Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn

Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

1. Tính cấp thiết của đề tài

Bình Sơn là một huyện đồng bằng ven biển, cửa ngõ phía bắc tỉnh Quảng Ngãi. Phía đông giáp biển Đông; phía tây giáp huyện Trà Bồng; phía nam giáp huyện Sơn Tịnh; phía bắc giáp huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam); có Quốc lộ 1 và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Diện tích: 466,77km2. Dân số: 187.720 người. Mật độ dân số: 406 người/km2.

Huyện Bình Sơn có bờ biển dài 54km và chính là đoạn bờ biển khúc khuỷu nhất trong tỉnh Quảng Ngãi với nhiều mũi đất và vũng vịnh, có các cửa biển Sa Cần, vũng Quýt (Dung Quất). Ngày nay, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nằm trong vùng kinh tế trọng điểm miền trung được Chính phủ chọn khu vực Dung Quất để xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên của cả nước, Nhà máy lọc dầu Dung Quất đã đi vào hoạt động và hiện nay đang trong quá trình hình thành khu kinh tế Dung Quất nối liền với khu kinh tế mở Chu Lai. Du lịch là một ngành kinh tế phát triển nhanh và hiện nay là một trong những ngành kinh tế quan trọng của thế giới. Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước đã xác định “Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng, và xã hội hóa cao”(Pháp lệnh Du lịch 1999) và đề ra mục tiêu “Phát triển du lịch thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”.

Du lịch đã được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Bình Sơn, việc đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch của Bình Sơn là việc làm cấp thiết. Hơn thế nữa, du lịch không chỉ đơn thuần là một hoạt động kinh tế, nó còn mang nội dung nhân văn và xã hội sâu sắc, có thể thông qua hoạt động du lịch để tuyên truyền kiến thức, giáo dục truyền thống và góp phần nâng cao dân trí, tuyên truyền những chiến tích của địa phương cho cả nước và thế giới biết đến. Hiện nay, du lịch đang đứng trước những cơ hội nhưng cũng gặp không ít thách thức. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng ngành du lịch trong thời gian qua để có cơ sở xây dựng chiến lược phát triển, đa ngành du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội là một yêu cầu thực tế. Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên chọn đề tài “Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” để làm đề tài luận văn cao học chuyên ngành chính sách công.

2. Tình hình nghiên cứu của đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài, vận dụng lý thuyết chính sách công, quy trình của một chính sách công để rõ hơn giữa lý thuyết và thực tiễn từ chính sách phát triển du lịch bền vững, tìm ra những bất cập của chính sách phát triển du lịch bền vững hiện nay.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và chính sách phát triển du lịch bền vững. Nghiên cứu thực trạng thực hiện các chính sách phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Nghiên cứu để hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận về chính sách phát triển du lịch bền vững, các khái niệm liên quan đến phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững. Nghiên cứu và phân tích thực trạng phát triển du lịch, phát triển du lịch bền vững của huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng ngãi từ quan điểm, chính sách đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên du lịch của huyện và thực trạng triển khai hoạt động du lịch theo định hướng phát triển bền vững.

4.2. Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu tình hình thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi và nghiên cứu thực trạng ngành du lịch tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2011 đến năm 2014.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

           5.1.Cách tiếp cận nghiên cứu

Luận văn vận dụng cách tiếp cận trực tiếp ngành du lịch và vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là cách tiếp cận quy phạm chính sách công về chu trình chính sách từ hoạch định đến xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách công có sự tham gia của các chủ thể chính sách.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thu thập ý kiến chuyên gia: Phương pháp này mục đích lấy các ý kiến của các cá nhân lãnh đạo, phụ trách các ban, ngành, cơ quan chuyên môn ở địa phương liên quan đến chỉ đạo, thực hiện và giám sát chính sách phát triển du lịch. Phương pháp nghiên cứu, phân tích tài liệu thứ cấp: phân tích và tổng hợp, được sử dụng để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các nguồn có sẵn liên quan đến đề tài nghiên cứu. Phương pháp xử lý số liệu: Sử dụng phương pháp thống kê đơn giản và phương pháp nghiên cứu liên ngành với khoa học chính sách công.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Đề tài này có ý nghĩa về mặt lý luận, người học nghiên cứu, hiểu biết, bổ sung kiến thức lý thuyết về chính sách phát triển du lịch ở Việt Nam.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài, trước hết là góp phần nâng cao nhận thức đối với các đồng chí lãnh đạo chính quyền, các hội đoàn thể các cấp từ tỉnh, huyện đến cơ sở hiểu rõ hơn tầm quan trọng trong trong việc vận dụng các lý thuyết về phương pháp phân tích, đánh giá chính sách công.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và chính sách phát triển du lịch bền vững

Chương 2: Thực tiễn thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3. Hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG

1.1. Những vấn đề lý luận về chính sách phát triển du lịch bền vững

1.1.1. Quan niệm về chính sách phát triển bền vững

Phát triển bền vững là sự tương tác qua lại và phụ thuộc lẫn nhau của 3 yếu tố, đó là kinh tế, xã hội và môi trường, mỗi góc độ nghiên cứu cho ta thấy rằng không thể ưu tiên phát triển yếu tố nào mà phải đồng thời phát triển song song của 3 yếu tố trên, vì nếu ta ưu tiên phát triển yếu tố này thì sẽ làm ảnh hưởng và suy giảm yếu tố khác.

Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam không phủ nhận, thay thế những chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đã ban hành mà nó là bộ khung cho các bộ, ngành, địa phương, các tổ chức, cá nhân có liên quan triển khai thực hiện cũng nhủ trong quá trình ban hành các quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội nhằm kết hợp hài hòa, hợp lý giữa phát triển kinh tế, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Du lịch là một trong những công nghệ tạo nhiều lợi tức nhất cho đất nước. Du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta đạt các Mục Tiêu Phát triển Thiên niên kỷ mà Liên Hợp Quốc đã đề ra từ năm 2000, đặc biệt là các mục tiêu xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới tính, bền vững môi trường và liên doanh quốc tế để phát triển.

Phát triển du lịch bền vững là một chủ đề được thảo luận rất nhiều ở các hội nghị và diễn đàn lớn nhỏ trên toàn thế giới. Mục đích chính của phát triển bền vững là để 3 trụ cột của du lịch bền vững – Môi trường, Văn hóa xã hội và Kinh tế – được phát triển một cách đồng đều và hài hòa. Chính vì vậy mà du lịch bền vững là một phần quan trọng của phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc và của Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư).

Những lí do đi sâu vào chi tiết để giải thích tại sao lại cần phát triển du lịch bền vững thì có nhiều, nhưng có thể thấy rất rõ ở 3 yếu tố:

Thứ nhất: Phát triển du lịch bền vững giúp bảo vệ môi trường sống. Vì bảo vệ môi trường sống không chỉ đơn giản là bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm sống trong môi trường đó, mà nhờ có việc bảo vệ môi trường sống mà con người được hưởng lợi từ đó: Không bị nhiễm độc nguồn nước, không khí và đất.

Thứ hai: Phát triển du lịch bền vững còn giúp phát triển kinh tế, ví dụ, từ việc khai thác các đặc sản văn hóa của vùng, người dân trong vùng có thể nâng cao đời sống nhờ khách du lịch đến thăm quan, sử dụng những dịch vụ du lịch  và sản phẩm đặc trưng của vùng miền, của vùng.

Thứ ba: Phát triển du lịch bền vững còn đảm bảo các vấn đề về xã hội, như việc giảm bớt các tệ nạn xã hội bằng việc cung cấp công ăn việc làm cho người dân trong vùng.

1.1.2. Nội dung của chính sách phát triển du lịch bền vững

1.1.2.1. Khái niệm về du lịch

Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một hiện tượng kinh tế xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay không chỉ ở nước ta nhận thức về nội dung du lịch vẫn chưa thống nhất. Do hoàn cảnh (thời gian, khu vực) khác nhau, dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau mỗi người có một cách hiểu về du lịch khác nhau.

Năm 1963, với mục đích quốc tế hoá, tại Hội nghị Liên hợp quốc về du lịch họp ở Roma, các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch như sau: Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình.

Khác với quan điểm trên, các học giả biên soạn Từ điển Bách Khoa toàn thư Việt Nam đã tách hai nội dung cơ bản của du lịch thành hai phần riêng biệt.

  Nghĩa thứ nhất (đứng trên góc độ mục đích của chuyến đi): Du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hoá, nghệ thuật, …

  Nghĩa thứ hai (đứng trên góc độ kinh tế): Du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hoá dân tộc, từ đó góp phần tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình.

 Việc phân định rõ ràng hai nội dung cơ bản của khái niệm có ý nghĩa góp phần thúc đẩy sự phát triển du lịch. Cho đến nay, không ít người, thậm chí ngay cả các cán bộ, nhân viên đang làm việc trong ngành du lịch, chỉ cho rằng du lịch là một ngành kinh tế. Do đó, mục tiêu được quan tâm hàng đầu là mang lại hiệu quả kinh tế. Điều đó cũng có thể đồng nghĩa với việc tận dụng triệt để mọi nguồn tài nguyên, mọi cơ hội để kinh doanh.

Theo Pháp lệnh du lịch (do chủ tịch nước CHXNCN Việt Nam công bố ngày 20/02/1999): Du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thoả mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định.

Vậy, có thể nói rằng: Du lịch là một dạng hoạt động đặc thù, gồm nhiều thành phần tham gia, tạo thành một tổng thể hết sức phức tạp. Hoạt động du lịch vừa có đặc điểm của ngành kinh tế, lại có đặc điểm của ngành kinh tế – xã hội.

1.1.2.2. Khái niệm phát triển du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là du lịch giảm thiểu các chi phí và nâng cao tối đa các lợi ích của du lịch cho môi trường thiên nhiên và cộng đồng địa phương, và có thể được thực hiện lâu dài nhưng không ảnh hưởng xấu đến nguồn sinh thái mà  du lịch phụ thuộc vào.

Muốn phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo bảo vệ tốt về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên.

Nếu phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo giữ được văn minh xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn di sản văn hóa và các giá trị truyền thống  đã được xây dựng, đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.

Phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp những lợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cách công bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định và các dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đói giảm nghèo.

Khái niệm phát triển du lịch bền vững không chỉ tập trung vào việc bảo vệ môi trường mà còn tập trung vào việc duy trì những văn hóa của địa phương và đảm bảo việc phát triển kinh tế, mang lại lợi ích công bằng cho các nhóm đối tượng tham gia.

Phát triển phải gắn liền với bảo tồn tính đa dạng. Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương. Phát huy trách nhiệm trong việc cung cấp thông tin cho du khách đầy đủ để nâng cao sự tôn trọng của du khách đến môi trường tự nhiên, xã hội và văn hóa. Đồng thời, triển khai các hoạt động nghiên cứu nhằm đưa ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan.

1.1.2.3. Chính sách phát triển du lịch bền vững

Nằm trong chiến lược phát triển bền vững, phát triển du lịch bền vững phải tuân thủ nguyên tắc chung của phát triển bền vững. Hội đồng du lịch và lữ hành quốc tế đã có định nghĩa như sau: “Du lịch bền vững là việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách mà vẫn đảm bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho thế hệ du lịch trong tương lai”. Trên cơ sở quan điểm đó, các nước trên thế giới đã từng bước hoạch định chính sách phát triển du lịch và phát triển du lịch bền vững của quốc gia mình. Như trên đã nói, chương trình Nghị sự 21 quốc tế đã bàn đến các trụ cột phát triển bền vững và Việt Nam cũng đã phê duyệt chiến lược phát triển bền vững các giai đoạn 2001-2010, 2010-2020. Riêng về du lịch, năm 2005, Chính phủ đã ban hành Luật Du lịch, trong đó, có nội dung về phát triển du lịch bền vững. Điều 5 của bộ Luật này bàn về “Nguyên tắc phát triển du lịch”, trong đó nêu rõ: Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch.

1.1.2.4. Các tiêu chí phát triển du lịch bền vững

– Tiêu chí về kinh tế

Tích cực ủng hộ các sáng kiến phát triển cơ sở hạ tầng xã hội và phát triển cộng đồng như xây dựng công trình giáo dục, y tế và hệ thống thoát nước. Sử dụng lao động địa phương, có thể tổ chức đào tạo nếu cần thiết, kể cả đối với vị trí quản lý.

Các dịch vụ và hàng hóa địa phương nên được doanh nghiệp bày bán rộng rãi ở bất kỳ nơi nào có thể. Cung cấp phương tiện cho các doanh nghiệp nhỏ tại địa phương để phát triển và kinh doanh các sản phẩm bền vững đựa trên đặc thù về thiên nhiên, lịch sử và văn hóa địa phương (bao gồm thức ăn, nước uống, sản phẩm thủ công, nghệ thuật biểu diễn và các mặt hàng nông sản).

Chỉ số về khách: Trên quan điểm phát triển du lịch thông thường chỉ quan tâm đến chỉ số về lượng khách. Nhưng khi trên quan điểm phát triển du lịch bền vững thì chỉ số về ngày lưu trú, mức độ hài lòng của khách, tỷ lệ quay lại một quốc gia, một vùng, một địa điểm du lịch nào đó của khách được quan tâm và đánh giá cao hơn.

Chất lượng nguồn nhân lực: Chất lượng nguồn nhân lực cũng là yếu tố quan trọng có ý nghĩa đối với sự phát triển. Đây là nhân tố quan trọng quyết định đến chất lượng sản phẩm du lịch. Chính vì vây, mức độ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được coi là một trong những dấu hiệu quan trọng để nhận biết sự phát triển bền vững của du lịch.

– Tiêu chí về xã hội

Tuân thủ các hướng dẫn và quy định về hành vi ứng xử khi tham quan các điểm văn hóa hay lịch sử, nhằm giảm nhẹ các tác động từ du khách. Đồ tạo tác khảo cổ hay lịch sử không được phép mua bán hay trưng bày, trừ khi được pháp luật cho phép.

Có trách nhiệm đóng góp cho công tác bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa, khảo cổ và các tài sản có ý nghĩa quan trọng về tinh thần, tuyệt đối không cản trở việc tiếp xúc của cư dân địa phương. Tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng địa phương khi sử dụng nghệ thuật, kiến trúc hay các di sản văn hóa của địa phương trong hoạt động kinh doanh, thiết kế, trang trí, ẩm thực.

– Tiêu chí về tài nguyên môi trường

Để kiểm soát tác động của hoạt động du lịch đến tài nguyên và môi trường sinh thái, cần đánh giá hiệu quả khai thác tài nguyên phục vụ cho du lịch và tác động của nó lên môi trường sống như thế nào. Một số tiêu chí cần xem xét để đảm bảo kiểm soát được tình trạng khẩn cấp của môi trường, tự nhiên và có biện pháp điều chỉnh xử lý kịp thời .

1.1.2.5. Các nguyên tắc trong chính sách phát triển du lịch bền vững

Du lịch có trách nhiệm cung cấp một phương pháp tiếp cận mang tính chiến lược và toàn diện cho sự phát triển du lịch bền vững, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của các bên liên quan đóng góp vào việc xây dựng và duy trì một ngành kinh tế có tính cạnh tranh, năng động, có hiệu quả và bền vững với tiềm năng đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương.

Du lịch có trách nhiệm cung cấp một phương pháp tiếp cận mang tính chiến lược và toàn diện cho sự phát triển du lịch bền vững, trong đó nhấn mạnh vai trò quan trọng của các bên liên quan đóng góp vào việc xây dựng và duy trì một ngành kinh tế có tính cạnh tranh, năng động, có hiệu quả và bền vững với tiềm năng đóng góp to lớn vào sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương.

1.2. Chính sách phát triển du lịch bền vững hiện nay ở nước ta

Sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch Việt Nam đã mang lại những thành tựu quan trọng trong lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và đưa Việt Nam trở thành một điểm du lịch quan trọng được nhiều du khách quốc tế biết đến. Cùng với đà tăng trưởng nhanh chóng và những kết quả đạt được, tầm quan trọng của sự phát triển bền vững của ngành được ghi nhận là yếu tố cần thiết để mang lại sự thành công cũng như các lợi ích trong tương lai. Trong khi phát triển du lịch bền vững là định hướng bao trùm trong chính sách của nhà nước hiện nay, thì việc đưa các nguyên tắc phát triển du lịch có trách nhiệm vào hành động là con đường để đạt được các mục tiêu phát triển bền vững.

Vai trò chung của Nhà nước trong phát triển du lịch là đảm bảo cho ngành du lịch hoạt động hiệu quả, phù hợp với mục tiêu phát triển chung. Trong vai trò này, Nhà nước có trách nhiệm lập kế hoạch và quản lý ngành, hỗ trợ thu hút sự tham gia của các bên liên quan một cách hiệu quả, thu thập và quản lý thông tin du lịch và tham gia tiếp thị marketing điểm đến. Phát triển du lịch có trách nhiệm phải là một ưu tiên của ngành du lịch và cần được quản lý một cách phù hợp nhằm có những đóng góp đáng kể vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước nhưng vẫn tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi và có tính cạnh tranh cao.

1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chính sách phát triển du lịch bền vững

1.3.1. Nhân tố con người

Nhân tố con người bao gồm những chủ thể tác động cụ thể, trực tiếp đến chính sách phát triển du lịch bền vững, đó là:

Lãnh đạo các cấp chính quyền: Là người có vai trò trong việc hoạch định, xây dựng chính sách. Kiểm tra giám sát việc thực hiện chính sách, phân bổ nguồn lực: tuyên truyền quảng bá du lịch, đảm bảo công tác an ninh tạo sự an toàn cho du khách, đội ngũ nhân viên làm việc trong ngành du lịch và du khách. . . có tác động rất lớn đến việc đánh giá thực trạng phát triển du lịch.

Các nhà quản lý và kinh doanh du lịch: Các nhà quản lý và kinh doanh du lịch là chủ thể quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển du lịch bền vững.

Cộng đồng dân cư: Mục tiêu của du lịch bền vững là vì sự phát triển của cộng đồng, đem lại lợi ích cho công cộng và phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng.

1.3.2. Cơ sở vật chất và các dịch vụ hỗ trợ khác

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của du khách, quyết định mức độ hài lòng của du khách đối với hoạt động du lịch của địa phương.

1.3.3. Trình độ công nghệ và khả năng ứng dụng

Công nghệ lựa chọn ứng dụng trong phát triển du lịch có đảm bảo hài hòa, thân thiện và gắn với môi trường, phù hợp với văn hóa hay không ảnh hưởng đến phát triển du lịch bền vững. Nếu công nghệ ứng dụng hiện đại, khoa học nhưng không tương thích với yếu tố môi trương, không phù hợp với điểm du lịch thì có thể phá vỡ không gian môi trường dẫn đến du lịch phát triển không bền vững.

1.4. Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính phát triển du lịch bền vững trên thế giới, trong nước và bài học kinh nghiệm cho huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

1.4.1. Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững trên thế giới

1.4.1.1. Mô hình du lịch bền vững ở Hoàng Sơn – Trung Quốc

Hoàng Sơn là một vùng núi ở tỉnh An Huy, miền Đông Trung Quốc. Đây là khu danh thắng có cảnh quan thiên nhiên đẹp và là khu di tích lịch sử văn hóa, nằm trên diện tích 154 km2, với 72 ngọn núi nhỏ, 2 hồ, 3 thác nước, 36 dòng suối khoáng, 24 dòng suối tự nhiên và 20 đầm lầy to nhỏ khác nhau. Tài nguyên thiên nhiên ở đây là rừng lá rụng, vùng đầm lầy, rừng thông và các loài động thực vật quý hiếm đang được bảo vệ.

Thực hiện các biện pháp quản lý có lợi cho môi trường và đề cao sự giảm áp lực đến hệ sinh thái: Tạo lập vườn thực vật và các khu dự trữ nguồn tiền để có thể phục vụ cho công việc bảo tồn đen và cho các dự án khôi phục thảm thực vật; Lập đài quan sát môi trường để phát hiện ra những biến đổi môi trường; Chiến lược bảo vệ vùng núi Hoàng Sơn vẫn đang được thực thi.

1.4.1.2. Mô hình du lịch bền vững của cộng đồng châu Âu (ECOMOST)

Mô hình ECOMOST đang được xây dựng thử nghiệm tại Mallorka, Tây Ban Nha, một trong những trung tâm du lịch lớn nhất châu Âu. Mallorka phát triển nhờ chủ yếu vào du lịch. Để khắc phục tình trạng suy thoái của ngành du lịch ở Mallorka, một chương trình nghiên cứu xây dựng mô hình du lịch bền vững đã được tiến hành. (Nikolova và Hens, 1998).

1.4.2. Kinh nghiệm xây dựng và thực hiện chính sách phát triển du lịch theo hướng bền vững trong nước

Du lịch Hạ Long: Những bài học kinh nghiệm quý giá có thể kể đến như sự phát triển khu vực Bãi Cháy do sự phát triển chậm trễ và yếu kém trong quản lý sau quy hoạch. Kiến trúc khách sạn, nhà nghỉ được thiết kế theo rất nhiều phong cách khác nhau, ngôn ngữ kiến trúc không đồng nhất, các giá trị cảnh quan đặc sắc của di sản vịnh Hạ Long hầu như chưa được khai thác để tham gia vào cấu trúc không gian cũng như hình thái đô thị du lịch.

Du lịch Vũng Tàu: Bài học tiếp theo có thể kể đến đó là Vũng Tàu. Giống như Hạ Long, thiên nhiên ưu đãi cho Vũng Tàu rất nhiều tiềm năng và lợi thế: vị trí giao thông thuận tiện, thế mạnh cảng biển, trung tâm dầu khí lớn nhất Việt Nam, khí hậu bốn mùa dễ chịu với bờ biển dài có nhiều bãi tắm tuyệt đẹp. Tuy nhiên, trong thực hiện Vũng Tàu đã có nhiều dấu hiệu ô nhiễm về chất lượng nước biển và môi trường không khí. Trong các không gian hoạt động du lịch tại Vũng Tàu, sức sống của một đô thị du lịch trong tương lai sẽ rất mỏng manh nếu như các nhà quản lý và hoạch định không đưa ra được những khẳng định đối với việc đảm bảo cho chất lượng của môi trường biển trong thời gian sắp tới trước sức ép của các ngành kinh tế khác.

1.4.3. Bài học kinh nghiệm về thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững tại huyện Bình Sơn

Sự tham gia đầy đủ của tất cả các bên liên quan từ cấp độ quốc gia cho đến cộng đồng địa phương trong quá trình lập kế hoạch và thực hiện phát triển du lịch là một trong những yếu tố quan trọng để giải quyết nhiều vấn đề liên quan trong mục tiêu phát triển du lịch bền vững.

Tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đi lại cũng được xem như một vấn đề chủ chốt cần hành động nhằm duy trì mức độ phát triển của hoạt động du lịch. Điều này sẽ liên quan đến việc đưa ra quyết định một cách cẩn thận và lập kế hoạch để cân đối khả năng tiếp cận với nâng lực vận chuyển ở mọi cấp độ, đặc biệt là trong cộng đồng, môi trường dễ bị tác động và các điểm du lịch được chỉ định.

Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 2

THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI

HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

2.1. Tổng quan về Huyện Bình Sơn

Bình Sơn là một huyện đồng bằng ven biển, cửa ngõ phía bắc tỉnh Quảng Ngãi. Về đường sá, đường sắt xuyên Việt qua huyện Bình Sơn dài 20km, có các ga Bình Sơn, Trì Bình; Quốc lộ 1 qua Bình Sơn 25km; đường tỉnh có 4 tuyến với tổng chiều dài 77,82km; đường huyện có 19 tuyến với tổng chiều dài 113km; đường xã có 153 tuyến với tổng chiều dài 304,4km (trong đó có 143km đã được trải nhựa hoặc bêtông); đường phục vụ Khu Kinh tế Dung Quất: Bình Long đi Dung Quất 6,5km, Bình Hiệp đi Dung Quất 24km, đường nội bộ Khu Kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường gần 50km, tất cả đều có mặt đường rộng trên 10m và đã được tráng nhựa.

Ở địa hạt huyện Bình Sơn, di sản văn hóa khá phong phú. Từ đầu thế kỷ XX, những nhà khảo cổ học người Pháp đã phát hiện được di tích Văn hóa Sa Huỳnh của cư dân cổ ở ven biển miền Trung.

Trong văn hóa Việt ở Bình Sơn thì vùng sông biển có hội đua thuyền, hát bả trạo, có tục thờ cá Ông. Ở các làng xã Bình Sơn đã từng có những ngôi nhà lá mái mát mùa hè, ấm mùa đông, những ngôi đình, chùa xây dựng đẹp.

Thị trấn Châu Ổ là trung tâm kinh tế – chính trị – xã hội của huyện, nằm sát quốc lộ 1A, cách thành phố Quảng Ngãi 20km, cách thành phố Đà Nẵng 110 km. Các tuyến giao thông đồng thời là các trục quan hệ liên vùng chạy qua huyện có: đường sắt thống nhất, quốc lộ 1A, tỉnh lộ 621, 622 và nhiều tuyến giao thông huyện lộ thông suốt khác; các cảng biển Dung Quất, Sa Cần, Sa Kỳ và vũng nước sâu Dung Quất gắn với bờ là vùng đất thuận lợi cho việc xây dựng các điểm du lịch với diện tích mặt bằng rộng, nằm gần sân bay Chu Lai.

Đi đôi với việc tập trung phát triển kinh tế – xã hội huyện còn chú trọng quan tâm chăm sóc đối tượng gia đình chính sách và trong năm 2014 huyện đã quyết tâm huy động các nguồn kinh phí từ cán bộ và nhân dân trên địa bàn huyện để đầu tư xây dựng nhà ghi ơn Bà mẹ Việt Nam anh hùng, nhằm tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và người dân luôn khắc ghi đến công lao của thế hệ đi trước đã hi sinh cho dân tộc.

2.2. Tình hình kinh tế – xã hội của huyện Bình Sơn giai đoạn 2011-2014

Giai đoạn 2011-2014, kinh tế huyện Bình Sơn đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 15,15%. Trong đó: Nông nghiệp tăng trưởng: 5,41%/năm; Công nghiệp – Xây dựng tăng trưởng: 18,95%/năm; Thương mại – Dịch vụ tăng trưởng 19,46%/năm. Thu nhập bình quân đầu người tăng đáng kể, năm 2011 là 22,5 triệu đồng/người, đến năm 2014 đạt 30,5 triệu đồng/người.

Tổng giá trị sản xuất đạt khoảng 15.554 tỷ đồng. Trong đó: Ngành Nông – lâm – ngư nghiệp đạt 4.110 tỷ đồng; ngành Công nghiệp – xây dựng đạt 4.353 tỷ đồng; ngành Thương mại – Dịch vụ đạt 7.091 tỷ đồng.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Ngành Nông nghiệp chiếm 26,4%; ngành Công nghiệp – Xây dựng chiếm 28% và ngành Thương mại – Dịch vụ chiếm 45,6%.

2.3. Đặc điểm tài nguyên du lịch huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Tài nguyên du lịch tự nhiên: huyện Bình Sơn là vùng đất hội tụ nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên, tiêu biểu:

Tài nguyên biển: Có chiều dài dọc biển Đông 54 km, có nhiều bãi cát đẹp. Tài nguyên sinh thái, cảnh quan: Có nhiều cảnh đẹp hấp dẫn như: núi rừng, các đầm hồ, thác, suối. Tài nguyên du lịch nhân văn dân cư, dân tộc; Văn hoá Lễ hội; Loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian; Di chỉ khảo cổ Di tích lịch sử – văn hóa.

Điều kiện tự nhiên huyện Bình Sơn là huyện thuộc tỉnh duyên hải miền Trung, địa hình nghiêng từ Tây sang Đông, được chia thành 4 vùng rõ rệt: Vùng rừng núi, trung du, đồng bằng và vùng bãi cát ven biển. Khí hậu nhiệt đới gió mùa với 2 mùa mưa và nắng rõ rệt; Thổ nhưỡng đa dạng về loại hình đất; Hệ sinh thái cũng phong phú và có đặc trưng riêng.

2.4. Kết cấu hạ tầng đô thị phục vụ phát triển du lịch

Mạng lưới kết cấu hạ tầng ở Bình Sơn khá hoàn chỉnh với hệ thống mạng lưới giao thông, hệ thống điện, nước, hệ thống thông tin truyền thông phát triển đồng bộ.

Nằm ở trung độ cả nước, với vị trí cửa sông, cửa biển, nơi có những con sông đổ ra biển, có vịnh kín gió và hàng chục kilômét bờ biển nên giao thông đường thủy rất thuận lợi; Cảng Sa Cần, cảng Sa Kỳ và cảng nước sâu Dung Quất đều nằm không xa trung tâm huyện và có độ mớm nước sâu đáp ứng được các tàu có trọng tải lớn cập cảng, rất thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa đến các nơi trong nước và trên thế giới và là điểm đến cho các tàu du lịch loại lớn.

2.5. Quan điểm của Đảng và nhà nước về chính sách phát triển du lịch bền vững trên địa bàn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

2.5.1. Hệ thống văn bản về chính sách phát triển du lịch bền vững

Với mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện Bình Sơn, đồng thời phát triển Bình Sơn trở thành trung tâm du lịch của tỉnh để kết nối cùng huyện đảo Lý Sơn, các cấp ngành của Trung ương, của tỉnh cũng như huyện Bình Sơn đã có những chính sách, cơ chế nhằm hỗ trợ, khuyến khích sự phát triển ngành du lịch huyện.

2.5.2. Thực trạng phát triển du lịch trên địa bàn huyện Bình Sơn

Có thể nói, huyện Bình Sơn là địa phương có tiềm năng du lịch khá lớn, có điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng những sản phẩm du lịch đa dạng và có khả năng hấp dẫn du khách.

Di tích Thành cổ Châu Sa. Tục gọi là thành Hời, nằm ở xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, đông giáp Đồng Dinh, tây giáp núi Bàn Cờ, nam giáp sông Trà Khúc, bắc giáp núi Đầu Voi. 

Khu Chứng tích Sơn Mỹ: Vụ thảm sát Sơn Mỹ xảy ra vào rạng sáng ngày 16/3/1968 do một đơn vị đặc nhiệm quân đội Mỹ tiến hành. Chúng càn quét, đốt phá nhà cửa, ruộng vườn và tàn sát 504 người dân vô tội, trong đó hầu hết là người già, phụ nữ và trẻ em. 

Di tích chiến thắng Vạn Tường: Di tích chiến thắng Vạn Tường có 8 điểm nằm trên địa bàn 2 xã Bình Hòa và Bình Hải, huyện Bình Sơn, Cách TP.Quảng Ngãi 25 km về hướng Đông Bắc.

Danh lam thắng cảnh: Biển Dung Quất: Nằm về phía đông bắc cách thành phố Quảng Ngãi khoảng 25 km. Biển Dung Quất có độ sâu lý tưởng, cảng Dung Quất hiện giờ xây dựng thành cảng nước sâu cho tàu hàng vạn tấn cập bến. Hiện nay, Dung Quất đã trở thành cảng dầu khí lớn nhất Việt Nam, với thành phố Vạn Tường hiện đại đang trên đà xây dựng.

Vẻ đẹp Sa Cần: Sa Cần là một trong năm cửa biển của người Quảng Ngãi, nằm ở phía đông bắc huyện Bình Sơn, nơi sông Trà Bồng (hay sông Châu Tử) đổ ra biển.

2.5.3. Tình hình khách du lịch trên địa bàn huyện

Số lượng khách du lịch đến huyện Bình Sơn giai đoạn 2011-2014: bao gồm khách nội địa và khách quốc tế .

Khách du lịch nội địa: chủ yếu từ các tỉnh miền Nam Bộ, Tây Nam Bộ, miền Bắc và khách nội tỉnh đến tham quan, cùng với khách đến thăm dò để tìm kiếm cơ hội đầu tư, tham quan di tích lịch sử – văn hóa, tìm hiểu về chứng tích chiến tranh, nghỉ dưỡng biển, đi công v ụ.

Khách quốc tế: Khách du lịch chủ yếu từ các nước Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Mỹ, Pháp đến tham quan các di tích lịch sử – văn hóa, nghiên cứu về các chứng tích chiến tranh, tìm hiểu cơ hội đầu tư.

Doanh thu du lịch: So với mục tiêu đến năm 2015, doanh thu không đạt với khoảng cách khá xa, đạt mức 150 / 200 tỷ đồng. Doanh thu chủ yếu từ hoạt động kinh doanh ăn uống và thu từ nguồn thuê phòng chiếm tỷ trọng đáng kể, trên 60%.

2.6. Kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch bền vững ở huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

2.6.1. Các loại hình và sản phẩm du lịch

Huyện đã có những nỗ lực trong việc xây dựng, hình thành nên các loại hình cũng như các sản phẩm du lịch mới để thu hút và giữ chân du khách khi đến với huyện.

Du lịch công vụ cũng bước đầu phát triển và khẳng định thế mạnh của du lịch huyện Bình Sơn với nhiều hội nghị quốc tế kết hợp với tham quan du lịch được tổ chức tại huyện.

2.6.2. Các dịch vụ vận chuyển, ẩm thực, mua sắm, vui chơi giải trí

Dịch vụ vận chuyển du lịch ở huyện Bình Sơn phát triển khá đồng bộ với đầy đủ các hình thức vận chuyển: đường bộ, đường thủy và đường sắt.

2.6.3. Kết cấu hạ tầng phục vụ du lịch

Trong những năm qua đã có hàng loạt các dự án đầu tư về du lịch đã hoàn thành và đưa vào hoạt động, phục vụ khách du lịch. Những năm gần đây, huyện đã tập trung quy hoạch và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch và dân sinh một cách đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi trong việc khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch của huyện Bình Sơn, góp phần xây dựng huyện Bình Sơn thành một trung tâm du lịch của cả nước và khu vực.

2.6.4. Bền vững về văn hóa – xã hội

Trong những năm qua, ngành du lịch huyện đã mang lại doanh thu xã hội khá lớn. Thu nhập xã hội từ hoạt động du lịch năm 2011 đạt 93 tỷ đồng và năm 2014 đạt 150 tỷ đồng.

2.6.5. Bền vững về môi trường

Môi trường du lịch huyện đã từng bước được được cải thiện. Huyện đã tập trung chỉ đạo tích cực, phối kết hợp xây dựng môi trường biển với quyết tâm tạo ra một hình ảnh mới cho du lịch biển tại huyện Bình Sơn.

2.7. Những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển bền vững của ngành du lịch huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

2.7.1. Về kinh tế

Khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch ngoại quốc, luôn là đối tượng quan tâm và là nhân tố quyết định đối với sự phát triển của ngành du lịch. Tuy nhiên, sự phát triển du lịch theo hướng bền vững thường ít quan tâm đến số lượng khách mà luôn hướng đến những thị trường khách ổn định, có mức chi trả cao và lưu trú dài ngày.

2.7.2. Về văn hóa – xã hội

Cho đến nay, những nhu cầu của du lịch phần lớn vẫn trong khả năng đáp ứng được nên sự biến động giá cả chỉ mang tính thời vụ, phụ thuộc thời điểm đông khách trong mùa du lịch. Nhưng nếu không quản lý thống nhất thì sẽ biến đổi nhanh do tính cạnh tranh và tác động tiêu cực đến các điều kiện xã hội mà đối tượng chịu hậu quả lâu dài là chính những người dân địa phương.

Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Chính sách phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

Chương 3

HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH

BỀN VỮNG TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

3.1. Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững

3.1.1. Quan điểm phát triển ngành du lịch

Phát triển du lịch bền vững, đảm bảo chất lượng và khả năng cạnh tranh, gắn chặt với việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa; giữ gìn cảnh quan, bảo vệ môi trường, tạo bước đột phá với những mô hình phát triển mới, mang tính khác biệt với một tầm nhìn tổng hòa trong mối liên kết vùng.

Phát triển du lịch nhanh và bền vững gắn với khai thác có hiệu quả các giá trị tài nguyên du lịch đặc thù của huyện. Phát triển ngành du lịch có tốc độ tăng trưởng cao, biến du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Thu hút ngày càng nhiều khách du lịch trong nước và quốc tế đến với huyện trên tinh thần khám phá, học hỏi, thư giãn, nghỉ ngơi nhưng vẫn giảm thiểu tác động tới môi trường và nét văn hóa truyền thống.

3.1.2. Hoàn thiện mục tiêu phát triển du lịch bền vững

Mục tiêu của du lịch là vì sự phát triển của cộng đồng, đem lại lợi ích cho cộng đồng và phát triển du lịch bền vững chỉ có thể thực hiện được khi có sự tham gia của cộng đồng. Đối với cộng đồng, để đạt được mục tiêu của phát triển du lịch bền vững, cần phải nâng cao nhận thức của người dân về phát triển du lịch. Đảm bảo sự tham gia và giám sát của cộng đồng trong quá trình du lịch vì cư dân địa phương hiểu hơn ai hết về môi trường nơi họ sinh sống. Bên cạnh đó, có sự tham gia của người dân cũng giảm được những yếu tố xung đột có thể xảy ra trong du lịch.

3.2. Các giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch bền vững từ thực tiễn huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

3.2.1. Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách

3.2.2. Nhóm giải pháp về huy động vốn đầu tư

3.2.3. Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực du lịch

3.2.4. Nhóm giải pháp về phát triển các sản phẩm du lịch

3.2.5. Nhóm giải pháp về ứng dụng khoa học, công nghệ

3.2.6. Nhóm giải pháp về quản lý nhà nước

3.2.7. Nhóm giải pháp về xúc tiến quảng bá

3.2.8. Nhóm giải pháp về liên kết, hợp tác phát triển du lịch

3.2.9. Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên du lịch và môi trường

3.2.10. Nhóm giải pháp về bảo đảm quốc phòng, an ninh

3.3. Hoàn thiện thế chế và các bên tham gia chính sách và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về du lịch

Hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về du lịch và liên quan đến du lịch; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Luật Du lịch tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho phát triển du lịch. Tăng cường năng lực cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ Trung ương đến địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển; tăng cường phối hợp, liên kết giữa du lịch với các ngành, lĩnh vực, giữa các vùng, miền, địa phương để phát triển du lịch.

Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương tới địa phương, trong đó hình thành tổ chức liên kết phát triển du lịch cấp vùng. Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành du lịch và tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý nhà nước về du lịch ở mọi cấp.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\LUAT HINH SU DOT 2\CHINH SACH CONG\VO THI HIEN\SAU BAO VE

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *