Đề án thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu
Trong bối cảnh hiện nay, các nước trên thế giới đều nhận thức được vai trò và vị trí hàng đầu của GD, đều phải đổi mới hoạt động DH nhằm nâng cao chất lượng DH đáp ứng yêu cầu phát triển GD. Đổi mới tư duy GD cần được thấu suốt từ mọi cấp, mọi ngành, từ lãnh đạo, CBQL, đội ngũ GV, HS đến đông đảo tầng lớp nhân dân, nhằm phát huy trí tuệ, khơi dậy tiềm năng, truyền thống hiếu học và sức mạnh sáng tạo của toàn dân trong sự nghiệp đổi mới đất nước. Chuyển mạnh quá trình GD từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất HS. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; GD nhà trường kết hợp với GD gia đình và GD xã hội. Phát triển GD và ĐT phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Đổi mới hệ thống GD theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức GD, ĐT. Chuẩn hóa, hiện đại hóa GD và ĐT.
Thực tiễn cho thấy, việc nâng cao chất lượng GD ở các trường TH phụ thuộc vào nội dung chương trình, SGK, các điều kiện CSVC của nhà trường… và đặc biệt phụ thuộc vào hoạt động dạy của GV, hoạt động học của HS và môi trường DH. Ở các trường TH, năng lực tự học, tự phục vụ bản thân và đặc biệt kĩ năng giải quyết vấn đề của HS các trường TH chưa đạt yêu cầu… GD ở các trường TH dù đã có nhiều cố gắng song vẫn còn nặng về lý thuyết, chưa coi trọng việc thực hành và ứng dụng thực tế. Trong giờ học còn đọc giảng nhiều, ít cho HS được bộc lộ điều mà mình biết, HS chưa tự chiếm lĩnh tri thức, chưa phát huy được tính tích cực học tập của HS, chưa chú trọng GD đạo đức cho HS, chưa thực hiện tốt việc GD toàn diện, chưa có sự quan tâm đúng mức hay những quy định cụ thể cho việc phát triển đội ngũ như bồi dưỡng bắt buộc những kĩ năng mềm cho GV, việc tổ chức kiểm tra, đánh giá ở một số trường TH chưa thật sự nghiêm túc…[4]
Để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của thực tiễn, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2013, “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu đến năm 2030, giáo dục đại học Việt Nam sẽ đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Trong môi trường “số hóa”, giáo dục đào tạo sẽ được thay đổi mạnh mẽ từ triết lý, mục tiêu giáo dục đến vai trò của người thầy, từ phương pháp dạy học đến vị trí “trung tâm” của người học… Do đó, đổi mới giáo dục nói chung là một xu thế toàn cầu và Việt Nam không thể nằm ngoài xu thế đó. [20]
Trong những năm qua, Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã triển khai, hưởng ứng với nhiều hoạt động thiết thực, tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ năm học hàng năm và đạt được nhiều thành tựu trong công tác dạy và học, nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường mối quan hệ giữa GĐ, nhà trường và XH trong GD cho HS ngày càng bền chặt, với nhiều giải pháp sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông (GDPT), đổi mới dạy học (ĐMGH) cho HS nhà trường. 100% học sinh đạt mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất thông qua các tiêu chí đề ra như: chăm học, chăm làm, tự tin, có trách nhiệm, trung thực, kỉ luật, hợp tác, tự học và tự giải quyết vấn đề…Hơn 2/3 học sinh toàn trường đạt mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất tốt. Duy trì tốt chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, nhiều học sinh được hiệu trưởng khen thưởng trong kết quả tổng kết cuối năm học. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực hiện quản lý hoạt động dạy học của nhà trường còn gặp nhiều khó khăn bất cập về cơ chế chính sách, tài chính, năng lực quản lý, cơ sở vật chất, tiêu chí đổi mới dạy học…
Xuất phát từ lý do trên, đề tài “Đề án thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” được chọn làm chủ đề nghiên cứu.
Đánh giá thực trạng những kết quả đạt được và những hạn chế yếu kém, nguyên nhân hạn chế yếu kém trong quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng và phạm vi của đề án
3.1. Đối tượng của đề án
Thực trạng quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
3.2. Phạm vi của đề án
– Phạm vi nội dung: Đề án tập trung đề xuất các biện pháp của Hiệu trưởng về quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
– Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện đề án từ năm 2025 đến năm 2030
– Phạm vi không gian: Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học
1.1.1. Một số khái niệm liên quan đề tài
1.1.1.1. Hoạt động dạy học
Quá trình dạy học là hệ thống những hành động liên tiếp và thâm nhập vào nhau của thầy và trò dưới sự hướng dẫn của thầy, nhằm đạt được mục tiêu dạy học và qua đó hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực của trò. Trong quá trình dạy học, HS là chủ thể nhận thức, GV có vai trò tổ chức, kiểm tra, điều khiển hoạt động học tập của HS theo một chiến lược hợp lí sao cho HS tự chủ chiếm lĩnh, xây dựng tri thức. Quá trình dạy học được hiểu là quá trình hoạt động của GV và của HS trong sự tương tác thống nhất biện chứng của ba thành phần trong hệ dạy học bao gồm: GV, HS và tư liệu dạy học.
Hoạt động dạy học được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất để hoàn thiện nhân cách ở người học. Do đó, việc thiết kế và tổ chức chuỗi hoạt động dạy học phù hợp với trình độ nhận thức, phong cách học tập của HS, đáp ứng mục tiêu dạy học là nhiệm vụ quan trọng và cần thiết đối với mỗi GV. [27]
Bản chất của dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của học sinh dưới vai trò chủ đạo của giáo viên. Hoạt động học của học sinh là hoạt động nhận thức thế giới khách quan.
1.1.1.2. Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định về hoạt
động giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh, đảm bảo cho
hoạt động đó được tiến hành tự giác, có nền nếp ổn định, có chất lượng và hiệu
quả cao. Quản lý HĐDH tức là quản lý các thành tố của quá trình dạy học, quản
lý việc vận hành của quá trình một cách có kế hoạch, có tổ chức, có điều khiển,
điều chỉnh nhằm đạt đến mục tiêu xác định. [29]

Quản lý hoạt động dạy học là một hệ thống những tác động có mục đích, có có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trong quá trình dạy học nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Là quá trình người hiệu trưởng hoạch định, tổ chức, điều khiển, kiểm tra hoạt động dạy học của giáo viên nhằm đạt được mục tiêu. Trong toàn bộ quá trình quản lý nhà trường thì quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng là hoạt động cơ bản nhất, quan trọng nhất. Quản lý hoạt động dạy học là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, điều khiển, điều hành kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh nhằm đạt được kết quả cao nhất đề ra. [30]
1.1.1.3. Quản lý hoạt động dạy học ở Trường Tiểu học
Các nhà trường có sự vận dụng một cách linh hoạt, hợp lý trong việc điều chỉnh kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch giáo dục môn học, thực hiện tinh giản và dạy học các nội dung cốt lõi cho phù hợp đáp ứng yêu cầu chương trình. Đến nay, 100% các trường tổ chức dạy học 10 buổi/tuần cho học sinh lớp 1, 2. Đội ngũ giáo viên dạy lớp 1, 2 đã áp dụng khá thành thạo các phương pháp, kỹ thuật dạy học theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh; nền nếp dạy học ổn định.
Đối với các lớp 3, 4, 5, tuy đang thực hiện việc dạy học theo chương trình GDPT hiện hành nhưng giáo viên vẫn triển khai tốt các phương pháp giáo dục theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh. 100% giáo viên các trường khi xây dựng kế hoạch bài học đã xác định đúng, đủ mục tiêu bài học, phương án sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học dành cho giáo viên, học sinh; cách tổ chức các hoạt động học, hoạt động đánh giá nhằm phát triển phẩm chất, năng lực học sinh tiểu học. Riêng với các môn học đặc thù, các trường có nhiều giải pháp phù hợp nâng cao chất lượng dạy học. Nhất là việc dạy và học môn tiếng Anh của các trường tiểu học đã được đa dạng hóa môi trường giao tiếp để nâng cao kỹ năng nghe nói, khuyến khích học sinh tham gia câu lạc bộ, sân chơi, giao lưu trên mạng.
Với những yêu cầu mới từ Chương trình GDPT mới, mục tiêu của GDTH hiện nay là tăng cường giáo dục toàn diện; hạn chế tình trạng dạy thêm, học thêm; đáp ứng yêu cầu quản lý và giáo dục học sinh của gia đình và xã hội; góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở cấp tiểu học.
Các phương pháp giáo dục được áp dụng trong Chương trình GDPT mới là tích cực hoá hoạt động của người học nên giáo viên phải thực hiện tốt vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, rèn luyện thói quen và khả năng tự học.
Ngành giáo dục đã tổ chức thường xuyên các hoạt động tập huấn chuyên môn cho cán bộ quản lý, giáo viên, giáo viên cốt cán cấp tiểu học về nội dung và phương pháp dạy học các môn học và phương pháp hướng dẫn học sinh tự học, thiết kế bài học theo các nhóm hoạt động, thực hành dạy học minh họa trong sinh hoạt chuyên môn tại các cụm trường và các nhà trường theo hướng nghiên cứu bài học, chỉ đạo áp dụng việc thiết kế bài học theo các nhóm hoạt động góp phần phát huy năng lực, phẩm chất học sinh đối với tất cả các môn học tại các nhà trường.
Quá trình thực hiện đổi mới, các nhà trường đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý chuyên môn, sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học và tăng cường bồi dưỡng các nội dung chuyên môn, nâng cao tay nghề cho giáo viên. Với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, đội ngũ giáo viên đã có nhiều nỗ lực trong việc học tập nâng cao trình độ, đáp ứng các yêu cầu đổi mới giáo dục, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các phương pháp giáo dục tích cực. [26]
1.1.2. Lý luận quản lý hoạt động dạy học ở Trường Tiểu học
1.1.2.1. Quản lý tổ chức nâng cao nhận thức
Việc bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ GV là rất cần thiết. GV là nhân tố quyết định chất lượng DH. Thực hiện bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì nhằm chuẩn hóa, nâng chuẩn là việc cần thường xuyên quan tâm, động viên.
CBQL cấp Phòng và cấp trường trước hết phải là tấm gương tự học, tự rèn, trong việc học tập, bồi dưỡng để mọi người noi theo. Tổ chức và chỉ đạo các TCM sinh hoạt có chất lượng, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học tập lẫn nhau trong đồng nghiệp. Tổ chức sinh hoạt, trao đổi sáng kiến kinh nghiệm. Cử GV có kinh nghiệm, năng lực chuyên môn vững giúp đỡ GV mới, GV ít kinh nghiệm; đề cao tinh thần giúp đỡ đồng nghiệp, giúp GV có ý thức tự 47 học hỏi, khiêm tốn, cố gắng vươn lên. Tạo điều kiện để GV được dự các lớp bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng thường xuyên. Cử đi học tại chức hoặc học tập trung đối với những GV có khả năng phát triển. . [6, tr.46, 47]
Đổi mới nhận thức của đội ngũ về yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng căn bản và toàn diện đáp ứng xu thế phát triển của thời đại. Đổi mới phương pháp dạy học trước hết là do yêu cầu đổi mới mục tiêu dạy học (đó là: dạy học theo hướng phát triển năng lực), đổi mới nội dung chương trình (chuyển từ dạy kiến thức sang phát triển năng lực) đòi hỏi phải đổi mới PPDH tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học. Như “phương pháp bàn tay nặn bột”, phương pháp dạy học theo mô hình trường tiểu học mới (VNEN)… cùng với một số kĩ thuật dạy học tích cực đó là kĩ thuật đặt câu hỏi, kĩ thuật khăn trải bàn, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật sơ đồ tư duy, kĩ thuật hỏi và trả lời, kĩ thuật trình bày một phút…
Đổi mới hình thức tổ chức dạy học cần chú ý cá biệt hóa quá trình học tập của học sinh bằng cách dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm trên lớp, tăng cường hình thức dạy học ngoài trời, khuyến khích tổ chức „„Học mà chơi, chơi mà học”, tham quan dã ngoại…
Hiệu trưởng phải có kế hoạch cụ thể quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh. Bởi lẽ kết quả học tập của học sinh một phần năng lực chuyên môn và sự quan tâm của giáo viên trong quá trình dạy học. Đồng thời phải quản lý việc nhận xét đánh giá của giáo viên đối với học sinh và kết quả giảng dạy của giáo viên, tránh kiểm tra qua loa, hình thức, không đưa ra hệ thống tiêu chuẩn để trên cơ sở ấy đánh giá. Hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo kế hoạch kiểm tra của giáo viên, yêu cầu chấm, nhận xét bài, trả bài, chữa bài kiểm tra theo đúng quy định của ngành giáo dục. [30, tr.22, 23]
Thành tựu của giáo dục Việt Nam giai đoạn 2011-2020 được xem xét toàn diện trên các khía cạnh như: thể chế và công tác quản lý; tiếp cận và công bằng, chất lượng, nhân lực ngành giáo dục; nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất; ứng dụng công nghệ thông tin; nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Nguyên nhân của những hạn chế của giáo dục giai đoạn 2011-2020 cũng được các đại biểu, chuyên gia phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm.
Dự thảo “Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045” đưa ra mục tiêu tổng quát về phát triển giáo dục đến năm 2030 là phát triển toàn diện con người Việt Nam; phát huy tối đa tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân, làm nền tảng cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, đất nước phồn vinh và hạnh phúc; xây dựng hệ thống giáo dục mở, phục vụ học tập suốt đời, công bằng và bình đẳng, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. [13]
Năm học 2024 – 2025, cùng với cả nước, ngành Giáo dục – Đào tạo sẽ tiếp tục tập trung thực hiện nhiệm vụ lớn được giao tại Nghị quyết, chủ trương lớn của Đảng, Quốc hội, Chính phủ để tiếp tục đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo với tinh thần đề cao kỷ cương, trách nhiệm, đổi mới, không ngừng nâng cao chất lượng, toàn ngành Giáo dục sẽ ra sức phấn đấu để hoàn thành tốt hơn và hoàn thành tốt nhất mục tiêu đề ra.
Ngành Giáo dục đồng thời, triển khai đổi mới Chương trình giáo dục; tăng cường tự chủ đại học theo hướng ngày càng chất lượng, chiều sâu, thực tế, thực chất. Cùng với đó, thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế của đất nước; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, các ngành công nghệ, kỹ thuật cao, trong đó có ngành vi mạch bán dẫn. Ban hành Kế hoạch hành động của ngành Giáo dục nhằm triển khai Chương trình hành động của Chính phủ một cách bài bản, khoa học, phù hợp với tinh thần thực tiễn, bảo đảm tính khả thi và hiệu quả. Hoàn thành Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Nêu cao tinh thần trách nhiệm, ghi nhận và cảm ơn nỗ lực vượt bậc của toàn thể đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên ngành Giáo dục đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng, Nhân dân, Chính phủ giao phó. [31]
1.1.2.2. Quản lý xây dựng chương trình và kế hoạch dạy học nhà trường
a) Xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường để chủ động, linh hoạt thực hiện và hoàn thành chương trình năm học
Sở GDĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức xây dựng kế hoạch giáo dục của nhà trường, kế hoạch dạy học các môn học, hoạt động giáo dục và kế hoạch bài dạy theo quy định2; bố trí thời gian thực hiện chương trình hiệu quả bảo đảm tính khoa học, sư phạm, không gây áp lực đối với học sinh; linh hoạt trong tổ chức thực hiện dạy học các môn học, hoạt động giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhà trường và đối tượng học sinh, bảo đảm cuối năm học học sinh đạt được yêu cầu cần đạt theo quy định của chương trình.
b) Thực hiện chương trình giáo dục phổ thông
*) Đối với lớp 1, lớp 2, lớp 3 và lớp 4
Sở GDĐT chỉ đạo các cơ sở giáo dục thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 đối với lớp 1, lớp 2, lớp 3 và lớp 4 theo các văn bản hướng dẫn chuyên môn về giáo dục tiểu học đã được Bộ GDĐT ban hành3, cụ thể:
– Bảo đảm tỷ lệ 01 phòng học/lớp, cơ sở vật chất, sĩ số học sinh/lớp theo quy định tại Điều lệ trường tiểu học; có đủ thiết bị dạy học tối thiểu theo quy định4; bảo đảm tỷ lệ 1,5 giáo viên/lớp và cơ cấu giáo viên để dạy đủ các môn học, hoạt động giáo dục và tổ chức dạy học hai buổi/ngày theo quy định.
– Thực hiện dạy học các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc5, các môn học tự chọn6 theo quy định của Chương trình giáo dục phổ thông 2018; tổ chức các hoạt động củng cố để học sinh hoàn thành nội dung học tập, các hoạt động giáo dục đáp ứng nhu cầu, sở thích, năng khiếu của học sinh; các hoạt động tìm hiểu tự nhiên, xã hội, văn hóa, lịch sử, truyền thống của địa phương.
– Tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết 35 phút; thực hiện kế hoạch dạy học tối thiểu 9 buổi/tuần với 32 tiết/tuần; kế hoạch giáo dục bảo đảm phân bổ hợp lí giữa các nội dung giáo dục, giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập, yêu cầu cần đạt của chương trình; tạo điều kiện cho học sinh được học tập các môn học tự chọn và tham gia các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tiểu học; thời khóa biểu cần được sắp xếp một cách khoa học, bảo đảm tỷ lệ hợp lí giữa các nội dung dạy học và hoạt động giáo dục, phân bổ hợp lí về thời lượng, thời điểm trong ngày học và tuần học phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi học sinh tiểu học.
– Đối với cơ sở giáo dục tiểu học chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày, trên cơ sở dạy học đúng, đủ nội dung và thời lượng các môn học bắt buộc theo quy định của chương trình, cơ sở giáo dục tiểu học chủ động xác định nội dung, lựa chọn hình thức tổ chức, phân bổ thời lượng phù hợp cho môn học tự chọn7, hoạt động củng cố và hoạt động giáo dục khác.
– Xây dựng kế hoạch tổ chức bán trú với nội dung, hình thức phù hợp điều kiện thực tế, có sự thống nhất, tự nguyện của học sinh, cha mẹ học sinh và theo các quy định, hướng dẫn của cơ quan quản lí; các hoạt động bán trú được tổ chức trong khoảng thời gian từ sau giờ học buổi sáng đến trước khi bắt đầu giờ học buổi chiều, thông qua hoạt động bán trú góp phần rèn luyện học sinh về kĩ năng sống, các năng lực, phẩm chất cần thiết, tính kỷ luật, tự phục vụ, trách nhiệm, chia sẻ, yêu thương; việc tổ chức hoạt động bán trú cần linh hoạt, có thể bao gồm các hoạt động: tổ chức ăn trưa, ngủ trưa, vui chơi, giải trí,…cho học sinh; tổ chức ăn trưa, bán trú phải bảo đảm các quy định về an toàn, vệ sinh thực phẩm, bảo đảm dinh dưỡng, sức khỏe cho học sinh.
– Tổ chức các hoạt động cho học sinh ngoài giờ học chính thức trong ngày là hoạt động theo nhu cầu, sở thích của học sinh trong khoảng thời gian từ sau giờ học chính thức cho đến thời điểm được cha mẹ học sinh đón về nhà; căn cứ vào nhu cầu, sở thích của học sinh, có thể tổ chức các hoạt động dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ hoặc sử dụng cơ sở vật chất của nhà trường (thư viện, sân chơi, bãi tập, nhà đa năng…) tạo điều kiện để học sinh vui chơi, giải trí; việc tổ chức hoạt động sau giờ học chính thức trong ngày dưới hình thức sinh hoạt câu lạc bộ cần được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
*) Đối với lớp 5
Trên cơ sở Chương trình giáo dục phổ thông 2006, các Sở GDĐT, Phòng GDĐT giao quyền chủ động cho các cơ sở giáo dục tiểu học xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục đối với lớp 5 theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh để đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông8, cụ thể:
– Thực hiện điều chỉnh nội dung dạy học một cách hợp lí nhằm đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giáo dục tiểu học, phù hợp với đối tượng học sinh các vùng miền, địa phương, đồng thời từng bước thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh trên nguyên tắc: bảo đảm yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng và phù hợp điều kiện thực tế; rà soát, tinh giản những nội dung chồng chéo, trùng lặp giữa các môn học, giữa các khối lớp trong cấp học và các nội dung chưa thực sự cấp thiết đối với học sinh tiểu học; sắp xếp, điều chỉnh nội dung dạy học theo các chủ đề học tập phù hợp với đối tượng học sinh; không cắt xén cơ học mà tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới cách thức tổ chức các hoạt động giáo dục sao cho nhẹ nhàng, tự nhiên, hiệu quả nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; tạo điều kiện cho học sinh được học tập các môn học tự chọn và tham gia các hoạt động giáo dục nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện ở tiểu học.
– Tổ chức dạy học cho học sinh lớp 5 để học sinh được chuẩn bị học lớp 6 theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018. Trong quá trình tổ chức thực hiện, cần chú trọng rèn luyện các kĩ năng và tạo tâm thế cho học sinh lớp 5 sẵn sàng học lớp 6.
1.1.2.3. Quản lý đổi mới phương pháp dạy học
DH là một khoa học đồng thời còn là một nghệ thuật. Nhà GD – người GV phải đáp ứng tốt mọi quan tâm của xã hội. Để làm được việc này, GV phải luôn chủ động, sáng tạo trong vai trò của mình.
Đổi mới PPDH là một yêu cầu cấp bách có tác dụng thiết thực để nâng cao chất lượng GD. Đổi mới PP là biết kết hợp các PP truyền thống và hiện đại, bằng nhiều cách khác nhau, CBQL cấp Phòng và cấp trường chỉ đạo đổi mới PPDH làm 45 phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình DH. Hoạt động DH không chỉ tập trung vào nội dung mà còn tập trung vào hình thành PP học tập, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh tri thức. GV và HS đều là chủ thể của hoạt động DH. Không nên nhồi nhét, áp đặt, truyền thụ kiến thức một chiều. [6, tr.45]
Việc đổi mới phương pháp dạy học đòi hỏi những điều kiện thích hợp về phương tiện, cơ sở vật chất và tổ chức dạy học, điều kiện về tổ chức, quản lý. Đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập tích hợp liên môn nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp.
Biểu đồ 1.1. Phương pháp dạy và học tích cực
Nguồn: Nghiên cứu độc lập của tác giả
Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin…), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy. Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện.
Bảng 1.1. Đánh giá thực hiện đổi mới phương pháp dạy học
| Giáo viên | Mức độ | ||
|---|---|---|---|
| Cao | Trung bình | Thấp | |
| Coi trọng việc tổ chức các hoạt động học tập của HS | |||
| Tạo điều kiện để HS tìm tòi và tự tiếp nhận tri thức | |||
| Tạo điều kiện để HS được hình thành các kĩ năng tư duy | |||
| Tạo điều kiện để HS được rèn luyện các kĩ năng sống | |||
| Phát huy được quan hệ hợp tác của HS với các bạn | |||
| Tạo điều kiện để HS được đánh giá | |||
Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo
Quá trình học tập được tổ chức trong một môi trường học tập tạo điều kiện cho học sinh kiến tạo tri thức theo cá nhân và trong mối tương tác xã hội của việc học tập. Các chủ đề dạy học phức hợp là những chủ đề có nội dung liên quan đến nhiều môn học hoặc lĩnh vực tri thức khác nhau, gắn với thực tiễn. Trong nhà trường, các môn học được phân theo các môn khoa học chuyên môn, còn cuộc sống thì luôn diễn ra trong những mối quan hệ phức hợp. Vì vậy sử dụng các chủ đề dạy học phức hợp góp phần khắc phục tình trạng xa rời thực tiễn của các môn khoa học chuyên môn, rèn luyện cho học sinh năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp, liên môn. [39]
1.1.2.4. Quản lý môi trường dạy học (con người, cơ sở vật chất)
Sự hợp tác, sự phối hợp của các thành viên và các tổ chức trong nhà trường
Để QL tốt hoạt động giảng dạy của GV, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân, giữa các tổ chức tập thể trong nhà trường để tạo nên sự thống nhất chung, tạo nên sức mạnh đoàn kết. Đó là đội ngũ CBQL cấp Phòng, cấp trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng TCM) tạo thành bộ máy QL hoàn chỉnh hoạt động có hiệu quả; coi trọng vai trò của TCM và Hội đồng sư phạm nhằm tạo sự chuyển biến về chất lượng công tác giảng dạy.
Điều kiện về số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh
Mục tiêu cuối cùng của công tác QL hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường là nhằm nâng cao chất lượng dạy của thầy, qua đó góp phần nâng cao chất lượng học của trò, mục tiêu này đạt tới ở mức độ nào phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ GV. Như vậy, có thể nói rằng: Số lượng và chất lượng của đội ngũ GV và HS là một trong những yếu tố quan trọng chi phối kết quả QL hoạt động DH trong nhà trường.
Phẩm chất, năng lực, trình độ quản lý của nhà quản lý
Nhà QL cấp Phòng và cấp trường muốn QL tốt hoạt động DH, trước hết phải là người có phẩm chất chính trị vững vàng, biết hy sinh cái riêng để cống hiến cho sự nghiệp GD; có đạo đức, tác phong mẫu mực, đi đầu trong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường; phải QL thuyết phục CB, GV trong nhà trường bằng năng lực của mình; phải nắm vững chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; phải hiểu rõ mục tiêu GD, các nguyên tắc tổ chức GD.
Nhà QL cấp Phòng và cấp trường phải là người có trình độ QL chắc chắn, vững vàng và có kinh nghiệm, có uy tín về chuyên môn, có uy tín với đồng nghiệp.
Trong công tác tổ chức thực tiễn, nhà QL cấp Phòng và cấp trường phải có tri thức cần thiết về khoa học tổ chức, đặc biệt phải biết QL con người. Chính vì vậy, lao động QL của nhà QL cấp Phòng và cấp trường vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật, linh hoạt, sáng tạo, mạnh dạn trong đổi mới. Trong quá trình QL, đòi hỏi nhà QL cấp Phòng và cấp trường không dừng ở các kinh nghiệm thực tiễn của bản thân mà mỗi nhà QL dù được ĐT như thế nào vẫn phải luôn tự bồi dưỡng để tiếp cận các thành tựu liên quan tới việc QL đối tượng của mình nhằm nâng cao chất lượng công việc QL nhà trường.
Trình độ chuyên môn của nhà QL
Trình độ chuyên môn của nhà QL cấp Phòng và cấp trường có ảnh hưởng sâu sắc tới chất lượng QL hoạt động DH trong nhà trường. Để QL tốt 51 hoạt động DH, nhà QL cấp Phòng và cấp trường phải có kiến thức sâu, toàn diện về các môn học, phải nắm vững PP giảng dạy, phải có kĩ năng phân tích, đánh giá chuyên môn của GV. Bởi vậy, nhà QL cấp Phòng và cấp trường phải tham gia đầy đủ các chuyên đề dành cho GV, để nắm bắt và chỉ đạo sát, đúng yêu cầu giảng dạy trong từng giai đoạn đổi mới GD.
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học
CSVC, trang TB phục vụ hoạt động DH được coi là điều kiện tiên quyết, điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng DH. Do đó, nó có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng của một giờ dạy và việc phục vụ mục tiêu GD con người phát triển toàn diện của nhà trường. QL hoạt động DH của GV cần quan tâm chỉ đạo tăng cường CSVC, đảm bảo những điều kiện vật chất tốt nhất cho hoạt động DH trong nhà trường. [6, tr.49, 50, 51]
Các yếu tố cơ bản của môi trường giáo dục gồm các quan hệ chuyên môn bên trong và bên ngoài nhà trường, các điều kiện vật chất, thiết bị phục vụ giảng dạy và nghiên cứu. Bản chất của việc tạo lập môi trường giáo dục hiện đại chính là thể hiện tinh thần dân chủ hoá nhà trường, kích thích sáng tạo, góp phần thực hiện cuộc vận động trường học thân thiện, học sinh tích cực, là điều kiện cơ bản để hiện thực hoá chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.
Thiết chế hoạt động (tổ chức, bộ máy, nhân sự), các quan hệ chuyên môn (đào tạo, hoạt động khoa học), các điều kiện vật chất (điều kiện đào tạo và nghiên cứu, môi trường công nghệ thông tin), các quan hệ với môi trường bên ngoài (thiết chế quản lí, tác động của KT-XH, KH-CN, văn hóa, môi trường sống), các giá trị (truyền thống, văn hoá, lịch sử, đổi mới sáng tạo, uy tín nhà trường…). Các thành phần đều tập trung vào quan hệ chính của hoạt động nhà trường là người dạy – người học.
Tạo sự chuyển biến thực chất về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; chú trọng các giải pháp đột phá về cơ chế, chính sách huy động nguồn lực, tạo động lực và môi trường cạnh tranh lành mạnh phát triển giáo dục đào tạo; nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, giảng viên; đầu tư cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm; đổi mới quản lí, chương trình và phương pháp đào tạo theo hướng hội nhập quốc tế. [19]
1.1.2.5. Quản lý kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học
a) Thực hiện linh hoạt các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học
Thực hiện linh hoạt phương pháp, hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; vận dụng phù hợp những thành tố tích cực của các mô hình, phương thức giáo dục tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đặc biệt là đổi mới tổ chức hoạt động giáo dục trên lớp học; tăng cường tổ chức thực hành trải nghiệm, tích hợp nội dung giáo dục địa phương, vận dụng kiến thức vào thực tế cuộc sống.
Tiếp tục áp dụng một cách phù hợp mô hình trường học mới; dạy học theo phương pháp Bàn tay nặn bột; dạy học Mĩ thuật theo phương pháp mới; đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá môn Tiếng Việt ở tiểu học; dạy học tích hợp các nội dung giáo dục ở cấp tiểu học linh hoạt với các hình thức tổ chức phù hợp theo kế hoạch giáo dục của nhà trường, trong đó quan tâm đến nội dung lồng ghép giáo dục quốc phòng và an ninh; chú trọng đổi mới nội dung và hình thức sinh hoạt chuyên môn thông qua hoạt động dự giờ, nghiên cứu bài học, tham khảo các bài giảng trên truyền hình, kho học liệu số dùng chung của Bộ GDĐT để nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên.
b) Thực hiện hiệu quả các phương pháp và hình thức đánh giá
Đối với học sinh lớp 5 tiếp tục được đánh giá theo quy định tại Thông tư số 30/2014/TT-BGDĐT và Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT33. Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4 được đánh giá theo quy định tại Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT34.
Thực hiện nghiêm túc bàn giao kết quả giáo dục cuối năm học, phù hợp với từng nhóm đối tượng, kiên quyết không để học sinh “ngồi nhầm lớp”; thực hiện khen thưởng học sinh thực chất, đúng quy định, tránh khen tràn lan gây bức xúc cho cha mẹ học sinh và dư luận xã hội.
Tiếp tục tổ chức tập huấn, hướng dẫn các giáo viên về hình thức tổ chức, phương pháp đánh giá thường xuyên; biên soạn đề và tổ chức thực hiện bài kiểm tra định kỳ cho các môn học theo Thông tư số 27/2020/TT-BGDĐT và Quyết định số 2904/QĐ-BGDĐT ngày 07/10/2022. [18]
c. Quản lý hoạt động kiểm tra – đánh giá giáo viên
Kiểm tra, đánh giá trong QL nhà trường là công việc không thể thiếu. Hoạt động này nhằm thu thập thông tin, tiếp nhận các dữ kiện, đánh giá kết quả hoạt động DH, đối chiếu với mục tiêu để có những quyết định tiếp theo trong quá trình điều hành hoạt động DH.
Khi kiểm tra, đánh giá GV sẽ có những thông tin giúp CBQL cấp Phòng và cấp trường nắm bắt đầy đủ hơn về hoạt động của GV. Để thực hiện tốt hoạt động này, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần chú ý: Triển khai các văn bản quy định, yêu cầu về việc kiểm tra, đánh giá GV; Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá GV trong nhà trường; Thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá GV: định kỳ, đột xuất,…; Thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá GV; Điều chỉnh và xử lý kịp thời những nội dung và thông tin sau kiểm tra, đánh giá. [6, tr.47]
d. Quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh theo mục tiêu phát triển năng lực
Xu hướng chung của thế giới hiện nay là chuyển từ hoạt động DH tập trung vào mục tiêu, nội dung chương trình sang tập trung vào việc tổ chức quá trình dạy và học, đánh giá để phát triển học tập, nhằm hình thành các năng lực khác nhau cho HS. QL đổi mới đánh giá kết quả học tập của HS theo mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực đòi hỏi GV phải biết cách tạo tình huống, tạo môi trường tương tác thân thiện tích cực, giúp mọi HS đều có cơ hội bày tỏ quan điểm cá nhân, tranh luận, phản biện… nhờ đó tích cực hóa HS, nuôi dưỡng hứng thú, tự tin của các em. Một giờ dạy thành công là HS kém, trung bình, đến HS khá, giỏi đều được kích hoạt, khám phá, trải nghiệm… và kết thúc một giờ học/bài học, mỗi HS đều thu nhận được ở góc độ của mình, đều tự biến đổi bản thân.
Bảng 1.2. Đánh giá làm việc theo Nhóm
| Tiêu chí | Thường xuyên | Thỉnh thoảng | Không bao giờ | |
| 1 | Đóng góp ý kiến trong nhóm | |||
| 2 | Động viên người khác tham gia | |||
| 3 | Thực hiện tốt nhiệm vụ | |||
| 4 | Hỗ trợ cho các thành viên trong nhóm | |||
| 5 | Lắng nghe ý kiến đóng góp | |||
| 6 | Bổ sung, hoàn chỉnh nhận thức |
Nguồn: Bộ giáo dục và đào tạo
QL đánh giá kết quả học tập của HS theo mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực tập trung theo các hướng sau: Sử dụng đa dạng các loại hình đánh giá, coi trọng đánh giá thường xuyên, định kì sau từng phần, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình giảng dạy và học tập; Chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lực suy ngẫm, tự QL phát triển bản thân, năng lực siêu nhận thức (nghĩ về cách suy nghĩ); Chuyển từ đánh giá một chiều (GV đánh giá), sang đánh giá đa chiều (không chỉ GV đánh giá mà HS cùng tham gia đánh giá – tự đánh giá); Tích hợp đánh giá vào quá trình DH, xem đánh giá là một PPDH. [6, tr.48, 49]
1.2.1. Văn bản pháp luật của Trung ương
Kết luận số 51-KL/TW ngày 30/5/2019 của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 Khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”.
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế”.
Luật Trẻ em ngày 05 tháng 4 năm 2016.
Luật Giáo dục năm 2019, thông qua ngày 14/6/2019.
Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ Quy định về môi trường GD an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường;
Nghị định số 127/2018/NĐ-CP ngày 21/9/2018 của Chính phủ quy định trách nhiệm quản lý nhà nước (QLNN) về GD.
Nghị định số 24/2021/NĐ-CP ngày 23/3/2021 của Chính phủ Quy định việc quản lý trong cơ sở giáo dục mầm non và CSGD PT công lập.
Quyết định số 163/QĐ-TTg ngày 25/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2016 – 2025.
Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 29/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL CSGD đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GDPT giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025”.
Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ GD&ĐT tạo ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường TH, trường THC, trường trung học phổ thông (THPT) và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục.
Thông tư số 55/2011/TT-BGDĐT ngày 22/11/2011 của Bộ GD&ĐT ban hành Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh.
Kế hoạch số 270/KH-BGDĐT ngày 02/5/2018 của Bộ GD&ĐT về đào tạo, bồi dưỡng GV CSGD PT thực hiện chương trình, sách giáo khoa GDPT mới.
Thông tư 17/2018/TT-BGDĐT ngày 22/8/2018 của Bộ GD&ĐT quy định về kiểm định chất lượng GD và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường TH.
Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GD&ĐT về Chương trình GDPT, bao gồm chương trình tổng thể (khung chương trình) và các chương trình môn học, hoạt động GD.
Văn bản số 1315/BGDĐT-GDTH ngày 16/4/2020 của Bộ GD&ĐT về hướng dẫn sinh hoạt chuyên môn thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học.
Thông tư 11/2020/TT-BGDĐT ngày 19/5/2020 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành qui chế thực hiện dân chủ trong hoạt động của nhà trường.
Quyết định số 1690/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2020 của Bộ GD&ĐT ban hành kế hoạch của ngành GD triển khai Quyết định số 628/QĐ-TTG ngày 11/5/2020 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch thực hiện Kết luận số 51-KL/TW của Ban Bí thư về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW 8 Khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.
Văn bản số 3089/BGDĐT-GDTrH ngày 14/8/2020 của Bộ GD&ĐT về việc triển khai thực hiện giáo dục STEM trong giáo dục trung học.
Thông tư 28/2020/TT-BGDĐT ngày 04/9/2020 của Bộ GD&ĐT về việc ban hành Điều lệ Trường TH.
Thông tư số 27/2020/TT-BGD ĐT ngày 04/9/2020 của Bộ GD&ĐT về đánh gia HS TH.
Công văn 2345/BGDĐT- GDTH ngày 07/6/2021 của Bộ GD&ĐT về việc Hướng dẫn xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường cấp TH.
Công văn số 3799/BGDĐT-GDTH ngày 01/9/2021 của Bộ GD&ĐT về việc thực hiện kế hoạch GD đối với lớp 5 đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT 2018.
Thông tư số 40/2021/TT-BGDĐT ngày 30/12/2021 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục.
Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT ngày 03/8/2022 của Bộ GD&ĐT sửa đổi, bổ sung một số nội dung trong Chương trình GDPT ban hành kèm theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ GDĐT.
Chỉ thị số 1112/CT-BGDĐT ngày 19/8/2022 của Bộ GD&ĐT về thực hiện nhiệm vụ năm học 2023 – 2024.
Thông tư số 08/2023/TT-BGDĐT ngày 14/4/2023 của Bộ GD&ĐT sửa đổi, bổ sung một số điều của các Thông tư số 01/2021/TT-BGDĐT, 02/2021/TT-BGDĐT, 03/2021/TT-BGDĐT, 04/2021/TT-BGDĐT ngày 02/02/2021 của Bộ GD&ĐT quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và bổ nhiệm, xếp lương viên chức giảng dạy trong các CSGD mầm non, phổ thông công lập.
Quyết định số 2001/QĐ-BGDĐT ngày 11/7/2023 của Bộ GD&ĐT ban hành chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên Tiểu học.
Công văn số 3819/BGDĐT-GDTH ngày 31/7/2023 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GD TH năm học 2023-2024.
Công văn số 909/BGDĐT-GDTH ngày 08/03/2023 của Bộ GD&ĐT về việc hướng dẫn tổ chức hoạt động giáo dục STEM trong GDTH.
1.2.2. Văn bản pháp luật của địa phương
Kế hoạch số 2736/KH-UBND ngày 17/4/2018 của UBND thành phố Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24/01/2018 của Chính phủ.
Nghị Quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Kế hoạch số 248/KH-LN ngày 02/5/2019 của Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu với Công ty Viettell Đà Nẵng kế hoạch liên ngành về việc tổ chức cuộc thi “Bài viết hay, hình ảnh đẹp trên Website”.
Công văn số 1413/SGDĐT-GDTH ngày 16/5/2019 của Sở GD&ĐT thành phố Đà Nẵng về việc Hướng dẫn tài liệu dạy học bậc Tiểu học
Đề án số 7/ĐA-UBND ngày 10/7/2020 của UBND quận Liên Chiểu về việc Dạy và học tiếng Nhật các cấp học quận Liên Chiểu giai đoạn 2020-2025 đối với học sinh khối 4 và khối 5.
Kế hoạch chuyển đổi số 253/KH-SGDĐT ngày 27/01/2021 của Sở GDĐT thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2021-2025.
Quyết định số 2870/QĐ-UBND ngày 28/8/2021 của UBND thành phố về việc ban hành Đề án Chuyển đổi số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Công văn số 434 /PGDĐT-TH ngày 21/6/2022 của Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu đánh giá tình hình triển khai nhiệm vụ GDTH năm học 2021-2022.
Kế hoạch số 142/KH-UBND ngày 28/7/2022 về phát triển kinh tế số và xã hội số trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đến năm 2025.
Công văn số 625/PGDĐT-TH ngày 8/9/2022 của Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu về hướng dẫn nhiệm vụ năm học 2022-2023.
Kế hoạch số 665/KH-PGDĐT ngày 19/9/2022 của Phòng GD&ĐT quận Liên Chiểu về Công tác trọng tâm năm học 2022-2023.
Nghị quyết số 46/2023/NQ-HĐND ngày 19/7/2023 của HĐND thành phố Đà Nẵng Quy định mức thu học phí GDMN, GDPT công lập năm học 2023-2024 trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Quyết định số 1651/QĐ-UBND ngày 08/8/2023 của UBND thành phố Đà Nẵng về việc công bố bộ thủ tục hành chính lĩnh vực GD&ĐT thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND phường, xã, quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Quyết định 435/QĐ-UBND ngày 05/3/2024 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành Bộ Tiêu chí lựa chọn sách giáo khoa phù hợp CSGD PT trên địa bàn thành phố Đà Nẵng….
Sau hơn 8 năm thực hiện chủ trương đổi mới, giáo dục đại học ở Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng khích lệ. Trước hết, Việt Nam đã từng bước thể chế hóa các quan điểm, nội dung của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới giáo dục thành chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cụ thể, trong hai năm 2018 và 2019, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục Đại học (năm 2018) và Luật Giáo dục (năm 2019) do Bộ Giáo dục và Đào tạo soạn thảo đã được Quốc hội thông qua và từng bước đi vào cuộc sống, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động đổi mới giáo dục.
Sự thăng tiến về thứ hạng của các trường đại học đi đôi với sự tăng cường về chất lượng của đội ngũ giảng viên theo chuẩn quốc tế. Nếu như trước đây, việc công nhận học hàm giáo sư, phó giáo sư và học vị tiến sĩ không bắt buộc phải có bài báo công bố quốc tế thì từ năm 2018, quy chế mới đòi hỏi ứng viên phải có công bố quốc tế nằm trong danh mục các tạp chí có uy tín như ISI hoặc Scopus… Năm 2019, tổng số bài báo khoa học của Việt Nam được công bố trên hệ thống ISI/ Scopus là 12.475 bài, đứng thứ 49 trên thế giới (tăng 2,7 lần so với năm 2015). Tính đến năm 2020, tỷ lệ giảng viên có chức danh giáo sư, phó giáo sư trong toàn bộ hệ thống giáo dục Việt Nam là 6%, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 22,7%. Việc ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số từng bước được triển khai phục vụ cho công tác dạy và học. Năm học 2020 – 2021, trong điều kiện dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, khó lường, tất cả các trường đại học đã tiến hành dạy trực tuyến, nhờ đó, việc dạy và học vẫn được bảo đảm chất lượng và kết thúc đúng thời hạn. [37]
Học tập tích cực có liên quan đến các phương pháp dạy học giúp người học tham gia chủ động vào quá trình kiến tạo tri thức, bao gồm phương pháp học tập lấy người học làm trung tâm; học tập dựa trên vấn đề; học tập thông qua trải nghiệm. Mỗi người thầy dù bất cứ thời điểm nào cũng không ngừng làm mới bản thân, đổi mới sáng tạo trong các phương pháp giảng dạy để tạo sân chơi tích cực cho sinh viên. Năm 2020, Viện Đảm bảo Chất lượng đã đưa ra nhiều công cụ hỗ trợ thầy cô nhằm tổ chức các hoạt động dạy học thúc đẩy việc học tập tích cực cho người học. Mỗi hoạt động dạy học như một gợi nhớ truyền cảm hứng cho người học như: kỹ thuật chuyền găng tay, mảnh giấy ghi chú, suy nghĩ một phút, tranh luận có cấu trúc, dấu chấm dính, xếp hàng xin chữ ký, động não tích lũy, làm việc theo cặp…
Theo một khảo sát do Viện Đảm bảo Chất lượng thực hiện, 4 từ khóa được giảng viên ĐHQGHN sử dụng nhiều nhất khi nói về đổi mới giảng dạy là: truyền cảm hứng, đồng hành, định hướng, hỗ trợ sinh viên. Có thể nói, đây là cách nhìn nhận rất phù hợp với bối cảnh và cho thấy giảng viên ĐHQGHN đã và đang sẵn sàng cho những đổi mới, những sáng tạo không ngừng trong hoạt động đào tạo. [25]
Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về xây dựng nền giáo dục thực học, thực nghiệp và dân chủ trên các bình diện mục tiêu: hình thành, phát triển năng lực thực tiễn cho người học, quán triệt yêu cầu hướng nghiệp để thực hiện phân luồng mạnh sau trung học cơ sở và bảo đảm tiếp cận nghề nghiệp ở trung học phổ thông; trao quyền và trách nhiệm tổ chức kế hoạch dạy học cho cơ sở giáo dục phù hợp với yêu cầu của địa phương, tạo điều kiện cho người học được lựa chọn môn học và hoạt động giáo dục phù hợp sở trường và nguyện vọng; phát huy tính năng động, tư duy độc lập và sáng tạo của người học.
Thiết nghĩ, giải pháp quan trọng để thực hiện các mục tiêu trên là sự vận hành tương tác đồng bộ của các thành tố trong các phương pháp dạy học tích cực (người dạy – người học – học liệu – môi trường,…), khắc phục nhược điểm của phương pháp truyền thụ áp đặt một chiều; đồng thời kết hợp hài hoà giữa dạy kiến thức công cụ với kiến thức phương pháp, đặc biệt chú trọng dạy cách học, phương pháp tự học để người học có thể học tập suốt đời – điều mà Giáo sư John Vũ – một người Mỹ gốc Việt có những đóng góp rất đặc biệt trong lĩnh vực GDĐT đối với thế hệ trẻ – một nhà khoa học nổi tiếng ở nước Mỹ và trong Top 10 những người sáng tạo nhất thế giới do Bill Gates và Steve Jobs đứng đầu – đã khẳng định trong công trình “Giáo dục trong thời đại tri thức” (NXB Lao động, 2015): “Khái niệm cũ rằng giáo dục chỉ kéo dài 12 hay 16 năm trong giáo dục chính thức, kiểu đọc bài giảng đã lạc hậu rồi. Khái niệm mới phải giúp mọi người, không chỉ trong tuổi thanh niên của họ, mà trong toàn thể cuộc đời họ, tiếp tục học và thành công trong thế giới đang thay đổi”. Từ ưu thế của các phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức dạy học mới đã triển khai trong những năm gần đây như: phương pháp bàn tay nặn bột, giáo dục trải nghiệm sáng tạo, giáo dục STEM,… việc đổi mới phương pháp dạy học cần được thực hiện trên cơ sở phân hoá đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học để từ đó lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong tổ chức dạy học thông qua việc sử dụng các mô hình học tập kết hợp giữa lớp học truyền thống với các lớp học trực tuyến; cùng với việc tổ chức cho người học thực hiện các nhiệm vụ học tập ở trên lớp, coi trọng giao nhiệm vụ và hướng dẫn việc học tập ở nhà, ở ngoài nhà trường; đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học; tăng cường mô hình học tập gắn với thực tiễn, xây dựng và sử dụng tủ sách lớp học, phát triển văn hóa đọc gắn với hoạt động của các câu lạc bộ khoa học trong nhà trường; tăng cường hoạt động giao lưu, hợp tác nhằm thúc đẩy hứng thú học tập, rèn luyện kĩ năng sống, nâng cao hiểu biết về các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa thế giới… Giáo viên tổ chức, hướng dẫn hoạt động, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia các hoạt động học tập, tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kĩ năng đã tích luỹ được để “phát triển con người toàn diện ở nền công nghiệp 4.0”. [28]
Từ thực tiễn phân tích các nội dung trên cho thấy, công tác quản lý đổi mới dạy học là hết sức cần thiết. Đồng thời hiện nay trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng chưa có công trình nghiên cứu quản lý đổi mới dạy học ở Trường TH. Chính vì vậy, chính quyền địa phương, ngành giáo dục hoàn thiện xây dựng cơ chế chính sách quản lý đổi mới DH; cần nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ số quản lý hồ sơ, học bạ điện tử và tuyển sinh trực tuyến; chỉ đạo triển khai việc nâng cao chất lượng giáo dục, phân công chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trên cơ sở dữ liệu ngành GDĐT, góp phần nâng cao chất lượng GDĐT trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng trong năm học 2024 và những năm tiếp theo.
Chương 1 đã tập trung nghiên cứu một số khái niệm liên quan đến đề tài; hệ thống hóa lý luận quản lý hoạt động dạy học ở Trường Tiểu học, tổng hợp các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương, đồng thời phân tích cơ sở pháp lý. Qua đó cho thấy hoạt động dạy học có vai trò hết sức quan trọng, cần được sự đồng lòng của các cấp, các ngành, CBQL, đội ngũ GV, HS và mọi tầng lớp nhân dân tại các địa phương, để xây dựng chương trình và kế hoạch dạy học, đổi mới phương pháp dạy học, triển khai thực hiện hoạt động giáo dục, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học, góp nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, hiệu quả QLGD HĐDH ở các địa phương. Tuy nhiên để thực hiện được nhiệm vụ đó, cần có sự thống nhất, đồng bộ, sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, ngành giáo dục, Ban giám hiệu nhà trường trong việc xây dựng cơ chế, chính sách Quản lý, triển khai các HĐDH. Đây là những cơ sở để làm rõ hơn thực trạng nội dung được nghiên cứu tại Chương 2.
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở
TRƯỜNG TIỂU HỌC VÕ THỊ SÁU, QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục – đào tạo Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội Quận Liên Chiểu
Nằm ở vị trí có nhiều đầu mối giao thông quan trọng (quốc lộ 1A, đường sắt Bắc Nam, gần sân bay quốc tế Đà Nẵng và tương lai sẽ có cảng nước sâu Liên Chiểu) thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế. Quận Liên Chiểu là địa bàn tập trung nhiều trường đại học, trung học chuyên nghiệp và cơ sở dạy nghề là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nguồn nhân lực của quận.
Kinh tế không ngừng tăng trưởng cả về số lượng lẫn quy mô đầu tư. Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tăng 30 lần; tổng thu ngân sách nhà nước 690 tỷ đồng, tăng hơn 111 lần so với năm 1997 khi mới thành lập quận. Số doanh nghiệp do quận quản lý hiện nay là 3.068 doanh nghiệp, tăng 2,2 lần so với đầu nhiệm kỳ, tăng hơn 88 lần so với thời điểm thành lập quận. Năm 2023 đã đạt con số hơn 712 tỷ đồng; tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 7.024 tỷ đồng, tăng 14% so với năm 2022. Hiện nay, trên địa bàn quận có hơn 2.600 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó đáng chú ý có hơn 2.400 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 10 đến dưới 50 tỷ đồng; 18 doanh nghiệp có quy mô vốn từ 500 tỷ đồng trở lên. Dự án đầu tư xây dựng cảng biển Liên Chiểu với tổng mức đầu tư hơn 3.400 tỷ đồng. Đây là cảng biển đặc biệt của cả nước, dự kiến năm 2030 đạt 100 triệu tấn/năm, đến năm 2045 lên đến 200 triệu tấn/năm. [41, tr.1]
Diện mạo đô thị của quận được hình thành nhanh chóng, kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội ngày càng được hoàn thiện theo hướng hiện đại, không gian đô thị không ngừng được mở rộng, khớp nối 633 tuyến đường với quy hoạch chung của thành phố với tổng chiều dài 134,4km, công tác chỉnh trang, đô thị hoá diễn ra nhanh, nhiều dự án lớn của Thành phố và Trung ương đã và đang triển khai trên địa bàn làm cho công tác quy hoạch, chỉnh trang đô thị được thực hiện đều khắp và đồng bộ, tạo ra diện mạo đô thị trẻ ngày càng sầm uất, hấp dẫn. Đây là những điều kiện thuận lợi để Liên Chiểu bứt phá, tạo động lực để du lịch phía tây bắc thành phố phát triển.
Chính quyền địa phương Quận Liên Chiểu tiếp tục cùng với thành phố Đà Nẵng nói chung sẽ bắt tay vào thực hiện Nghị quyết số 43-NQ/TW, ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Cùng với định hướng phát triển theo tinh thần Kết luận 24-KL/TU của Ban Thường vụ Thành ủy “tiếp tục xây dựng và phát triển Liên Chiểu trở thành đô thị lớn phía Tây Bắc của thành phố, là trọng điểm phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch; đầu mối giao thông quan trọng; một trong những trung tâm giáo dục – đào tạo, trung tâm y tế, là địa bàn giữ vị trí chiến lược quan trọng về quốc phòng, an ninh”.
Nhiệm kỳ 2020-2025, Đảng bộ quận Liên Chiểu quyết tâm thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao hiệu quả, hiệu lực của chính quyền các cấp. Tập trung giải quyết các vấn đề bất cập, tồn tại về quy hoạch, khớp nối hạ tầng đô thị, môi trường, đất đai. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý. Khai thác tối đa tiềm năng, động lực mới; huy động hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế nhanh, bền vững… [42, tr.3]
D:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\TAI LIEU C YEN-2024\DE AN 2024\SAU BAO VE\Đề án quản lý hoạt động dạy học tại Trường Tiểu học Võ Thị Sáu, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

