Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết củađề tài

Trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay, so với cấp tỉnh và cấp huyện thì cấp xã (gồm xã, phường, thị trấn) là cấp chính quyềngầndân nhất, nơi trực tiếp đưa chính sách, pháp luật của Nhà nướcvàođời sống, hàng ngày hàng giờ giải quyết trực tiếp các nhu cầu của nhân dân; tuy nhiên năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều hạn chế, các quy định của pháp luậtđối với hoạtđộng của cấp này hiện nay chưa đầyđủ, do vậy đây là cấp có xu hướng dễ lạm quyền, đòi hỏi cần phải có sự giám sát chặt chẽ từ phía cơ quan chính quyền cấp trên và của xã hội.

Hiện nay,hệthống giám sátđốivới chính quyềncấpxã baogồmnhiều chủ thể, trong đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò đặc biệt quan trọng. Mặc dù hoạt động giám sátcủaMặttrận và cácđoàn thể đượcghi nhận từ Hiến pháp năm 1992(bổsung, sửađổinăm 2001), sauđólà LuậtMặttrậnTổquốc Việt Nam năm 1999, gần đây nhất là Hiến pháp năm 2013 và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 và trong nhiều vănbảnpháp luật khác nhưng nhìn chung hoạt động này vẫn còn mang tính hình thức, chưa hiệu quả. Tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm đến quyền, lợi ích của nhân dân vẫn còn diễn ra ở nhiều nơi, nhất là ở cấpxã. Có nhiều nguyên nhân dẫnđếntình trạng này như: pháp luậtvề giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Nam còn nhiềubấtcập, mộtsốquyđịnhchỉ dừngở những nguyên tắc chính trị – pháp lý chung, mang tính luật khung, thiếu các quy định cụ thể; hoặc có nhưng tản mạn trong nhiều văn bản pháp luật; có những quy định dưới dạng quy chế nên hiệu lực pháp lý thấp. Bên cạnh đó, có một số quy định chồng chéo, mâu thuẫn hoặc đã lỗi thời và thiếu ổn định. Mặt khác, hậu quả pháp lý của hoạtđộnggiám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới chính quyềncấpxã chỉmang tính kiến nghị, pháp luật chưa có quy định về các biện pháp theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kiến nghị, đề nghị đối với hoạt động của Ủy ban nhân dân vàHộiđồngnhân dân cấp xã; cơ chế về sự phốihợpgiữa giám sát nhà nước vàgiám sát xã hội đối với quyền lực nhà nước chưa được làm rõ. Quá trình thực thi hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc đối với chính quyền cấp xã cũng nảy sinh không ít bất cập như: trình độ hạn chế của cán bộ Mặt trận dẫn đến không phát hiện nhiều công trình phục vụlợi ích công cộngởcơ sở bịrút ruột; thiếu thông tin nên khônghỗtrợ ngườidânchủ độngtham gia các dựán đền bù, táiđịnhcư, giải phóngmặtbằng ngaytừ khâu lậpdự án;nể nang trong giám sát hoạt động bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh chủ chốt …

Vấn đề giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyền địa phương đã được nghiên cứu trong một số công trình. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyềncấpxã để giải quyếtở phương diện lý luận nhữngvấnđềthực tiễn kiểm soát quyềnlựcnhànước ở cơ sở đặtra như: nội dung hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốc Việt Nam, phương pháp giám sát, cơ chế cụ thể để tiến hành giám sát, hậu quả pháp lý của giám sát… Để góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốc Việt Nam đối với chính quyền cấp xã, nghiên cứu sinh lựachọn đề tài“Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động củachính quyền cấp xãởnước ta hiện nay” làm luận án tiến sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục tiêu nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận về giám sátcủa MặttrậnTổquốc đốivới hoạtđộngcủa chính quyềncấpxã, đánh giá thực trạng hoạtđộng giám sát, Luận án đề xuất các giải pháp bảo đảm giám sátcủa Mặttrận Tổquốcđối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thựchiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ cụ thể sau:

– Làm rõ cơ sở lý luận về giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Nam, đặcđiểmgiám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyền cấp xã;

– Xác định nội dung và những yếu tố tácđộng đến côngtác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã;

– Nghiên cứu, so sánh kinh nghiệm giám sát của nhân dân ở một số nước trên thế giới và rút ra các giá trị tham khảo đối với Việt Nam;

– Phân tích, đánh giá thực trạng ban hành chính sách, pháp luật và việc áp dụng trong thực tiễn các quy định về giám sát của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã;

– Kiến nghị nhằm hoàn thiện các quyđịnhpháp luật và đề xuất các giải phápbảođảmgiám sát của MặttrậnTổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyền cấp xã.

3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu công tác giám sátcủaMặttrận Tổ quốc đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi nội dung: luận án nghiên cứu về giám sátcủa Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạtđộngcủa chính quyền cấp xã thông qua 3 nội dungchủyếu là :

+ Giám sát việc ban hành văn bảnquy phạm pháp luậtcủaHĐND, UBND cấp xã.

+ Giám sát việc tổ chức thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn cấp xã. + Giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ trên địa bàn cấp xã.

-Địabàn nghiên cứu: Khảo sát, nghiêncứutrên phạm vi toàn quốc, trongđótậptrung khảo sátởmộtsốtỉnh, thànhphốđạidiện chođặctrưng vùng, miền, cụ thể là:

Ở miền Bắc, nghiên cứu, khảo sát ở thành phố Hà Nội, tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Nam Định.

Ởmiền Trung và Tây Nguyên, nghiên cứu, khảo sátở thànhphốĐàNẵng, tỉnh Bình Thuận và tỉnh ĐăkLăk.

Ởmiền Nam, nghiêncứukhảo sátở thànhphốHồChí Minh, tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Đồng Nai.

– Phạm vi thời gian: Thời gian nghiên cứu đề tài này được xác định từ Đại hộiđạibiểu toàn quốclầnthứVIcủaĐảngđếnnay.Đâylà giaiđoạnhoạtđộng giám sát của Mặt trận Tổ quốc có những thay đổi nhất định, tạo cơ sở để so sánh,đối chiếu nhằm làm rõ hơn sự giám sát củaMặttrận đối với hoạt động của chính quyền địa phương.

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã được thực hiện dựa trên cơ sở lý thuyết sau:

– Lý thuyết về chủ quyền nhân dân và sự kiểm soát quyền lực nhà nướctừ phía nhân dân; giám sát của nhân dânđốivới quyềnlựcnhà nước.Những yêu cầu của Nhà nước pháp quyền XHCN đối với kiểm soát quyền lực nhà nước.

– Tư tưởngHồChí Minh, quanđiểmcủaĐảngcộngsảnViệt Namvềgiám sát của MặttrậnTổquốc Việt Namđốivới các cơ quan nhà nướctrong Nhà nước pháp quyền XHCN.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Luận án được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biếnđược vận dụng để phân tích mối tương quan giữa giám sát nhà nước và giám sát xã hội đối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã. Quy luật chuyển hóa từ những sự thayđổivềlượngthành nhữngsự thayđổivề chất và ngược lại(quy luật lượng-chất) được sử dụng để phân tích và đánh giá những kết quả đổi mới trong hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốc trước và sauthời kỳ đổi mới.Các cặp phạm trù nội dung và hình thứcđượcsử dụng để phân tích mối tương quan giữa nộidung giám sát và các hình thức giám sát. Cặp phạm trù khả năng và hiện thựcđược sử dụngđểphân tích các điều kiện thựctếvà yêucầucủa công tác giám sátđể MặttrậnTổquốc có thể thực hiện hiệu quả việc giám sát. Đồng thời xem xét các hiện tượngphát sinh trong quá trình thực hiện giám sát trong mối liên hệ với các yếu tố như chính sách, thể chế pháp lý, con người,cơ sở vậtchất bảođảmcho hoạtđộnggiám sát trongmốiquan hệ nhân quả củachúng, từ đóđưara các kiến nghị phù hợp với yêucầuthực tiễn về giám sátđốivới chính quyền cấp xã.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong luận án là:

* Phương pháp thống kê

Phương pháp này dùng để hệ thống hóa các tài liệu, sốliệu, kết quả liên quanđếnvấn đề nghiên cứu trong cả 4 chương của luận án. Các tài liệu bao gồm công trình nghiên cứuđã được phổ biếntrong và ngoàinước;các báo cáo, văn bản của Đảng, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị cung ứng dịch vụ công và văn bản quy phạm pháp luật có liên quan, từ đó tập hợp thống kê để đưa ra những sốliệu cụ thể minh chứng cho các nhận định đưa ra trong luận án.

* Phương pháp thực nghiệm điều tra xã hội học và chọn mẫu điều tra

Địa bàn điều tra xã hội học giới hạn trong phạm vi một sốđịa phương đãđược xácđịnh trong phần phạm vi nghiên cứu.

Đối tượng điều tra xã hội là hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốc đối với chính quyền cấp xã hiện nay ở Việt Nam.

Nội dung điều tra xã hội tập trung vào các nội dung chính là đánh giá hiệu quả hoạt động giám sátcủaMặttrận Tổquốc hiện nay ở Việt Nam. Với các nội dung này, tácgiảxây dựng 02mẫuphiếuđiềutragồm01mẫuphiếuđiềutra dùng cho người dân và 01 mẫu phiếu điều tra dùng cho cán bộ công chức đang hoạt động tại chính quyền cấp xã.

Phương pháp điều tra xã hội học được thực hiện nhằm mục đích phục vụcác nội dung nghiên cứu, đánh giá về thực trạng hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốc đề cập ở chương 3 của luận án.

* Phương pháp lôgíc-lịch sử

Phương pháp nàyđược thực hiện thông qua việc nêu và trình bày khái quát hóa các vấn đề gắn liền với sự kiện lịch sử theo chuỗi lôgíc trong từng giaiđoạnhoặc ở những thời điểmlịch sửcụthể,từ đó làmnổi bật được tính hệ thống của các vấn đề nghiên cứu ở các chương 1, 2 và 3 của luận án.

* Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

Đây là các phương pháp mà tác giả sử dụng nhiều nhất để luận chứng, làm sáng rõ các nội dung nghiên cứu ở cả 4 chương của luận án, từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá đối với các vấn đề nghiên cứu và đánh giá tổng quan ở cuối mỗi chương. Riêng đối với phương pháp phân tích, tác giả kết hợp giữa phân tíchđịnh lượng và phân tích định tính để nắm được tính cụ thể và tính khái quát trong một chỉnh thể thống nhất của các vấn đề nghiên cứu được đặt ra trong luận án.

5. Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về giám sátcủa Mặttrận Tổquốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay. Tácgiảluận án phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã và đề xuất hệ thống các giải pháp nhằm bảo đảm giám sátcủa MặttrậnTổ quốc đượcthực hiện trong thực tế.

Những đóng góp của luận án là:

– Đưa ra quan niệm khoa học về giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủachính quyền cấpxã; luận giảivề sự cầnthiết phải cósựgiám sátcủa Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền địa phương cấp xã; chỉ ra đặcđiểmgiám sátcủa Mặttrận Tổquốc đối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã và các yếu tố tác động đến hoạt động này.

– Đánh giá nhữngkếtquả và hạnchế về giám sát của MặttrậnTổquốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở 3 nhóm nội dung cụ thể; chỉ rõ nguyên nhân của nhữngkếtquả và hạnchế trongsự tácđộngcủa nhiều yếu tố.

– Đề xuấtvà luận chứng đầy đủ về hệ thống giảipháp bảo đảm giám sát của Mặt trận Tổquốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

– Luận án góp phầnbổsung cơ sở lý luận và thực tiễn về giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền địa phương nói chung, chính quyền cấp xã nói riêng, điểm nhấn là coi hoạt động giám sát xã hội như là một chức năng đặc thù của Mặt trận Tổ quốc trong vai trò tham chính.

– Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, phục vụ hoạtđộng thựctiễn của cán bộ Mặt trận và các đoàn thể trong thực hiện hoạt động giám sát tại địa phương.

7. Kết cấu của luận án

Ngoàiphần mở đầu, kếtluận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 15 tiết.

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính  quyền cấp xã ở nước ta hiện  nay
Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước

1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.3.1. Khái quát kết quả nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu những công trình khoa học đã được côngbốởtrong và ngoàinước liên quanđếnđềtài nghiên cứu, cóthểrút ra một sốnhận xét như sau:

19

Về mặt lý luận,

Thứ nhất, các tác giả đã khá thống nhất trongnộihàm của khái niệm quyềnlựcnhân dân, cội nguồn của vầnđềgiám sát nhân dân. Các công trình khoa học đã đề cậpđến khái niệm giám sát nhân dân ở các mứcđộ kháckhau. Xácđịnh được vaitrò của hoạt động giám sát nói chung và giám sát xã hội nói riêng đối với việc thực hiện quyền lực của nhân dân. Một số công trình luận giải sự cầnthiết phải có hoạtđộnggiám sát nhân dân xuất pháttừ yêucầukhách quan quyềnlựcnhànước thuộc về nhân dân, nhân dân ủy quyền cho nhà nướcđể quản lý xã hội, vì vậy để hạn chếsựtha hóa quyềnlực, sựlạmquyền của nhànước,nhân dân cần phải giám sát bộ máy nhà nước.

Việc giám sátđược thựchiện thông qua hai cơ chế, giám sát bên trong và giám sát bên ngoài. Chủ thể thực hiện giám sát bên ngoài – giám sát không mang tính quyềnlựcnhà nước bao gồm giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội, tổchức xã hội và cá nhân công dân, trong đó, MTTQ Việt Nam là một thành viên.

Thứ hai, các công trình đã luận chứng được vị trí, vai trò của MTTQ Việt Nam trong đời sống chínhtrịđấtnước trongthời kỳ quá độlên CNXHở nước ta. Khẳng định giám sát là một trong những hoạt động cơ bản của MTTQ vì Mặt trận là tổchức quần chúng rộnglớnnhất, đạidiện chomọitầnglớpnhân dân, nếu không thực hiện tốt chức năng giám sát thì MTTQ không thể hoàn thành vai trò đại diện bảo vệ lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân.

Nêu lên một sốđặcđiểmkhác biệt cơ bản giữa giám sát của MTTQ Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền địa phương nói chung, chính quyền cấp xã nói riêng so với các tổ chức chính trị – xã hội khác trong hệ thống chính trị ở nước ta.

Thứ ba, các công trìnhbướcđầuđãđề cậpđếnnhữngvấnđềlý luận và thực tiễn của hoạt động giám sát như: chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, hình thức, cơ chế giám sát, trình tự và thủ tục giám sát, nội dung giám sát của MTTQ Việt Nam.

Về thực tiễn,

Thứ nhất, ở chừngmựcnhất định, mộtsốcông trìnhđã phân tích, đánh giá thực trạng giám sát của MTTQ Việt Namđốivới chính quyền địa phương nói chung, chính quyền cấp xã nói riêng trên cơ sở quy định của pháp luật thông qua cácnộidung: giám sát việc ban hành vănbảnquy phạm pháp luật của

20

HĐND, UBND; giám sát việctổ chứcthi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn cấp xã; giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ. Tuy kết quả chưa được như mong đợi nhưng giám sát của MTTQ bước đầu đã khơi dậy và phát huy được ýthức dân chủ của nhân dân quan tâm và tích cực tham gia công việc nhà nước; góp phần tích cực vào công tác xây dựng và củng cố chính quyền; Mặt trận ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò thực tế của mình trong hệ thống chính trị vàtrong đời sống xã hội.

Thứ hai, một số công trình đề xuấtmột số giảipháp để MTTQ thực hiện tốt hơn hoạt động giám sát theo mục tiêu trực tiếp của đề tài.

Tuy nhiên, các công trình trên đã chưa làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của giám sát xã hội của MTTQ đối với chính quyền địa phương, phân tích mối quan hệ giữa chúng, luận giải vai trò tất yếu hoạt động giám sátcủa Mặttrận Tổquốcđốivớiviệc thực thi quyềnlựccủanhân dânởđịa phương, đặcbiệt là ở

cấp xã – nơi rất cần sự giám sát của MTTQ đối với hoạt động của chính quyền.

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên, tuy không hoàn toàn nghiên cứu trựctiếp đến vấn đề mà luận ánnêu ra, nhưng ở mức độ nhất định, trong quá trình nghiên cứu đề tài sẽ có sự tiếp thu, kế thừa những thành quả, các giá trị màcác nghiên cứu trên đã chỉ ra làm nền móng cho việc tiếp tục nghiên cứu đề tài của mình cả về lý luận cũng như thực tiễn.

1.3.2. Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Mặcdù kết quả nghiêncứucủa các công trình trênđây đã gợi mở, cung cấpthông tin, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cậnvấnđề trong nhiều nội dung của luận án, tuy nhiên nhiềuvấnđề liên quanđếngiám sát của MTTQđối với hoạt động của chính quyền cấp xã vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện, có tính hệ thống.

Hơn nữa, trong những năm qua, nhận thứcđược tầmquan trọng của cấp cơ sở, Đảngvà Nhà nước ta đã chủtrươnghướnghoạtđộngcủa chính quyền Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện về cơ sở, phục vụ cơ sở. Chủ trương này hoàn toàn hợp lý và đúng đắn, nhưng làmthế nào để việcthực hiện đạt hiệu quả mới là vấn đề cần phải bàn, trong các nội dung đó không thể thiếu hoạt động giám sát của MTTQ. Thêm vàođó,yêucầuxây dựngnềnhành chính trong sạch, vững mạnh trong giai đoạn hiện nay cũng đang đặt ra những vấn đề nhân dân cần phải

21

phát huy hơnnữavai trò của mình trong việc tham gia giám sát nhà nước, mà MTTQ là tổ chức tập hợp quần chúng rộng nhất.

Từ những yêu cầu đó, trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các công trình nghiên cứu khoa học trước đây, luận án tiếp tục nghiên cứu những nội dung sau:

Về lý luận, các vấn đề tiếp tục nghiên cứu, giải quyết gồm: xây dựng khái niệm,đặcđiểm, nộidung giám sátcủaMTTQ Việt Namđốivớihoạtđộngcủa chính quyền cấp xã; phân tích những yếu tố tác động đến vai trò của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã; nghiên cứu có chọn lọc hình thức giám sát của các tổ chức tương đương MTTQ Việt Nam đối với chính quyền địa phương ở một số nước và chỉ ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.

Về thực tiễn, luận án phân tích, đánh giá mộtcách cóhệ thống việc ban hành chính sách, pháp luậtvề công tác giám sát của MTTQ Việt Nam; chỉ rõnhững ưu điểm, hạn chế, nguyên nhânhạnchế tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về giám sát của MTTQ Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực trạng chính sách, pháp luật và tình hình thực hiện chính sách, pháp luật trong thựctế về giám sát của MTTQ Việt Nam thời gian qua, tham khảo có chọn lọc những kinh nghiệm giám sát của các tổ chức tương đương MTTQ ở một số nước, luận án xác định phương hướngvà đề xuất các giải phápđồngbộnhằm hoàn thiện giám sát của MTTQ Việt Nam đối với chính quyền cấp xã, đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta hiện nay.

1.4. Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Để làmrõ mục đích của luận án, luận án được triển khai với hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu như sau:

Câuhỏinghiêncứuthứnhất: Giám sátcủaMặttrậnTổquốc Việt Namđối với hoạt động của chính quyền cấp xã dựa trên cơ sở lý luận nào?

Lý thuyết nghiên cứu: lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước từ phái xãhội (giám sát xã hội); đặcđiểmcủa giám sátxã hội đối với hoạtđộng của chính quyền địa phương.

Giả thuyết nghiên cứu: Giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđược nghiên cứu với tư cách là một bộ phận không thể thiếu trong giám sátxã hội đối

22

với hoạt động của chính quyền địa phương trong Nhà nước pháp quyền XHCN, trong đó có chính quyền cấp xã.

Kếtquả nghiên cứu (dự định): Làm rõsựcầnthiết khách quan của giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyềncấpxãtrong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Câuhỏinghiêncứuthứhai:Đặc điểmgiám sátcủaMặttrậnTổquốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã có gì khác so với giám sát của các tổ chức xã hội khác?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng lý luận giám sát và các qui định của pháp luật hiện hành về giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Namđối với hoạt động của chính quyền cấp xãđểlàm rõsựkhác biệt giám sát của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam so với giám sát của các tổ chức xã hội khác.

Giả thuyết nghiên cứu: Giám sát xã hội là hình thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội, các tập thể lao động vàcông dân. Giám sát của MặttrậnTổquốc Việt Nam có nhữngđiểmchung của giám sát xã hội, mặckhác do chức năng, nhiệmvụriêng nên phương thức, cơchế, nội dung, phạm vi giám sát cũng có những đặc điểm riêng.

Kếtquả nghiên cứu (dự định): Xácđịnhrõ những đặcđiểmcủa giám sát của Mặttrận Tổ quốc Việt Nam thông qua chủ thể giám sát, đối tượng giám sát, nộidung giám sát, hình thức giám sát, cơ chế giám sát. Qua đó, hệ thống lại những qui định của pháp luật hiện hành về giám sátcủa Mặttrận Tổ quốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyềncấpxã, phát hiện những khoảng trống trong công tác giám sát chưa được pháp luậtđiều chỉnh để khắcphục.

Câu hỏi nghiên cứu thứ ba: Những yếu tố nào tác động đến việc giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử, vấn đề tồn tạixã hội quyếtđịnh ý thức xã hội để làmrõ các yếu tố tácđộng đến vai trò của MặttrậnTổquốc Việt Nam trong giám sát hoạtđộngcủachính quyền cấp xã.

Giả thuyết nghiên cứu: HoạtđộngcủaMTTQ Việt Namđặttrong mối tương quan với các yếu tốchính trị, kinhtế,văn hóa, xã hội, dânchủlàng xã, những thuận lợi và ràocảntrong hoạtđộnggiám sát của MặttrậnTổquốc đối với chính quyền cấp xã trong điều kiện hiện nay.

23

Kếtquả nghiên cứu:Chỉra được những yếu tốtácđộngđếnvai trò của Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã làmcơ sởđể đưara các giải pháp nâng cao hiệulựcgiám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

Câu hỏi nghiên cứu thứ tư: Giám sát của nhân dân ở một số nước trênthếgiới có điểm giống và khác so với giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhưthế nào?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng lý luậnvề pháp luật so sánhđể nghiên cứu vấn đề này.

Giả thuyết nghiên cứu: Những giá trị phổ quát của giám sát nhân dân đối với nhà nướcnói chung, chính quyềnđịa phương nói riêng;đồngthời nghiên cứu những đặcthù của giám sát nhân dân đối với chính quyền địa phương ở một sốnước do sự khác nhau về thể chế chính trị, về các điều kiện kinh tế – xã hội, vềtrình độ phát triển của dân chủ so với Việt Nam.

Kếtquả nghiên cứu (dự dịnh): Chỉ ra được những giá trị tích cực từ giám sát của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền địa phương mà Việt Nam có thể tham khảo để vận dụng.

Câu hỏi nghiên cứu thứ năm: Những quy định của pháp luật hiện hành vềgiám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã và thực tiễn áp dụng nội dung này như thế nào?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng lý luận về giám sát đối với chính quyền cấp xã để giải quyết vấn đề.

Giả thuyết nghiên cứu: Cùng với yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN và sự phát triển kinh tế – xã hội, thì những quy định và thực tiễn áp dụng nội dung giám sátcủaMặttrận Tổ quốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã trước đây sẽ có những vướng mắc, bất cập cần phải hoàn thiện cho phù hợp với tình hình hiện nay.

Kếtquả nghiên cứu (dự định): Chỉ ra được những vướng mắc, bấtcập về tính thống nhất, tínhđồngbộ, tính minh bạch và tính khả thi của các quyđịnh pháp luật hiện hànhvề giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộng của chính quyền cấp xã, thực tiễn áp dụng các quy định này làm cơ sở cho việc hoàn thiện và nâng cao hiệu lựcgiám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

24

Câuhỏinghiêncứuthứsáu: Việc nâng cao hiệulựcgiám sátcủaMặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã trong thời gian tới dựa trên những phương hướng nào?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng lý luận về Nhà nước pháp quyền XHCN, vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử,tưtưởngHồChí Minhvề một Nhà nước của dân, do dân, vì dân để giải quyết vấn đề.

Giả thuyết nghiên cứu: Mỗi giaiđoạn lịch sử của đấtnước có những yêu cầu khác nhau, định hướng khác nhau trong việc nâng cao hiệu lực giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

Kếtquả nghiêncứu(dự định):Chỉra được những phươnghướngnhằm nâng cao hiệulựcgiám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộng của chính quyền cấp xã trong thời gian tới.

Câuhỏinghiêncứuthứbảy: Các kiến nghị nâng cao hiệu lực giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã nhưthế nào?

Lý thuyết nghiên cứu: Vận dụng lý luận về kiểm soát quyền lực nhà nước của nhân dân, lý luận về giám sát xã hội để giải quyếtvấn đề.

Giả thuyết nghiên cứu: Những vướng mắc, bất cập trong quy định và thực tiễn áp dụng giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủa chính quyền cấp xã, trên cơ sở những quan điểm nâng cao hiệu lực giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđốivới hoạtđộngcủachính quyềncấpxã sẽ giúpđưa ra các kiến nghị phù hợp.

Kếtquả nghiên cứu (dự định): đưa ra các kiến nghị nâng cao hiệu lực giám sát của Mặttrận Tổquốc Việt Namđối với hoạtđộng của chính quyền cấp xã phùhợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước.

25

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN

TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG

CỦACHÍNH QUYỀN CẤP XÃ

2.1. Giám sát xã hội đối với hoạt động của cơ quan nhà nước 2.1.1. Quan niệm giám sát xã hội

Thuậtngữ “giámsát” hiện nay được dùng rất phổ biến trong các khoa học

như Chínhtrịhọc, Luật học, Hành chínhhọc… và trong nhiều văn bản, nghịquyếtcủaĐảng, Hiến pháp, pháp luậtcủanhà nước cũng như trongđời sống chính trị, xã hội. Từ điển Bách khoa Việt Nam xem giám sát là mộthình thức hoạtđộngcủacơ quan nhànước hoặctổchức xã hộinhằmđảmbảophápchếhoặc sự chấp hành những nguyên tắc chung nào đó [31, tr.112].

Trong các tài liệu giải thích thuật ngữ chuyên ngành mang tính pháp lý, giám sát được coi là hoạt động đặc thù không thể thiếu được trong hoạt động quản lý xãhội. Từ điển Luật học định nghĩa giám sát “là sự theo dõi, quan sát mang tính chủđộng thường xuyên của cơ quan, tổ chức hoặc nhân dân đối với hoạt động của cácđối tượng chịu sự giám sát và sự tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc vàhướng các hoạt động đó đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho Hiến pháp và pháp luật được tuân thủnghiêm chỉnh” [11, tr.292]. Khoa học hành chính dùng khái niệm giám sát “để chỉhoạt động của các cơ quan quyền lực nhà nước, toà án, các tổ chức xã hội và công dân nhằm bảo đảm sự tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong quản lý xã hội” [30, tr.217]. Như vậy, nội hàm về giám sát của Khoa học Hành chính và Từ điển Luật học về cơ bản là giống nhau, đã chỉ rõ các chủ thể giám sát đối với hoạt động tuân thủ pháp luật của tổ chức và công dân trong xã hội.

Với cách giải thích trên thì hoạt động giám sátcó thể được thựchiện bởi nhiều chủ thể khác nhau như: Đảng; Nhà nước; tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức

xã hội, nhân dân, công dân…. Căncứvào chủ thể, giám sát có thể chia thành hai loại: giám sát của cơ quan nhà nước (giám sát của nhà nước) và giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước (giám sát xã hội). Mỗi loại đó do các nhóm cơ quan vànhững người có quyền giám sát tương ứng thựchiện đối với hoạtđộng củacác cơ quan nhà nước và những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan đó. Hai loại giám sát trênđược phân biệt với nhau thông qua các tiêu chí như tính 26

chất, chủ thể, thẩm quyền giám sát; nhóm, mức độ và số lượng của các khách thểbị giám sát; các hình thức và phương pháp tiến hành giám sát; hậu quả pháp lýcủa nó, đây chính là cácđặcđiểmriêng mà nhờ đó mỗi loại giám sát trở thành các loại giám sát độc lập.

Trong hai hình thức giám sát nêu trên thì“giámsát xã hội” được đề cập nhiều trong những năm gần đây, là mộttrong những vấn đề được xã hộiquan tâm. Tuy nhiên, trong giới khoa học vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm, chủ thể và phạm vi GSXH. PGS.TS. Võ Khánh Vinh trong chuyên đề Khái niệm, các loại, các lĩnh vực, nội dung và hệ thống các cơ quan giám sát đối với tổ chức vàhoạt động thực hiện quyền lực nhà nước [72, tr.15-33] đã phân loại các chủ thểtham gia giám sát quyền lực nhà nước. Tác giả quan niệm GSXH bao gồm giám sát của Đảng, giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và giám sátcủacông dân. Theo quan niệmcủaGS.TSKH. Đào Trí Úc, bản thân từ giám sát có nghĩa là “phải đứng ngoài mà nhìn nhận” không nằm trong nội bộ của cơ quan nhà nước. Sự giám sátđóphải“cókhả năng giám sát toàn bộhệ thống quyềnlực”,nằmngoàihệ thốngcủaquyềnlựcnhà nước,nghĩa là giám xã hộiđối với quyền lựcnhà nước. Việc giám sátđó: “phảicó tính độc lập và phảibảođảmyêu cầu khách quan” [71, tr.7]. PGS.TS. Tạ Ngọc Tấn coi “GSXH là sự vận hànhcủacảmộthệ thống xã hội, baogồmcác cơ quan, tổchức thuộc bộmáy

nhà nước, các thiết chế văn hóa, các phương tiện thông tin đại chúng v.v…và các công dân nhằm kiểm tra, cảnh báo, điềuchỉnh hoạtđộngcủa các cơ quan, tổchức, cá nhânnắmgiữ vàvậnhành quyềnlựcnhà nước” đồngthời phát hiện, phân tích, đánh giá và đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế, những hành vi sai trái, những vấn đề bất hợp lý, lỗi thời, không phù hợp vớiđịnh hướng và bản chất của xã hội [57]. Với cách tiếp cận này, GSXH có phạm vi rất rộng, gồm hai bộ phận chính, giám sát hành chính do chính nhà nước xây dựng nên nhằm tự kiểm soát quyền lực của mình một cách hợp lý (giám sát nội bộ)và giám sát mang tính chất công dân do các tổchức phi chính phủ, các tổchức công dân, các đại diện cộng đồng dân cư, các công dân (giám sát bên ngoài bộmáy nhà nước). Còn khiđề cậpđếngiới hạncủa GSXH hay phạm vi của GSXH tácđộng đến tổ chức và hoạtđộng thựchiện quyền lực nhà nước, các tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn cho rằng “GSXH là sự theo dõi, quan sát, xem xét, đánh giá của xã hội đốivới tổchức và hoạtđộngcủa hệ thống Đảng, Nhà

27

nước…Đâylàsự giám sátcủaquyền lực xãhộiđốivớiquyềnlựcchính trị/quyềnlựcnhà nước được thực hiệnmộtcách trực tiếp hoặc bán trực tiếp. GSXH cùng với giám sát của/trong Đảng, giám sát của/trong Nhà nướccó tác dụng góp phần kiểm soát quyềnlựcchính trị, phát huy dân chủ, không ngừng tăngcườngnănglựccộng sinh và chế ướccủa quyềnlựcxã hộitrong quanhệtương tác với quyền lựcchính trị/quyềnlựcnhà nước”[26, tr.56]. Quan niệm nàyđã tách hoạtđộnggiám sát của Đảng,giám sát của Nhà nước ra khỏi hoạtđộng GSXH, đồng thời khẳng định GSXH là hoạt động giám sát của các chủ thể ngoài nhà nước nhằm kiểm soát quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước.

Mặcdù còn chưa thống nhất hoàn toànvớicác tác giả, nhưngnếuđặt trongmốiquanhệ với thực thi quyềnlựcchính trị, việclựachọn quan niệm GSXH chỉ bao gồmgiám sát của nhân dân, khôngđề cậpđếngiám sátnộibộcủa hệ thống Đảng và Nhà nước là hợp lý hơn cả. Tuy nhiên khi nói về giám sát của “nhân dân” thì không chỉ giới hạn là cá nhân công dân hay các tổ chức chính trị – xã hội mà còn bao gồm các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, tổ chức dân

sự,các hội, hiệp hội, các cộng đồng dân cư…là những chủ thể đại diện cho từng bộ phận nhân dân theo các liên kết ngang trong xã hội có tính chất tương tự nhưxã hội dân sự [28, tr.21].

Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa:“GSXH là việc theo dõi, xem xét, đánh giá và kiến nghịcủacácchủthể ngoài nhànướcgồmcác tổchức

chính trị – xã hội, tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp, các tổ chức dân sự, đoàn thể nhân dân và cá nhân công dân đối với việc thực thi quyền lực chính trịcủaĐảng và bộ máy Nhà nước trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Tuy nhiên định nghĩa trên chỉ mang tính chất tương đối. Bởi lẽ giữa giám sátcủanhà nước và GSXH đối với hoạt động của các cơ quan quyền lực có mối liên hệ chặt chẽ,bảo đảmsự thống nhất, tính chỉnh thể của cơ chế giám sát. Mỗi mắtxích trong cơ chế đó, dù cósự đa dạngvề nhiệmvụvà phương thức giải quyết, nhưng đều nhằm đạt được mục đích cuối cùng là nâng cao hiệu quả hoạtđộng của chính quyền. Trong thực tế khó có thể tách bạch hoàn toàn hoạtđộng giám sát của nhà nước và GSXH bởi sựgắnkếtkhá chặt chẽ giữa lợi íchcủacác nhóm cộngđồngdân cư và hoạtđộngxây dựng chính sách, vì vậy cầnnghiên

cứusâumốiquanhệ,tácđộnglẫnnhau giữa giám sát bên ngoài–GSXH vàgiám sát bên trong nộibộđúng theo quanđiểmcủa Đảng:“Nhànước tạođiều

28

kiện thuận lợi để Mặt trận Tổquốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân thực hiện tốtvai trò giám sát và phản biện xãhội” [76, tr.124], “Kếthợpgiám sát trongĐảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân” với yêu cầu “Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hộicủaMặttrận Tổ quốc, các tổchức chínhtrị- xãhộivà nhân dânđốivớiviệc hoạchđịnhđườnglối, chủtrương, chính sách, quyếtđịnhlớncủaĐảngvà việctổchức thực hiện,kểcả đốivới công tác tổ chức và cán bộ” [77, tr.135].

2.1.2. Đặc điểm của giám sát xã hội

Với quan niệm như trên, có thể nhận thấy một sốđặcđiểmđáng lưu ý của GSXH như sau:

Thứ nhất, GSXH không mang tính quyền lực nhà nước

Đặcđiểmcơ bảnnày nói lên sự khác biệt giữa giám sát nhà nước với GSXH. Hoạtđộnggiám sát nhà nướclà hoạtđộngmang tính quyềnlựcnhànước;được thựchiện theo kế hoạch, như một nghĩa vụ của chủ thể giám sátđối với đốitượng bịgiám sát. GSXH được thực hiện do các chủthểphi nhà nước, nên không mang tính quyền lực, nghĩa là việc giám sát không mang tính bắt buộc, thể hiện dưới hình thức theo dõi, phát hiện, đánh giá, nhận xét, phản biện, kiến nghị, đề nghị. GSXH đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, ngoài các quy định của Hiến pháp, pháp luật về quyền hạn, trình tự, thủ tục,còn được thểhiện dưới nhiều hình thức với nhiều phương pháp khác nhau. Mặc dù không thể hiện tính quyềnlựcnhưng tác dụng của nórấtcao, bởi các kiến nghị, đề nghị, tham vấn, tácđộngtạora sứcép dư luận xã hộisẽlàm thayđổi, sửađổi, điều chỉnh các dự án chính sách, pháp luật, dự án kinh tế-xã hội, hoặc dừng các dự án không manglạihiệu quả kinh tế-xã hội, đồngthời thông qua khiếu nại, tốcáo của công dân, các cơ quan nhà nước điều tra và xử lý hành vi vi phạm pháp luật cán bộ, công chức, công khaikếtluậnvụviệc, nhằmđảmbảosự trong sạch trong bộ máy nhà nước.

GSXH đối việc thực hiện quyền lực nhà nước có phạm vi rộng hơn so với giám sát trong bộ máy nhà nước. Chủ thể giám sát trong bộ máy nhà nước chỉ xácđịnh trong phạm vi bộ máy nhà nước, còn chủ thể thực hiện GSXH bao gồm: các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ chức nghề nghiệp, các hiệp hội, cơ quan truyền thôngđạichúng, thanh tra nhân dân, công dân thực hiện quyền giám sát, nên cóthểbao quáthếtmọihoạtđộngcác cơ quan nhànước,những

29

ngườicó chứcvụ,quyềnhạntrong cơ quan nhànước.Mặtkhác, GSXH không những dựa trên cơ sở pháp luật, mà còn xem xét dưới góc độ đạo lý nghề nghiệp, quy tắc ứng xử, lối sống của cán bộ, công chức, nên kết quả giám sát đem lại hiệu quả cao đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước của cán bộ, công chức.

Thứ hai, GSXH là hình thức giám sát mang tính khách quan, độc lập, công khai

Chủ thể thực hiện GSXH đứng ở bên ngoài đối tượng bị giám sát, nên xem xét một cách toàn diện, đánh giá, nhận xét, kết luận một cách khách quan đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước. Mục đích của GSXH không phải vì tự thân, vìmột nhóm người, vì cá nhân nào, mà vì lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc, củaquốc gia. Không bị ràng buộc bởi các quan hệ ngang dọc trong bộ máy nhànước, không bị chi phối bởi các lợi ích kinh tế nên GSXH khách quan, công tâm, minh bạch, công khai trong xem xét, đánh giá đối tượng bị giám sát.

GSXH không phụ thuộc vào tổ chức các cơ quan nhà nước, nhân sự, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình thực hiện dân chủ hiện nay, nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi hơn vào hoạt động giám sát đối với việc thực hiện quyền lực nhà nước, với tư cách là thành viên của các tổ chức chính trị-xã hội, tổchức xã hội,tổchức xãhộinghề nghiệp.Tấtcảcáctổchức nàyđềulà cáctổchứcđộclậptrong hệ thống chính trị, khi thực hiện GSXHchỉtuânthủtheo quyđịnh của pháp luật, nên đảm bảo tính độc lập, công khai trong quá trình giám sát.

Thứ ba, GSXH có tính linh hoạt và hiệu quả

GSXH quitụnhiều chuyên gia, các đạibiểu tiêu biểu của các tầng lớp nhân dân, có trình độ chuyên môn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau như: kinh tế,

pháp luật, chính trị, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên v.v… nên hình thức giám sát đa dạng, phong phú, linh hoạt hơn so với giám sát nhà nước.Các chuyên gia trong nhiều lĩnh vực hiểu rõ, biết được quy luật các lĩnh vựccủa đời sống xã hội, nên quá trình giám sátvừabảođảmtính chuyên nghiệp, vừabảođảmtính xã hội-nghề nghiệp trong quá trình giám sát hoạtđộng thựchiện quyền

lựcnhà nước, nhờ vậy, chi phí cũng ít tốn kém hơn so với giám sát trong bộ máy nhà nước.

Thứ tư, GSXH hỗ trợ cho hoạt động giám sát của nhà nước

GSXH không nhằm mục đích kiềm chế hay đối trọng với giám sát của nhànước.Hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội; tổ chức

30

xãhộinghề nghiệp, thông tinđạichúng, thanh tra nhân dân và công dân, trước hết, giúp cho cơ quan nhà nước, những người có chức vụ trong cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan có thẩm quyền giải quyết những việc liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức; công dân. Thông qua mối quan hệ công việc giữa cơ quan nhà nước với công dân, phát hiện những hành vi quan liêu, cửa quyền, hách dịch, tham nhũng, lãng phí của cán bộ công, công chức, qua đó đề nghị, kiến nghị xử lývà áp dụng những biện pháp giáo dục, làm trong sạch đội ngũ, cán bộ, công chức nhà nước.

2.2. Giám sátcủaMặttrận Tổquốc đốivớihoạtđộngcủachính quyền cấp xã

2.2.1. Vị trí, vai trò của chính quyền cấp xã

Tronghệthống 4cấpcủaquản lý hành chính nhànướccủanướcta hiện nay, thì cấp xã là cấp có quy mô và tổ chức thấp nhất, cấp cuối cùng, cũng có thểcoi là cấp cơ sở, là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hệ thống chính trị, có vai tròhếtsứcquan trọng trong việc thực hiệnchủtrương,đườnglốicủaĐảng,chính sách, pháp luậtcủaNhànước.Chính quyềncấpcấpxã làtrụcộtcủahệthống chính trị ở cơ sở. Nếu chính quyền cấp xã không vững mạnh, các chính quyền cấp trên khó có thể phát huy tác dụng.Tất cả hệ thống quyền lực nhà nước (nhất là của chính quyềncấptỉnh, huyện) muốn thực hiện có hiệu lực, hiệuquảvai trò của mình, thì nhất thiết phảidựavào và thông qua vai tròcủa hệthống chính quyền cấpxã.Hiệu quả hoạtđộngcủachính quyền cấp xã là cơsở vàlànềntảng quan trọng để tạo lập hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả bộ máy nhà nước.

Chính quyềncấpxã là cấpquản lý nhà nước toàn diện các mặtkinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng trênđịa bàn cơ sở, những công việc thường ngày liên quan trực tiếp đến đời sống cư dân, cộng đồng ở cơ sở; là cấp trực tiếp tổ chức và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nướcđếntậnngườidânđồngthời cũng là nơi kiểm nghiệm tínhđúng đắn của những nội dung đó.

Chính quyềncấpxã là nơi trực tiếp thực hiện các quyền dân chủ, quyền con người, quyền công dân đi vào cuộc sống; trực tiếp công nhận, tôn trọng, bảo vệ,bảo đảmcác quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội theo Hiến pháp, pháp luật; chăm lo nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

31

Chính quyền cấp xã là cấp hướng dẫn, giám sát các hoạt động tự quản của

nhân dân – đây là nét đặc thù của chính quyền cấp xã so với các cấp chính quyền khác; có vai trò rất quan trọng trong việc gắn kết các thành viên trong cộng đồng dân cư, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, phát triển các giá trị con người

– giá trị văn hóa – giá trị xã hội, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới.

2.2.2. Đặc điểm tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã

Do vị trí, vaitrò đặcbiệt quan trọng nói trên, tổ chức và hoạt động chính quyền cấp xã mang những đặc điểm rất riêng:

Thứ nhất, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ.

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạtđộng củabộmáy nhà nước Việt Nam, trong đó có chính quyền địa phương cấp xã, được ghi nhậntạiđiều8, Hiến pháp năm 2013. Trongđóthìtậptrung là chủđạo, tập trung trên cơ sở dân chủ, phần tự quản của chính quyền địa phương (trong đó cócấp xã) chỉ có một số ít nội dung.Nói cách khác, hiện nay, tính tự quản của chính quyền cấp xã chưa được chế định như là một trong những nguyên tắc tổ chức vàhoạt động của chính quyền cấp xã.Điều này thể hiện rõ nét trong phân cấp quản lý.

Trong quan hệ giữa Trung ương và địa phương thì chính quyền địa phương Việt Nam làsựkếthợpcảhai nhântốtậpquyền và phân quyền, trongđótập quyền làchủđạo,nhưng cósựphâncấpcho chính quyềnđịaphương.Đốivới chính quyềncấpxã, nguyêntắctổchức và hoạtđộngnày có nhữngmặtmạnh, nhưng cũng bộc lộ những bất cập, nhất là trước đòi hỏi phải phát huy cao tính chủđộng,năngđộng,sáng tạo, trách nhiệmcủachính quyềncấpxãđốivớisựphát triển toàn diện trên địa bàn, đòi hỏi phải nâng cao tính tự chủ – tự quản của chính quyền trong hệ thống thống nhất của nhà nước ta từ trung ương đến cơ sở.

Thứ hai, hoạt động của chính quyền cấp xãchịu sự tác động mạnh mẽ của quan hệ họ hàng, văn hóa làng xã truyền thống, phong tục tập quán.

Quan niệmduy tình, thườngđặt“tìnhcao hơnlý”ởViệt Nam cũng làmột lực cản của quá trình cải cách hành chính. Trật tự trên dưới kiểu gia đình, trong không khí tình nghĩa, người ta mong muốn tình trạng hòa mục, ổn định, trật tự, trên ra trên, dưới ra dưới, chứ không đặt vấn đề phân định rõ đúng, sai, mọivấnđềđượcgiải quyếtdựatrên“tìnhlàng nghĩaxóm”.Bên cạnh đó, những tập tục lạc hậu đã ăn sâu bám rễ từ ngàn đời không phải một sớm một

32

chiều có thể thay đổi ngay được. Chính vì lẽ đó, xử lý các vấn đề ở cấp xã gặp rất nhiều khó khăn, tình trạng “cháu đi cưỡng chế nhà chú” hay “xử phạt láng giềng do không rào chắn khi xâydựng”cóthểlàmảnhhưởngđếnmốiquan hệ họ hàng, xóm giềng vốn thân thiết bao lâu nay. Những mối quan hệ đó trởthành những ràocảnđốivớiquá trình xây dựng trậttựxãhộitạicấpxã nói riêng cũng như quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền nói chung.

Thứ ba, giải quyếtmốiquanhệgiữa dân và chính quyền phải linh hoạt, mềm dẻo.

Chính quyềncấpxã là cầunốigiữa Nhà nước với các tổchức, cá nhân trong xã, phường,thịtrấn,đạidiện cho Nhà nước để thực thi quyềnlựcnhànước,triển khai, tổchức thực hiệnchủtrương, đườnglốicủa Đảngvà chính sách, pháp luậtcủaNhà nướctrênđịa bàn. Cấp xã làcấpđầutiên đốimặtvới những bức xúc, yêu cầu của dân và giải quyết những yêu cầu đó. Đây chính lànơi diễn ra hoạtđộngsống của cư dân, sự ổnđịnhcủa xã hộiđược bắtđầutừ đây; thường thìsự không bình yên của thể chế đềubắtđầutừchỗlòng dân không yên, quy luật quản lý muôn đời là có dân thì có tấtcả, mấtdân thì mấttất

cả… Thuận lòng dânđược nhìnmộtcách rõ nhất, trực tiếp nhất là từ những ngườidân cơ sở, phải xuất pháttừ đâythìmọihoạtđộngquản lý của các cấp mới triển khai có hiệu quả.Tấtcảcác điểmnóng chínhtrị- xãhộiđềuxuất pháttừcơsở,nếuchính quyềnxửlýtốtngaytừkhâuđầutiên thì cácđiểm nóng sẽ không kéo dài và lan rộng lên cấp huyện, cấp tỉnh. Cho nên, một mặt, chính quyềncấpxã thực hiện quyềnlựccủamình theo pháp luật và cơchếchính sáchcủachính quyềncấptrên trong giải quyết cácmốiquanhệgiữa dânvớichính quyền,mặtkhác, phảimềmdẻo, linh hoạt phùhợpvớitruyền thống vàđiềukiệntựnhiên, kinhtế- xãhộicủađịaphương và các tầng lớp dân cư trên địa bàn, phải dựa trên nguyên tắc “hợp lý, hợp tình”, có như vậy mớithuyết phụcđượcngườidân tin vàtựnguyện tham gia xây dựng chính quyền, phát triển địa phương.

Hiện nay, quyềnhạnban hành vănbảnquy phạm pháp luật của chính quyền cấp xã rất hạn chế vì nhiều ý kiến cho rằng nếu giữ quyền này cho cấp xãsẽ dễ dẫn tình trạng tùy tiện ban hành các quy định trái với cấp trên. Tuy nhiên,để đảmbảo chính quyền cấp xã thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn được giao và phù hợpvới đặcđiểmcủa địa phương thì việc giao cho cấp chính quyền này

33

thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật là cầnthiết. Đây là côngcụquan trọngđể chính quyềncấpxã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nướccủa mình theo luậtđịnh. Vấn đề là cần khắcphục những hạn chế,bấtcập trong việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cấp xã theo hướng quy định rõ phạm vi, thẩm quyền và hình thức, quy trình ban hành quy phạm pháp luật của cấp chính quyền này.

Thứtư, tổ chức bộ máy ở cấp xã được tổ chức đơn giản nhất, cóđội ngũcán bộ biến động nhất và ít tính chuyên nghiệp nhất. Ở cấp xã chỉ có HĐND vàUBND thực hiện việc quản lýđịaphương, đâylà mộtloại“chủthể kép”của quyền lực nhà nước thực hiện ở địa phương (cấp xã). HĐND cấp xã là đại biểu cho nhân dân ở cơ sở; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND xã và là cơ quan hành chính nhà nước ở cơ sở, có tínhđộc lập tươngđốiso với hoạtđộngchấp

hành của cơ quannày đối vớiHĐND – cơ quan quyền lực cùng cấp. Sự độc lậpđó đòi hỏi cơ quan hành chính phải chủ động, sáng tạo, song lại tiềm ẩn nguy cơthoát ly khỏi những quy định của pháp luật, thoát ly sự giám sát, khả năng xảy ra tình trạng lộng quyền, lạm quyền, vi phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nướcở cơ sở cao hơn so với các cấpkhác. Bên cạnhđó,độingũ cán bộ, công chức cấp xã hầu hết là người địa phương, xuất pháttừ việcquen việc vào làm và đượcđưađiđàotạođể chuẩn hóa trìnhđộchuyên môn nên có nhữnghạnchếnhất định, cómốiquan hệ sâu sắc với dân cư trên địa bàn nên ít khi thayđổi công việc.

Thứ năm, chính quyền cấp xã là một bộ phận hợp thành hệ thống chính trịởcơsởđặtdướisựlãnhđạocủaĐảngbộnhằm thực hiện quyền làmchủcủa nhân dân địa phương. Đảng bộ, HĐND, UBND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh cấp xã tạo thành một chỉnhthểthống nhất -hệthống chínhtrịở cơsở, hệthốngnày đặtdướisựlãnhđạo của tổ chức cơ sở đảng về những nội dung cơ bản như đường lối, chủ trương, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và công tác tổ chức cán bộ.

Chính quyền cấp xã cùng các tổ chức thành viên của hệ thống chính trị ởcơ sở thống nhất tiến hành các hoạtđộngtrong khuônkhổpháp luật của Nhànước, theo các nguyên tắc Đảng lãnh đạo, nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắctấtcảquyền lựcthuộc về nhân dân. Tuy cósự khác nhauvề chức năng, nhiệmvụ, tổ chứcbộ máy và phương thức hoạt động, song chính quyền cấp xã

34

và các thành viên của hệ thống chính trị ở cơ sở thống nhất cùng hướng tới các mục tiêu chung là phát triển kinh tế – xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, vì mục tiêu chung là “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Trongsự thống nhất của hệ thống chínhtrịcơsở,Đảnglà bộphậnhạtnhân,giữvai trò lãnhđạohệthống; chính quyền là lực lượng chủ đạo, giữ vai trò quản lý, điều hành và các đoàn thể nhân dân là tổ chứcđại diện quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân.

Cáctổchức chínhtrị- xã hộithaymặtcho các tầnglớpnhân dânđịa phương tham gia phốihợpvới chính quyềncấpxã trong việc quản lýmọimặt của đời sống xã hội ở xã,phường, thị trấn.Các tổ chức này được quyền kiến nghịvới chính quyền cấp xã về những vấn đề liên quan đến lợi ích của nhân dân địa phương.Chính quyềncấpxã có trách nhiệm tạo điềukiện thuậnlợiđểcáctổchức này hoạtđộngtốt. Vìvậychính quyền cấp xã có vai trò khôngnhỏtrong việc giúp cáctổchức chínhtrị- xã hộivà các đoàn thể nhân dân thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Với nhữngđặcđiểmnêu trên của tổchức và hoạtđộngcủa chính quyền cấpxã, cộng với yêucầukiểm soát quyềnlựcnhà nước ở cấpcơ sở, việc thực hiện giám sát hoạt động của chính quyền cấp xã từ phía các tổ chức xã hội, trongđó có Mặttrận Tổ quốc là rất cần thiết.

2.2.3. Nhu cầu kiểm soát quyền lực nhà nước ở cấp cơ sở và vai trò của Mặt trận Tổquốc trong việc giám sát hoạt động của chính quyền

Việc MTTQ thực hiện chức năng giám sátđốivới hoạtđộngcủa chính quyền cấp xã là xuất phát từ các yếu tố sau đây:

2.2.3.1. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong đời sống ở cơ sở

Mộttrong nhữngđặcđiểmcủa cách mạng dân tộc dânchủlà thành lập mộtmặttrận rộng rãi đoànkếttoàn dân tộc chốngđếquốc và phong kiến. MTTQ Việt Nam tiền thân là Mặttrận dân tộc thống nhất doĐảngCộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo do yêu cầu liên minh để chống ngoại xâm, giành độc lập dân tộc.Sứmệnh đó đã được hoàn thành từ sau khi giải phóng miền Nam, thống nhấtđấtnước.Ngày nay, MTTQ Việt Nam là liên minh chính trị thực hiện chiến lược đại đoàn kết dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc,là cơ sở chính trị của Đảng và chính quyền nhân dân, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân; thực hiện dân chủ, tăng

35

cường đồng thuận xã hội, giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, nhà nước. Trong điều kiện hiện nay, với yêu cầu phát huy mạnh mẽ dân chủ nói chung,đặcbiệt làởcơsởnói riêng thì chức năng GSXHtrởthànhmộtchức năng cơ bản của MTTQ Việt Nam.Bởi lẽ Mặt trậnlà tổ chức quần chúng rộng

lớn nhất, đại diện cho mọi tầnglớpnhân dân. Chỉ có thông qua hoạt động giám sát, Mặt trận mới có thể giúp nhân dân kiểm soát được sử dụng quyềnlực đã ủy quyền của mình cho các cơ quan quyền lực. Thực hiện giám sát là Mặt trậnđã thực hiệnsự ủy quyềncủa mọi tầnglớpnhân dân và các tổ chức chính trị – xãhội.Nếukhông thực hiệntốtchức năng giám sát thì MTTQ Việt Nam không thể hoàn thành vai trò đại diện bảo vệ lợi ích cho mọi tầng lớp nhân dân.

GSXH là nhu cần tự thân của Đảng cầm quyền và Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta.Bản thân hoạt động GSXH đã tạo ra sự chế ước bên ngoàiđểĐảng cầm quyền và nhà nước không thể tùy tiện trong việc hoạch định đường lối và tổchức thực thi các quyết sách. GSXH góp phần vào việc giáodục độingũcán bộ, công chức, đảngviênvềđạođức, lốisống,ýthức và kỹnăng thực thi công vụ. Nếu thực hiện tốt chức năng GSXH, thì vai trò, vị trí của MTTQ Việt Nam sẽ được khẳng định trong đời sống chính trị – xã hội nước ta.

Đặttrong hệ thống chínhtrị ở cơ sở, so với các chủthể khác, có thể nói MTTQ Việt Namlà chủ thể đặcbiệt và có tiềm năng nhất thực hiện chức năng GSXH. Bởi lẽ, với trên 35 thành viên, bao gồm các thành viên là tổ chức chính

trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội … và các cá nhân tiêu biểu, MTTQ Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện, hoạtđộngdựatrên nguyêntắctự nguyện, hiệp thương dânchủvà

thống nhất hành động, nên dễ đạtđược sự đồng thuậnxã hội ở cấp cơsở. Sự đa dạng về thành phần cơ cấu cho thấy Mặt trận là lực lượng xã hội đông đảo nhất, thể hiện rõ nét nhất sức mạnh của cộng đồng, của quyền lực xã hội và mang tính khách quan do sự tác động đa chiều mang đến. Đây là thế mạnh của Mặt trận mà tổchức đảng, nhà nước không thể thực hiện được, cũng chínhđiều này càng khẳng định vị trí nòng cốt của Mặt trận trong xã hội dân sự – một trong ba thành

tố không thể thiếu được của một xã hội dân chủ và phát triển (hai thành tố kia là nhà nước pháp quyền và kinhtế thịtrường). Mặtkhác, sự đa dạng trong thành phần tham gia đã giúp Mặt trận có khả năng tổng hợp được trí tuệ của mọi giới, trongđócóđộingũ trí thức và chuyên gia giỏiở các lĩnhvựccủa đời sống xã

36

hội, tham gia hiệu quả vào quá trình giám sát đối với hoạt động của chính quyền cấp xã.

MTTQ Việt Namđược tổchứcở cả bốncấptươngứngvới hệthốngtổchức của chính quyền. Dưới cấp cơ sở của hệ thống hành chính còn có Ban công

tácMặttrận ở tận khu dân cư (thôn, làng, ấp, bản, phun, sóc …), có vai trò thúcđẩy sự hình thành các cộng đồng tự quản thay mặt chính quyền quản lý mọi mặtđời sống của khu dân cư. Cán bộ làm công tácMặttrận là cán bộ hoạtđộng xãhội, là người của công chúng. Nhờ vậy, mà hoạtđộng của Mặttrận diễn ra ở tận khu dân cư, cán bộ mặt trận hoạt động trong nhân dân, hằng ngày tiếp cận trực tiếp với đời sống nhân dân, là ngườiđồnghành tincậycủa nhân dân, thấy rõnhững tác động tíchcựcvà tiêu cực của chính sách và pháp luật của Đảng và nhà nướcđối với ngườidân từ cơ sở, từ đó phản ánh, kiến nghị chính quyền cấp xãđiều chỉnh hoạtđộngcủa mìnhđể phùhợpvới pháp luật và lợiích của người dân. Nói cách khác, so với Đảng và nhà nước thì mức độ gần dân, thân dân của Mặttrận nổi trội hơn. Mặt trận luôn có dân là điểm tựa, là hậu thuẫn tin cậy cho mọi hoạtđộng.

2.2.3.2. Yêu cầu phát huy dân chủ ở cơ sở

Nước ta quá độ đi lên CNXH từ một chế độ phong kiến nửa thuộc địa,ở đó mang nặng dấu ấn của chế độ chuyên chế quân sự.Mặcdù trong xã hội lúc bấy giờ đã có yếu tố dân chủ truyền thống làng xã và yếu tố sơ khai của dân chủtư sảnnhưng chưa đángkể.Do vậy, nềntảng dânchủởcơsở của ta thiếu hụt truyền thống trong lịchsử.Điềuđógây không ít khó khăn cho việc xây dựng một nước dân chủ theo định hướng XHCN.

Trước đây, do tư tưởng duy ý chí, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể nên chúng ta chưa coi trọng đúngmứcvấnđề“lấy dânlàmgốc”, vìthếchưa có nhận thứcđúng đắn về vấn đề dân chủ cơ sở. Hiện nay, nước ta đang xây dựng nền kinh tếthị trường, cũng có nghĩa là chấp nhận sự phân hóa xã hội diễn ra, bất công trong xãhộicòntồntại,dẫnđến quátrình thực hiện quyền chínhtrịcủanhân dân laođộng khó khăn. Cơ sở kinh tế làm nền tảng cho quyền lực chính trị của nhân dân laođộngchưa thựcsựđượcđảmbảo; kinhtếnhànướcvà kinhtếtậpthểnói chung đang có những biểu hiện làm ăn kém hiệu quả, sức cạnh tranh yếu.

Mặcdù Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã đi vào thực hiện được 08 năm, nhưng thực trạng tình hình hiện nay ở cơ sở vẫnnảysinh

37

nhiều vấn đề khó khăn, tiêu cực, những yếu kém chậm khắc phục.Người dân ởcơ sở hiện nay tuy trình độ dân trí và trình độ học vấn có được nâng lên nhưngđa số vẫn còn thấp (kể cả cán bộ xã), vì thế gặp rất nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và hưởng thụ những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuậthiện đại. Đa số ởcơ sở do đời sống kinh tế khó khăn (nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa) dân chỉlo kiếm sống, ít quan tâmđếnvấnđề chính trị, văn hóa, xã hội, họthậm chíkhông biết hưởng quyền dân chủ, không biết dùng quyền dân chủ.

Bên cạnh đó, bộ máy chính quyền các cấp nói chung và chính quyền cấp xã nói riêng chưa thực sự vững mạnh, tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến. Hiệu lực quản lý, điều hành kinh tế – xã hội và pháp luật chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bị giảmsút. Quyền làmchủcủa nhân dân bị vi phạm ở nhiều nơi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế,đấtđai, thu chi ngân sách, đầu tư

xây dựng cơ sở hạ tầng, huy độngvốnđóng góp của dân …có nhiều biểu hiện tiêu cực.Mộtbộphận cánbộđảngviên thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền, lợi dụng những kẽ hở trong quản lý của nhà nước để tham ô, tham nhũng;ở nông thôn là tình trạng cán bộ cơ sở bất chấp pháp luật, cấp bán đất trái thẩm quyền, chi tiêu tài chính sai mục đích và lãng phí. Mâu thuẫnnộibộngày một tăng dẫn đến hiện tượng khiếu kiệntậpthể, gây ra không khí rất căng thẳng phức

tạp. Trong khi nhân dân đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, đòi quyền tự do dân chủ, đòi đảm bảo công bằng xã hội thì kết quả khiếu kiện lại chậmđược giải quyết hoặc giải quyết không thỏa đáng làm xuất hiện các điểm nóng, như ởvụ thuhồiđất, cưỡngchế và hủyhoại tàisảncông dânở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phốHảiPhòng; vụ gây rối, đốttrụ sở UBND xã Long Hưng, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai vào ngày 18/2/2009; vụ tiểu thương phản ứngđối với Dự án xây dựng chợ Phan Thiết ngày 5/10/2012. Những sự việc tương tự cho thấy ở những nơiđó, Đảng mấtvai trò lãnh đạo, bộ máy chính quyền bị tê liệt, hệ thống chính trị ở cơ sở trì trệ, nội bộ nhân dân bị chia rẽ, an ninh trật tự, an toàn xã hội mất ổnđịnh.

Vì vậy, dân chủ ở cơ sở là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủởnướcta. Phương châm“dânbiết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thể hiện chủ trương lớncủa

38

Đảng là hướng về cơ sở, coi trọng cái gốc của mọi vấn đề “là cơ sở”,chứng tỏ vịtrí chiến lược, lâu dài, căn bản của dân chủ ở cơ sở.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở góp phần bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của dân, do dân, vì dân ngay ở cấp chính quyền cơ sở. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở sẽ tạo ra một cơ chế phát huy quyền làmchủchomọicông dân nhằmđảmbảoquyền lực chính trị của nhân dân lao động và góp phần làm phong phú hơn hình thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Rõ ràng không thể chỉ nâng cao chất lượng của dân chủ đại diện là đủ mà còn phải thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực và có hiệu quả mới đảm bảo tốt cho nhân dân lao động làm chủ đích thực quyền lực của mình.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hóa của quyền lựcnhà nước.Việc quy định rõ ràng các việc cần thông báo cho dân biết, những việcdân đượcbàn, những việc dân được giám sát, kiểm tra, tài chính được công khai, minh bạch đã góp phần làm hạn chế rất nhiều các biểu hiện tha hóa của các cán bộ, đảng viên trong bộ máy quyền lực nhà nước. Thực hiện dân chủ ở cơ sở

không chỉ làm cho nhân dân lao động từng bước thể hiện quyền làmchủmà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền, đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của nhân dân cũng như ý thức được trách nhiệm phục vụ nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương phép nước.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra cơ sở pháp lý để MTTQ các cấp và các tổ chứcchính trị – xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa nhà nước và công

dân trong phát huy dân chủ XHCN. MTTQ và các tổ chức thành viên – những tổ

chức của bản thân nhân dân – là một bộ phận trong hệ thống chính trị nước ta cóvai trò hếtsứcquan trọng và mang tính quyết định trong việc tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân ở cơ sở; làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức chính trị- xãhội đã được quy địnhtrong luật và các vănbản dưới luật; phối hợp với chính quyền trong thực hiện dân chủ và giám sát thực hiện dân chủ ở cơ sở.

2.2.3.3. Yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp xã

Về nguyên tắc, chính quyền cấp xã được nhân dân trao quyền quản lý xãhội, phải thực thi quyền lựcnhà nướctạiđịa phươngdựatrên những quyđịnh của pháp luật, nhưng các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức đều là những cơ

39

thể sống, mặcdù chúng ta mong muốn và đòihỏicác cơ quanđókhôngđược phạm sai lầm, vì hậu quả của nó là khôn lường, song chắc chắn cũng khó có thểkhẳng định rằng các cơ quan đó tuyệt đối không bao giờ phạm sai lầm. Bởi lẽ, thực thi quyền lực nhà nước thông qua những con ngườicụ thể,chứ không phải là nhà nước khái niệm. “Mà con người phụ thuộc vào mối quan hệ xã hội và môi trường xã hội với sự phức tạp của nó, cùng với phức tạp về nhận thức, năng lực, tâm lý, tình cảm, luôn luôn chi phối lẫn nhau” [33,tr.179] và “Con người luôn chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với hành động của con người. Điều đó, cũng khiến lý tính đôi khi bị chìm khuất” [40,tr.131], có thể dẫnđến những hạn chế về nhậnthức lý tính, nhận thức tính hợp pháp, hợp lý và khảnăng sai lệch trong việc sử dụng quyền lực nhà nước có thể xảy ra.

Chính quyềncấpxã cóvịtrí, chức năng, nhiệmvụquyềnhạnđượcpháp luật quy định, trực tiếp đụng chạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. SovớicấpHuyện vàcấpTỉnh, tính linh hoạt, sángtạocủachính quyềncấpxãtrong quá trình thực thi quyền lực nhà nước tại địa phương là một đòi hỏi tất yếu, khách quan, song cũng tiềm ẩn nguy cơ thoát ly khỏi sự giám sát, tình trạng lạm quyền, lộng quyền, vi phạm pháp luật làmộttrong những nguyên nhânchủyếu làm cho quyền lực chân chính của nhân dân trở thành quyền lực của một người, một nhóm người. Bên cạnh đó, phạm vi giải quyết vấn đề rộng lớn, những quan hệxãhộithuộc phạm viđiềuchỉnhcủachính quyềncấpxã luônvậnđộngkhông ngừng, đa dạng và phong phú, thời gian giải quyết nhanh nên chính quyền cấp xãluôn đứng trước nguy cơ ban hành các văn bản cá biệt thiếu căn cứ và cơ sở pháp lý, thậm chí trái pháp luật, xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Như vậy, với tính chất đa dạng, phức tạp, hoạt động của chính quyền cấp xã luôn tiềmẩnnhiều nguy cơ, cóthể dẫnđến vi phạm pháp luật, xâmhạiđến quyền và lợi ích của công dân, của tổ chức và của nhà nước, đòi hỏi hoạtđộng này phải chịusự kiểm tra, giám sát chặt chẽ không nhữngtừ phía các cơ quan nhà nướcmà còncảtừ phía xã hội, của từng cá nhân công dân. Mụctiêu của giám sát “không phải xác nhận thiếu sót và vi phạm, mà mục đích thu thập các thông tin khác nhau để cải thiện trạng thái hoạt động, khắc phục những thiếu sót và vi phạmđã được làm sáng tỏ và nguyên nhân của chúng, với tư cách là một trong những biện pháp nhờ nó mà các cơ quan thực thi quyền lực nhà nước chủ động phòng ngừa các sai lệch trong tương lai” [78, tr.13]. Nhưng thường thìbảnthân khó

40

cóthểphát hiện ra sai sótcủachính mình, các cơ quan nhànướcthường bao che, khỏalấpnhững sai sótcủamình trong quá trình thực thi quyềnlựcnhà nước, nhất là ở cấpxã. Chỉ khi nào giám sát xã hội đối với hoạt động của chính quyềncấpxã được thiết lập và thực hiện thì hoạt động của chính quyềncấpxã mới thựcsự được thựcthi có hiệu quả, sử dụng đúng và có hiệu quả các nguồn

lực của địa phương, tổ chức thực hiện tốt Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền vàlợiích chính đángcủacông dân, phát huy dân chủ, góp phần tăng cường hiệu lực của chính quyền địa phương nói chung, chính quyền cấp xã nói riêng.

2.2.4. Quan niệm vàđặc điểmgiám sátcủaMặttrận Tổquốcđốivới hoạt động của chính quyền cấp xã

2.2.4.1. Quan niệm về giám sát của Mặt trận Tổ quốc

Khái niệm giám sát của nhân dân và GSXH xétvề bản chấtlà đồng nhất. Thuậtngữ “giámsát của nhân dân” được sử dụng xuất phát từ quan niệmcủa HồChí Minhvề quyền lực. HồChí Minh khẳngđịnhmọiquyềnlựclà thuộcvềnhân dân, việc kiểm soát quyền lực nhà nước trước hết thuộc về nhân dân, đó làtrách nhiệm, nghĩa vụvà quyền lợi của ngườidân. Hiến phápnước Việt Nam dânchủcộng hòa năm 1946 ghi rõ:“Tấtcảquyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam” (Điều 1). Hiến pháp năm 1959 cũng xác định: “Tất cảquyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân” (Điều 4) và “Tấtcảcác cơ quan Nhà nước đều phảidựavào nhân dân, liên hệ chặt chẽvới nhân dân, lắng nghe ýkiến và chịusự kiểm soát của nhândân” (Điều 6). Hiến pháp năm 1980 quy định: “Tấtcảcác cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nướcphảihếtlòng hếtsứcphục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng ngheýkiến và chịusự giám sátcủanhândân”(Điều8). Hiến pháp năm 1992được sửa đổi, bổ sung năm 2001 quy định rõ tính nhân dân của bộ máy nhà nước với cụm từ: “Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và “phải chịu sựgiám sát của nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của bệnh quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng” (Điều8). Hiến pháp năm 2013 quyđịnh: “Cáccơ quan nhà nước, cán bộ công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, lắng nghe ýkiến và chịusự giám sát của nhândân” (Điều8). Khái niệm giám sát của nhân dân được sử dụng để phân biệt với giám sát mang tính quyền

lựcnhà nước, với ýnghĩa đó, giám sát nhân dân và GSXH là một. Thuật ngữ GSXH được sử dụng tại văn kiện Đại hội X của Đảng được tiếp cận theo hướng:

41

GSXH là giám sát của ba lựclượngcơ bản:ĐảngCộngsảnViệt nam; các cơquan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cá nhân, tổ chứccủaxã hội, giám sát lựclượng lãnh đạo chính trị, lực lượng thực hiện quyền lực của nhân dân, cán bộcông chức, đảng viên và các thành viên của xã hội trong việc thựchiện Điều lệ,đườnglốicủa Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và quyền làm chủ, quyền con người của nhân dân. Nói cách khác, GSXH của “các cá nhân, tổ chức xã hội” đã được kháiquát hóa thành giám sát của nhân dân.

Trongđiềukiệncụ thể hiện nayở Việt Nam, với chủtrương củngcốvàmở rộng dân chủ XHCN, phát huy sứcmạnh đạiđoàn kết toàn dân tộc, MTTQ Việt Nam với vai trò là nòng cốt của xã hội dân sự,đạidiện cho lợi ích của nhân dân sẽ tạo rayếu tố “kiềmchế” thay cho cơ chế đối trọng trong hệ thống chính trịmột Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội ở nước ta.Để thực hiện vai trò của yếu tố“kiềmchế” nhằm kiểm soát quyền lực, tránh xu hướng lạmquyền, vi phạmnềndân chủ, đòihỏiMTTQ phải thực hiệntốthoạtđộng giám sát của mình.

Giám sát của MTTQ làmộthình thứccủaGSXHđốivớichính quyền cấp xã. Về bản chất, giám sát của MTTQ không phải là giám sátcủa lựclượng kiềm chế, đối trọng hay tương phản với chính quyền. Trong hoạt động giámsát cóchỉ ra cái đúng, cái sai, có đồng tình, có phản đối, có chấp nhận và có bổ sung. Vềnộidung, giám sát của MTTQ là hình thức kếthợphài hoà giữa dânchủtrực tiếp và dân chủ đại diện. Tính trực tiếp biểu hiện ở việc người dân không thông qua các cơ quan nhà nước trung gian nào mà trực tiếp theo dõi, xem xét đánh giá hoạtđộng quyềnlựcnhànướcđượctổchức thực hiệnởcấpxã. Tính gián tiếpđược biểu hiện ở việc giám sát không phải là làm thay chức năng của quyền lực nhà nước hay trực tiếp thực thi quyền lực nhà nước mà chỉ là hình thức thông qua để góp ý, chấn chỉnh hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có chính quyền cấp xãtrong tổ chức thực thi quyền lực của nhân dân giao cho.MTTQ Việt Nam và cácĐTND ở nước ta bao gồm rộng rãi các giai cấp, các tầng lớp, tạo thành cơ sởchính trị,chỗdựavững chắccủaNhànước,tham gia xây dựng và củngcốchính quyền nhân dân. Vai trò,vịtrícủaMặttrận và các ĐTND ngày càng quan trọng trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, gắn liền với nền dânchủngày càng phát triển,vớinềnkinhtếnhiều thành phần,vớinềnvăn hoá phát huy những giá trị nhân văn cao quý của dân tộc và của nhân loại.

42

Thểchếhoáđườnglối,chủtrươngcủaĐảngvềđạiđoànkếttoàn dân tộcvàMặttrận dântộcthống nhất Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 quyđịnh “MTTQ Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ

quyền vàlợiích hợppháp, chính đángcủaNhân dân;tậphợp, phát huy sức mạnh đạiđoànkếttoàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăngcườngđồngthuận xãhội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước,hoạt độngđối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảovệTổ quốc”.Luật MTTQ Việt Nam năm 1999 quyđịnh“MTTQ Việt Nam giám sát hoạtđộngcủacơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức nhà nước”.

Trên cơsởnhững phân tích trên, có thể định nghĩa:“Giám sát của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam là hoạt động giám sát xã hội, là việc theo dõi, quan sát, xem xét tính hợp lý, hợp pháp của các cơ quan Đảng, Nhà nước và cán bộ công chức, đảng viên trong việc chấp hành, thực hiệnđườnglối, chủ trương, chính sáchcủaĐảng,pháp luậtcủaNhànước;việc thực hiện quy chế, quyđịnhcó hiệulựccủacơ quan,tổchức có thẩm quyền;đồngthời kiến nghị cách giải quyết xử lý những vấn đề nảy sinh có liên quan”.

Sự khác biệt giữa giám sát của Mặt trận Tổ quốc với giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội

MặttrậnTổquốc là cơ quanchủtrì thực hiện hoạtđộnggiám sát, còn các tổ chức chính trị – xã hội là cơ quan phối hợp thực hiện. Do vậy, Mặt trận Tổ quốc là cơ quan vạch ra chương trình, kế hoạch giám sát tổng thể, trên cơ sở đó,cáctổchức chínhtrị- xã hội, căncứ vào chức năng, nhiệm vụcủamình tham gia giám sát hội viên/đoàn viên.

Giám sátcủaMặttrậnTổquốcđượcluật hóacụthểtạichương 5 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, còn giám sát của các tổ chức chính trị – xã hộinằm rảirác ở nhiều văn bản luật và dướiluật nhưchỉthị, nghị định,

quyết định, pháplệnh …

Nộidung giám sátcủaMTTQ toàn diện hơn sovớinộidung giám sát của các tổ chức chính trị – xã hội. Do tính chất đặc thù của từngtổ chứcchính trị – xã hội nên các tổ chức này chỉ tập trung giám sát các vấn đề có liên quan đếnchức năng, nhiệm vụ của mình, chẳnghạnCông đoàn chỉ giám sát các vấn đề liênquanđếnluật lao động, Hội Phụ nữ giám sát các nội dung liên quanđến bìnhđẳnggiới,đếnphụnữvàtrẻem, Đoàn Thanh niên giám sát cácvấnđề

43

liên quan đến thanh niên…, không phản ánhđầyđủ cácnội dung như giám sát của Mặt trận.

Hình thức giám sátcủaMặttrận đa dạng hơn, trongđócó hình thức thànhlậpđoàn giám sát, còn các tổ chức chính trị – xã hội không thể tự thành lập đoàn giám sát.

2.2.4.2. Đặc điểmgiám sátcủaMặttrậnTổquốc đốivớihoạtđộngcủa chính quyền cấp xã

Hoạt động giám sát của MTTQ là hoạt động giám sát mang tính xã hội, vìvậyhoạtđộngnày mangđầyđủnhữngđặc điểmchung của giám sát xã hội, đồngthời cũng mang nhữngđặcđiểmriêng dochủthể giám sát và đốitượng giám sát tạo nên, cụ thể:

Chủ thể giám sát

Với vị trí là là tổ chức liên minh chính trị, cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; MTTQ có nhiệm vụ tập hợp, phát huy sứcmạnh đạiđoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội, MTTQ các cấp, trongđócóỦyban MTTQ Việt Namcấpxã (doĐạihộiđạibiểu MTTQ Việt Nam cùng cấp hiệp thương dân chủ cử, là cơ quan chấp hành giữa haikỳ đạihội). Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã thực hiện nhiệm vụ thực hiện giám sát xã hộitheo quy định của pháp luật và Điều lệcủa MTTQ Việt Nam. Ngoài ra,Ủyban MTTQ Việt Namcấpxã còn có quyền quyếtđịnhthành lập Ban Công tácMặttrận, công nhận Ban TTND, Ban GSĐTCCĐ. Tuy nhiên, MTTQ hoạt động theo kỳ họp, do vậy, giữa hai kỳ họp, cơ quan đại diện của Ủy ban MTTQ Việt Namcấpxã giải quyết các công việc là Ban Thường trựcỦy ban MTTQ Việt Nam xã, phường, thịtrấn (gọi chung là Ban Thường trực cấp xã) doỦyban MTTQ Việt Namcấpxã hiệp thương dânchủcửtrongsốỦy viên Ủy ban MTTQ Việt Nam. Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã “thựchiện giám sát xã hộitheo quyđịnhcủa Đảngvà pháp luật của Nhànước ở địa phương”; giữ vai trò nòng cốt, chủtrì hiệp thương với các tổchức thành viên xây dựngkế hoạch GSXH, báo cáocấpủyvà thông báovớichính quyền cùngcấpvềkếhoạch GSXH từng nămđểcósựthống nhấtvềnộidung, lĩnh vực,địabàn, thờiđiểmtổchức giám sát xã hội;tổchức các cuộcđốithoại giữa chính quyền với nhân dân phù hợp với yêu cầu, đặc điểm địa phương mình;

44

Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam chủ động tổng hợp ý kiến, xây dựng văn bản và tham mưu việc ký kết các quy chế phối hợp trong hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền với các cơquan hữu quan.

Việc giám sátcủaỦy ban MTTQ cấp xã còn thể hiện thông qua việcchỉđạo, hướng dẫn tổ chức và hoạt động của Ban TTND và Ban GSĐTCCĐ.

Ngoài ra cũng phảikể đến mộtchủthể khác, tuy không phải là mộtcấp tronghệ thốngtổchức Mặttrận nhưng là cánh tay nối dài của Mặttrận cấp cơsở, đólà Ban công tácMặttrận ở khu dân cư. Ban này có nhiệmvụthu thập, phản ánh ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân ở khu dân cưvới cấp ủy Đảng và Ủyban MTTQ Việt Namcấpxã,đồngthời “độngviên nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,đạibiểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước”.

Đặc điểm chung của các chủ thể nói trên là họ có vị thế độc lập trong quan

hệ với đốitượnggiám sát–chính quyềncấpxã,vớitư cách làngườiđạidiện cho nhân dân, thể hiện quyền lực của nhân dân đối với các quyết định và hành vi quản lý của người đại diện ủy quyền của mình.

Đối tượng giám sát

Đối tượng giám sát của Ủy ban MTTQ cấp xã là hoạtđộng củaHĐND vàUBND xã, phường, thịtrấn. Hoạtđộngcủa HĐND và UBND xã, phường, thịtrấn khá rộng, đa dạng và phức tạp, mang tính chất toàn diện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quốc phòng, an ninh. Do vậy, giám sát của MTTQ đối với hoạt động của chính quyền cấp xã bao gồm một dải rộng các vấn đề như: cơ sở chính trị – pháp lý của việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; việc tuânthủcác quyđịnh vềquy trình, phương thức, thủtục thực hiện chúng; tính hiệu quả của thực thi hoạt động quyền lực. Cụ thể, đó là giám sát quá trình thực hiện đường lối, chính sách của Đảng (bao gồm nội dung và sự phù hợp của các đường lối, chính sách của Đảng, lợi ích quốc gia, cộng đồng, công dân; trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan, cá nhân trong việc thực hiện chính sách; hiệu quả thực tế của chính sách); giám sát việc thực thi công vụ (bao gồm việc thực thi công vụ của cơ quan HĐND và UBND cấp xã, của cán bộ, công chức đang làm việc trong các cơ quan đó); giám sát việc cungứngcác dịchvụcông (bao gồm việc xử lý, thực thi những dịch vụ xã hội phù hợp với chức trách, nhiệmvụ

45

của UBND).

Giám sátđốivới hoạtđộngcủa chính quyềncấpxã tập trungở khâu tổchức thực hiện các quyết sách, đối chiếu với đường lối, chủ trương, chính sách,

phápluật….đểphát hiệnnhững độ“vênh”, “khoảngtrống” của quyết sách khi tác động vào thực tế mà ở khâu hoạch định chưa thể hình dung được. Các quyết sách được ban hành dù đúngđắn đếnđâunhưng trong quá trìnhtổchức thực hiện do bị chi phối bởi các yếu tố khác nhau (như thiếu thống nhấtgiữa luật pháp với luật tục, giữa tri thức khoa học với tri thứcbản địa,giữa lợi ích toàn thể và

lợi ích cụcbộ…)khó có thể tránh khỏisự sai lệch so với dựkiến banđầuvàkhông phù hợp với thực tiễn. Chính trong quá trình tổ chức thựctiễn mới bộc lộhếtchỗ mạnh, chỗ yếu của chủ trương, chính sách, pháp luật; chỗ mạnh, chỗ yếu của đội ngũ những người lãnh đạo, quản lý. Từ những thông tin, số liệu thu được từ hoạtđộng giám sát, MTTQ cấp xã có thể kiến nghị để kịp thời điều chỉnh, bổsung, thậm chí đình chỉ để soát xét lại.

Hoạtđộngcủa chính quyềncấpxã ngoài việcđiều chỉnh quanhệ trong nội bộ chính quyền cấp xã, quanhệ giữachính quyền cấp xã với các cơ quan, tổchức, cá nhân, còn điều chỉnh quan hệ giữa chính quyền cấp xã với các tổ chức tự quản của nhân dân trênđịa bàn. Đặctrưng riêng nàyđặtra yêu cầucầnxácđịnhrõ phạm viđốitượngkhi tiến hành giám sát, tránh ômđồmgiám sát quánhiều các hoạt động, gây quá tải và lãng phí thời gian, công sức.

Nội dung giám sát

Chính quyềncấpxã theo Luật chính quyềnđịaphương năm 2015 (cóhiệu lực từ ngày 01/01/2016) đã phânbiệt sựkhác nhau giữa chính quyền ở các địa bàn xã, phường, thị trấn, một sốnhiệm vụ chỉ đượcthực hiện mang tính đặc thù của từng địa bàn, dẫnđếnnội dung giám sát của MTTQ cũng sẽ có sự thay đổi cho phù hợp. Nội dung giám sát nằm trong nhiều văn bản khác nhau, cả văn bảnquy phạm pháp luật và vănbảndướiluật, vănbảndoĐảngban hành và văn bản do Nhà nước ban hành. Những công việc do chính quyền cấp xã quản lý là những công việc mang tính chất thường xuyên, liên tục, phạm vi rộng, liên quanđếntất cả các lĩnh vựccủa đời sống xãhội, liên quanđếncá nhân, tổ chức thuộc mọi thành phần xã hội nên cần cụ thể hóa nội dung giám sát, càng cụthểthì hiệu quả giám sát càng cao.

Một cách tổng quát nhất, MTTQ giám sát về nội dung có nhiệm vụ làm rõ

46

haivấnđề chính là tínhhợppháp và tínhhợplý. Điềunày xuất pháttừ chính mục đích và tính chất hoạtđộnggiám sát của MTTQ là nhằm:“gópphần xây dựng và thực hiện đúng các chủtrương, đườnglốicủa Đảng, chính sách, pháp luậtcủaNhà nước”,đó là tính hợp pháp; kịp thời phát hiện những sai sót, khiếm khuyết, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp, đồng thời phát hiện, phổbiến những nhântốmới, nhữngmặttích cựcgóp phầnbảođảm tính đúng đắn, phù hợp với thực tiễn (tính hợp lý). [55]

Xuất pháttừ việcphân cấp thẩm quyền cho chính quyền cấp xã, nội dung giám sát của MTTQ tập trung giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật cóliên quanđếnquyền và lợiíchhợppháp, chính đángcủaNhân dân, biểu hiện chủ yếu ở những nội dung sau:

– Giám sát việc ban hành nghị quyết của HĐND, quyếtđịnhcủaUBND xã, phường, thị trấn. Giám sátsựphù hợp của văn bản với Hiến pháp, luật, nghịquyếtcủaQuốc hộivà vănbảnquy phạm pháp luậtcủacơ quan nhà nước cấp trên, chủyếuxem xétsự phùhợpcủa hình thức vănbảnvới nộidung của văn bản; sự phù hợp của nội dung văn bản với thẩm quyền của cơ quan ban hành văn bản; sự thống nhất giữa văn bản quy phạm pháp luật hiện hành với văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành của cùng một cơ quan.

– Giám sát việctổ chứcthi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn của HĐND và UBND cấp xã; việc thi hành Luật Đất đai, Luật Thuế, Luật nghĩa vụquân sự,Luậtbảovệmôi trường; thi hành chính sách đốivới ngườicó công;

thực hiện chính sách xã hội; việc cung ứng các dịch vụ công ….

Mỗi lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của chính quyền cấp xã có những đặcđiểmrấtriêng, vìvậyđể giám sát có hiệu quả cầnđặtra những yêucầukhác nhau, tránh chung chung khó triển khai trong thựctế.Chẳnghạngiám sát việc phân bổ các nguồn lực từ ngân sách Trung ương, tỉnh, huyện về cho xã cần đảm bảocác yêucầunhư: đúngđịa chỉ, kịpthời, thanh quyết toán đúng quy định, đúng hạn; hay giám sát các công trình phục vụdân sinhđược triển khaitạiđịa phươngcầnđảmbảo yêucầuđúng quy hoạch, đúng thời gian, giải tỏa đền bùđúngđốitượng, vệ sinh môi trường; hoặc giám sát các nguồn thuvậnđộngtừ

nhân dân cần đảm bảo các yêu cầu công khai mức thu và mục đích sử dụng…

Nội dung giám sát của MTTQ đối với hoạt động của chính quyền cấp xã phảihếtsứccụ thể và sát thực. Do đặt trong điều kiện kinh tế – xã hội của từng

47

địa bàncụthể, nên không thể máy móc, áp đặt, phải linh hoạt và tuân thủ đúng các quy định pháp luật về phân công, phân cấp để tránh trình trạng chồng chéo, lấn sân giữa các chủ thể cùng thực hiện nhiệm vụ giám sát. Tính chất cụ thể vàsát thực là một trong những tiêu chí đảm bảo hiệu quả giám sát của MTTQ.

– Giám sát việc thực hiện quy chế dânchủtrên địa bàn cấpxã tập trung những nội dung chính quyền cấp xã phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyếtđịnh;nhữngnộidung nhân dân tham gia ýkiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định; những nội dung nhân dân giám sát; trách nhiệm của chính quyền, cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn, của cán bộthôn, tổdân phố, củacơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan và của nhân dân trong việc thực hiện dân chủ ở cấp xã.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động của chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *