Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong đường lối cách mạng Việt Nam, Đảng ta khẳng định: con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội. Đảng chủ trương lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững. Quan điểm này đã đặt ra cho quá trình phát triển nguồn nhân lực ở nước ta nhiều nhiệm vụ to lớn, đặc biệt là việc chăm lo giáo dục thế hệ trẻ, trong đó giáo dục đạo đức đóng vai trò quan trọng. Thông qua giáo dục, con người sẽ học cách điều chỉnh hành vi, hoàn thiện dần nhân cách. Đặc biệt, đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong việc giáo dục thế hệ trẻ – chủ nhân tương lai của đất nước.

Trong lịch sử phát triển của dân tộc, những giá trị đạo đức truyền thống đã làm nên cốt cách, tinh thần và sức mạnh Việt Nam. Những giá trị đạo đức truyền thống tuy mang tính ổn định, bền vững nhưng không phải là nhất thành, bất biến mà luôn vận động, biến đổi cùng với sự vận động, biến đổi của lịch sử. Khi lịch sử bước sang một thời kỳ mới thì những giá trị đạo đức truyền thống cũ lại được thẩm định, chắt lọc và đổi mới cho phù hợp. Đồng thời, những giá trị mới dần được hình thành làm cho hệ thống giá trị truyền thống của dân tộc ngày càng phong phú.

Hiện nay, những tác động đa chiều của nền kinh tế thị trường đòi hỏi chúng ta một mặt, phải quan tâm tới phát triển kinh tế – xã hội, tạo ra cuộc sống đầy đủ cho nhân dân, mặt khác duy trì và phát huy giá trị đạo đức truyền thống, đặc biệt cho thế hệ trẻ. Trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, thanh niên, sinh viên đang đứng trước những thời cơ, thuận lợi nhưng cũng phải sẵn sàng đối mặt với những thách thức, khó khăn. Việc tiếp thu những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới và mở rộng giao lưu hội nhập quốc tế đã giúp thanh niên, sinh viên có nhận thức, tư duy phát triển, thị hiếu thẩm mỹ nâng lên. Tuy nhiên, quá trình giao lưu hội nhập cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường cũng là mảnh đất màu mỡ nảy sinh lối sống ích kỷ, vụ lợi, những thói hư tật xấu, những tệ nạn xã hội đã và đang từng ngày, từng giờ tác động đến đời sống tinh thần phá vỡ nhiều nét đẹp của văn hóa truyền thống. Mặt trái của cơ chế thị trường đã tạo ra một bộ phận không nhỏ lớp người trong xã hội nói chung, một bộ phận thanh niên, sinh viên nói riêng có lối sống chạy theo đồng tiền, buông thả, quay lưng với văn hóa, với truyền thống dân tộc.

Trước những thay đổi của đời sống kinh tế – xã hội, thang giá trị đạo đức của con người cũng có nhiều biến đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Bên cạnh việc đổi mới nội dung, phương pháp, chương trình của một số môn học, hình thức dạy và học cũng từng bước được cải tiến, hình thức đào tạo ngày một đa dạng và phong phú hơn thì việc nâng cao công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cần được quan tâm một cách đúng mức như nó cần phải có.

Hiện nay, hầu hết sinh viên vẫn giữ được phẩm chất tốt đẹp của cha ông ta như yêu nước, đoàn kết, tôn sư trọng đạo, hiếu học, kính thầy, yêu bạn, lối sống giản dị, chăm chỉ. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ sinh viên chỉ quan tâm đến bản thân và nhu cầu trước mắt, sống thực dụng, kém ý chí vươn lên, học đòi lối sống xa hoa, hưởng thụ, thiếu trung thực trong học tập, tha hóa nhân cách, sa vào tệ nạn xã hội. Thực tế này đòi hỏi cần phải tăng cường giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, tạo môi trường và khích lệ sinh viên tham gia xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, phòng chống các tệ nạn, định hướng để sinh viên phấn đấu rèn luyện theo chuẩn mực đạo đức xã hội.

Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm luận văn Thạc sĩ. Với mục đích nghiên cứu một cách tổng thể và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam trong bối cảnh hiện nay.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  

2.1. Mục tiêu nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu và làm sáng tỏ những quan niệm về đạo đức trong lịch sử triết học và phân tích thực trạng giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên các trường Đại học và Cao đẳng ở Quảng Nam hiện nay, đề tài xây dựng một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Thứ nhất, nghiên cứu vấn đề lý luận chung về đạo đức và giáo dục đạo đức.

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng nhận thức và công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên ở Quảng Nam.

Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu: Lý luận chung về đạo đức và giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên Quảng Nam.

– Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam từ nay đến năm 2020 (dự kiến khảo sát sinh viên từ 3 trường Đại học Quảng Nam, Trường Cao đẳng Kinh tế – kỹ thuật Quảng Nam và Trường Cao đẳng Y tế Quảng Nam)

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

– Cơ sở lý luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, tư tưởng.

– Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của phép biện chứng duy vật, luận văn sử dụng các phương pháp: lịch sử và lôgíc, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, điều tra xã hội học … nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ đặt ra.

5. Bố cục của đề tài

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương, 7 tiết.

6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

1.1. ĐẠO ĐỨC VÀ GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG

1.1.1. Quan niệm về đạo đức 

Các nhà triết học trước Mác kể cả triết học phương Đông và phương Tây khi bàn về đạo đức đã có những đóng góp nhất định, nhưng nhìn chung đều rơi vào quan điểm duy tâm. Họ không nhìn thấy đạo đức được hình thành từ trong lao động và là sản phẩm của hoạt động có ý thức của con người, của loài người. Hạn chế lớn nhất của các nhà triết học trước Mác là không nhìn thấy được mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, không thấy được cơ sở kinh tế trong các quan hệ đạo đức xã hội.

Khác với tất cả các quan niệm trước đó, C. Mác và Ph. Ăngghen dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử đã xây dựng một học thuyết đạo đức có tính cách mạng. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định, đạo đức nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng: trước khi sáng lập các lý luận và nguyên tắc, bao gồm cả triết học và lý luận học, con người đã hoạt động, tức là sản xuất ra các tư liệu vật chất cần thiết cho đời sống. Xuất phát từ vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người. C. Mác đi đến quan niệm về tính quy định của phương thức sản xuất đối với toàn bộ hoạt động của con người, của xã hội loài người.

Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, phán ánh tồn tại xã hội, phán ánh hiện thực đời sống xã hội.

Ngày nay, đạo đức được hiểu là một trong những phương thức cơ bản điều tiết chuẩn mực hoạt động của con người, là một hình thái ý thức xã hội, là một dạng của quan hệ xã hội (quan hệ đạo đức) là đối tượng nghiên cứu của đạo đức học.

Như vậy, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, một trong những giá trị tinh thần mà xã hội loài người đã sáng tạo ra. Đó là một hệ thống chuẩn mực, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa cá nhân với xã hội, được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội.

1.1.2. Giá trị đạo đức truyền thống

Giá trị đạo đức truyền thống là toàn bộ những tư tưởng, tình cảm, những chuẩn mực, quy tắc, phong tục, tập quán đạo đức được truyền từ đời này sang đời khác và được mọi người hay một cộng đồng người nhất định tự nguyện noi theo.

Nói đến các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói đến đặc thù của đạo đức Việt Nam với những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đã hình thành và bảo lưu cho đến thời điểm hiện tại. Đó là các giá trị nhân văn mang tính cộng đồng, tính ổn định tương đối, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện trong các chuẩn mực mang tính phổ biến có tác dụng điều chỉnh hành vi giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và xã hội.

Các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc hình thành gắn với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Đó là kết quả và động lực to lớn của quá trình dựng nước, giữ nước và phát triển đất nước. Đồng thời là kết quả của quá trình tiếp thu sáng tạo tinh hoa của nhiều trào lưu tư tưởng, văn hóa lớn của thế giới để bồi đắp thêm cho những giá trị đạo đức – văn hóa vốn có của mình.

Chủ nghĩa yêu nước là tình yêu đối với đất nước, lòng trung thành với Tổ quốc biểu hiện ở khát vọng và hành động tích cực để phục vụ lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Tình yêu là tình cảm phổ biến của nhân dân các dân tộc trên thế giới. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất đã được củng cố qua hàng năm, hàng nghìn năm tồn tại của các tổ quốc biệt lập” [38, tr.226]. Song sự hình thành sớm hay muộn, nội dung cụ thể, hình thức và mức độ biểu hiện của nó tùy thuộc vào điều kiện lịch sử đặc thù của từng dân tộc.

Tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng sâu sắc, là một giá trị được tạo nên từ trong chiều sâu văn hóa dân tộc, là nhân tố tinh thần hợp thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử dân tộc.

Tinh thần lao động cần cù, tiết kiệm là một giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta, được hình thành do điều kiện sản xuất và đấu tranh xã hội trong lịch sử dân tộc. Cần cù là biểu hiện thái độ của con người trong hoạt động sáng tạo ra của cải vật chất, tinh thần và các mặt hoạt động khác của con người. Nó là kết quả và điều kiện không thể thiếu được trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Đối với mỗi người Việt Nam, cần cù, siêng năng, sáng tạo, tiết kiệm trong lao động là điều phải làm vì có như vậy mới có của cải vật chất.

Truyền thống hiếu học của người Việt Nam được hình thành từ nhiều thế hệ là một trong những giá trị truyền thống dân tộc, nó luôn được kế thừa phát huy. Đảng ta luôn ý thức sâu sắc rằng “giáo dục là quốc sách hàng đầu” là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Việt Nam từ xưa tới nay. Ngay từ rất sớm con người đã nhận thức được học hành không chỉ là quyền lợi mà còn nghĩa vụ của mỗi cá nhân. Người xưa từng nói: “Ngọc bất trác bất thành khí, nhân bất học, bất tri đạo” (ngọc không mài dũa thì không thành đồ dùng được, người không học thì không biết đạo).

1.2. VẤN ĐỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG HIỆN NAY

1.2.1. Quan niệm về giáo dục đạo đức

Giáo dục đạo đức là một bộ phận của giáo dục, là quá trình chuyển hóa những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho mỗi người, hình thành ở mỗi người thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác thực hiện các chuẩn mực của xã hội, thói quen chấp hành các quy định của pháp luật.

Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay
Giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở tỉnh Quảng Nam hiện nay

1.2.2. Vai trò của giáo dục đạo đức truyền thống hiện nay

Giáo dục đạo đức truyền thống sẽ góp phần chuyển các quan niệm đạo đức từ tự phát sang tự giác, từ bị động sang chủ động, không ngừng nâng cao trình độ nhận thức các giá trị đạo đức cho mỗi người từ trình độ nhận thức thông thường lên trình độ nhận thức khoa học.

Giáo dục đạo đức không chỉ nâng cao trình độ nhận thức đạo đức, giữ gìn những giá trị, chuẩn mực đạo đức đã được các thế hệ trước tạo nên, nó còn góp phần tạo ra những giá trị đạo đức mới, xây dựng những quan điểm, phẩm chất đạo đức mới, quan niệm sống tích cực cho mỗi đối tượng giáo dục.

Thông qua giáo dục đạo đức, các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được thế hệ trẻ tiếp nhận, kế thừa.

Giáo dục đạo đức truyền thống có vai trò quan trọng trong sự hình thành nhân cách và phát triển nhân cách.

Như vậy, giáo dục giá trị đạo đức truyền thống có ảnh hưởng không nhỏ tới sự hình thành và phát triển nhân cách. Chúng tạo ra “bản sắc” của mỗi người, mỗi cộng đồng người, mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, sự hình thành nhân cách là một quá trình lâu dài, chứ không phải hình thành một lần là xong xuôi. Nhân cách là một quá trình luôn đòi hỏi sự trau dồi thường xuyên.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY

2.1. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

Với diện tích tự nhiên của tỉnh là 10.438 km2 (năm 2014), Quảng Nam là tỉnh ven biển, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Tỉnh Quảng Nam được tách ra từ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng từ năm 1997.

Địa hình tỉnh Quảng Nam tương đối phức tạp, thấp dần từ Tây sang Đông, hình thành ba vùng sinh thái: vùng núi cao, vùng trung du, vùng đồng bằng và ven biển;

Quảng Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới điển hình, chỉ có 2 mùa là mùa khô và mùa mưa, ít chịu ảnh hưởng của mùa đông lạnh miền Bắc. Nhiệt độ trung bình năm 20 – 210C, không có sự cách biệt lớn giữa các tháng trong năm.

2.1.2. Điều kiện kinh tế

Sau hai mươi năm tái lập tỉnh (1997 – 2017) nền kinh tế đã có nhiều đổi thay, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Quy mô kinh tế tăng trưởng nhanh, trong đó, công nghiệp – dịch vụ có sự thay đổi mạnh trong cơ cấu kinh tế với giá trị sản xuất công nghiệp tăng hơn nhiều lần so với năm đầu tái lập

Quảng Nam có 13 khu công nghiệp, đặc biệt khu kinh tế mở Chu Lai đã được thành lập từ năm 2003 (QĐ 108 của Thủ tướng Chính phủ) và khu kinh tế Cửa khẩu Nam Giang vừa được thành lập năm 2006 (QĐ 211 của Thủ tướng Chính phủ) tạo động lực để Quảng Nam tăng tốc và cất cánh.

Trong một nền kinh tế có nhiều chuyển đổi, tồn tại nhiều thành phần kinh tế đan xen như hiện nay có ảnh hướng không nhỏ đến đời sống tinh thần, trong đó có đạo đức sinh viên.

2.1.3. Ảnh hưởng của môi trường văn hóa – xã hội

Văn hóa Quảng Nam được chọn lọc, kế thừa và phát huy các yếu tố bên ngoài, kết hợp với văn hóa nội sinh bản địa tạo ra những giá trị văn hóa vừa có cội nguồn từ nền văn hóa Việt Nam, vừa có sắc thái địa phương với những giá trị đặc trưng riêng. Con người xứ Quảng đã biết kế thừa và phát triển “tô điểm” được đặc tính văn hóa riêng biệt của người Quảng Nam.

Vùng văn hóa Quảng Nam được hình thành trong tổng thể vùng văn hóa miền Trung. Địa hình nằm ở chính trung điểm đất nước theo trục Bắc – Nam, đây là nơi giao hòa của những sắc thái văn hóa giữa hai miền và giao lưu văn hóa với bên ngoài, điều này góp phần làm cho Quảng Nam giàu truyền thống và độc đáo về bản sắc văn hóa …

Nói đến vùng đất Quảng Nam chúng ta không thể không biết đến phố cổ, đến Chùa Cầu, đến những món ăn đặc trưng của vùng đất này cùng với những món ăn nổi tiêng như cao lầu, mỳ quảng … tất cả làm nên một địa danh nổi tiếng khắp nơi không chỉ trong nước mà còn vang xa ra bên ngoài thế giới.

2.2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY

2.2.1. Những mặt tích cực trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam hiện nay

Thứ nhất, đa số sinh viên Quảng Nam đều có lòng yêu nước và lòng tự hào, tự tôn, tự trọng dân tộc sâu sắc. Đây là một truyền thống đạo đức vô cùng quý báu của dân tộc Việt Nam nói chung và của người dân Quảng Nam nói riêng.

Thứ hai, họ là những người sống có mục đích, có lý tưởng cao đẹp.

Thứ ba, đại đa số sinh viên đều có ý thức chủ động, tích cực học tập, nghiên cứu khoa học vì ngày mai lập thân, lập nghiệp.

Thứ tư, phần lớn sinh viên dễ thích nghi trước những biến đổi về kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước, họ rất năng động, nhạy cảm với cái mới, biết hướng hoạt động sống của mình về một tương lai tốt đẹp, nhiệt tình với các hoạt động của xã hội, có tinh thần tương thân tương ái vì cộng đồng.

Bên cạnh nhà trường, bản thân sinh viên, những chuyển biến theo hướng tích cực trong đạo đức của sinh viên phải nói đến vai trò của gia đình. Gia đình có vai trò rất lớn trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, đặc biệt là trong vấn đề giáo dục đạo đức cho con cái. Truyền thống đạo đức của gia đình có ảnh hưởng sâu sắc và trực tiếp đến con cái. Dưới sự định hướng của gia đình, kết hợp với truyền thống đạo đức của gia đình, sẽ tác động rất tích cực tới đời sống và các hành vi đạo đức của các em.

2.2.2. Những hạn chế trong giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên ở Quảng Nam và nguyên nhân của nó

Xem xét và đánh giá một cách toàn diện, bên cạnh những mặt tích cực của công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên, chúng ta không thể không thừa nhận vẫn còn tồn tại những hạn chế, thiếu sót nhất định.

Thứ nhất, trong nhận thức đôi khi chúng ta chưa thấy hết tính cấp thiết, tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức truyền thống, còn xem nhẹ công tác giáo dục văn hóa, đạo đức, lối sống mà chỉ quan tâm chú trọng vào phát triển kinh tế, tạo ra sự phát triển thiếu đồng bộ.

Thứ hai, khi đất nước chuyển từ nền kinh tế tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường, chúng ta không lường hết được cả những tác động tích cực, lẫn tác động tiêu cực của kinh tế thị trường, và mở cửa giao lưu quốc tế đến sự phát triển của đạo đức.

Thứ ba, vấn đề môi trường giáo dục gia đình, nhà trường và xã hội giữ vai trò hết sức quan trọng trong giáo dục đạo đức cho sinh viên.

Thứ tư, việc chúng ta phải chứng kiến những hiện tượng vi phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc là những sinh viên còn ngồi trên ghế trường Đại học, Cao đẳng đã gây nên sự bất bình trong xã hội, làm giảm sút niềm tin của mọi người đối với thế hệ mai sau.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nhiều nhân tố cả chủ quan lẫn khách quan:

Thứ nhất, trình độ nhận thức: Đạo đức lối sống của sinh viên vừa chịu sự tác động trực tiếp của nền kinh tế thị trường vào các quan hệ xã hội giữa người với người, vừa chịu ảnh hưởng do lối sống thiếu gương mẫu, thiếu trách nhiệm của người lớn với lớp trẻ.

Thứ hai, trong mối quan hệ gia đình: Gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thông qua việc thực hiện các chức năng quan trọng: tái sản xuất ra con người, nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục các thành viên.

Thứ ba, Nhà trường: Nhà trường giữ vai trò hết sức đặc biệt, là thiết chế xã hội có chức năng chuyên trách về giáo dục tri thức, nhân cách cho sinh viên.

Thứ tư, môi trường xã hội: là nơi sinh viên có thể thể hiện, khẳng định bản thân mình. Đó là đoàn thể xã hội mà các em tham gia, cộng đồng các em sinh sống, câu lạc bộ, nơi vui chơi giải trí … ở những nơi ấy, mỗi sinh viên lại có những mối quan hệ khác nhau và có cả sự ganh ghét, gian xảo, vụ lợi … ;

Một nguyên nhân hết sức quan trọng xuất phát từ chính bản thân sinh viên – đối tượng giáo dục. Bên cạnh những mặt tích cực, một bộ phận sinh viên tỏ ra thiếu ý thức rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức.

2.3. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY

2.3.1. Những bất cập trong giáo dục đạo đức ở trường học và bản thân sinh viên

Thứ nhất, chú trọng giáo dục tri thức khoa học, công nghệ mà coi nhẹ giáo dục đạo đức, cho rằng chỉ cần phát triển kinh tế thì trình độ đạo đức xã hội sẽ được nâng lên.

Thứ hai, công tác giáo dục đạo đức có xu hướng tách rời thực tế khá nghiêm trọng.

Các hình thức giáo dục đạo đức cơ bản:

Một là, giáo dục đạo đức thông qua giảng dạy học tập các môn học lý thuyết Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, giáo dục qua tuần giáo dục công dân, tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức lối sống và truyền thống dân tộc.

Ba là, lồng ghép nội dung giáo dục phẩm chất đạo đức lối sống và truyền thống dân tộc cho sinh viên trong xây dựng nội dung chương trình, bài giảng.

Nguyên nhân:

Thứ nhất, sự thiếu gương mẫu của một bộ phận giáo viên.

Thứ hai, việc giảng dạy đạo đức học và văn hóa ứng xử trong nhà trường chưa được quan tâm đúng mức.

Thứ ba, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường dường như không đặt nhà trường ngoài vòng xoáy của nó.

2.3.2. Tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đến các giá trị đạo đức truyền thống

Tác động của kinh tế thị trường và quá trình toàn cầu hóa đến công tác xây dựng nhân cách cho sinh viên Quảng Nam theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Một mặt, nó tạo thuận lợi cho việc bồi dưỡng một số giá trị mới trong nhân cách nhằm tạo ra một thế hệ sinh viên có nhân cách hoàn thiện đáp ứng yếu cầu của đất nước trong thời đại mới. Song mặt khác, việc xây dựng, bồi dưỡng các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc cũng đang gặp những cản trở nhất định.

CHƯƠNG 3

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM

HIỆN NAY

3.1. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN HIỆN NAY

3.1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức

Theo Hồ Chí Minh, đạo đức là nền tảng tinh thần của con người, giúp cho con người vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Có đạo đức sẽ giúp người cán bộ cách mạng không lùi bước trước khó khăn gian khổ, sẵn sàng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng.

Hồ Chí Minh coi đạo đức là nguồn nuôi dưỡng và phát triển con người, cũng giống như gốc của cây, ngọn nguồn của sông, suối. Đạo đức có nội hàm sức mạnh to lớn. Như Hồ Chí Minh vẫn thường nói, đối với con người, sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa, người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng.

Hồ Chí Minh khuyên những người làm công tác giáo dục phải kết hợp giáo dục với tự giáo dục, “tự cải tạo để tiến bộ”. Người khuyên nên lấy gương người tốt việc tốt để hằng ngày giáo dục lẫn nhau. Nêu gương là phương pháp được coi trọng trong giáo dục đạo đức từ xưa đến nay.

3.1.2. Quan điểm của Đảng về phát triển con người toàn diện

Tư tưởng phát triển con người, thường xuyên chăm lo cho hạnh phúc của mỗi người, mỗi gia đình luôn được Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lên hàng đầu.

Phát triển con người là mục tiêu của xã hội, là thước đo đánh giá sự tiến bộ xã hội.

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁO DỤC GIÁ TRỊ ĐẠO ĐỨC TRUYỀN THỐNG CHO SINH VIÊN Ở QUẢNG NAM HIỆN NAY

3.2.1. Giáo dục truyền thống tốt đẹp của dân tộc và của quê hương Quảng Nam

Trong giai đoạn hiện nay, để bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của Quảng Nam, thì việc giáo dục cho sinh viên những truyền thống tốt đẹp của quê hương sẽ giúp các em hiểu và yêu hơn con người xứ Quảng, những gì cha ông chiến đấu, hi sinh và tạo dựng. Ðội ngũ con em thế hệ tương lai của xứ Quảng là đội ngũ trí thức trẻ sẽ cùng với đội ngũ trẻ tương lai của cả nước xây dựng lại quê hương và đất nước về mọi mặt để xứng đáng với vị trí và tiềm năng của xứ Quảng.

3.2.2. Đổi mới nội dung và hình thức giáo dục đạo đức

Thứ nhất, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đổi mới nội dung và hình thức giảng dạy các bộ môn lý luận chính trị Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thứ hai, về hình thức giáo dục, cần thực hiện tốt nguyên lý giáo dục “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.

3.2.3. Phát huy vai trò của gia đình với tư cách là môi trường giáo dục đầu tiên

Để phát huy vai trò giáo dục của gia đình, chúng ta cần tôn vinh, biểu dương các gia đình văn hóa, các cá nhân, tổ chức có lối sống đẹp, có tinh thần bảo tồn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống. Đồng thời, tích cực thanh tra, kiểm tra các hiện tượng tiêu cực trong lĩnh vực văn hóa, hoạt động dịch vụ văn hóa nhất là ở quán bar, vũ trường, karaoke, dịch vụ băng đĩa, Internet … và có chế tài xử lý nghiêm khắc với các hành vi vi phạm.

3.2.4. Coi công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên là nhiệm vụ thường xuyên trong nhà trường

Nhà trường là môi trường văn hóa thứ hai của nhân cách con người, có ý nghĩa quyết định tới việc định hướng giá trị nhân cách.

Học đường là nơi trực tiếp diễn ra các hoạt động giáo dục, rèn luyện của sinh viên. Giáo dục nhà trường là môi trường gần, tác động trực tiếp đến sự hình thành, phát triển nhân cách sinh viên theo mục tiêu mô hình đào tạo.

3.2.5. Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh cho sinh viên

Để xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, tạo điều kiện cho việc phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong việc bồi dưỡng nhân cách cho sinh viên trên địa bàn tỉnh Quảng Nam thì chúng ta phải làm cho các giá trị ấy thẩm thấu, chi phối, điều chỉnh trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động.

Trước tiên, chúng ta phải xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Cùng với môi trường kinh tế, chúng ta phải xây dựng môi trường văn hóa – xã hội lành mạnh.

KẾT LUẬN

Trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhằm đào tạo những người lao động chất lượng cao cho xã hội cần quan tâm và tạo mọi điều kiện cho công tác giáo dục đạo đức truyền thống cho sinh viên. Vị thế của đất nước trên trường quốc tế như thế nào? Nền văn hóa truyền thống sẽ được kế thừa, bổ sung và phát triển ra sao? Phụ thuộc rất nhiều vào thế hệ trẻ, đặc biệt là sinh viên. Vì thế, giáo dục đạo đức cho sinh viên trong giai đoạn hiện nay là việc làm vô cùng cần thiết và cấp bách. Đòi hỏi sự chung tay góp sức của gia đình, của nhà trường và toàn xã hội, đồng thời, sự nổ lực của chính bản thân mỗi sinh viên đóng vai trò quyết định.

Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển nền kinh tế thị trường và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những thời cơ thuận lợi, đồng thời cũng đối mặt với nhiều thách thức đối với sự phát triển đất nước. Bối cảnh đó đã tác động vừa tích cực, vừa tiêu cực đến sự hình thành nhân cách của mỗi người dân nói chung và của sinh viên nói riêng. Chính từ thực tế đó đã đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giáo dục những giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên, đào tạo họ thành những người lao động tương lai của đất nước vừa có năng lực, vừa có phẩm chất đạo đức, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết trân trọng, giữ gìn những giá trị truyền thống của dân tộc, đồng thời tiếp thu những giá trị đạo đức mới cho phù hợp.

Cũng như sinh viên cả nước, sinh viên Quảng Nam hiện nay vẫn tiếp tục giữ gìn và phát triển các giá trị đạo đức truyền thống dân tộc bằng những hoạt động học tập, rèn luyện và tham gia các phong trào mang ý nghĩa giáo dục giá trị đạo đức truyền thống. Bên cạnh đó, vẫn còn những bất cập và hạn chế. Vì thế, cần phải có những phương hướng và giải pháp thích hợp để công tác giáo dục giá trị đạo đức truyền thống cho sinh viên đạt hiệu quả cao. Cần quán triệt các chủ trương của Đảng về đẩy mạnh công tác giáo dục đạo đức, tư tưởng cho thanh niên, phát huy hiệu quả vai trò của nhà trường, gia đình, xã hội và sự nỗ lực của bản thân sinh viên. Công tác giáo dục đạo đức cần thực hiện đồng bộ, hệ thống và toàn diện các hệ giải pháp kinh tế – xã hội, giáo dục đào tạo và văn hóa tinh thần nhằm tạo ra thế hệ những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển đất nước.

Trước thử thách của cuộc sống, diễn biến nhiều vẻ của các giá trị truyền thống lẫn hiện đại, bản lĩnh của mỗi sinh viên trước hết bộc lộ ở thái độ đánh giá và lựa chọn các giá trị. Trong các nấc thang giá trị xã hội, việc ưu tiên cho các giá trị cộng đồng hay nói cách khác việc đề cao các giá trị đạo đức truyền thống là điểm nổi bật trong đời sống của dân tộc Việt Nam. Thực tế cũng đang ngày càng khẳng định vai trò vô cùng to lớn của đạo đức truyền thống với sự phát triển xã hội hiện đại. Một quốc gia không thể bền vững nếu thiếu một nền tảng văn hoá nội sinh, nếu các giá trị văn hoá, đạo đức truyền thống bị mai một hoặc không phát huy đúng đắn, có hiệu quả.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TRIET HOC\vân anh

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *