sở vật chất của doanh nghiệp. Do đó, nó ảnh hưởng rất lớn đến quy mô của chiến lược và tiến hành theo đúng hướng trình độ kỹ thuật – công nghệ hiện tại của doanh nghiệp là một yêu cầu để doanh nghiệp phát triển chiến lược của mình đạt được mục tiêu đề ra. Điều này ảnh hưởng đến bởi nguồn vốn và công nghệ của doanh nghiệp do không đảm bảo.

Chiến lược doanh nghiệp có quy mô như thế nào thì phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố nói trên như công nghệ thích hợp và mức độ sử dụng vốn có hiệu quả để phát triến sản xuất kinh doanh và mạng lưới phân phối của doanh nghiệp là một phương tiện hiệu quả là cơ sở để mở rộng đến chiến lược để tiếp cận khách hàng. Doanh nghiệp có nguồn cung cấp hiệu quả và tin cậy. Thực tế cho thấy, nếu người cung cấp vật tư không đảm bảo, công nghệ lạc hậu thì sẽ ảnh hưởng đến chiến lược của doanh nghiệp làm cho chi phí cao, đặt doanh nghiệp vào vị thế bất lợi trong cạnh tranh.

1.4. CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ VỀ HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM DOANH NGHIỆP

Có rất nhiều chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp, nhưng cần quan tâm đến các chỉ tiêu sau:

  1. Sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ ngày càng tăng.

Công thức:

H = T x K

Trong đó:

H : giá trị của sản phẩm được tiêu thụ.

T : Số lượng sản phẩm của doanh nghiệp

K : Số lượng khách hàng.

2. Lợi nhuận doanh nghiệp ngày càng gia tăng:

Công thức :

K = T – I

Trong đó :

K : Lợi nhuận

T : tổng doanh thu

I : tổng chi phí

3. Vòng quay của vốn :

Công thức :

T = Tổng doanh thu / Tổng số lượng sản phẩm

Trong đó : T : vòng quay vốn.

4. Tỷ lệ thất nghiệp và thu nhập của doanh nghiệp

– Tỷ lệ thất nghiệp của công ty ngày càng giảm dưới 3%.

– Thu nhập của người lao động ngày càng tăng lên hằng năm bình quân là 12%.

5. Thị trường và thị phần được mở rộng từ 10 – 15%/năm không những trong nước, trong khu vực và cả thế giới.

6. Mục đích và mục tiêu đạt được :

Tốc độ tăng trưởng bình quân của doanh nghiệp 10%/năm và ổn định bền vững.

7. Chỉ tiêu về nguồn nhân lực:

Nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong thực hiện chiến lược = Số lượng, chất lược nhân lực hiện có + nguồn nhân lực sắp đến sẽ thu hút về doanh nghiệp

1.5. KINH NGHIỆM VỀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

1.5.1. Kinh nghiệm về chiến lược phát triển sản phẩm của các công ty trong nước

Trong quá trình thực hiện chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp trong và ngoài nước đã mang lại kết quả đáng kể, nhất là các chiến lược có tính hấp dẫn cao, ngày càng cao. Điều này được thể hiện thông qua kinh nghiệm về chiến lược phát triển sản phẩm của doanh nghiệp trong và ngoài nước như sau:

– Chiến lược phát triển sản phẩm của công ty Tân Hiệp Phát khởi đầu hoạt động kinh doanh với sản phẩm bia Bến Thành trên thị trường nước giải khát có ga của Việt Nam. Đến năm 2006, trên cơ sở phân tích môi trường kinh doanh và nhận thấy thị trường nước giải khát có gas của Việt Nam đang dần bão hòa và cạnh tranh rất gay gắt. Nếu tiếp tục đưa ra thị trường một sản phẩm nước giải khát có ga thì Tân Hiệp Phát sẽ phải đối đầu với các đối thủ cạnh tranh lớn, trong đó có thể kế đến hai đối thủ Pepsi và Coca-Cola và khó có thể tồn tại trên thị trường, Tân Hiệp Phát đã khám phá ra một hướng đi mới để thoát khỏi môi trường cạnh hiện tại. Khi mức sống tăng lên, người tiêu dùng Việt Nam đã quan tâm hơn đến sức khoẻ, xuất hiện nhu cầu về một loại sản phẩm vừa thoả mãn nhu cầu giải khát, vừa có lợi cho sức khoẻ. Công ty Tân Hiệp Phát đã xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển sản phẩm nước giải khát bằng sản phẩm Trà thảo mộc Dr. Thanh và Trà xanh Không Độ. Đây là các dòng nước giải khát gắn với sản phẩm truyền thống của người Việt, có khả năng giải nhiệt và thanh lọc cơ thể. Bằng các chiến lược marketing phù hợp, Tân Hiệp Phát đã nhanh chóng đưa hình ảnh của các sản phẩm trà thảo mộc Dr.Thanh  và Trà Xanh Không độ đến khách hàng tiềm năng, khơi dậy nhu cầu và tạo ra sự nhận biết sản phẩm một cách rộng rãi trong cộng đồng. Trong một thị trường nước giải khát đang rất sôi động với nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, bằng các sản phẩm thỏa mãn nhóm nhu cầu đặc thù của khách hàng, Tân Hiệp Phát đã rất thành công và nhanh chóng tạo ra và chiếm giữ thị phần nước giải khát đáp ứng nhu cầu có lợi cho sức khoẻ, một đại dương xanh đầy tiềm năng. Từ thành công của Tân Hiệp Phát với các sản phẩm trà thảo dược, thị trường nước giải khát Việt Nam đã trở nên sôi động với sự xuất hiện của nhiều đối thủ cạnh tranh cũng tham gia sản xuất loại nước giải khát này.

– Chiến lược Công ty VinaSoy sản xuất và kinh doanh nhiều sản phẩm sữa các loại. Trước một thị trường sữa với các nhà sản xuất lớn như Vinamilk, Dutch Lady…năm 2003, công ty đã chuyển sang chuyên sản xuất, cung ứng sữa đậu nành và đã trở thành doanh nghiệp duy nhất và đầu tiên tại Việt Nam chuyên về sữa đậu nành. Khác với các đối thủ cạnh tranh từng làm ra các sản phẩm sữa đậu nành pha hương vị, Vinasoy chỉ tập trung làm sữa đậu nành tự nhiên hoặc nếu có pha thêm hương vị thì vẫn dùng hương vị ngũ cốc truyền thống mà sữa đậu nành mè đen. Năm 2005, công ty đã có những chiến lược sản phẩm một cách phù hợp để phục vụ khách hàng. Từ việc đổi tên thành Công Ty Sữa Đậu Nành Việt Nam và sử dụng tên thương hiệu VinaSoy, cung cấp cho khách hàng sản phẩm chất lượng từ đậu nành, tốt cho sức khoẻ con người. Thông qua chiến lược này đã làm cho tốc độ tăng trưởng bình quân từ năm 2003 đến nay là 161%/năm,  năm 2011 chiếm 73% thị phần, năm 2012 chiếm 75% thị phần sữa đậu nành đóng gói của Việt Nam (http://vinasoycorp.vn). Vinasoy chỉ tập trung vào 2 dòng sản phẩm chính là Fami và Vinasoy. Fami được định hướng là sản phẩm dành cho gia đình, còn Vinasoy là sản phẩm dành cho phụ nữ với các tố chất giúp cho da đẹp mịn màng hơn, giữ vóc dáng và ngăn ngừa lão hóa. Sau 10 năm thực hiện chiến lược sản phẩm đặc trưng sữa đậu nành, Vinasoy đã tạo dựng cho mình vị thế cạnh tranh mạnh trên thị trường Việt Nam.

– Chiến lược sản phẩm của 2 công ty Unilever và Procter & Gamble (P&G), trong lĩnh vực hoá mỹ phẩm, thời điểm những năm 2000, khi nói đến thị trường dầu gội của Việt Nam, người ta luôn nói tới thị trường dầu gội dành cho nữ. Khi ấy tất cả người tiêu dùng nam giới Việt Nam đều không chú trọng và chưa có thói quen sử dụng một loại dầu đội riêng dành cho nam giới. Vào thời điểm cuối năm 2003, trên thị trường dầu gội của Việt Nam có hai công ty lớn chiếm thị phần chủ yếu là Unilever và Procter & Gamble (P&G) với các sản phẩm chủ đạo là  Sunsilk, Clear, Dove, Lifebuoy (của Unilever) và Pantene, Head & Shoulders (của P&G). Ngoài ra, thị trường dầu gội cũng có mặt một số nhãn hiệu dầu gội đầu khác như Double Rich, Enchanteur, Palmolive…Điểm đặc trưng của thị trường lúc đó là được chiếm giữ bởi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài và các sản phẩm dầu gội đều hướng vào khách hàng nữ giới. Các công ty trong ngành tập trung các nguồn lực để nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường dầu gội nữ giới. Trong khi đó thị trường dầu gội vẫn còn một nhóm khách hàng không nhỏ là nam giới chưa được các công ty này đặt trọng tâm. Tuy nhiên, công ty này đã không tập trung phát triển sản phẩm này mà chỉ coi đó là sản phẩm phụ bên cạnh sản phẩm chính là Enchanteur dành cho nữ giới. Với việc đưa ra sản phẩm có mùi vị đặc trưng cho nam giới, sử dụng chiến lược marketing phù hợp cùng với slogan “Đàn ông đích thực” ICP đã khơi dậy nhu cầu sử dụng dầu gội đầu riêng, làm cho nam giới ngày càng chủ động hơn trong việc mua sắm sản phẩm dầu gội dành cho riêng mình. Mặc dù là một công ty mới tham gia thị trương dầu gội đầu nhưng ICP đã có thể vừa giữ được mức giá không quá cao vừa tạo sự khác biệt trong sản phẩm khi bắt đầu xâm nhập thị trường và ngày càng củng cố vị thế cạnh tranh của mình trên thị trường.

– Chiến lược của Công ty TNHH Hồng Lam sản xuất sản phẩm mứt, ô mai là các sản phẩm thủ công truyền thống lâu đời của Việt Nam. Tuy nhiên, từ lâu đời nay các sản phẩm này mới chỉ được tiêu thụ ở qui mô nhỏ, người tiêu dùng ưa thích sản phẩm này thường tự mua sản phẩm, việc biếu tặng sản phẩm thường ở phạm vi trong gia đình hoặc bạn bè thân thiết. Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và khi đời sống của người dân Việt Nam đã tăng lên, xuất hiện nhu cầu mới về việc sử dụng các sản phẩm ô mai như một món quà để biếu tặng. Ômai là một món quà mà trên 80% khách hàng tiêu dùng là giới nữ và đa phần trong đó là nhóm tiêu dùng có thu nhập trung bình khá trở lên như giới văn phòng, khách du lịch hay các Việt kiều và người Việt xa xứ. Các sản phẩm truyền thống do các hộ gia đình sản xuất gia truyền chưa đáp ứng được nhu cầu mới này về mẫu mã, số lượng cũng như chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong bối cảnh đó, năm 2000 công ty Công ty TNHH Hồng Lam đã cung cấp gói giải pháp tinh hoa quà Việt với ô mai là sản phẩm chủ đạo. Đây là sản phẩm cổ truyền, được sản xuất bằng thiết bị tiên tiến – công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo sản phẩm chứa đựng nét đặc trưng của món quà dân gian truyền thống, đồng thời đảm bảo tính tiện lợi, thẩm mỹ như một món quà tặng có thể đến với mọi người tiêu dùng trong và ngoài nước, trở thành cầu nối tình cảm của mọi người dân Việt bởi những yếu tố cổ truyền được bảo tồn, sự chu đáo và tính thân thiện bền vững phù hợp với xu thế của thời đại.

1.5.2. Kinh nghiệm về chiến lược phát triển sản phẩm của các công ty nước ngoài

Chiến lược của tập đoàn Samsung đã chứng minh khả năng sản xuất nhanh và thay thế một loạt thiết bị cầm tay nhắm tới các đối tượng người dùng khác nhau.Thành công chiến lược của tập đoàn Samsung trong năm 2012 khi độc chiếm cả “ngôi vương” smartphone và điện thoại di động hoàn toàn không phải do may mắn. Ra mẫu mới liên tục, giá cả đa dạng Nếu như cuối năm 2009, Samsung chỉ chiếm 3,3% thị phần và Android chiếm khoảng 5,2% thì đến năm nay sản lượng smartphone Samsung xuất xưởng đã chiếm tới 28% thị phần smartphone toàn cầu, vượt qua cả Apple với 20%. Trong năm qua, nhờ chiến lược có hiệu quả hãng cũng đã giành thêm được 8% thị phần, nới rộng khoảng cách với Apple so với cùng kỳ năm ngoái.

Điện thoại cao cấp, smartphone giá rẻ nhất, một SIM, hai SIM, hay điện thoại tính năng bình dân, tích hợp máy chiếu, Samsung đều có hết.

Samsung dự kiến chiến lược sản xuất 510 triệu điện thoại trong năm 2013, tương ứng với tốc độ tăng trưởng 20% so với năm nay. Trong số 510 triệu điện thoại dự kiến bán ra có 390 triệu là smartphone và 120 triệu là điện thoại bình dân và tính năng.

Chiến lược sản phẩm thay thế của Samsung đã trở thành chiến lược có hiệu quả cao đã mang lại lợi nhuận rất lớn cho tập đoàn này. Nhờ vậy, sự phát triển của tập đoàn nói trên phát triển ngày càng cao và khả năng, quy mô ngày càng rộng không những ở Đông Nam Á và cả quốc tế.

– Chiến lược tập đoàn EnderleGrou đã được đổi mới toàn diện trên nhiều mặt và họ đã trở thành nhà sản xuất máy nghe nhạc Zune MP3 và laptop. Motorola cũng đã có quảng cáo công kích Apple tại Super Bowl năm 2011.

Thông qua chiến lược của tập đoàn nói trên đã xây dựng được thương hiệu này xuất hiện trong nhiều thiết bị của họ để thể hiện đẳng cấp. Thời điểm thực hiện chiến lược hàng năm của chiến lược của tập đoàn này đều được dự báo trước và gây áp lực cho việc nâng cấp iPhone của Apple.

– Chiến lược sản phẩm Honda sự thành công trên đất Mỹ

Vào đầu những năm 80 khi nền công nghiệp Hoa Kỳ đang tìm cách chiếm lại ưu thế, thì công ty Honda Nhật Bản đã xuất hiện. Đến cuối năm 1982, vừa đúng 3 năm sau khi bắt đầu sản xuất xe gắn máy tại Hoa Kỳ, Honda trở thành công ty Nhật Bản đầu tiên sản xuất xe hơi ngay trên đất Mỹ.

Sự thành công của Honda trên đất Mỹ, một phần là do triết lý “ nhập gia tùy tục, đáo giang tùy khúc” của mình. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là Honda rập khuôn theo sự lãnh đạo của các công ty khác. Honda lắng nghe ý kiến của khách hàng cho ra đời những chiếc xe oto phù hợp với thị hiếu của giới tiêu thụ người Mỹ. Một nhóm thiết kế của Honda tại Mỹ đang bế tắc trong việc chế tạo một kiểu thùng xe, đã phải mất nguyên một buổi chiều tại một bãi đậu xe để quan sát mọi người bỏ vào và lấy ra khỏi thùng xe những gì và bao gồm những loại chuyển động nào đó là một ví dụ cổ điển về nghiên cứu tại chỗ và xe Accord ra đời.

Chất lượng sản phẩm là số một. Honda luôn tìm cách sáng tạo ra một sản phẩm tốt hơn. Họ phấn đấu để đạt tới sự hoàn thiện

Chế tạo và phân khúc thị trường đối với xe hơi cao cấp năm 1986 loại xe Acura, lại thêm một cơ hội nữa cho hai chữ “đầu tiên” cho công ty. Một cuộc điều cho thấy những vị khách sử dụng xe Acura đều là người có học, giàu có, trước đây vẫn quan tâm đến hàng nhập từ Châu Âu. Thành công lớn nhất của nhãn hiệu xe Acura về mẫu mà và chất lượng của sản phẩm. Thông qua chiến lược này đã cung cấp cho thế giới những chiếc xe đẹp nhất cả về giá trị lẫn sự say mê ưa thích “ Nhãn hiệu mới lại được tin cậy ngay: chiếc xe mui kín, mạnh, đẹp, trang nhã, hoàn toàn đáp ứng lòng tin ấy bằng sự kết hợp hài hòa giữa mốt với sự chọn lọc tinh tế và một động cơ vù vù, êm ả nhưng khi cần thiết thì gầm thét lên”.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN 2015\New folder

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *