Hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong hệ thống pháp luật hình sự, hình phạt là một trong những chế định quan trọng, nghiêm khắc của Nhà nước. Trải qua từng giai đoạn lịch sử khác nhau, hệ thống pháp luật hình sự không ngừng củng cố, đổi mới và dần hoàn thiện hơn hệ thống hình phạt theo hướng nhân đạo hơn, cọi trọng quyền con người, quyền công dân, phù hợp với các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, các chế tài hình sự vẫn đủ mạnh để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng chống tội phạm.

Hình phạt tù có thời hạn là một trong số 07 hình phạt chính, đây là hình phạt nghiêm khắc thứ ba, sau hình phạt tử hình và tù chung thân, bởi nó tước đi quyền tự do của người thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự thời gian qua cho thấy, mặc dù khá coi trọng tính trừng trị, tuy nhiên, những hình phạt đã tuyên cho thấy xu hướng nhân đạo, nhân văn và hướng thiện đã thể hiện rất rõ. Trong khi các hình phạt nặng như chung thân và tử hình có xu hướng ít được áp dụng hơn thì các hình phạt nhẹ như phạt tiền, cải tạo không giam giữ và phạt tù cho hưởng án treo lại ngày càng được các tòa án áp dụng nhiều hơn.

Đối với thành phố Đà Nẵng, trong những năm gần đây, tình hình tội phạm hình sự có chiều hướng gia tăng và diễn biến phức tạp về cả quy mô, tính chất hoạt động, số vụ phạm pháp hình sự do người dưới 18 tuổi gây ra chiếm tỷ lệ từ 18 đến 20% trong tổng số các vụ phạm pháp hình sự. Nhiều vụ án có diễn biến phức tạp, hậu quả nghiêm trọng làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư của một thành phố trẻ đang phát triển. Trên địa bàn quận Thanh Khê, là một trong những quận trung tâm của thành phố, tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện cũng còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp. Việc điều tra, truy tố, xét xử đối với số đối tượng này cũng còn gặp phải những hạn chế, bất cập nhất định, mặc dù việc áp dụng hình phạt mang tính trừng trị nhiều hơn giáo dục vẫn được Tòa án ưu tiên lựa chọn trong quyết định hình phạt là hình phạt tù có thời hạn mặc dù điều luật có thể cho phép áp dụng bằng hình phạt khác không phải hình phạt tù (cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ…) để thay thế.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng hình phạt này cho thấy vẫn còn nhiều vướng mắc, nhất là trong xu thế hiện nay, việc áp dụng các hình phạt khác không phải là tù được khuyến khích lựa chọn, nhưng nhiều điều khoản việc hướng dẫn của các cơ quan tư pháp Trung ương chưa kịp thời, còn thiếu cụ thể nên việc vận dụng và áp dụng trong thực tế còn khó khăn. Nhiều chế định mang tính tùy nghi nhưng chưa được hiểu và vận dụng thống nhất, phụ thuộc nhiều vào nhận thức, trình độ của cá nhân người tiến hành tố tụng nên hiệu quả áp dụng chưa cao. Đặc biệt, quy định đối với người dưới 18 tuổi hiện nay đã có nhiều thay đổi tích cực, quy định cơ quan chuyên trách thực hiện nhưng thực tiễn lại chưa đáp ứng được yêu cầu lý luận pháp lý đặt ra.

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng” làm đề tài luận văn của mình.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua việc nghiên cứu lý luận, thực tiễn hình phạt tù có thời hạn dưới 18 tuổi phạm tội ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để đánh giá, nêu kiến nghị góp phần hoàn thiện lý luận trong pháp luật hình sự Việt Nam nói chung cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nói riêng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nói trên luận văn tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

– Thu thập tài liệu, số liệu, các bản án của tòa án đã tuyên đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

– Nghiên cứu, phân tích đánh giá về tính phù hợp, bất cập, khó khăn về việc áp dụng các quy đinh của pháp luật thi hành hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

– Trên cơ sở phân tích đã đề cập để đưa ra những giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả trên phương diện lý luận và thực tiễn về thi hành hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên địa bàn các tỉnh thành phố khác nói chung.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, các quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực tiễn về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi đã bị tuyên áp dụng hình phạt tù do Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tuyên, không nghiên cứu về các đối tượng đã, đang bị quản lý, giam giữ ở các trại tạm giam, trại giam thuộc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng như ở các trại giam thuộc Cục quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng, Bộ Công an.

– Phạm vi về chủ thể: Đề tài tập trung nghiên cứu về việc áp dụng các quy định của pháp luật về thi hành hình phạt tù đối với người bị kết án phạt tù dưới 18 tuổi trên địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

– Phạm vi không gian: Địa bàn quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

– Phạm vi thời gian: Nghiên cứu về hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội dưới 18 tuổi theo quy định của các Bô ̣luật hình sư ̣Việt Nam trong thời gian từ năm 2015 đến năm 2019.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác – Lênin, tư tưởng, quan điểm của Đảng, Nhà nước và Chủ tịch Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, mô tả, thống kê, chuyên gia, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu các bản án hình sư ̣đối với bi ̣cáo là người dưới 18 tuổi phạm tội, trao đổi phỏng vấn với các cán bộ thực tiễn về các hoạt động thi hành án phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội…

* Điểm mới của luận văn

Luận văn được nghiên cứu từ tổng thể các vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật hình sự nước ta từ năm 1945 đến năm 2019 về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, cũng như từ việc nghiên cứu thực tiễn, luận văn đã nêu lên những bất cập, vướng mắc trong các quy định của pháp luật hình sự cũng như trong quá trình áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trên cơ sơ đó đưa ra những đề xuất về hướng giải quyết phù hợp nhằm hạn chế những hạn chế, khiếm khuyết trong quá trình xây dựng pháp luật hình sự, trong thực tiễn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, nhằm nâng cao hiệu quả của hình phạt này.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý góp phần làm sáng rõ một một số vấn đề lý luận, pháp luật về hình phạt tù có thời hạn đối với người phạm tội dưới 18 tuổi và thực tiễn áp dụng hình phạt này tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở đó luận văn đề xuất giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo tính đúng đắn của hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên cả khía cạnh lập pháp và việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong công tác học tập tại ở các viện nghiên cứu về khoa học pháp lý và các cơ sở đào tạo về chuyên ngành luật cũng như trong thực tiễn công tác áp dụng hình phạt tù có thời gian tại địa phương. Những đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp các luận cứ khoa học, làm cơ sở cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

7. Kết cấu của luận văn

Luận văn được trình bày theo đúng kết cấu quy định, trong đó, phần nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về hình phạt tù có thời hạn, thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

Chương 2: Thực tiễn áp dụng, thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng, thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI

1.1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt tù có thời hạn người dưới 18 tuổi phạm tội

1.1.1. Khái niệm về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trước khi tìm hiểu khái niệm hình phạt tù có thời hạn, chúng tôi tìm hiểu khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội. Để hiểu rõ hơn khái niệm này, ta đi từ khái niệm chung về người chưa thành niên. Một số văn bản quy phạm pháp luật của nước ta cũng đưa ra khái niệm người chưa thành niên. Có thể đề cập đến như: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” (Khoản 1, Điều 21, Bộ luật dân sự 2015). [29]

Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994 do GS. Hoàng Phê chủ biên, người chưa thành niên hay còn gọi là vị thành niên là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ”.[26]

Trong khái niệm người chưa thành niên còn bao gồm khái niệm trẻ em.

Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em nêu rõ: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có qui định tuổi thành niên sớm hơn [24]. Như vậy, ở đây, khái niệm trẻ em và khái niệm chưa thành niên là đồng nhất đều là những người dưới 18 tuổi.

Điều 1 của Luật trẻ em năm 2016 (sửa đổi bổ sung năm 2018) qui định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [34].

Như vậy, theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm trẻ em khác với Công ước Liên Hợp quốc về độ tuổi.

Trong BLHS năm 2015 không đưa ra khái niệm trẻ em hay người chưa thành niên, tuy nhiên, đưa ra quy định về tuổi chịu TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấp nhất là từ 14 tuổi khi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều tại khoản 2, Điều 12, BLHS 2015.

Như vậy, từ những qui định trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm khái quát là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi; họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và phạm một tội được qui định trong BLHS.

Ở đây chúng ta cũng cần phân biệt người dưới 18 tuổi phạm tội với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật khác. Như Luật xử lý vi phạm hành chính qui định tuổi bị xử lý vi phạm cho tất cả các hành vi vi phạm hành chính là đủ 16 tuổi trở lên, và từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu hành vi vi phạm với lỗi cố ý [35].

Như vậy từ các qui định trên chúng ta có thể hiểu là người dưới 18 tuổi phạm pháp là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật. Theo nghĩa rộng vi phạm pháp luật là vi phạm các văn bản: Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội, Nghị định, Thông tư… song chủ yếu là vi phạm Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật hình sự.

Người dưới 18 tuổi phạm tội và người dưới 18 tuổi phạm pháp là hai khái niệm khác nhau về độ tuổi, phạm vi, tính chất vi phạm. Người dưới 18 tuổi phạm tội là người dưới 18 tuổi phạm pháp, nhưng không phải tất cả người dưới 18 tuổi phạm pháp đều là người phạm tội. Việc nắm vững hai khái niệm trên có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra. Căn cứ những khái niệm được đề cập ở những văn bản luật khác nhau nêu trên, ta có thể hiểu khái quát về người dưới 18 tuổi phạm tội, đó là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện tội phạm. Trong độ tuổi này lại chia thành hai mức:

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;

– Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

Việc phân chia người chưa thành niên phạm tội theo từng mức tuổi như trên là rất cần thiết và mang tính khoa học, giúp cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong thực tiễn được chính xác và hiệu quả hơn, nhất là trong xác định TNHS, nguyên tắc xử lý và áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp.

Tóm lại, qua những phân tích từ nhiều nguồn, nhiều quan điểm về khái niệm trẻ em, người chưa thành niên, ta có thể định nghĩa: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm”. Tuy nhiên, không phải người dưới 18 tuổi nào phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt do Nhà Nước quy dịnh trong luật hình sự, có sự liên kết chăt chẽ với nhau theo một trình tự nhất định do tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt quy định. Trong đó, hình phạt bao gồm nhiều loại hình, được áp dụng với các loại đối tượng khác nhau tương xứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. Trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta, tù có thời hạn là hình phạt điển hình nhất và được quy định rất sớm trong những văn bản pháp luật của Nhà nước ta. Ba ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nuớc ta đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng trong đó có Sắc lệnh số 06 ngày 05/9/1945: “Cấm nhân dân Việt Nam đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đường, làm tay sai cho quân đội Pháp. Kẻ nào trái lệnh đó sẽ bị Tòa quân sự nghiêm trị”[12], tiếp nữa là Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 “Ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập tài sản”, quy định thời hạn tù là từ sáu ngày đến ba tháng [14]; Sắc lệnh số 157 ngày 16/8/1946 “Bắt buộc các thứ thuốc chế theo cách bào chế Thái Tây đều phải dán nhãn hiệu”,vi phạm sẽ phạt 1 vạn đồng bạc, tái phạm sẽ phạt tù từ 3 ngày đến 10 ngày…[15]

Từ những năm 1950 về sau này, các văn bản pháp lý hình sự của nước ta đã thống nhất quy định thời hạn tù tối thiểu là 3 tháng còn thời hạn tù tối đa là 20 năm, được quy định lần đầu tại Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 trừng trị các tội về hối lộ, pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 trong đó nêu rõ hình phạt chính, hình phạt phụ có thể áp dụng.

Theo Điều 33 BLHS 1999 tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại các trại giam trong một thời gian nhất định [22], tức là bị cách ly khỏi môi trường cộng đồng xã hội trong một thời gian nhất định để chấp hành quyết định của Toà án, để chịu sự giáo dục và cải tạo của cơ quan có thẩm quyền.

Tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc trong hệ thống các hình phạt được quy định trong BLHS. Các Mác đã viết: “Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó”[7, tr.181]. Do đó, một người chỉ phải chịu hình phạt khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó được coi là tội phạm, quy định trong BLHS 2015. Vì thế, chỉ người nào thực hiện hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt. Khi bị tù có thời hạn, người bị kết án bị tước quyền tự do, bị cách ly khỏi xã hội, họ phải lao động cải tạo trong các cơ sở giam giữ dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát. Luật thi hành án hình sự năm 2019 quy định cụ thể về việc chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ với những quy định rõ ràng, cụ thể.

Theo quy định tại Điều 33 BLHS 2015 thì tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là 20 năm [22]. Đối với những trường hợp phạm nhiều tội, việc tổng hợp hình phạt được thực hiện, cộng dồn những đảm bảo không quá thời hạn 30 năm. Về cơ bản, những quy định này trong BLHS 2015 không có gì thay đổi so với BLHS năm 1999. Mức tối thiểu và mức tối đa đối với hình phạt tù có thời hạn được quy định trong các điều luật và trong từng khung hình phạt cụ thể không hoàn toàn giống với mức tối thiểu và mức tối đa được quy định cho loại hình phạt này mà tùy thuộc vào từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thể mà quy định mức tối đa và tối thiểu cho phù hợp.

Người bị kết án bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nếu trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ bằng một ngày tù [22, Điều 38]. Đáng lưu ý, BLHS 2015 quy định thêm nội dung: “Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng” [22]. Đây là một trong những nội dung nhằm hạn chế hình phạt tù có thời hạn, một lần nữa xác định rõ hơn nguyên tắc nhân đạo và tính hướng thiện trong BLHS năm 2015.

Thực tiễn thi hành án tù có thời hạn cho thấy việc tước bỏ hoặc hạn chế tự do đối với người bị kết án đã làm cho việc thực hiện các chức năng xã hội bình thường của một con người bị ảnh hưởng, thay đổi, các quan hệ xã hội cũng như những nhu cầu về sinh hoạt, thói quen… bị hạn chế. Và nó là một trong những tác nhân gây trở ngại cho mỗi cá nhân khi họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án. Do đó, về mặt lý luận, pháp luật hình sự nước ta đã chú trọng xây dựng nguyên tắc nhân đạo, khoan hồng; xác định nếu trong những trường hợp cụ thể, khi mà mục đích của hình phạt vẫn đạt được mà không cần phải cách ly người thực hiện hành vi phạm tội ra khỏi môi trường sống bình thường của họ thì hướng đến áp dụng các hình phạt không phải hình phạt tù. Trong BLHS 2015, Điều 54 quy định, cho phép Tòa án có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng hoặc quy định thành các chế tài lựa chọn ở phần các tội phạm cụ thể, trong đó bên cạnh hình phạt tù có thời hạn còn quy định các hình phạt khác không phải là tù như cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ; điều này góp phần hạn chế những mặt thiếu tích cực của hình phạt tù, và theo đó, xu hướng nghiên cứu, không ngừng bổ sung các hình phạt khác có khả năng thay thế hình phạt tù được các nhà làm luật ngày càng chú trọng.

Qua phân tích, ta có thể khái niệm về hình phạt tù có thời hạn: Tù có thời hạn là việc buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục, cải tạo người phạm tội, đảm bảo công lý, công bằng xã hội. Tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là hai mươi năm.

Như đã nêu tại Mục 1.1.1, người dưới 18 tuổi là người chưa thành niên, chưa phát triển đầy đủ về nhiều mặt, từ thể chất đến tâm, sinh lí, việc nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện còn hạn chế. Những đặc điểm trên khiến dưới 18 tuổi nằm trong nhóm có nguy cơ cao thực hiện tội phạm nếu bị tác động, ảnh hưởng bởi môi trường sống thiếu lành mạnh, tỷ lệ tội phạm cao, họ thường xuyên tiếp xúc. Tuy nhiên, đây cũng là đối tượng cũng là dễ uốn nắn, cải tạo, việc thích nghi với môi trường sống mới nhanh, dễ hòa nhập nên việc giáo dục, cải tạo đối với đối tượng này dễ dàng hơn so với người trưởng thành, mục đích và hiệu quả của hình phạt cao hơn.

BLHS 2015 dành một chương XII quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo đó, người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ bị Tòa án áp dụng hình phạt tù có thời hạn khi các hình phạt hay biện pháp giáo dục khác xét thấy không đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa, đồng thời, người dưới 18 tuổi phạm tội bị áp dụng tù có thời hạn thì mức án được tuyên cũng đảm bảo nhẹ hơn so với người trưởng thành khi thực hiện cùng một hành vi phạm tội.

Từ đó, ta có thể nhận thấy hình phạt tù có thời hạn có thể được áp dụng cho người thực hiện hành vi phạm tội từ ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc xử lý nêu trên, với mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên hạn chế áp dụng loại và mức hình phạt tù đối với dưới 18 tuổi phạm tội. Do vậy, có thể khái quát: Tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là việc buộc người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS phải chấp hành hình phạt tại trại giam trong một thời gian nhất định nhằm giáo dục cải tạo họ, đảm bảo công lý, công bằng xã hội. Tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có mức tối thiểu là 3 tháng, mức tối đa là không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định hoặc 18 năm nếu khung hình phạt quy định mức chung thân hoặc tử hình (đối với người phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18) hoặc một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định hoặc 12 năm nếu khung hình phạt quy định mức chung thân hoặc tử hình (đối với từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội).

1.1.2. Mục đích, ý nghĩa của hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Mục đích của hình phạt là vấn đề hết sức quan trọng trong luật hình sự, đây vừa là cơ sở để nhà làm luật quy định về từng loại hình phạt, hệ thống hình phạt, vừa là yếu tố quan trọng quyết định hình phạt trong luật. Hình phạt chỉ phát huy tác dụng khi nó đạt được mục đích của mình. Do đó, để tìm hiểu mục đích của hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng thì trước hết cần tìm hiểu về mục đích của hình phạt nói chung.

Hình phạt nói chung vừa là nội dung, vừa là phương tiện của chính sách hình sự của nhà nước, bảo đảm cho Luật hình sự có thể thực hiện được nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội; đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét về bản chất, hình phạt thực chất là một biện pháp cưỡng chế của Nhà nước được áp dụng đối với người phạm tội, mà nội dung của nó là tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Như vậy, nội dung của hình phạt thể hiện rõ nó mang tính chất trừng trị nhưng mục đích của hình phạt là gì? có phải là trừng trị hay không? Nhiều ý kiến tranh cãi, chưa thống nhất về mục đích của hình phạt.

Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có hai luồng quan điểm chính về mục đích của hình phạt: Một là, coi trọng mục đích chính của hình phạt là giáo dục, cải tạo người thực hiện hành vi phạm tội. Quan điểm còn lại coi trừng trị mà mục đích chính của hình phạt, nếu không vì mục đích trừng trị thì hình phạt sẽ không có tác dụng răn đe đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Để có cách hiểu toàn diện, thống nhất theo tinh thần chung, chúng ta nhận thấy:“Hình phạt không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm” [22, Điều 31]. Từ đó, ta có thể nhận thấy rằng, trừng trị là một trong những mục đích không thể thiếu của hình phạt, nếu hình phạt không có mục đích trừng trị thì cũng không còn là hình phạt nữa. Thế nhưng, căn cứ vào nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự, ta thấy rằng trừng trị xét cho cùng là bản chất, thuộc tính cơ bản của hình phạt. Nếu hình phạt chỉ xét trên góc độ đề cao tính giáo dục, cải tạo, thì nội dung của hình phạt sẽ mất đi, càng không thể lý giải được, nhất là đối với hình phạt tử hình, một hình phạt nghiêm khắc, tước đi sinh mệnh con người, lại được quy định trong bộ luật hình sự?.

Qua phân tích trên, ta có thể thấy hai yếu tố song trùng, không thể thiếu và có tác động qua lại, tạo nên hiệu quả của hình phạt, đó là tính giáo dục, cải tạo và tính trừng trị. Đây được xem là mục đích chính và là nội dung cơ bản của bản chất hình phạt trong luật hình sự nước ta. Mục đích này không chỉ được thể hiện ngay trong nội dung các loại hình phạt mà nó còn được thể hiện ngay trong chế định khác của BLHS, đặc biệt là các chế định về quyết định hình phạt, các chế định về miễn, giảm thời hạn chấp hành hình phạt, về đặc xá, về xóa án tích và các quy định về thi hành án phạt tù trong trại cải tạo… Tất cả các quy định cũng chỉ nhằm một mục đích là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội.

 Xét ở khía cạnh khác, nội dung của mục đích này không chỉ tác động vào cá nhân người thực hiện hành vi phạm tội, mà nó còn tác động lên chính cộng đồng xã hội mà cá nhân đó đang sống. Mọi người nhìn vào hình phạt để có những xử sự đúng đắn, tôn trọng pháp luật, nếu không họ cũng có thể bị xử phạt như người phạm tội. Nhà nước đặt ra hình phạt để xử lý người thực hiện hành vi tội phạm, cũng vừa hướng đến mục đích nhắc nhở, răn đe đối với những người còn lại trong xã hội. Nếu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, được xác định là tội phạm thì bản thân người đó cũng sẽ bị áp dụng hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình, đó là hậu quả tất yếu. Đặt ra mục đích này giúp hình phạt vừa có tính răn đe, vừa có tính chất giáo dục để mọi người không thực hiện những điều cấm được quy định trong BLHS.

Tuy nhiên, cả trừng trị và cải tạo, giáo dục người phạm tội đều không thể là mục đích cuối cùng của hình phạt. Hình phạt bản chất của nó là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước, của xã hội, thể hiện phản ứng của Nhà nước, xã hội đối với hành vi nguy hiểm cho sự tồn tại của xã hội luôn có tính chất trừng trị. Trừng trị vừa là thuộc tính, vừa là nội dung, vừa là phương thức thực hiện hình phạt. Trừng trị là thuộc tính của hình phạt ở bất kỳ xã hội nào. Nhưng cưỡng chế của Nhà nước trong hình phạt không chỉ có tính chất trừng trị vì nếu hình phạt chỉ nhằm mục đích trừng trị người phạm tội thì có nghĩa là mới chỉ dừng ở mức độ nêu ra phương thức đấu tranh với tội phạm mà chưa giải quyết được vấn đề cơ bản đó là phương thức đấu tranh đó hướng đến mục đích gì.

Chính vì vậy tính chất chủ yếu trong mục đích của hình phạt không chỉ mang tính chất trừng trị mà nó đồng thời còn có ý nghĩa cải tạo đối với người phạm tội. Chính tính chất trừng trị của hình phạt đã răn đe người phạm tội, tác động vào tư tưởng, ý thức người phạm tội để họ nhận ra sai lầm của mình, sửa chữa, cải tạo mình trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, hạn chế hoặc loại trừ điều kiện tái phạm của người phạm tội. Cải tạo, do vậy cũng là thuộc tính của hình phạt. Mặt khác cải tạo cũng là nội dung, là phương thức thực hiện hình phạt. Trừng trị với tính cách là phương thức thực hiện hình phạt, chính là biện pháp, phương thức để hình phạt đạt được mục đích.

Vai trò của luật hình sự nói chung và hình phạt nói riêng là đảm bảo các điều kiện cần thiết mà trước hết là trật tự xã hội để xã hội tồn tại và phát triển. Vai trò này của hình phạt đã xác định mục đích của nó là nhằm góp phục hồi lại công lý – sự công bằng cho xã hội. Đó chính là mục đích chính của hình phạt.

Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, hình phạt tù có thời hạn áp dụng với đối tượng này cũng sẽ đảm bảo được mục đích của hình phạt nói chung, tuy nhiên, do đây là đối tượng có nhiều đặc điểm riêng, mang tính chất đặc thù nên việc áp dụng hình phạt, nhất là hình phạt tù có thời hạn có những nét riêng biệt. Mục đích của hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có những đặc điểm đặc trưng riêng.

Trước hết, căn cứ vào độ tuổi, ta thấy người dưới 18 tuổi là những người ở lứa tuổi đang phát triển về mọi mặt, là lứa tuổi khả năng nhận thức chưa đầy đủ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong cuộc sống, tư duy, suy nghĩ còn chủ quan, nông cạn, nhất là trong đánh giá, phân tích hay nhìn nhận tình hình thực tế, dễ bị tác động bởi các yếu tố của môi trường sống, đặc biệt là các yếu tố tiêu cực. Mặt khác, ở lứa tuổi này các em lại ham thích khai thác những cái mới, lạ, thích mạo hiểm và muốn khẳng định mình nên dễ bị lôi kéo, dụ dỗ thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do đó, hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với họ mục đích quan trọng không phải là trừng trị mà thông qua trừng trị tác động vào tư tưởng, tâm lý, ý thức của họ để giúp cho những người dưới 18 tuổi phạm tội nhìn nhận rõ được sai lầm của mình khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, từ đó làm cơ sở cho việc giáo dục, cải tạo họ không trở lại con đường phạm tội, để họ trở thành công dân có ích cho xã hội, có ý thức tôn trọng pháp luật và các quy tắc của cuộc sống.

Tuy nhiên, khi áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi nếu chỉ chú ý đến mục đích giáo dục cải tạo thì chưa đủ vì hình phạt tù có thời hạn là việc bắt buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt trong trại giam trong một thời gian nhất định. Do đó, trừng trị là mục đích mang tính tự nhiên của hình phạt này. Mục đích đó không nhằm trả thù mà là thể hiện sự lên án, thái độ nghiêm khắc của Nhà nước, của xã hội đối với cá nhân người phạm tội khi họ thực hiện tội phạm. Thái độ lên án này biểu hiện cụ thể bằng việc dựa vào các căn cứ như các quy định của BLHS, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Tòa án tuyên cho bị cáo hình phạt tù có thời hạn với thời gian chấp hành hình phạt bao lâu, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Hai nội dung chính trong mục đích của hình phạt là trừng trị và giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Hình phạt mà họ được áp dụng sẽ tương xứng với hành vi nguy hiểm chõ xã hội mà họ gây ra, vì thế, yếu tố cải tạo, giáo dục sẽ đạt được khi hình phạt mang tính trừng trị phù hợp với tội phạm họ gây ra. Ngoài mục đích phòng ngừa riêng, hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội còn nhằm tác động lên những công dân khác mà đặc biệt là đối tượng người chưa thành niên khác trong xã hội đang có những biểu hiện, ý định đi vào con đường phạm tội từ bỏ ý định phạm tội, tự giác tuân thủ pháp luật.

Tóm lại, người dưới 18 tuổi phạm tội với những đặc điểm về tâm sinh lý khác so với người trưởng thành, vì thế, việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ mục đích quan trọng nhất vẫn là giáo dục, cải tạo đồng thời ngăn ngừa họ phạm tội mới, giáo dục những người chưa thành niên khác trong xã hội có ý thức tuân thủ pháp luật góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng.

1.2. Điều kiện, nguyên tắc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

1.2.1. Điều kiện áp dụng, nội dung thi hành hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội

Trong hệ thống hình phạt nước ta, hình phạt tù có thời hạn có vị trí, vai trò rất quan trọng, được áp dụng phổ biến nhất, được quy định trong chế tài của hầu hết các điều luật trong phần các Tội phạm cụ thể. Trong hệ thống hình phạt được quy định trong BLHS thì có đến 07 loại hình phạt chính, trong đó có 03 hình phạt không phải là tù có thời hạn, đồng thời, theo nguyên tắc chung thì không áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Vì thế, tỷ lệ các hình phạt khác ngoài tù có thời hạn chiếm tỷ lệ cao, tuy nhiên, thực tiễn lại cho thấy hình phạt tù có thời hạn lại là hình phạt được áp dụng mang tính phổ biến hơn và chiếm đa số.

Hình phạt tù có thời hạn thực chất là hình phạt giam người bị kết án trong trại giam một thời gian nhất định để họ không thể tiếp tục phạm tội mới hoặc gây nguy hại cho xã hội. Tuy nhiên, hình phạt tù giam có những hạn chế nhất định do môi trường chấp hành mang tính đặc thù mang lại như những quan hệ gia đình, xã hội bị hạn chế, đối tượng tiếp xúc là bạn tù, đa số là thành phần mang thái độ tiêu cực đối với cuộc sống, lại dễ tác động xấu đến sự hình thành nhân cách đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, vốn là đối tượng chưa phát triển toàn diện và hoàn thiện về tâm sinh lý. Chính vì vậy, khi mà việc áp dụng các hình phạt khác nhẹ hơn đối với họ không có mang đến mục đích giáo dục, cải tạo và chỉ khi tước đi của họ quyền tự do nhất định thì mới giúp họ nhận thấy được sai lầm, nhận thấy hậu quả mà hành vi phạm tội của họ gây ra phải chịu hình phạt tương xứng thì mới cân nhắc áp dụng tù có thời hạn. Trong trường hợp Tòa án áp dụng những hình phạt khác như phạt tiền, cảnh cáo… mà không phải là tù có thời hạn nhưng vẫn đạt được mục đích của hình phạt thì không áp dụng hình phạt tước đi quyền tự do cá nhân đối với họ.

Thực tiễn áp dụng và quyết định hình phạt của Tòa án nhân dân cho thấy, hình phạt tù có thời hạn thường được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nghiêm trọng, hoặc tội ít nghiêm trọng nhưng có nhân thân xấu, hoặc phạm tội ít nghiêm trọng nhưng có tình tiết định khung tăng nặng trong cấu thành tội phạm hoặc phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, côn đồ, dã man, hoặc người phạm tội tái phạm, tái phạm nguy hiểm… mà không thể áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn được, và cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với họ. Đối với người dưới 18 tuổi thì hình phạt tù có thời hạn chỉ có thể áp dụng đối với những trường hợp người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng, có nhân thân và môi trường sống xấu, đòi hỏi phải cách ly khỏi môi trường sống hàng ngày trong một thời gian nhất định.

Nhìn chung, xuất phát từ nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, xem xét đến khả năng điều khiển hành vi của họ, nguyên nhân và điều kiện phạm tội để áp dụng hình phạt phù hợp đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, chủ yếu vẫn đề cao mục đích giáo dục, cải tạo, tạo điều kiện cho cá nhân đó có thể hướng thiện, từ bỏ con đường thực hiện tội phạm hơn là mục đích trừng trị, tước bỏ quyền tự do của họ.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 11\SAU BAO VE\DOT 3/ TRAN VY TAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *