Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, công cuộc cải cách tư pháp đã được đảng lãnh đạo và tổ chức thực hiện với quyết tâm cao, đạt được nhiều kết quả. Nhận thức và sự quan tâm đối với công tác tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực; chất lượng hoạt động tư pháp đã được nâng lên một bước, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường ổn định cho sự phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, những kết quả đó mới là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất. Công tác tư pháp còn bộc lộ nhiều hạn chế. Chính sách hình sự, chế định pháp luật dân sự và pháp luật về tố tụng tư pháp còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung. Cùng với những mặt hạn chế nêu trên, nhiệm vụ cải cách tư pháp đang đứng trước nhiều thách thức. Tình hình phạm tội diễn biến phức tạp, với tính chất và hậu quả ngày càng nghiêm trọng. Nhiệm vụ phát triển và bảo vệ đất nước, yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải ban hành và thực hiện Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 phù hợp với quá trình đổi mới công tác lập pháp và chương trình cải cách hành chính.
Một trong những chủ trương chiến lược của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước là: xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được thực thi trong thực tế.
Sự ra đời của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988, và tiếp theo là Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tạo ra những thay đổi tương đối lớn trong việc xác định tư cách của người bị tạm giữ trong quá trình tham gia tố tụng hình sự. Nhưng không có nghĩa là chế định địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong tố tụng hình sự Việt Nam đã hoàn hảo. Bởi lẽ, trong quá trình thực hiện, áp dụng Bộ luật đã bộc lộ không ít những hạn chế gây ảnh hưởng tới việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ cũng như những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã có những tiến bộ quan trọng trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, điều kiện sống của nhân dân được nâng cao, kinh tế phát triển…., một trong những lĩnh vực được người dân đặc biệt quan tâm trong những năm đổi mới và cải cách, hiện tại và cả trong tương lai là những quy định của pháp luật, hoạt động của các cơ quan tư pháp mà trước hết là hoạt động của các cơ quan tư pháp hình sự trong việc ngăn chặn, xử lý, phòng ngừa tội phạm, vì đó là một trong những điều kiện quan trọng cho việc bảo vệ các thành quả cách mạng, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm của công dân; các lợi ích của quốc gia và xã hội, đồng thời là điều kiện bảo đảm ổn định và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.
Trong thực tiễn áp dụng biện pháp tạm giữ, địa vị pháp lý của người bị tạm giữ là bên “yếu thế” do đó bảo đảm quyền cho người bị tạm giữ là một vấn đề mà pháp hình sự luôn đề cao, đồng thời là nhiệm vụ đặt ra trong quá trình cải cách tư pháp. Việc nghiên cứu làm sáng tỏ vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ chính là bảo đảm quyền của người bị tạm giữ quy định trong luật tố tụng hình sự để thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn. Đồng thời đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới. Đây là một nội dung quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp theo NQ 49/BCT ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nhằm xây dụng nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, tôi chọn đề tài nghiên cứu về “Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài thạc sỹ của mình.
- Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam; đồng thời qua nghiên cứu chế định địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự cũng nhằm phân biệt giữa tạm giữ người theo thủ tục tố tụng hình sự và tạm giữ người trong trường hợp khác như trong lĩnh vực hành chính; làm rõ hơn vị trí vai trò của họ khi tham gia tố tụng và tránh được những vi phạm, lạm quyền của những người tiến hành tố tụng trong khi áp dụng biện pháp tạm giữ đối với họ.
Luận văn đưa ra những đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp bảo đảm thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề về lý luận và pháp luật liên quan của các quốc gia tiến bộ trên thế giới trong bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của họ trong tố tụng hình sự nói riêng, qua đó làm rõ những tiến bộ và những mặt còn hạn chế trong xác định về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong luật tố tụng hình sự Việt Nam. Tập trung nghiên cứu các chế định quy định như: khái niệm về người bị tạm giữ; các yếu tố bảo đảm thực hiện quyền của người bị tạm giữ; vị trí của người bị tạm giữ trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam, so sánh với một số người tham gia tố tụng khác; Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về bảo đảm quyền con người, quyền công dân thể hiện được cụ thể trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam liên quan đến chế định người bị tạm giữ….
Phân tích đánh giá thực trạng về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng như: thực trạng thực hiện quyền, nghĩa vụ; mặt tác cực và hạn chế trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ đó;
Đề xuất các giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành và định hướng sửa đổi trong tương lai nhằm ngày càng bảo đảm hơn quyền công dân nói chung và quyền của người bị tạm giữ nói riêng, góp phần có hiệu quả cho công tác đấu tranh xử lý và phòng ngừa tội phạm.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy các quan điểm khoa học, các quy định tố tụng hình sự, thực tiễn thực hiện quyền và nghĩa vụ pháp lý của người bị tạm giữ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung mà đề tài đặt ra.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự, căn cứ các quy định của pháp luật như: Bộ luật hình sự và tố tụng hình sự cũng như các giáo trình, tài liệu liên quan đến nội dung, yêu cầu trong phạm vi đề tài
Các số liệu thực tiễn phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập trên trên địa bàn TP Đà Nẵng trong thời gian từ 2011 đến 2015
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với người người bị tạm giữ và những quy định của pháp luật hình sự có liên quan.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê hình sự…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó đặc biệt là những quy định của pháp luật hình sự có liên quan đến quyền và bảo đảm quyền của người người bị tạm giữ trong TTHS Việt Nam.
6.1. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu đối với cán bộ nghiên cứu, cán bộ đang làm nhiệm vụ trực tiếp đấu tranh với phòng chống tội phạm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trên đại bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, trên phạm vi cả nước nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về địa vị pháp lý của ngưoif bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 2: Thực trạng địa vị pháp lý của người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Các giải pháp bảo đảm địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT
1.1.1.1. Những quy định của một số quốc gia trên thế giới về bảo đảm quyền con người nói chung và địa vị pháp lý của người bị tạm giữ nói riêng
Quan tâm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của họ trong mối quan hệ liên quan với pháp luật tố tụng hình sự nói riêng là vấn đề đòi hỏi bức thiết của bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Trong các giá trị xã hội thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống – xã hội nói chung thì giá trị về quyền được bảo về đối với cá nhân là thiêng liêng nhất, trong đó có quyền được bảo về mối liên quan trong tố tụng hình sự.
- 1.1.2. Những vấn đề lý luận quy định về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Người bị tạm giữ trước hết là những người bị nghi ngờ phạm tội. Bởi vậy, việc bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ phải được xem xét và bảo đảm từ hai góc độ: Bảo đảm quyền công dân (quyền con người) nói chung và bảo đảm trong hoạt động tố tụng hình sự nói riêng các quyền con người của họ và của những người tiến hành tố tụng là bình đẳng không có sự phân biệt, đối xử bất công. Trên cơ sở đó để xây dựng pháp luật tố tụng liên quan đến chế định người tạm giữ Đảng, Nhà nước ta cũng quán triệt những nội dung cơ bản cụ thể.
1.1.2.1. Đảm bảo quyền con người nói chung
1.1.2.2. Bảo đảm quyền về tố tụng của người bị tạm giữ
Từ thực tiễn pháp luật TTHS Việt Nam, nhằm cụ thể hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tiếp thu kinh nghiệm một số nước, đặc biệt là Nga, Trung Quốc, tư tưởng xây dựng pháp luật tố tụng hình sự nói chung, pháp luật hình sự liên quan đến chế định người bị tạm giữu nói riêng là tư tưởng xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta từ khi thành lập đến nay. Thể hiện cụ thể qua các giai đoạn lịch sử như sau:
- 1.2.1. Giai đoạn từ 1945 – 1988
Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp thứ ba của nước ta đã có những quy định hệ thống, cụ thể và tương đối hoàn chỉnh về bảo đảm quyền con người liên quan đến các quyền cơ bản của công dân như quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, quyền được bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và tài sản, quyền về bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyền khiếu nại, tố cáo…; quy định các bảo đảm cũng như trách nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện các quyền đó của công dân. Ví dụ: Khi quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quy định không ai có thể bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, việc bắt và giam giữ người phải theo đúng pháp luật, nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình v.v…
- 1.2.2. Theo Bộ luật tố tụng hình sự 1988
So với các văn bản pháp luật tố tụng hình sự trước đây, BLTTHS 1988 đã có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của công dân. Các chế định khác nhau của BLTTHS 1988 đều thể hiện rõ nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự. Tuy nhiên, qua hơn 15 năm thực hiện và trước yêu cầu của việc đổi mới cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân nhiều quy định của BLTTHS 1988 không còn phù hợp, nên cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp.
- 1.2.3. Theo Bộ luật tố tụng hình sự 2003
1.2.3.1. Khái niệm người bị tạm giữ
Theo Điều 48 BLTTHS: “Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo lệnh truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”. [31, tr.37]
Theo quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì “không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang, Việc bắt và giam giữ người phải theo quy định của pháp luật. Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”. [32, tr.11]
1.2.3.2. Địa vị pháp lý của người bị tạm giữ trong BLTTHS 2003
Trong BLTTHS 2003, các nguyên tắc tố tụng liên quan đến bảo đảm quyền con người được nhấn mạnh, quy định cụ thể hơn so với BLTTHS 1989; việc xây dựng và bảo đảm quyền của người bị tạm giữ theo quan điểm của Đảng được cụ thể hóa từ các nguyên tắc tố tụng cơ bản có liên quan sau:
– Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (Điều 4).
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (điều 5).
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (Điều 6).
– Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7).
– Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9)
– Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11).
– Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự (Điều 31).
Ngoài địa vị pháp lý tố tụng hình sự nêu trên, như bất kỳ người công dân khác, người bị tạm giữ có quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền con người khác không bị pháp luật hạn chế do bị tạm giữ như quyền được bảo hộ tính mạng, sức khỏe, quyền chính trị, dân sự khác.
Một người bị tạm giữ không có nghĩa là người đó đã bị buộc tội; và vì chưa có sự buộc tội nên chưa thể có bào chữa theo cơ chế tố tụng hình sự.
Sau khi bị bắt giữ người, trong thời gian 12 giờ lệnh tạm giữ phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và nếu xét thấy việc tạm giữ không có căn cứ thì Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ quyết định tạm giữ và trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Quy định trên của BLTTHS nhằm tránh trường hợp lợi dụng việc bắt giữ tràn lan của cơ quan điều tra, hạn chế tình trạng lợi dụng việc bắt để tư lợi, trả thù cá nhân hay chịu sức ép đã bắt tạm giữ thì phải khởi tố và vì thành tích như vậy sẽ dễ dẫn tới oan sai trong tố tụng hình sự.

THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ
Đặc điểm về địa lý của thành phố Đà Nẵng: Nằm ngay trên một trong những tuyến đường biển và đường hàng không quốc tế, thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Thành phố Đà Nẵng có diện tích tự nhiên là 1.283,42 km2; trong đó, các quận nội thành chiếm diện tích 241,51 km2, các huyện ngoại thành chiếm diện tích 1.041,91 km2, với quy mô dân số 1,029 triệu người.
Do đặc điểm địa lý, quy mô dân số, văn hóa đặc thù nên khi thực hiện nghiên cứu đề tài luận văn thạc sỹ của mình, bản thân thấy cần đặt trong mối quan hệ giữa quy định của pháp luật trong tố tụng hình sự với con người tại địa bàn thành phố Đà Nẵng với những đặc điểm chung và đặc thù với cả những mặt tích cực và hạn chế.
- 2.1.1. Tích cực
Trong quá trình thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đến nay đã góp phần giúp các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đặc biệt về công tác tạm giữ đã có những quy định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ hơn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng kịp thời ngăn chặn, và xử lý kịp thời những trường hợp phạm tội, đồng thời cũng bảo đảm về nhiệm vụ phòng ngừa tội phạm. Những nội dung đó thể hiện trong việc vận dụng những quy định của pháp luật hình sự của các cơ quan tố tụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong 5 năm gần đây từ 2011 đến 2015.
Thực trạng về địa vị pháp lý của người bị tạm giữ đã được các cơ quan tiến hành tố tụng chú trọng. Ý thức đầy đủ do đó tình hình chấp hành những quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ đã có bước chuyển biến rõ rệt.
Tuy có đã có những tiến bộ rõ nét trong nhận thức của các cơ quan tiến hành biện pháp tạm giữ, quyền của người bị tạm giữ được bảo đảm một cách cơ bản, nhưng trên thực tế do quy định của pháp luật còn mang tính ình thức nên thực tế bảo đảm quyền cho người bị tạm giữ còn chưa thể thực hiện một cách triệt để.
- 2.1.2. Hạn chế
– Khu tập trung tại trại Hòa Sơn thường xuyên quá tải do số lượng người bị tạm giữ nhiều.
– Thiết kế phòng tạm giữ hình sự và hành chính không có sự phân biệt cụ thể.
– Về chế độ ăn uống sinh hoạt theo quy định tại Điều 26 Nghị đinh số 89 ngày 07/11/1998 của Chính phủ. [28]
– Được lấy lời khai ngay sau khi bị tạm giữ: Theo thống kê và khảo sát đối với 1 số vụ án hình sự được khởi tố điều tra mà trước đó có tạm giữ thì tỷ lệ này là rất thấp.
– Từ đặc thù do chỉ có tổng cộng 3 nhà tạm giữ nên công tác kiểm sát trực tiếp tạm giữ – tạm giam của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng không đồng đều.
– Những bất cập trong quy định của pháp luật: tại khoản 2 Điều 48 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
- 2.2. Thực trạng thực hiện nghĩa vụ của người bị tạm giữ tại thành phố Đà Nẵng
Tích cực: song song với những quyền cơ bản nêu trên, thực tế áp dụng yêu cầu về nghĩa vụ của người bị tạm giữ đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. theo báo cáo tổng kết 5 năm của Viện kiểm sát thành phố Đà Nẵng qua công tác kiểm sát trực tiếp phát hiện có tổng công 34 lượt người bị tạm giữ vi phạm kỷ luật. Theo quy định tại khoản 3 Điều 48 BLTTHS “Người bị tạm giữ có nghĩa vụ thực hiện các quy định về tạm giữ theo quy định của pháp luật” và tại Điều 32 Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính phủ quy định về quy chế tạm giữ, tạm giam quy định:
“1. Người bị tạm giữ, tạm giam đã hoàn cung chờ xét xử, chấp hành tốt nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam có thể được xét tăng gấp đôi số lần gặp gỡ thân nhân và tăng gấp đôi số lần được gửi và nhận thư, nhận quà.
2. Người bị tạm giữ có hành vi vi phạm nội quy của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng một trong các hình thức sau:
Cảnh cáo;
Phạt cùm chân. Thời gian phạt cùm chân do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định nhưng không quá một tuần.
3. Người bị tạm giam có hành vi vi phạm nội quy của Nhà tạm giữ, Trại tạm giam thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm sẽ bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau:
Cảnh cáo;
Phạt giam riêng ở buồng kỷ luật từ 3 đến 12 ngày. Người bị phạt giam ở buồng kỷ luật có thể bị cùm chân. Thời gian bị cùm chân do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định, nhưng không quá 10 ngày.
4. Người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy nhiều lần thì có thể bị hạn chế gặp thân nhân, gửi và nhận thư, nhận quà; đang trong thời gian bị kỷ luật không được gửi và nhận thư, nhận quà, không được gặp thân nhân cho đến khi họ chấp hành tốt nội quy Nhà tạm giữ, Trại tạm giam.
5. Việc thi hành kỷ luật đối với người bị tạm giữ, tạm giam vi phạm nội quy do Trưởng Nhà tạm giữ, Giám thị Trại tạm giam quyết định bằng văn bản. Quyết định phải ghi rõ lý do và hình thức kỷ luật. Biên bản về việc vi phạm và quyết định hình thức kỷ luật được đưa vào hồ sơ của người đó”. [28]
Sở dĩ có việc đó là vì pháp luật tố tụng hình sự quy định rất nghiêm khắc về việc những trường hợp không chấp hành quy định về nghĩa vụ. Đây là những quy định rất nghiêm khắc của pháp luật, mang tính cưỡng chế cao bởi vậy thông thường người bị tạm giữ chấp hành tốt nghĩa vụ của mình theo những gì Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
Hạn chế: do người bị tạm giữ bao giờ cũng có tâm lý không dám đấu tranh đòi hỏi, yêu cầu trong thời gian bị tạm giữ. Do đó để tạo điều kiện họ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ như chấp hành nghiêm nội quy, quy chế nhà tạm giữ, trại tạm giam khai báo đầy đủ và có tinh thần hợp tác với cơ quan điều tra trong đấu tranh làm rõ nội dung hành vi phạm tội thì chưa đáp ứng được. Nguyên nhân là do những người được giao nhiệm vụ này chưa có sự nhận thức đúng đắn về vai trò địa vị pháp lý của người bị tạm giữ mà thông thường khi bị bắt họ thường coi những người này có trách nhiêm phải phục tùng, tuân theo chứ họ không có quyền đòi hỏi gì. Như vậy vô tình đã tạo ra sự ngăn cách, phân biệt giữa một bên là địa diện những người tiến hành tố tụng và một bên là người bị tạm giữ.

CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA NGƯỜI
BỊ TẠM GIỮ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG VIỆT NAM
Một trong những yêu cầu quan trọng là cần nâng cao về nhận thức pháp luật của người thi hành nhiệm vụ trong lĩnh vực này. Đó là nhận thức của họ trong bảo vệ, bảo đảm quyền công dân trong tố tụng hình sự nói chung, trong quan hệ với tư cách là người bị tạm giữ với pháp luật tố tụng hình sự nói riêng, đó là: Bảo đảm quyền con người, quyền công dân của người bị tạm giữ.
Những giải pháp nhằm nâng cao trách nhiệm, nhận thức pháp luật để những người thực thi pháp luật cần thực hiện trước nhiệm vụ được giao trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm trong thời gian tới đó là:
– Quán triệt đầy đủ những chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước qua thể hiện trong các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến quyền con người, quyền công dân và các lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ có như vậy mới nâng cao được ý thức pháp luật, lương tâm nghề nghiệp của người tiến hành tố tụng.
– Nâng cao trình độ trình độ chuyên môn của những người tiến hành tố tụng, đặc biệt là chất lượng của đội ngũ các Điều tra viên, Kiểm sát viên.
– Ngoài việc bảo đảm trình độ về pháp luật trong nước cũng cần có nhận thức về pháp luật quốc tế vì chúng ta đang bước vào thời kỳ hội nhập.
Thứ nhất: về đối tượng bị áp dụng đối với biện pháp tạm giữ: Người phạm tội tự thú, đầu thú là người bị bắt và áp dụng biện pháp tạm giữ cũng như đối xử họ như đối với người phạm tội quả tang hoặc truy nã là không hợp lý, thiếu sự công bằng trong đánh giá tính chất mức độ đặc biệt là ý thức chấp hành pháp luật của họ.
Thứ hai: về thẩm quyền ra lệnh tạm giữ: theo khoản 2, Điều 86 BLTTHS 2003 pháp luật chưa có quy định cụ thể về việc Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có thẩm quyền quyết định bắt người để tạm giữ trong những trường hợp nào? Với những đối tượng nào? Chính vì vậy, về lý luận cũng như trong thực tế áp dụng còn vướng mắc, cần sự quy định rõ ràng.
Thứ ba: về thời hạn tạm giữ: để đạt được mục tiêu của tạm giữ, thời điểm tính thời hạn tạm giữ không phải là thời điểm bắt người. Vậy vấn đề cần thống nhất nhận thức ở đây là: thời hạn tạm giữ đối với họ được tính từ thời điểm nào? Điều này chưa được pháp luật quy định.
Thứ tư: về gia hạn tạm giữ: theo khoản 2 Điều 87 BLTTHS quy định này sẽ giúp cho người hoạt động điều tra có hiệu quả hơn. Tuy nhiên luật cần nêu rõ: Trong trường hợp cần thiết đề ra quyết định tạm giữ là những trường hợp nào? Mức độ cụ thể ra sao? Do luật chưa có quy định rõ điều này nên trong thực tiễn áp dụng có thể dẫn tới sự áp dụng không thống nhất quy đinh nảy trong việc gia hạn tạm giữ.
Thứ năm: Việc trả tự do cho người bị tạm giữ: theo khoản 3 Điều 87 BLTTHS 2003 quy định trả tự do ngay cho người bị tạm giữ nếu không có đủ căn cứ khởi tố bị can là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên luật lại không quy định về thẩm quyền trả tự do và thủ tục trả tự do cho người bị tạm giữ.
Như vậy, những giải pháp cơ bản cần hoàn thiện trong lĩnh vực này bao gồm:
+ Về chủ thể có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ: Quy định cụ thể về thẩm quyền tạm giữ đối với chủ thể là Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền tạm giữ người, trong khi tại khoản điểm c khoản 2 Điều 81. Quy định chủ thể là Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền tạm giữ người là cần thiết và tương xứng với các chủ thể khác khi tham gia trong tố tụng hình sự.
– Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền tạm giữ người và có quyền ra lệnh bắt người trong trừng hợp phạm tội quả tang;
– Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển có quyền tạm giữ người trong tất cả các trường hợp phạm tội quả tang, ngưoif phạm tội bị truy nã, người có hành vi phạm tội ra đầu thú hoặc tự thú;
Khoản 2 Điều 86 BLTTHS quy định thẩm quyền ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp có bốn nhóm người sau:
+ Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp (cơ quan điều tra trong công an nhân dân, cơ quan điều tra trong quân đội nhân dân, cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao… );
+ Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương ; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới;
+ Người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển khi tàu bay, tàu biển đã rời sân bay, bến cảng;
+ Chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển.
Như vậy, những người có quyền ra quyết định tạm giữ không hoàn toàn là những người đại diện của các cơ quan tiến hành tố tụng mà bao gồm cả những người của các cơ quan Nhà nước khác.
– Thời hạn được áp dụng biện pháp tạm giữ đối với chủ thể là người chỉ huy tàu bay, sân bay, tàu biển hoặc người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương như đối với các chủ thể khác trong cơ quan tiến hành tố tụng nhưng họ không có quyền được tạm giữ người trong trường hợp gia hạn trừ trường hợp khác do pháp luật quy định (trường hợp đối với người chỉ huy tàu biển do tính chất đặc thì của đối tượng này)
+ Về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ: Cần phân biệt rõ về đối tượng bị áp dụng biện pháp tạm giữ, không thể coi người bị áp dụng biện pháp tạm giữ là người phạm tội quả tang, truy nã cũng như đối với người phạm tội ra tự thú hoặc đầu thú vì đây là hai nhóm đối tượng có hành vi vi phạm khác nhau và có ý thức chấp hành pháp luật khác nhau nên cần thiết có sự phân biệt của pháp luật khi “ứng xử” với hai nhóm đối tượng này khác nhau.
– Thời hạn áp dụng biện pháp tạm giữ đối với người vi phạm pháp luật đầu thú hoặc tự thú là không quá 3 ngày và trong trường hợp đặc biệt thì được gia hạn 1 lần với thời hạn 3 ngày.
+ Về thời hạn tạm giữ: Điều 87 BLTTHS quy định thời hạn tạm giữ là 3 ngày, sau đó có thể gia hạn 2 lần mỗi lần không quá 3 ngày. Tuy nhiên, việc quy định như vậy còn mang tính tùy nghi, cụ thể như: “có thể” và “không quá”… 3 ngày. Quy định như vậy rất dễ bị lạm dụng.
Vậy, cần quy định chặt chẽ hơn về thời hạn.
– Thời hạn tạm giữ là 3 ngày
– Trong trường hợp đặc biệt thì có thể gia hạn lần I thời hạn là 3 ngày;
– Trường hợp giai hạn lần II trong thời hạn 3 ngày là để phục vụ việc khởi tố vụ án và bị can do còn đợi kết quả của việc xác định nhân thân, kết quả giám định…. nhằm xác định hậu quả của vụ án hoặc các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài một số nội dung trên, thấy việc quy định về tạm giữ đối với người chưa thành niên phạm tội cũng chưa có quy định khác về thời hạn tạm giữ.
– Về thủ tục trả tự do cho người bị tam giữ: Khoản 3 Điều 87 BLTTHS năm 2003 quy định: “Trong khi tạm giữ, nếu không có căn cứ khởi tố bị can thì phải trả tự do cho người bị tạm giữ”. Do luật không quy định cụ thể trường hợp phải trả tự do cho người bị tạm giữ thì ai có quyền trả tự do cho họ? nên cần quy định người có thẩm quyền hủy lệnh tạm giữ là cơ quan Viện kiểm sát vì Viện kiểm sát là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tạm giữ. Đồng thời cũng quy định rõ về thủ tục trả tự do là bất cứ thời điểm nào mà Viện kiểm sát phát hiện thấy việc tạm giữ người là không có căn cứ và cơ quan tạm giữ người phải thực hiện quyết định của Việm viểm sát vô điều kiện, nhưng có quyền kiến nghị hành vi này đến Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên.
– Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ
– Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ liên quan trực tiếp đối với cán bộ làm công tác tạm giữ của nhà tạm giữ, trại tạm giam các cấp.
– Nâng cao ý thức trách nhiệm trước công tác nghiệp vụ được phân công, gắn trách nhiệm với hiệu quả chất lượng công việc coi đây là tiêu chí đánh giá năng lực chuyên môn, chất lượng cán bộ;
– Có chế độc đãi ngộ đặc thù đối với những chủ thể làm công tác tạm giữ bảo đảm cải thiện về đời sống vật chất tinh thần của họ.
Cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, kế hoạch công tác năm của viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân; Nghị quyết 37/2002 ngày 12/11/2012 của Quốc Hội về công tác tư pháp. Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan, nhất là pháp luật tố tụng hình sự. Với tư cách là một trong các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự, việc hoàn thiện pháp luật về tạm giữ cần đặt trong mối quan hệ với các biện pháp ngăn chặn nói chung.
Thời gian qua, công tác kiểm sát việc tạm giữ của ngành Kiểm sát đã thực hiện công tác kiểm sát đột xuất, phối kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thực hiện kiểm sát nhà tạm giữ, trại tạm giam phát hiện nhiều vi phạm của các đơn vị trong quản lý và thực hiện các chế độ về giam giữ làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị giữ, đã kịp thời ban hành nhiều kiến nghị, kháng nghị nhà tạm giữ nhà tạm giam yêu cầu khắc phục những vi phạm góp phần nâng cao về chất lượng giam giữ như chế độ quản lý, giám sát, giáo dục; chế độ ăn ở, sinh hoạt và các quyền lợi hợp pháp của công dân được đảm bảo
Để nâng cao chất lượng hiệu quả công tác kiểm sát tạm giữ cần thực hiện tốt các giải pháp sau:
– Nắm chắc tình hình hình chấp hành pháp luật liên quan công tác tạm giữ của cơ quan điều tra; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo điều hành về nghiệp vụ tạm giữ – tạm giam nhằm xử lý kịp thời, chính xác, đúng pháp luật các vụ việc phát sinh trong quá trình kiểm sát việc tạm giữ
– Kiện toàn hệ thống sổ sách, hồ sơ, tài liệu theo dõi tình hình chấp hành pháp luật trong công tác liên quan ở nhà tạm giữ, trại tạm giam các cấp theo đúng quy định.
– Làm tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ.
– Thực hiện tăng cường công tác kiểm sát định kỳ theo kế hoạch tháng, quý và năm; hàng năm cần xây dựng kế hoạch chọn một hoặc một số khâu, lĩnh vực đột phá hoặc thực hiện kiểm sát đột xuất.
– Hoàn thiện pháp luật về tạm giữ, tạm giam nhưng cũng cần phù hợp với đặc thù của từng vùng miền, địa phương
– Xây dựng quy chế phối hợp giữa Viện kểm sát và Mặt trận Tổ quốc địa phương theo hướng phân định rõ vị trí vai trò và trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan trong công tác phối hợp
Trong đánh giá của Quốc Hội về tình hình thực hiện pháp luật, thống kê trên toàn quốc trong kỳ giám sát từ năm 2011 – 2014 các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra 219.506 vụ với 338.379 bị can nhưng số vụ làm oan người vô tội trong 03 năm có 71 trường hợp, chiếm 0,02% trong đó CQĐT đình chỉ 31 bị can do không có sự việc phạm tội, 12 bị can do hết thời hạn điều tra không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm; VKS đình chỉ 09 bị can do không có sự việc phạm tội; 19 trường hợp TA tuyên không phạm tội, bản án đã có hiệu lực pháp luật.
Nguyên nhân của những tồn tại trên là do nhận thức và sai lầm trong áp dụng pháp luật về bắt, tạm giữ thiếu căn cứ, chủ yếu do một bộ phận Điều tra viên hạn chế về trình độ, năng lực trong đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm pháp, chưa phân biệt được vi phạm hành chính với hành vi phạm tội, do quy định pháp luật về căn cứ bắt khẩn cấp, tạm giữ…chưa chặt chẽ.
Xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật như trên, công tác kiểm tra giám sát của các cơ quan pháp luật như Viện kiểm sát nhân dân thực hiện công tác kiểm sát tư pháp còn là các cơ quan khác đại diện cho nhân dân được Quốc hội giao nhiệm vụ giám sát pháp luật, trong đó có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Trong quy chế, kế hoạch phối hợp có nội dung được đề cao chú trọng là công tác giám sát hoạt động tạm giữ của cơ quan tố tụng đối với người bị tạm giữ với những mục đích yêu cầu như:
Mục đích: Nhằm bảo đảm chế độ đối với người bị tạm giữ được chấp hành nghiêm chỉnh; bổ sung các điều kiện về cơ sở vật chất nâng cao chất lượng nhà tạm giữ, trại tạm giam, bảo đảm phân loại giam, giữ đúng quy định, đáp ứng yêu cầu công tác điều tra, truy tố, xét xử
Yêu cầu: Công tác kiểm tra, giám sát liên ngành đánh giá toàn diện kết quả đã đạt được; khó khăn, vướng mắc, những bất cập về chính sách, pháp luật; các giải pháp để nâng cao hiệu quả trong việc tạm giữ; hoạt động của các đoàn kiểm tra, giám sát ở cấp tỉnh và các tổ kiểm tra, giám sát ở cấp quận, huyện phải tuân thủ đúng quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật khác có liên quan; bảo đảm đúng phạm vi, nội dung, thẩm quyền và thời gian kiểm tra, giám sát theo kế hoạch, không làm xáo trộn hoạt động bình thường của các cơ quan, đơn vị được kiểm tra, giám sát
Để thực hiện tốt công tác này cần thiết có giải pháp sau:
– Thường xuyên thực hiện công tác phối hợp và có phân công cụ thể trách nhiệm của người và bộ phận cụ thể thuộc Mặt trận Tổ quốc.
– Mặt trận Tổ quốc phải có bộ phận chuyên trách để cùng với cơ quan Viện kiểm sát thực hiện công tác về giám sát công tác kiểm sát tạm giữ.
– Quy định và có cơ chế bắt buộc về trách nhiệm của cán bộ làm công tác giám sát pháp luật cùng với Viện kiểm sát.
– Định kỳ hoặc đột xuất cần có sự phối hợp kiểm tra, giám sát và tham gia của một số cơ quan đại diện của nhân dân.
– Mặt trận Tổ quốc phải tham gia cùng với cơ quan Công an và Viện kiểm sát vào công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại tố cáo của người bị tạm giữ góp phần bảo vệ về tính mạng, danh dự, nhân phẩm bị xâm hại của người bị tạm giữ
– Tạo điều kiện, động viên tích cực quần chúng nhân dân tham gia vào nhiệm vụ đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật dưới nhiều hình thức khác nhau.
Bảo đảm về quyền con người nói chung là yêu cầu cần thiết không riêng của pháp luật hình sự mà trách nhiệm của pháp luật nói chung là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi người dân. Nghiên cứu về địa vị pháp lý của chủ thể là người bị tạm giữ trong mối quan hệ với pháp luật tố tụng hình sự cho chúng ta nhận thức rõ hơn về quyền và lợi ích của họ khi tham gia tố tụng, những yêu cầu trách nhiệm của người, cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ để bảo vệ được những quyền và lợi ích đó. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam đất nước ta đang ngày một đổi mới, đời sống của nhân dân ngày càng cải thiện, ấm no, hạnh phúc. Yêu cầu của pháp luật cũng ngày càng phải hoàn thiện để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đáp ứng yêu cầu đó Đảng ta luôn kịp thời đề ra chủ trương đường lối để định hướng xây dựng pháp luật như Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”; Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 Bộ Chính trị khóa IX về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 với mục tiêu: “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” phục vụ chủ trương chiến lược của Đảng trong thời kỳ đổi mới đất nước là: xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được thực thi trong thực tế.
Sự ra đời và hoàn thiện BLTTHS năm 1988 và năm 2003 tạo ra những thay đổi tương đối lớn trong việc xác định tư cách của người bị tạm giữ khi tham gia tố tụng hình sự. Nhưng trong quá trình thực hiện, áp dụng Bộ luật đã bộc lộ không ít những hạn chế gây ảnh hưởng tới việc đảm bảo quyền của người bị tạm giữ cũng như những nghĩa vụ mà họ phải thực hiện.
Nội dung nghiên cứu của đề tài đã phần nào làm rõ hơn những định hướng của Đảng, những quy định của pháp luật tố tụng hiện hành liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ; qua thực tiễn áp dụng của địa phương cũng đã thể hiện những ưu điểm như: họ ngày càng được thực hiện tốt hơn quyền của mình như được biết lý do mình bị tạm giữ; được thông báo cho người thân; được yêu cầu có người bào chữa…đồng thời cũng bộc lộ hạn chế cần khắc phục như khi bị tạm giữ còn có trường hợp bị đánh đập, bức cung, nhục hình và cá biệt có trường hợp bị tước đoạt sinh mạng một các trái pháp luật… Từ những tồn tại hạn chế trên, yêu cầu đặt ra là cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng cũng là để bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người nói chung, quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ nói riêng trong mối quan hệ với pháp luật. Các giải pháp như: hoàn thiện các chế định pháp luật theo hướng ngày càng chặt chẽ hơn, hạn chế sự lạm quyền của chủ thể là người tiến hành tố tụng, bảo vệ tốt hơn danh dự nhân phẩm con người…. Còn phải là nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người là công tác pháp luật có liên quan; nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của họ nhằm đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong từng thời kỳ đồng thời phải tằng cường sự kiểm tra giám sát của các cơ quan có trách nhiệm pháp luật có quy định như công tác kiểm sát việc tạm giữ- tạm giam thuộc chức năng kiểm sát của cơ quan Viện kiểm sát nhân dân; công tác phối hợp giám sát của các cơ quan đại diện nhân nhân như Mặt trận Tổ quốc, Ủy ban pháp luật của Quốc hội, Ban pháp chế của Hội đồng nhân dân các cấp….
Việc nghiên cứu còn hạn chế như chưa mở rộng được phạm vi đề tài và có sự so sánh với những quốc gia có nền pháp luật tiến bộ hơn trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên cũng đã nghiên cứu được những vấn đề cơ bản, đề những yêu cầu cấp thiết xuất phát từ thực tiễn áp dụng pháp luật để đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật, góp phần thực hiện chủ trương của Đảng cải cách nền tư pháp với mục tiêu xuyên suốt là “xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…”./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 3\LUAT HINH SU\NGUYEN VAN CHIEN\New folder (4)


