Giải pháp giảm nghèo trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định
Vĩnh Thạnh là huyện miền núi nằm phía Tây bắc của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 80km, có diện tích tự nhiên là 72.251,25 ha, trong những năm gần đây được sự quan tâm đầu tư của Chính phủ và UBND tỉnh Bình Định, sự nỗ lực cố gắng của lãnh đạo và nhân dân toàn huyện nên tình hình KT-XH đã có những bước chuyển biến tích cực, sản xuất phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao, tỷ lệ hộ nghèo đói hàng năm giảm từ 5-6%. Tuy nhiên, Vĩnh Thạnh vẫn là huyện nghèo, có tỷ lệ hộ nghèo cao (hiện nay chiếm 43,4% dân số toàn huyện), và thu nhập trung bình thấp so với mức bình quân chung của tỉnh. Vấn đề đặt ra ở đây là: với tình hình, thực trạng nghèo đói của Vĩnh Thạnh như vậy, tỉnh Bình Định nói chung và huyện Vĩnh Thạnh nói riêng cần có những chính sách gì, bằng cách nào, thực hiện các giải pháp nào để đẩy mạnh quá trình XĐGN, từng bước ổn định đời sống của các hộ nghèo, từ đó tạo những điều kiện, tiền đề thuận lợi để các hộ vươn lên thoát nghèo và không bị tái nghèo. Đây là vấn đề rất bức thiết đối với Vĩnh Thạnh cần sớm được nghiên cứu giải quyết, xuất phát từ thực tiễn đó tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Giải pháp giảm nghèo trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” làm luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Kinh tế phát triển.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
– Hệ thống hoá và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác XĐGN.
– Tìm hiểu nguyên nhân đói nghèo ở các địa phương có tỷ lệ đói nghèo cao so với huyện.
– Đánh giá thực trạng và biểu hiện đặc thù về đói nghèo của người dân trong vùng nghiên cứu,
– Đánh giá các giải pháp giảm nghèo đã thực hiện ở trong vùng, phát hiện những vấn đề ảnh hưởng tới giảm nghèo, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp và các chính sách giảm nghèo phù hợp với tính đặc thù của khu vực này đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu
+ Nghiên cứu thực trạng nghèo và công tác XĐGN trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh.
+ 300 hộ dân đại diện thuộc 3 vùng tiêu biểu của huyện Vĩnh Thạnh.
– Phạm vi nghiên cứu
+ Không gian nghiên cứu: địa bàn huyện Vĩnh Thạnh.
+ Thời gian nghiên cứu: số liệu nghiên cứu đề tài chủ yếu từ năm 2010-2013 và một số định hướng, giải pháp đến năm 2015 và 2020.
4.1. Phương pháp khảo sát thực địa, chọn mẫu điều tra
– Chọn ngẫu nhiên 300 hộ dân đại diện thuộc 3 xã: Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim, Vĩnh Thịnh là các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất thuộc 3 vùng để đại diện cho tính đặc thù của từng vùng.
4.2. Phương pháp thu thập số liệu
4.3. Phương pháp xử lý số liệu thống kê
4.4. Phương pháp phân tích kinh tế
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về giảm nghèo
Chương 2: Thực trạng nghèo và giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định trong thời gian qua (2010 – 2013)
Chương 3: Một số giải pháp giảm nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢM NGHÈO
1.1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO
a. Quan niệm của một số tổ chức quốc tế
Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9/1993 tại Bangkok (Thái Lan) đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau : “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của của từng địa phương”.
Ở Việt Nam chủ yếu dựa vào khái niệm do Bộ LĐTB&XH. Theo đó, khái niệm về đói nghèo được tách riêng đói và nghèo như sau:
– Nghèo: Là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thoả mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện.
– Đói: là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là các hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở dột nát, con thất học, bình quân thu nhập dưới 13kg gạo/người/tháng (tương đương 45.000VNĐ).
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đưa ra định nghĩa chung về nghèo đói: “Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các quyết định của cộng đồng”.

1.1.2. Quan niệm về chuẩn nghèo
Theo WB đưa ra khuyến nghị chuẩn nghèo đói như sau: Đối với nước nghèo (theo Liên Hợp Quốc là nước có thu nhập bình quân đầu người ít hơn 500USD/năm, tính theo thu nhập quốc dân) thì các cá nhân bị coi là nghèo đói khi mà có thu nhập dưới 0,5USD/ngày; nước đang phát triển là dưới 1USD/ngày; các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh và Caribe là dưới 2USD/ngày; các nước Đông Âu là dưới 4USD/ngày; các nước công nghiệp phát triển là dưới 14,4USD/ngày.
b. Chuẩn nghèo của Việt Nam
Ở Việt Nam trong những năm qua tồn tại song song hai phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ mục đích khác nhau.
* Một là Cách xác định chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới
Được xác định bằng cách lấy chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm cộng với chi phí cho các mặt hàng phi lương thực, thực phẩm.
* Hai là Cách xác định chuẩn nghèo của Bộ Lao động -Thương binh và Xã hội
Ngày 30/01/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg về ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng giai đoạn 2011 – 2015, theo đó:
+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống.
+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống.
+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng.
+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng.
Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và chính sách kinh tế, xã hội khác.
c. Chuẩn nghèo của tỉnh Bình Định
Từ năm 1993 đến nay, tỉnh Bình Định thực hiện theo chuẩn nghèo của Chính phủ do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công bố.
1.1.3. Quan niệm về giảm nghèo
Giảm nghèo là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm. Nói một cách khác, giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Trên thực tế, giảm nghèo là tăng các điều kiện sống cơ bản.
1.1.4. Sự cần thiết phải giảm nghèo
a. XĐGN đối với sự phát triển kinh tế: Trong tiến trình phát triển, tăng triển kinh tế và giảm nghèo có mối quan hệ biện chứng. Tăng trưởng kinh tế tạo ra cơ sở, điều kiện vật chất để giảm nghèo. Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững. Tuy nhiên trong mối quan hệ này thì giảm nghèo vẫn là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào yếu tố tăng trưởng kinh tế.
b. XĐGN đối với sự phát triển xã hội: Việc thực hiện xóa đói giảm nghèo có ý nghĩa quan trong không những đối với phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Đó là nghèo đói dẫn đến tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, bệnh tật; đồng thời, nghèo đói còn dẫn đến tình trạng gia tăng dân số, thất học, suy dinh dưỡng.
c. XĐGN đối với vấn đề chính trị, an ninh, xã hội: Nghèo đói ảnh hưởng đến các mặt chính trị, an ninh xã hội, làm nảy sinh những mặt hạn chế, những tư tưởng lạc hậu, cổ hũ, đi chệch đường lối của Đảng và Nhà nước từ đó phát sinh những tệ nạn xã hội như trộm, cắp, mại dâm, đạo đức bị suy đồi gây rối loạn xã hội.
d. XĐGN đối với vấn đề văn hóa: Xét tình hình thực tế, khi nước ta bước vào thời kỳ đổi mới thì sự phân hoà giàu nghèo diễn ra rất nhanh nếu không tích cực xoá đói giảm nghèo và giải quyết tốt các vấn đề xã hội khác thì khó có thể đạt được mục tiêu xây dựng một cuộc sống ấm no về vật chất, tốt đẹp về tinh thần, vừa phát huy được truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu được yếu tố lành mạnh và tiến bộ của thời đại.
1.2. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO
1.2.1. Hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo
a. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi: Người nghèo thường không có vốn để làm ăn, vay nợ thì không có tài sản có giá để thế chấp dẫn đến nhiều cơ hội sản xuất đều không thực hiện được dẫn đến thất nghiệp từ đó kéo theo tình trạng nghèo vẫn nghèo. Để giảm nghèo cần phải tháo bỏ mắc xích trong vòng luẩn quẩn đó. Vì vậy chính sách tín dụng ưu đãi là giải pháp hiệu quả cho công tác giảm nghèo.
b. Hỗ trợ đất sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón và nước tưới tiêu: Phần lớn hộ nghèo là các hộ làm nông nghiệp ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, những nơi đất đai cằn cỏi, thiếu đất sản xuất, nước tưới, thường bị mất mùa do hạn hán, thiên tai; bên cạnh đó, thị trường không ổn định, giá cả các yếu tố đầu vào cao, giá cả sản phẩm đầu ra thấp. Để thực hiện thành công công tác giảm nghèo thì việc giải quyết các vấn đề này cần phải quan tâm thực hiện.
c. Hướng dẫn cách làm ăn, chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm cho hộ nghèo: Việc tạo mọi điều kiện để hộ nghèo tiếp cận và tiếp thu kỹ thuật sản xuất tiên tiến, rèn luyện kỹ năng và phương pháp làm ăn với những mô hình thiết thực nhất, đơn giản và có hiệu quả cũng là một trong các nội dung giảm nghèo quan trọng giúp cho công tác XĐGN hiệu quả.
d. Dạy nghề cho người nghèo: Việc dạy nghề cho người nghèo, giúp họ có cơ hội tìm kiếm việc làm cũng là biện pháp hiệu quả để XĐGN.
e. Nhân rộng mô hình giảm nghèo: Nhân rộng, phổ biến các mô hình, kinh nghiệm giải quyết việc làm, mô hình sản xuất hiệu quả,… cũng góp phần thực hiện thành công công tác giảm nghèo.
1.2.2. Tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
a. Chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, điện, nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác: Để giải quyết vấn đề nghèo đói thì việc đầu tiên phải giải quyết các nhu cầu tối thiểu cho cuộc sống của con người ăn, mặc, ở cho nguwoif nghèo để họ ổn định cuộc sống, yên tâm tập trung vào sản xuất.
b. Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo: Giúp người nghèo có điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe không những giúp người nghèo có sức khỏe làm việc mà còn hạn chế các căn bệnh hiểm nghèo, các bệnh dịch nguy hiểm xảy ra cho xã hội.
c. Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo: Giúp cho con, em hộ nghèo có điều kiện học tập, nâng cao trình độ để sau này có cơ hội tìm việc làm thu nhập cao, thoát khỏi cái gánh nặng nghèo nàn do cha ông để lại là biện pháp giảm nghèo hiệu quả.
d. Chính sách trợ giúp pháp lý: Việc trợ giúp pháp lý thông qua các hình thức cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí, tổ chức các đợt trợ giúp pháp lý lưu động về các xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn,… không những giúp người dân hiểu biết pháp luật mà còn giúp họ nâng cao nhận thức, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước, tạo động lực cho họ vươn lên thoát nghèo.
e. Chính sách bảo trợ xã hội: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; người cao tuổi cô đơn, người tàn tật nặng… là những đối tượng cần có sự bảo trợ, trợ cấp của xã hội.
1.2.3. Tạo điều kiện cho vùng nghèo tiếp cận các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội
Vùng nghèo thường là nơi khó khăn về điều kiện sinh hoạt, đi lại, cơ sở hạ tầng yếu kém hoặc không có, trình độ dân trí thấp, người dân còn sống theo các tập tục lạc hậu, cách xa với sự phát triển bên ngoài,… là những nhân tố dẫn đến cuộc sống của họ tiếp tục nghèo. Vì vậy, tăng cường đầu tư phát triển kinh tế – xã hội vùng nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài trong công tác XĐGN.
1.3. MỘT SỐ TIÊU CHÍ PHẢN ÁNH GIẢM NGHÈO
1.3.1. Giảm số hộ nghèo, hộ nghèo mới hoặc tăng số hộ thoát nghèo
1.3.3. Tăng thu nhập bình quân hộ nghèo
1.3.4. Tăng số hộ tiếp cận các dịch vụ xã hội
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC GIẢM NGHÈO
Điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, thiên tai, lũ lụt làm gia tăng sự phân hoá mức sống dân cư, làm cản trở và làm chậm quá trình xoá đói giảm nghèo.
1.4.2. Trình độ phát triển kinh tế
Trình độ phát triển kinh tế có tác động trực tiếp tới công tác giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế và thu nhập của dân cư trong quá trình đô thị hóa, không những tạo điều kiện vật chất cho sự hỗ trợ ngày càng lớn của nhà nước cho người nghèo, mà còn giúp cho người nghèo có thêm thuận lợi để tự vươn lên.
1.4.3. Nhân tố về cơ chế, chính sách
Việc ban hành một số chính sách, cơ chế của Nhà nước và địa phương tác động khá lớn đến vấn đề XĐGN. Thiết lập cơ chế quản lý đúng đắn tạo điều kiện cho công tác XĐGN có hiệu quả cao.
1.4.4. Phương thức tổ chức thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
Đảng và Nhà nước đưa ra những chủ trương chính sách là ở tầm vĩ mô còn việc tiến hành, thực hiện lại phụ thuộc vào các địa phương, mà việc đó phụ thuộc lớn vào các cán bộ làm công tác XĐGN ở địa phương. Việc tổ chức, xây dựng kế hoạch đúng đắn, hợp lý sẽ mang lại hiệu quả cho công tác giảm nghèo.
1.4.5. Ý thức vươn lên thoát nghèo của bản thân người nghèo
Hiện nay tại các địa phương vẫn còn tồn tại những trường hợp người nghèo nhưng không muốn vươn lên thoát nghèo, thường có tâm lý ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác mà không có ý chí vươn lên thoát nghèo; điều này có ảnh hưởng rất lớn đến công tác XĐGN.
1.5.1. Kinh nghiệm giảm nghèo ở một số địa phương của Việt Nam
1.5.2. Những bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Vĩnh Thạnh trong công tác giảm nghèo
Một là, Xác định nhân tố chính tác động đến nghèo đói đối với từng nhóm đối tượng để từ đó đề ra các biện pháp, chính sách, cơ chế hỗ trợ người nghèo phù hợp cho từng nhóm dân cư, từng vùng và từng giai đoạn.
Hai là, Xây dựng một chương trình kế hoạch giảm nghèo chi tiết, rõ ràng, xây dựng lộ trình, mục đích giảm nghèo từng giai đoạn.
Ba là, Xem giảm nghèo là mục tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển của tỉnh, huyện.
Bốn là, Chuẩn nghèo nên xem xét dưới gốc độ đa chiều về khả năng tiếp cận các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, ở, mặc, y tế, giáo dục,…
Năm là, Coi trọng công tác cán bộ trong công cuộc giảm nghèo, nhất là những cán bộ cơ sở.
Sáu là, Tăng cường thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ và người dân làm cho mọi người hiểu rõ cùng với sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, sự nỗ lực phấn đấu vươn lên thoát nghèo của người nghèo, hộ nghèo là nhân tố quyết định thành công của công cuộc xoá đói giảm nghèo.
THỰC TRẠNG NGHÈO VÀ GIẢM NGHÈO
Ở HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
TRONG THỜI GIAN QUA (2010 – 2013)
2.1. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN, KINH TẾ -XÃ HỘI
Vĩnh Thạnh là huyện vùng cao của tỉnh Bình Định, cách thành phố Quy Nhơn khoảng 85 km về phía Tây Bắc, phía Đông giáp huyện Phù Cát và Hoài Ân, phía Nam giáp huyện Tây Sơn, phía Bắc giáp huyện An Lão của tỉnh Bình Định, phía Tây giáp huyện Kbang và thị xã An Khê của tỉnh Gia Lai. Địa hình đa dạng và phức tạp, không bằng phẳng, chủ yếu là đồi núi có độ cao trung bình từ 500 đến 600m, bị chia cắt bởi dòng Sông Kôn và nhiều con suối nhỏ nên giao thông đi lại khó khăn. Vĩnh Thạnh thuộc vùng nhiệt đới ẩm, gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm là 270C.
2.1.2. Tình hình phát triển KT – XH huyện Vĩnh Thạnh từ năm 2010 đến 2013
Từ năm 2010 đến 2013, nền kinh tế của huyện Vĩnh Thạnh không ngừng phát triển; tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở mức 2 con số, năm có tăng trưởng cao nhất là 2012 với mức tăng trưởng 13,35% và năm có tăng trưởng thấp nhất là 2013 với mức tăng trưởng 11,8%. Cơ cấu kinh tế giai đoan 2010 – 2013 cũng chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp và thương mại – dịch vụ.
b. Đặc điểm về văn hóa, xã hội
Từ năm 2010 đến 2013, số dân huyện Vĩnh Thạnh không ngừng tăng với tỷ lệ tăng trung bình trong cả giai đoạn là 1,58%, đây là tỷ lệ tương đối thấp thể hiện tính tích cực của công tác dân số – kế hoạch hóa gia đình của huyện. Nét văn hóa trên địa bàn huyện rất đặc sắc có sự giao thoa nhiều nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc với nhau. Tỷ lệ học học của học sinh chưa cao, nhất là học sinh thuộc hệ trung học phổ thông chỉ có khoảng 68%. Số trạm y tế xã và trung tâm y tế huyện đủ đảm bảo cho công tác khám chữa bệnh của người dân.
2.1.3. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội đến công tác giảm nghèo của huyện
Thứ nhất, thuận lợi để phát triển nuôi trồng thủy sản trong Hồ Định Bình, du lịch dịch vụ sinh thái, trồng rừng sản xuất, đầu tư xây dựng thủy điện.
Thứ hai, nền kinh tế của huyện trong thời gian qua không ngừng phát triển, thu nhập bình quân đầu người của người dân cũng tăng cao.
Thứ ba, Cơ sở vật chất, trang thiết bị các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú được chú trọng. Các cơ sở y tế đảm bảo, công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng, các biện pháp phòng, chống dịch bệnh và vệ sinh an toàn thực phẩm được tích cực triển khai nên đã chủ động khống chế được các loại dịch bệnh.
Thứ nhất, với địa hình phức tạp, hay xảy ra lũ lụt, sạc lỡ,… đã gây cản trở lớn đến công tác giảm nghèo.
Thứ hai, sản xuất nông lâm ngư nghiệp còn lạc hậu, công cụ sản xuất thô sơ, các hộ nông dân thiếu vốn đầu tư, thiếu phương tiện kỹ thuật hiện đại do đó làm hạn chế khả năng sản xuất đầu tư.
Thứ ba, tỷ lệ lao động qua đào tạo và trình độ dân trí còn thấp.
2.2. THỰC TRẠNG NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH GIAI ĐOẠN 2010 – 2013
2.2.1. Khái quát thực trạng nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh
a. Tình hình đói nghèo ở huyện Vĩnh Thạnh từ 2010 – 2013
Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Vĩnh Thạnh giảm dần qua các năm, từ 61,13% (năm 2010) xuống còn 43,4% (năm 2013), với tỷ lệ giảm trung bình hàng năm là 5,91%. Các xã có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim, Vĩnh Hòa, Vĩnh Thuận là những xã có địa hình, tư nhiên phức tạp, cách xa trung tâm huyện, đi lại khó khăn. Công tác giảm nghèo của huyện trong thời gian qua chủ yếu tập trung làm giảm số hộ nghèo mới và số hộ cận nghèo, tức là tập trung vào việc phòng ngừa chứ chưa giải quyết, giúp các hộ đang nghèo hiện tại thoát nghèo.
b. Những đặc điểm chủ yếu của các hộ nghèo
Phần lớn hộ nghèo là người dân tộc thiểu số, hộ thiếu đất sản xuất, hộ làm nông nghiệp, hộ có nhiều người phụ thuộc trong gia đình chưa có việc làm, hộ có trình độ học vấn thấp,…
2.2.2. Thực trạng nghèo của huyện Vĩnh Thạnh theo kết quả điều tra hộ dân cư.
a. Đặc điểm của hộ nghèo theo kết quả điều tra hộ dân cư
Thực hiện điều tra 300 hộ được chọn ngẫu nhiên trên địa bàn 3 xã Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim, Vĩnh Thịnh của huyện Vĩnh Thạnh. Qua kết quả tổng hợp cho thấy, những hộ có thu nhập thấp chủ yếu là hộ mà chủ hộ không biết chữ hoặc chưa bao giờ đến trường (chiếm 66,33%), thiếu đất sản xuất (69,78%), hộ nông nghiệp (100%), thiếu việc làm (67%), khả năng tiếp cận các nguồn vốn hạn chế (29,5%), thuộc thành phân dân tộc thiểu số (64,75%).
Về nguyện vọng của hộ nghèo đề nghị được hỗ trợ để có điều kiện vươn lên thoát nghèo: có 112/139 hộ (chiếm 80,58%) đề nghị được hỗ trợ vốn làm ăn, đất sản xuất, phương tiện sản xuất, giống cây con, phân bón; 101/139 hộ (chiếm 72,66%) đề nghị được học nghề, giới thiệu việc làm, hướng dẫn cách làm ăn; 61/139 hộ (chiếm 43,88%) đề nghị miễn giảm thuế, phí, đóng góp, trợ giá, trợ cước các nguyên liệu đầu vào, ổn định giá sản phẩm đầu ra; có 7/139 hộ (chiếm 5,04%) đề nghị hỗ trợ trực tiếp tiền, các hiện vật cần thiết, hỗ trợ bắt điện nước, sửa chửa nhà ở, công trình vệ sinh.
b. Xây dựng mô hình hồi quy xem xét tác động của các nhân tố đến thu nhập bình quân/người/tháng của các hộ dân cư trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh theo kết quả điều tra
Kết quả chạy mô hình hồi qui cho thấy, các biến có ý nghĩa thống kê tác động đến thu nhập bình quân/người/tháng của các hộ dân cư trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh là nghề nghiệp chính của chủ hộ (), diện tích đất sản xuất của hộ gia đình (), số người phụ thuộc trong gia đình () và trình độ học vấn của chủ hộ. Mô hình hồi qui có R2 = 0,766 và giá trị , chứng tỏ rằng mô hình tồn tại một cách có ý nghĩa và các biến giải thích đã giải thích được 76,6% sự biến động của thu nhập bình quân/người/tháng của các hộ dân trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh. Đây là một trong những nội dung quan trọng cần phải chú trọng khi đưa ra chính sách giảm nghèo và là cơ sở để đưa ra biện pháp giảm nghèo thiết thực và đem lại hiệu quả cao.
2.3. THỰC TRẠNG GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH
2.3.1. Khái quát về công tác giảm nghèo của huyện Vĩnh Thạnh từ năm 2010 đến 2013
a. Việc chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện công tác giảm nghèo
Huyện đã thành lập Ban chỉ đạo giảm nghèo của huyện gồm 29 người, Trưởng ban là Bí thư Huyện uỷ, Phó Trưởng ban thường trực là Chủ tịch UBND huyện.
b. Thực hiện nhóm chính sách về hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo
+ Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi
Từ năm 2010 đến 2012 doanh số cho vay và doanh số thu nợ tại Ngân hàng chính sách xã hội huyện luôn tăng, nhưng đến năm 2013 lại giảm. Chương trình cho vay hộ nghèo chiếm tỷ trọng cao nhất trong các chương trình tín dụng của Ngân hàng. Vốn cho vay được hộ nghèo sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả.
+ Hỗ trợ đất sản xuất, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón và nước tưới tiêu
Trong giai đoạn 2010 – 2013, để tạo điều kiện cho hộ nghèo có tư liệu sản xuất, công tác giảm nghèo trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh đã thực hiện một số chính sách như: hỗ trợ thông qua khoán chăm sóc, bảo vệ rừng, giao rừng và giao đất để trồng rừng sản xuất; hỗ trợ lương thực cho hộ nghèo nhận khoán chăm sóc, bảo vệ rừng trong thời gian chưa tự túc được lương thực; hỗ trợ việc khai hoang tạo ruộng lúa nước làng ĐakChmun; hỗ trợ khai hoang đất sản xuất xã Vĩnh Sơn, hỗ trợ hộ nghèo chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao.
+ Kết quả thực hiện chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí, tập huấn, chuyển giao kinh nghiệm làm ăn
Từ năm 2010 đến 2013, đã mở 133 lớp đào tạo, bồi dưỡng; có 9.028 lượt người tham gia với tổng kinh phí thực hiện 1.685,550 triệu đồng; đối tượng được đào tạo chủ yếu là cán bộ cơ sở, già làng, người có uy tín, hộ nghèo, thanh niên DTTS; nội dung tập trung tuyên truyền triển khai công tác dân tộc, tôn giáo; cung cấp những thông tin, kiến thức cơ bản về một số chính sách XĐGN; giới thiệu chung về Nghị quyết số 30a của Chính phủ; chính sách xuất khẩu lao động theo Quyết định số 71/2009-QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nội dung cơ bản về Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới; tập huấn kỹ thuật chăn nuôi, trồng trọt, thú y và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV,…
+ Nhân rộng mô hình giảm nghèo hiệu quả
Xây dựng các mô hình sản xuất hiệu quả như: trồng rau an toàn, trồng Lạc và Mía, nuôi cá lồng bè trên hồ chứa nước Định Bình… đã có tác động tích cực đến công tác giảm nghèo.
c. Thực hiện nhóm chính sách về việc tạo cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ xã hội
+ Chính sách hỗ trợ đất ở, nhà ở, điện, nước sinh hoạt và các nhu cầu thiết yếu khác: Đã hỗ trợ 594 hộ nghèo xây dựng nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg, hỗ trợ tiền điện, cấp muối i-ốt, nước sinh hoạt,…để hộ nghèo ổn định cuộc sống vươn lên thoát nghèo.
+ Chính sách hỗ trợ về y tế cho người nghèo: Đã cấp phát thẻ BHYT miễn phí cho 17.523 hộ nghèo, với 233.176 lượt khám chữa bệnh có BHYT. Số hộ nghèo được cấp BHYT miễn phí qua các năm giảm dần do số hộ nghèo hàng năm giảm và số lượt khám chữa bệnh có BHYT lại tăng. Tỷ lệ hộ nghèo được cấp BHYT miễn phí qua các năm đều đạt 100%.
+ Chính sách hỗ trợ về giáo dục cho người nghèo: Đã thực hiện hỗ trợ học tập cho 16.211 học sinh nghèo và DTTS với tổng kinh phí hỗ trợ là 3.080 triệu đồng. Số học sinh nghèo và DTTS được hỗ trợ qua các năm không ngừng tăng. Số học sinh được học tập ngày một nhiều hơn, tỷ lệ bỏ học của học sinh cũng giảm dần. Điều này cho thấy, chính sách hỗ trợ giáo dục bắt đầu phát huy hiệu quả, tạo điều kiện để học sinh nghèo, học sinh người DTTS tiếp cận với giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ, tiếp thu được kiến thức hiện đại.
+ Chính sách trợ giúp pháp lý: Đã mở 07 đợt ở 190 cuộc tuyên truyền tại các điểm làng trên địa bàn huyện cho hơn 51.000 lượt người tham gia học tập; trợ giúp pháp lý miễn phí cho 325 trường hợp với kinh phí 300 triệu đồng.
+ Chính sách bảo trợ xã hội: Thực hiện bảo trợ người cao tuổi (680 người), cứu trợ xã hội đột xuất cho 125 đối tượng bị rủi ro, đau ốm dài ngày, người chết không rõ thân nhân, hộ gia đình có người chết, bị thương nặng, nhà cháy, nhà sập hoàn toàn do thiên tai, bão lũ gây ra; 790 cựu chiến binh được giải quyết chế độ bảo hiểm y tế, 19 thân nhân cựu chiến binh từ trần được trợ cấp mai táng phí, cấp gạo cứu trợ đỏ lửa và hỗ trợ cứu đói cho nhân dân bị ảnh hưởng thiên tai.
d. Thực hiện nhóm chính sách về việc tạo điều kiện cho vùng nghèo tiếp cận các nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội
Đã đầu tư 83 công trình nhằm hoàn thiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho sản xuất và dân sinh như công trình đường giao thông nông thôn, trường học; cơ sở dạy nghề tổng hợp; bệnh viện, trung tâm dịch vụ tổng hợp về nông, lâm, ngư nghiệp, thủy lợi; điện, nước sinh hoạt…
Luân chuyển 07 trí thức trẻ từ huyện về xã đảm nhận nhiệm vụ thực hiện chính sách giảm nghèo, thu hút 06 trí thức trẻ về làm Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã.
2.3.2. Đánh giá thực trạng công tác giảm nghèo của huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2010 – 2013
a. Những kết quả đạt được trong công tác giảm nghèo của huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2010 – 2013
+ Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm dần qua các năm
Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 61,13% (năm 2010) xuống còn 43,4% (năm 2013), với tỷ lệ giảm trung bình hàng năm là 5,91%.
+ Mức sống của người nghèo ngày càng được cải thiện
Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được tăng lên từ 10,397 triệu đồng/người/năm (năm 2010) lên 15,634 triệu đồng/người/năm (năm 2013). Đời sống vật chất và tinh thần của người nghèo và người dân tộc thiểu chuyển biến tích cực có điều kiện vươn lên giảm nghèo. Cơ sở hạ tầng được cải thiện, đường giao thông bê tông thông suốt đến các thôn bản, 100% người nghèo được cấp BHYT.
b. Những hạn chế, tồn tại trong công tác giảm nghèo của huyện Vĩnh Thạnh giai đoạn 2010 – 2013
+ Tỷ lệ hộ nghèo còn cao và nhiều hộ dễ có khả năng tái nghèo
Tỷ lệ hộ nghèo của huyện còn ở mức cao 43,4% so với tỷ lệ hộ nghèo bình quân của tỉnh Bình Định (9,85%); kết quả XĐGN chưa bền vững, tình trạng tái nghèo vẫn có nguy cơ diễn ra trên phạm vi rộng.
+ Hệ thống chính sách chưa thật đầy đủ và hiệu quả
Hệ thống chính sách giảm nghèo hiện hành chủ yếu là thực hiện theo các các chính sách từ Trung ương và từ tỉnh, chứ chưa có chính sách đặc thù phù hợp với đặc điểm riêng của địa phương.
+ Ý thức tự thoát nghèo của người dân chưa cao
Trên địa bàn huyện Vĩnh Thạnh có gần 30% là đồng bào DTTS sinh sống, họ quen với tập quán canh tác cũ, nhà nước có nhiều chính sách ưu đãi đặc thù nên không tránh khỏi tình trạng một bộ phận dân cư có tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự giúp đỡ của Nhà nước và cộng đồng xã hội, không tự lực vượt khó vươn lên thoát nghèo.
+ Nhiều hộ nghèo chưa được đào tạo nghề và thiếu kinh nghiệm làm ăn
Chất lượng lao động của huyện vẫn còn rất thấp, năng suất lao động không cao, dẫn đến thu nhập thấp, đời sống của người lao động còn nhiều khó khăn.
c. Nguyên nhân của hạn chế, yếu kém
– Nguyên nhân khách quan: Nền kinh tế của huyện ở điểm xuất phát thấp, chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, địa hình của huyện có độ dốc lớn, thường xuyên chịu tác động của thiên tai, lũ lụt, hạn hán…
– Nguyên nhân chủ quan
+ Nhận thức của các cấp, các ngành của địa phương về công tác giảm nghèo còn nhiều hạn chế, còn mang nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước, chưa chủ động hướng dẫn thực hiện công tác giảm nghèo.
+ Việc chỉ đạo thực hiện của các cấp, các ngành chưa chặt chẽ, thiếu tính đồng bộ, chưa lồng ghép hiệu quả các chương trình, mục tiêu.
3.1. MỤC TIÊU GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
– Phát triển nền kinh tế của huyện bền vững theo cơ cấu “Nông nghiệp – Công nghiệp – Thương mại, dịch vụ”.
– Phấn đấu đến năm 2020 thu nhập bình quân đầu người khoảng 15 – 18 triệu đồng/người/năm.
– Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào DTTS trên địa bàn huyện, đảm bảo đến năm 2020 giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống ngang bằng mức trung bình của tỉnh.
– Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác tốt các thế mạnh của Vĩnh Thạnh. Xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH phù hợp với đặc điểm của địa phương.
– Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống ngang bằng mức trung bình các huyện trung du của tỉnh.
– Thu nhập bình quân đầu người từ 8-10 triệu đồng/năm.
– Số trường học đạt chuẩn Quốc gia về giáo dục 17/27 trường, đạt 63%.
– Số trạm y tế đạt chuẩn quốc gia, đạt 100%.
– Số trạm y tế có bác sĩ, đạt 100%.
– Tỷ lệ lao động ở nông thôn qua đào tạo, tập huấn, đạt trên 40%.
– Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ≤ 20%.
– Giảm tỷ lệ lao động sản xuất nông nghiệp xuống còn 65% trong tổng số lao động xã hội.
– Nâng độ che phủ rừng, đạt 71%.
– Thu nhập bình quân đầu người từ 15-18 triệu đồng/năm.
– Số trường học đạt chuẩn Quốc gia về giáo dục 27/27 trường.
– Tỷ lệ lao động ở nông thôn qua đào tạo, tập huấn đạt trên 50%.
– Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ≤ 15%.
– Giảm tỷ lệ lao động sản xuất nông nghiệp xuống còn 55% trong tổng số lao động xã hội.
– Nâng độ che phủ rừng đạt 76%.
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN VĨNH THẠNH ĐẾN NĂM 2015 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020
3.2.1. Giải pháp chuyển đổi cơ cấu kinh tế, tạo điều kiện chuyển đổi nghề nghiệp của chủ hộ
– Từng bước cơ giới hóa sản xuất, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào ứng dụng trong thực tiễn sản xuất.
– Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp theo hướng sử dụng hợp lý tài nguyên sẵn có, khai thác triệt để thế mạnh của địa phương.
– Tiếp tục đầu tư hoàn chỉnh mạng lưới phân phối điện cho các xã, thôn.
– Định hướng phát triển các làng nghề chế biến nông, lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí phục vụ nông nghiệp, sản xuất thủy điện.
– Phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch dựa trên cơ sở khai thác tốt tiềm năng của địa phương.
3.2.2. Hỗ trợ tư liệu sản xuất cho hộ nghèo
a. Thực hiện quy hoạch, khoán rừng, giao đất sản xuất cho hộ nghèo
– Tăng cường hỗ trợ cho đồng bào khai hoang, san lấp, cải tạo, phục hóa đất sản xuất ở những khu vực còn quỹ đất cấp hoặc quy hoạch đất lâm nghiệp giao lại cho bà con cải tạo, phục hóa, ổn định sản xuất lâu dài.
– Đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động nhân dân khai hoang phục hóa quỹ đất hiện có của gia đình, quỹ đất trong các khu sản xuất còn hoang hóa được phục vụ cho hoạt động sản xuất.
– Sau khi xác định được quỹ đất để khai hoang thì cần tiến hành giao sớm cho bà con, đồng thời nên để cho bà con tận dụng công của mình, tự huy động lực lượng khai hoang vì bà con đã có kinh nghiệm.
– Linh hoạt sử dụng nguồn vốn của Chương trình 30a để hướng dẫn, hỗ trợ cho bà con trồng rừng sản xuất.
b. Hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, tạo điều kiện thích hợp cho các hộ nghèo phát triển kinh tế, tự vươn lên XĐGN
– Thường xuyên hỗ trợ cây con, giống tốt cho hộ nghèo, đồng thời phải cải tạo, nâng cấp hệ thống giống cây trồng vật nuôi của huyện.
– Cho phép đấu thầu các khu đất hoang hoá phát triển các mô hình kinh tế trang trại, kinh tế hộ nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
– Thẩm đinh, phê duyệt các phương án sản xuất kinh doanh, cho phép chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, phát triển kinh tế.
– Tiến hành quy hoạch lại rừng, đánh giá lại việc giao rừng đến các hộ dân.
Tăng cường cán bộ kỹ thuật bồi dưỡng nghiệp vụ sản xuất, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cho hộ nghèo.
Đầu tư mở các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật, hướng dẫn cách làm ăn, chuyển đổi các mô hình sản xuất chăn nuôi cho các hộ nghèo, các hộ mới vươn lên thoát nghèo nhằm chống tái nghèo.
d. Hỗ trợ tín dụng ưu đãi hộ nghèo
– Giúp các hộ nghèo sử dụng vốn vay đúng mục đích sản xuất kinh doanh.
– Có quy định cụ thể về lãi suất cho vay giữa các hộ giàu và hộ nghèo.
– Quy định trách nhiệm thật cụ thể cho cán bộ thực hiện việc cho vay, thu nợ.
– Việc thu hồi vốn của các dự án nên thực hiện vào thời điểm mà các hộ mới thu hoạch sản xuất.
3.2.3. Giảm số người phụ thuộc trong mỗi hộ gia đình
a. Thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hoá gia đình
Tăng cường tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện các biện pháp kế hoạch hoá gia đình, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 0,45% năm 2015 và 0,3% năm 2020.
b. Giải quyết việc làm cho người lao động
Thứ nhất, tăng cường đầu tư và mở rộng sản xuất trong nền kinh tế của huyện, khôi phục và phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ để tận dụng lao động dư thừa và lao động có ngành nghề truyền thống của địa phương.
Thứ hai, đào tạo công nhân có trình độ cao, trình độ lành nghề để cung ứng cho các vùng kinh tế trọng điểm, các khu công nghiệp, khu du lịch, dịch vụ và xuất khẩu lao động đang có nhu cầu thu hút mạnh.
Thứ ba, mở rộng và phát triển thị trường lao động ngoài nước.
3.2.4. Nâng cao trình độ học vấn cho chủ hộ
– Tiếp tục thực hiện đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện và hiệu quả đào tạo ở các cấp học, ngành học.
– Đẩy mạnh chủ trương xã hội hoá giáo dục, vận động toàn xã hội chăm lo cho sự nghiệp phát triển giáo dục.
– Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, chú trọng việc đào tạo và sử dụng giáo viên người dân tộc thiểu số ở địa phương.
– Phát triển sự nghiệp giáo dục toàn diện trên tất cả các ngành học, cấp học. Vận động học sinh trong độ tuổi ra lớp đạt 100%, duy trì quá trình học tập được 97 – 98%.
a. Nâng cao ý thức thoát nghèo của người nghèo
Tuyên truyền, động viên, vận động các hộ nghèo tự lực, tự cường nâng cao ý thức cố gắng nỗ lực không trông chờ ỷ lại vào xã hội bằng cách vượt qua khó khăn vươn lên thoát nghèo.
b. Nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người nghèo
Nâng cao năng lực khám và điều trị bệnh ở các tuyến. Phấn đấu đến năm 2015 đạt 100% xã có bác sĩ. Đầu tư xây dựng toàn diện trung tâm y tế huyện, trang bị thêm máy móc, thiết bị y tế hiện đại để tạo điều kiện khám chữa bệnh tại chỗ đạt kết quả cao.
c. Tập trung các nguồn lực cho xây dựng cơ sở hạ tầng
– Tiến hành rà soát, lập kế hoạch xây dựng hệ thống kênh mương hoàn chỉnh, đồng thời khai thác các nguồn kinh phí tập trung cứng hoá hệ thống kênh mương chính, nâng diện tích chủ động tưới lên 85-90% vào năm 2015.
– Đối với các xã vùng giữa: cần cho khai thác đất tại các lòng hồ đập, suối để tăng lượng tích trữ nước, cải tạo nâng cấp các trạm bơm.
d. Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho vùng nghèo
Tích cực nâng cao dân trí cho cộng đồng dân cư. Đồng thời đẩy mạnh đào tạo kỹ thuật, kiến thức cơ bản cho lực lượng lao động phổ thông. Bên cạnh đó có chính sách khuyến khích, thu hút đối với những người có trình độ chuyên môn cao, cán bộ giỏi khoa học kỹ thuật nơi khác về công tác tại địa phương.
KẾT LUẬN
XĐGN là một mục tiêu mang tính chất chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước. Xóa hẳn tình trạng đói của một bộ phận dân cư đối với việc khuyến khích làm giàu hợp pháp là vấn đề được Đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức từ thiện luôn quan tâm nghiên cứu tìm ra các giải pháp nhằm đem lại hiệu quả thiết thực. Trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài tại huyện Vĩnh Thạnh về công tác XĐGN bản thân tôi có những kết luận chủ yếu sau:
1. Vĩnh Thạnh là một huyện nghèo của tỉnh Bình Định nhưng có rất nhiều tiềm năng phát triển kinh tế, nhất là tiềm năng về lâm sản, thủy điện, lao động, du lịch.
2. Nguyên nhân dẫn đến đói nghèo của các xã có tỷ lệ đói nghèo cao ở huyện Vĩnh Thạnh chủ yếu là thiếu tư liệu sản xuất và do thiên tai, hạn hán, lũ lụt. Huyện đã thành lập Ban chỉ đạo XĐGN, giảm tỷ lệ hộ nghèo của huyện từ 61,13% năm 2010 xuống còn 43,4% năm 2013. Đồng thời đưa ra các chương trình hành động cụ thể nhằm làm giảm nhanh tỷ lệ hộ nghèo của huyện trong năm tới. Tuy nhiên, cơ chế thực hiện các giải pháp chưa đồng bộ, chưa đúng đối tượng, chưa đủ mạnh, chưa phù hợp cho điều kiện đặc thù của các địa phương có tỷ lệ đói nghèo cao như Vĩnh Sơn, Vĩnh Kim nên chưa đem lại hiệu quả thiết thực mà mới tạm cắt được cơn sốt nghèo, do đó tỷ lệ tái nghèo của huyện còn ở mức cao.
3. Các hộ nghèo tại Vĩnh Thạnh còn trông chờ, ỷ lại vào tỉnh, huyện chưa thực sự cố gắng tự vươn lên thoát nghèo. Đa số hộ nghèo đều có vài nguyên nhân dẫn đến nghèo đói, vì vậy cần lồng ghép các chương trình phát triển KT-XH với chương trình XĐGN của huyện.
4. Các dự án phát triển KT-XH nhằm XĐGN chưa tập trung còn dàn trải, việc lồng ghép thực hiện các chương trình, chính sách về giảm nghèo còn lúng túng.
5. Năng lực của cán bộ làm công tác XĐGN của huyện còn yếu, chưa tâm huyết, nhiệt tình, làm việc đại khái, chưa thực sự gắn trách nhiệm của cán bộ đảng viên với công việc được giao.
6. Các chính sách giảm nghèo của huyện chủ yếu là thực hiện theo chính sách chung của Trung ương, của tỉnh chứ chưa có chính sách đặc thù riêng nên công tác giảm nghèo còn hạn chế.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN BINH DINH\LUAN VAN (Nguyen Ba Tan)\LUAN VAN IN BAO VE


