Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ

Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Từ xa xưa, nạn tham nhũng đã được ông cha chúng ta xem đó là quốc nạn, làmối hiểm họa làm băng hoại quốc gia, là kẻthù làm suy vong dân tộc. Hơn bảy mươi năm trước, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ,mớira đời chưa được năm tháng, vào ngày 26/01/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Quốc lệnh như bằng máu, thể hiện quyết tâm của Người, tại Điều 8 phần Phạt, rằng: “Ăn cắp của công sẽbị xử tử”. Thực tế lịch sử thế giới cũng đã và đang cho thấy, tham nhũng ngày nay không còn là vấn đềriêng của mỗi quốc gia, mà đã trởthành vấn nạn mang tính toàn cầu, diễn biến ngày càng phức tạp, tinh vi và nguy hiểm. Mặc dù vậy, trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo sáng suốt và đúng đắn của Đảng, Chính phủ, đất nước ta đã vượtqua nhiều khó khăn, thách thức và đạtđượcnhiều thành tựu rất

quan trọng trên các bình diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội…Nhưng, song hành với với những thành tựu đó, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệquan liêu, tham nhũng trong một bộphận không nhỏcán bộ, đảng viên chưa ngăn chặn, đẩy lùi đã và đang trở thành một vấn đề nhức nhối của toàn xã hội, đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ ta.Đặc biệt làtình hình tội phạm ẩn trong nhóm tội phạm này (như tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ, làm môi giới hối lộ, tội lợidụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạnđểtrục lợi; v.v…). Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn thì tình hình tội phạm về chức vụ nói riêng vẫn diễn biến phức tạp, ngày càng khó phát hiện và phức tạp hơn. Điều này xuất phát từtình hình đấu tranh phòng, chống tội phạmvềchức vụchưa cao, tội phạm ngày càng tinh vi hơn, người phạm tội có chức vụ, quyền hạn cao tại các cơ quan nhà nước, bản thân đội ngũ cán bộ, công chức chưa trau dồi về phẩm chất đạo đức, vẫn còn một bộphận bịtha hóa, biến chất bởi sức mạnh của đồng tiền hoặc trình độ, chuyên môn chưa đáp ứng với năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; hoặc do bị mua chuộc, lôi kéo, đưa hối lộ; v.v…

Vì vậy, hơn 20 năm trước, tại Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳkhóa VII

(tháng 01/1994), Đảngta cảnh báo nguy cơ tham nhũngđối với sựhưng suy, mất còn của đất nước; thể hiện quyết tâm chính trị không thể lay chuyển, một quyết sách hành độngmạnh mẽvà triệt đểcủa toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đấu tranh

1

phòng, chống tham nhũng. Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước, trước sự trầm kha của tệ tham nhũng, để tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, việc tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một trọng trách cấp bách, to lớn và nặng nề, một vấn đềcó ý nghĩa mất còn đối với Đảng, Nhà nước, một mệnh hệ sinh tử đối với chế độcủa chúng ta.

Thực tiễn qua 31năm đổi mới, đất nước ta đãgiành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhưng tệ tham nhũng lan rộng tới mức không thể chấp nhận được, mà chưa được ngăn chặn đẩy lùi. Bên cạnh nguy cơ tham nhũng, lãng phí đã được cảnh báo tại Hộinghịđại biểu toàn quốc giữa nhiệmkỳkhóa VII, thì Nghịquyết Trung ương 6 lần 2 (Khóa VIII), Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (Khóa IX), Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa X), việc ban hành Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong những năm qua, cuộc đấu tranh nàyđã được tăng cườngvàđạt được một số kết quả nhất định, nhưng chưa được nhưmong muốn.

Chính vì vậy, trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hộiđạibiểu toàn quốc lầnthứXI của Đảng đã nêu rõ: “Phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụvừacấp bách, vừa lâu dài. Mọi cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thểnhân dân từ trung ương đến cơ sở và từng đảng viên, trước hết là người đứng đầu phải gương mẫu thực hiện và trực tiếp tham giađấutranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí…” [20]; Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách vềxây dựng Đảng hiện nay”, nhấn mạnh: “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố xét xử để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Sớm tổng kết toàn diện công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm; bổsung, sửa đổiLuật phòng, chống tham nhũng. Kiện toàn và tăng cường trách nhiệm, nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan phòng, chống tham nhũng. Xét xử nghiêm những vụ án tham nhũng, trước hết là những vụ án nghiêm trọng, phức tạp được nhân dân quan tâm”[16, tr 32-33]; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 “Về chiến lược xây

2

dựng và hoàn thiệnhệthống pháp luật Việt Nam đếnnăm 2010, định hướngđến năm 2020“, Nghị quyết số49/NQ-TW ngày 02/6/2005 vềchiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị tại mục II.2 đã quy định các nhiệm vụ cải cách tư pháp có các nhiệm vụ sau: “Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực tư pháp phù hợp với mục tiêu của chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Coi trọng việc hoàn thiện CSHS và thủ tục tố tụng tư pháp, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội. Giảm hình phạt tù, mởrộng hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giamgiữđối với một sốloại tội phạm. Hạn chếáp dụng hình phạt tửhình theo hướng chỉáp dụng đối với một sốloại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Giảm bớt khung hình phạt tối đa quácao trong một số loại tội phạm. Khắc phục tình trạng hình sự hoá quan hệ kinh tế, quan hệdânsựvà bỏlọt tội phạm. Quyđịnh là tội phạm đối với những hành vi nguy hiểm cho xã hội mới xuất hiện trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ và hội nhập quốc tế. Quy định trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơnđối với những tội phạm là người có thẩm quyền trong thực thi pháp luật, những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội. Người có chức vụ càng cao mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn phạm tội thì càng phải xử lý nghiêm khắc để làm gương

cho người khác…”…

Trong hệ thống văn bản pháp luật hiện hành, Bộ luật hìnhsự vàLuật phòng, chống tham nhũng được coi là các công cụpháp lý quan trọng và hữu hiệu trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng nói chung, các tội phạm về chức vụ nói riêng. BLHS năm 1999 được Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ VI thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 (có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 7 năm 2000). Từkhi ra đời đến nay, BLHS là côngcụ sắc bén của Nhà nước trong việc quản lý xã hội, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của các tổ chức và của công dân, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thi hành, tình hìnhđất nước ta đãcó những thay đổi lớnvề mọi mặtnên BLHSđã bộc lộ nhiều hạn chế bất cập cần phải nghiên cứu sửa đổi BLHS hiện hành một cách cơ bản, toàn diện nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, đặc biệt là trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng là một trong những vấn đề luôn được Đảng và Nhànước ta quan tâm, nhất là trong giaiđoạn hiện nay.

Bộ luật hình sự năm 2015 được ban hành nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình mới, CSPLHSđối với các tội phạm vềchức vụ mặc dù đã có những điểm mới thể hiện được CSHS của Đảng, Nhà nước ta trong việc quyết tâm đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng như hội nhập quốc tế trong giai đoạn hiện nay như: không áp dụng thời hiệu đối với một số tội về tham nhũng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội về tham nhũng, giảmbớtviệc thi hành hình phạt tửhình, đồng thời cũng nhằm thu hồi tài sản do người phạm tộiđã chiếm đoạt;giảm từtửhình xuống chung thân đối vớimộtsố trường hợp; xửlý hình sựđối với các tội phạmvề chức vụ trong lĩnh vực tư; mởrộng hơn dấu hiệu địnhtội đối với các trường hợp “sẽ nhận, đòi, nhận, sẽ nhận” bất kỳ lợi ích nào của người có chức vụ quyền hạn đối với một số tội như “tội nhận hối lộ”; các tình tiết mang tính định tính như hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng, hậu quả đặc biệt nghiêm trọng,số lượng lớn…được quy định cụ thể, rõ ràng trong các tội phạm.v.v.Mặc dù, BLHS 2015 đã được ban hành, sẽ là công cụ pháp lý hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về chức vụ trong thời gian tới, tuy nhiên, căn cứvào thực tiễn và các định hướng của Đảng, Nhà nước trong công tác phòng, chống tham nhũng, thì chúng ta cầntiếp tục nghiên cứu để từng bước hoàn thiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống các tội phạm về chức vụ và từng bước nội luật hóa các quyđịnhcủa Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng theo cam kết và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tiễn của đất nước ta.

Bên cạnh đó, thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cũng cho thấy, nhiều quy định trong các văn bản pháp luật hình sự đối với các tội phạm về chức vụ còn trừu tượng, chung chung, khó giải thích, khó áp dụng nhất là trong tình hình kinh tế- xã hội hiện nayđãcó nhiều sựchuyển biến, thayđổi trên các phương diện khác nhau, nhiều lĩnhvực đã đượcxã hội hóa, cần có sự thống nhất trong việc xác định nhưthế nào là “người có chức vụ, quyền hạn”; thế nào là “lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạmtội”;thực tiễn công tác xét xửCTPVCV cũng đòi hỏi có những nghiên cứu sâu để đưa ra giải pháp nhằm thực hiện và áp dụng CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ, vừa thể hiện tính nghiêm minh, nhân đạo của pháp luật và yêu cầu thu hồi được tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt.

Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Chính sách pháp luật hình sựViệt Nam đối với các tội phạm về chức vụ” làmluận án tiến sĩ luật học của mình.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu về những vấn đề lý luận, lịch sử CSPLHS và thực tiễn áp dụng đối với các tội phạm về chức vụ ở Việt Nam; trên cơ sở đó, nhận xét và có một sốkiến nghịcụthểphụcvụcho việc hoạchđịnh CSPLHSđối với các tội phạmvềchức vụ, đồng thời đềxuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ góp phần ngăn chặn,đẩy lùi tệ nạn tham nhũng, lãng phí theo chủtrương,đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Nghiên cứu các công trình nghiên cứu nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến CSPL, CSHS, CSPLHS đểqua đó tiếp thu và phát triển những kết quảnghiên cứu trước đó góp phần hoàn thiện CSPLHS đối với các tội phạmvềchức vụ ở nước ta hiện nay.

– Nghiên cứu lý luận vềCSPL, CSHS, CSPLHS đối với các tội phạmvềchức vụ; khái quát lịch sửhình thành và phát triển của CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ ở nước ta từ năm 1945 cho đến nay.

– Nghiên cứu, phân tích CSPLHS hiện hành và thực tiễn áp dụng đối với các tội phạm về chức vụ ở nước ta hiện nay để đánh giá tình hình tội phạm ở nước ta và

thực tiễn thực hiện, áp dụng CSPLHS về tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ trong của BLHS hiện hành.Qua đó, đề xuất những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện, áp dụng CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm này trong thời gian tới. Đặc biệt, là vấn đề xử lý nghiêm minh, kịp thời những vụ án tham nhũng lớn, gây bức xúc trong nhân dân, vừa đảm bảo nghiêm khắc, nhưng cũng vừa khoan hồng đối với người phạm tội như: nghiêm trị đối với người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản của người phạm tội; nhưng cũng khoan hồng cho người chủ động khai báo trước khi bị phát hiện, tự nguyện nộp lại tài sản do phạm tội mà có…

– Thông qua việc nghiên cứu, phân tích và so sánh CSPLHS Việt Namđối với các tội phạm về chức vụ với CSPLHS quốc tế và một số quốc gia trên thế giới nhằm tiếp thu những CSPLHS tiên tiến, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của nước ta để tiếp tục đề xuất sửa đổi, bổ sung hoàn thiện CSPLHS và hiệu quả áp dụng góp phần đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội phạm vềchức vụnói riêng trong giaiđoạn hiện nay và đồng thời thực hiện cam kết nội luật hóa quy định của Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiêncứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án đúng như tên gọi của nó: “ Chính sách pháp luật hình sự Việt Namđối với các tội phạm về chức vụ”, trong đó tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, lịch sử CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ vàthực tiễn áp dụngđốivới các tội phạm này trong giai đoạn hiện nay,đồng thời nghiên cứu, đềxuất sửa đổi, bổsung một sốquyđịnh trong BLHS hiện hành đối với các tội phạm về chức vụ cho phù hợp hơn với yêu cầu, chủ trương, định hướng của Đảng,Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống các tội phạm về chức vụ trong giai đoạn hiện nay và nội luật hóa đối với một số hành vi phạm tội về chức vụ cho phù hợp với tình hình thực tiễn và các điều ước Quốc tế mà Việt Nam đã tham gia ký kết.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

– Về nội dung: Dưới góc độ khoa học pháp lý, vấn đề trách nhiệm hình sự đã được nhiều tác giả quan tâm, đề cập trong sách, báo và các công trình nghiên cứu. Trong đó, các tác giảđã đưa ra nhiều quan điểmkhác nhau vềkhái niệm và nội dung của CSPLHS. Sự khác nhau giữa các quan điểm này thể hiện chủ yếu ở quan niệm CSPLHS theo nghĩa rất rộng, rộng hay hẹp. Tuy nhiên, giữa các quan điểm đó lại không có sựkhác nhau vềnội dung và những bộphận của CSHS. Từnhững quan điểmđó, chúng tôi cho rằng một sốquan điểmtrước đâycoi CSHS là định hướng, chủ trương có tính chất chỉ đạo,chiến lược của Đảngvà Nhà nước kể cả các bài phát biểu, các lần nói chuyện của lãnh đạo Đảng và Nhà nước cũng là CSHS màkhông đềcập đến vấn đềphải thông qua các bước, các hoạt động có căn cứkhoa học và phải được thể chế hóa thành văn bản pháp lý thì nó mới trở thành CSPLHS.

Vì vậy, trong phạm vi nội dung nghiên cứu luận án, chúng tôi tập trung làm rõ khái niệm CSPLHSđối với đối với các tội phạm vềchức vụtheo khía cạnh là hoạt động thực hiện các tư tưởng, quan điểmnhất định bao gồmCSPLHS vềtội phạm và hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ và lịch sử CSPLHS đối với các loại tội phạm này, đồng thời có so sánh với CSHS một số nước trên thế giới, qua đónhằm giải quyết nhiệm vụ và đối tượng nghiên cứu của luận án. Tất nhiên, việc giới hạn nội dung nghiên cứu nàychỉmang tính tương đối bởi lẽtheo phương pháp nghiên cứu khoa học tiếp cận vấn đềđa ngành, liên ngành, các vấn đềđược bàn luận, phân tích, kiến giải luôn đan xen và hòa quyện với nhau trên hệthống nền tảng tri thức chung.

+ Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chính sách về tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm vềchứcvụởViệt Nam vàvấnđềnộiluật hoá cácđiều ước quốctếmà Việt Nam làthành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng và Côngước chống hối lộ.

+ Phạm vi thời gian: Khái quát lịchsửhình thành và phát triểnvềCSHS, CSPLHS đối với các tội phạmvềchức vụ từnăm 1945 đến nay và thực tiễn áp dụng đối với các tội phạm này từ năm 2000 đến nay.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án 4.1. Phương pháp luận:

Luận án được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối Đảng, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đường lối đổi mới đất nước, định hướng cảicách tư pháp và chiến lượcxây dựng và hoàn thiện hệthống pháp luật phục vụ hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội phạm vềchức vụnói riêng. Trong quá trình nghiên cứu, luận án đã sửdụng phương pháp nghiên cứu của chuyên ngành Luật hình sự,Luật tốtụng hình sự,Tội phạm học, Tâm lý học, Xã hội học, khoa học thống kê, khoa học điều tra hình sựvới các phương pháp nghiên cứu cụ thể để làm rõ những đặc trưng của CSPLHS đối với các

tội phạm về chức vụ phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Ngoài ra, luận án còn sử dụng hệ thống tri thức và phương pháp tiếp cận của khoa học Chính sách công để phân tích làm sáng tỏ những vấn đề có liên quan đến CSHS, CSPLHS đối vớicác tội phạmvềchức vụphụcvụcho việcthểchếhoáchủtrương, nghịquyếtcủaĐảng vềcông tác phòng, chống tham nhũng và hoạchđịnhCSPLHSđối với các tội phạmtộiphạm về chức vụđể bảo đảm thựcthi các nghĩa vụ theo Côngước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà nước ta là thành viên.

Với quan điểm hệ thống, CSHS đối với các tội phạm về chức vụ là một bộphận quan trọng không thể tách rời của CSPL, nhưng CSPLHS đối với các tội phạm về chức lại có nội dung, nhiệm vụ, mục đích riêng của mình. Vì vậy, nghiên cứu lấy nội dung, mục tiêu, nhiệm vụ của CSPL, CSHS làm xuất phát điểm để tiếp cận bản chất vấn đềnghiên cứu và từđó tìm ra các liên hệbản chất cần triển khai nghiên cứu trong luận án.

4.2. Phương pháp nghiên cứu:

Trong quá trình nghiên cứu luận án chúng tôi sửdụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:

– Phương pháp phân tích tài liệu, sử dụng để hệ thống hóa những vấn đề lýluận về CSHS đối với các tội phạm về chức vụ; nghiên cứu, phân tích xây dựng, tổchức thực hiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ ở Việt Nam từ năm 1945 chođếnnay, qua đó so sánh, đánh giá CSPLHS trong lịch sửvớiCSPLHS hiện hành đối với các tội phạm về chức vụ để nghiên cứu kế thừa.

– Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh số liệu thống kê, sử dụng để điều tra, khảo sát thực tế, thu thập số liệu về tình hình thực hiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ phục vụ việc hoạch định CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụtrong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, các tội phạm về chức vụ nói riêng.

– Phương pháp tổngkếtthực tiễn,sửdụngđểnghiêncứutổngkếtđánh giá những kết quả, tài liệu thu thập được từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm và hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ ở Việt Nam nhằm đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng CSPLHS đối với các tội phạm này trong thực tiễn.

– Phương pháp so sánh pháp luật, phương phápnày được sử dụngđể nghiên cứu lý luận và thực tiễn về CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ thông qua các quy định cụ thể của pháp luật hình sự của nước ngoài, đối chiếu so sánh với các quyđịnhcủaViệt Nam,đặcbiệt là những camkếtquốctếcó liên quan mà Việt Nam tham gia ký kết, phê chuẩn đáp ứng yêu cầu hội nhập của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

– Phương pháp chuyên gia, sử dụng để tham khảo ý kiến của các cán bộ thực tiễn, các chuyên gia nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến CSHS, CSPLHS. Việc nghiên cứu này có thể được tiến hành thông qua các ấn phẩm, chuyên khảo,đềtài khoa học, sách báo pháp lý đã được xuất bản, nghiệm thu có đề cập đến nội dung nghiên cứu của luận án.

– Phương pháp điều tra điển hình, sử dụng để thu thập thông tin một số vụ ánđiển hình và kết quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người có chức vụquyền hạn thực hiện trong thời gian qua của các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ
Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ

5. Những đóng góp mới của luận án

Chúng tôi có thể khẳngđịnh, đề tàiluận án là một trong những lĩnh vực khó, đến nay chưa có một công trình khoa học chuyên khảo nào đã công bố nghiên cứu về lĩnh vực CSHS, CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ. Tuy nhiên, luận án cósự tiếp thu tri thức của các công trình khoa học đã được công bố trước đây về vấn đề CSHS đối với một số loại tội phạm khác. Vì thế những đóng góp mới của luận án được thể hiện ở một số điểm cơ bản sau đây:

9

Thứnhất, nghiên cứu rõ những vấn đềlý luận và sựhình thành, phát triển của CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ ở nước ta kể từ năm 1945 đến nay đểtiếp thu, kế thừa và phát triển những CSPLHS có hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống đối với các loại tội phạm nàytrong lịch sử phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về chức vụ trong giai đoạn hiện nay.

Thứ hai, phân tích làm rõ yêu cầu và các yếu tố đảm bảo xây dựng và thực hiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ; nội dung, các nhân tố tác động vàcác biện pháp thực hiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ.

Thứ ba, phân tích sự thể hiện của CSPLHS trong việc hình sự hóa, phi hình sự hóa, tội phạm hóa, phi tội phạm hóa đối với các tội phạm về chức vụ trong pháp luật hình sự Việt Nam thông qua các khía cạnh như: mục tiêu, quan điểm, đường lối xử lý, nguyên tắc xử lý, quy định về tội phạm, quy định về hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ.

Thứtư, đánh giá khách quan tình hình các tội phạmvềchức vụvà nguyên nhân hạn chế, yếu kém trong công tác phòng, chống tội phạm về chức vụ trong thời gian vừa qua; đồng thời phân tích, đánh giá tình hình áp dụng CSPLHS trong điều tra, truy tố, xét xử và áp dụng hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ để từ đó, phát hiện những vấn đề đặt ra và từ đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc xây dựng, triển khai thực hiện và áp dụng CSPLHS đốivới các tội phạmvềchức vụtrong thời gian tớiđáp ứng yêu cầu thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

Thứ năm, nghiên cứu, so sánh BLHS hiện hành với BLHS của một số nước trên thế giới, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng, Công ước chống hối lộđểnội luật hóa các hành vi phạm tội tội nhằmđảm bảo thực thi các nghĩa vụtheo Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng mà nước ta là thành viên.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Kết quả nghiên cứu của luận án có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong công tácđấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạmvềchức vụnói riêng. Vềmặtlý luận, luận án cung cấpcơ sởlý luận và thực tiễn cho hoạtđộng lậppháp,

10

hành pháp và đặc biệt là áp dụng PLHS đốivới các tội phạmvềchức vụởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Vềmặt thực tiễn, luận án cóthểdùng làm tài liệu tham khảo cho cán bộnghiên cứu về xây dựng pháp luật, cán bộ hoạt động thực tiễn, tổ chức thực hiện và áp dụng pháp luật. Đồng thời, đây còn là tài liệu bổ ích cho việc nghiên cứu giảng dạy môn học Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật thi hành án hình sự, Tội phạm học, Khoa học Điều tra hình sự trong các học viện, trường đại học đào tạo về Luật.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận án gồm 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Những vấn đề lý luận và lịch sử CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ.

Chương 3: CSPLHS hiện hành và thực trạng áp dụng pháp luật hìnhsự đối với các tội phạm về chức vụ ở nước ta hiện nay.

Chương 4: Hoàn thiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ ở nước ta hiện nay.

11

Chương 1

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

CSHS nói chung và CSPLHS đối với các tộiphạmvềchức vụnói riêng là nội dung được nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước đề cập. Tuy nhiên, các bài viết chủ yếu thảo luận về những khía cạnh pháp luật hình sự về tham nhũng và mục tiêu của PLHS đối với các tội phạm về chức vụ chưa thể hiện một cách nhất quán, cóhệthống đểđảmbảotính răn đe, cũng như tính hiệu quảtrong thực thi pháp luật. Bởi, trong công cuộc đấu tranh phòng chống các tội phạmvềchức vụ, đặc biệt là các tội phạmvềtham nhũng không thểchỉdùng pháp luật hình sựmànhà nước cần phải thường xuyên đưa ra những chiến dịch truy quét tham nhũng vàcần có sự hỗ trợ, giám sát bên ngoài của nhân dân. Vì vậy, CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ nói luôn là mang tính thời sự xuất phát cùng với sự phát triển của kinh tế – xã hội cho nên những công trình nghiên cứu về CSHS khá nhiều,có thể ởgóc độ luật hình sự hoặc tội phạm học, cụ thể:

1.1.Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài –

17

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.3.Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Qua nghiên cứu thực tiễn xét xử, các bài viết, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đếnCSHSđối với các tội phạm vềchức vụ,tác giả có một số nhận xét, đánh giá như sau:

1.3.1. Những ưu điểm, những kết quả nghiên cứu mà luận án sẽ thừa kế, tiếp tục phát triển

– Các nghiên cứu chủ yếu đi sâu về khái niệm và các dấu hiệu pháp lý hình sự của các tội phạm nói chung và các tội phạm về chức vụ nói riêng, đặc biệt là tiếp cận dưới góc độ CSPLHS thì phân tích chưa sâu, chưa đầy đủ;

– Các nghiên cứu chủyếu đi sâu vềlịch sửhình thành và phát triển của CSHS nói chung chứchưa phân tích sâu vàđầyđủvềCSPLHS đối vớicác tội phạm này;

-Đối với công trình nghiên cứu ởnước ngoài, tác giảsẽtiếp tục kếthừa công trình nghiên cứucủa Susan Rose-Ackerman, Nxb Đại họcCambridge, năm 1999qua cuốn sách “Tham nhũng và Chính phủ: Nguyên nhân, hậu quả và cải cách” đểkếthừa quan những thành tựu trong nghiên cứu như nguyên nhân tham nhũng, tham nhũngsẽ hạn chế đầu tưvà tăng trưởng và dẫn đến chính phủ không hiệu quả, đặc biệt là các nước nước đang phát triển và những nước chậm phát triển;muốn chống tham nhũng cần phải cải cách hoạt động của Chính phủ và phải có sự ủng hộcủa cả hệ thống chính trị cũng như cộng đồng thế giới…Đặc biệt, tác giả sẽ kế thừa, tiếp tục nghiên cứu quan điểm . cho rằng phòng, chống tham nhũng không chỉ bằng pháp luật hình sự, mà muốn phòng chống tham nhũng thành công Chính phủ cần cónhững chiến dịch truy quét tham nhũng và nêu ra một số vấn đề như: phi tội phạm hóa một số hoạt động bất hợp pháp nào đóđể có thể loại bỏ độngcơ tham nhũng;

20

ngược lại, phải tội phạm hóa một số hoạt động trước đây được coi là hợp pháp đểngăn chặn hoàn toàn các hoạt động như hối lộ…

– Trong các công trình khoa học trong nước nêu trên, đáng chú ý là sách chuyên khảo “CSHS trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam”,Nhà xuất bản Tư pháp, HàNội năm 2007, do TS Phạm Văn Lợi và tập thể các tác giả biên soạncũng đã đề cập đến quá trình phát triển của CSHS ở nước ta từ năm 1945 cho đến năm 2007, trong đó có nêu khái quát về CSHS đối với các tội phạm về chức vụ. Đây cũng là cơsởcho tác giảtham khảo, kếthừa, nghiên cứuphát triểnđểhoàn thiện nội dung vềCSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ trong luận án của mình. Bên cạnh đó, còn có cuốn sách của ThS. Đinh Văn Quếvề“Bình luận khoa học BLHS năm 1999 (Phần các tội phạm), Tập VI -“Các tội phạm về chức vụ”, Nxb. Thành phố Hồ ChíMinh, 2002, tái bản năm 2010 tiếp cận vềkhía cạnh trách nhiệm hình sựvà thực tiễn xét xử. Tuy nhiên, đến nay, chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu sâu, cụ thể về CSPLHS Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ.

1.3.2 Những vấn đề còn chưa được giải quyết thấu đáo hoặc cần phải tiếp tục nghiên cứu

Một là, hiện naychỉcó Nghị quyết số04/HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần các tội phạm của BLHS năm 1985 có hướng dẫn một số tội sau: tội thiếu trách nhiệm gây hậu quảnghiêm trọng; tộicốýlàm lộbí mật công tác, tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác; tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác và Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/3/2001 của Hộiđồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 BLHS năm 1999 để áp dụng thống nhất các khung hình phạt trong các tội phạm này (trongđó có tội đưa hối lộ). Sau đó, ngày 19/6/2009, Quốc hội đã ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một sốđiều của BLHS cũng có một sốsửa đổi, bổsung liên quan đến ba tội trong nhóm các tội phạm khác về chức vụ là tội đưa hối lộ (Điều 289), tội làm môi giới hối lộ(Điều 290) và tội lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi (Điều 291) bằng việc tăng mức định lượng tài sản để truy cứu trách nhiệm hình

21

sựtừnăm trăm nghìn đồng lên hai triệu đồng, đồng thời bỏhình phạt tửhình đối với tội đưa hối lộ (Điều 289 BLHS).

Hai là, việc nhận diện các mối quan hệ lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn nhằm phục vụhoạch định CSPLHSđốivới các loại tội phạm này cũng cần được quan tâm hơn. Bởi theo BLHS, ngườicó chức vụlà người do bổnhiệm, do dân cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được giao thực hiện một công vụ nhất định vàcó quyền hạn nhất định trong khi thi hành công vụ.Quyền năng đó xuất phát từ chỗhọ có quyền giải quyết công việc của những cá nhân và tổ chức khác trong những công vụmà họđược giao. Sức mạnh của quyền năng nằm ởchỗ, người có chức, quyền giải quyết việc đó nhanh hay chậm, có lợi hay có hại cho người được giải quyết. Người có chức vụ, quyền hạn thường có ba loại quyền năng: quyền năng chính quyền (buộc phải tuân thủ theo quy định của pháp luật); quyền năng lãnh đạo

(tuyển dụng, bổ nhiệm, luân chuyển, khen thưởng…); quyền năng hành chính, kinh

tế (kiểm tra, giám sát, thông tin…).

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc tồn tại mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân có chức, có quyền và cá nhân, doanh nghiệp là một thực tế khách quan, xuất phát từ nhiều lý do khác nhau. Song người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng các quan hệ đó để phục vụ các mục đích không chính đáng của họ nhằm trục lợi gây thiệt hại đến lợi ích của xã hội.

Trong thực tế, nhiều cá nhân, tổ chức doanh nghiệp có ý đồ thiết lập quan hệvới giới lãnhđạo, quản lý cũng đem lại lợi ích cho quốc gia, xã hội, nhưng trong một sốnhững tình huống cụthểlại là quan hệhai chiều theo đôi bên cùng có lợi

dưới hình thức đề bạt, luân chuyển…hoặc mua bán các thông tin liên quan đến cơ chế, chính sách, kế hoạch, quy hoạch chưa công khai hoặc móc ngoặc với nhau đểcho người thân của người có chức vụ, quyền hạn thành lập doanh nghiệp “sân sau” thực hiện giao dịch, đấu thầu trong xây dựng cơ bản, giao dịch hàng hóa hoặc cung

ứng dịch vụ…

Thứba, khái niệmtộiphạmvềchức vụđược quyđịnh trong Điều 277, BLHS Việt Nam năm 1999 còn hạn chế chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phòng,

22

chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay, cho nên chúng tacần hình sự hóa đầy đủcác hành vi tham nhũng theo yêu cầu của Công ước của Liên Hợpquốc vềchống tham nhũng bởi vì: Theo quyđịnh của BLHS hiện hành thì chủthểcủa nhóm tội tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn làm việc ở trong các cơ quan, tổchức của Việt Nam, bao gồm: cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước, tổchức chính trị,tổchức chínhtrị- xãhội(những ngườithi hành công vụ). Còn những người có chức vụ, quyền hạn của nước ngoài, của tổchức quốc tế, tổchức phi chính phủhoặc làm việc ởcác doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các công ty 100% vốn đầu tưnước ngoài, các công ty liên doanh có vốn nhà nước tham gia, công ty cổ phần, hợp tác xã (như: giám đốc, phó giám đốc, kế toán, thủ quỹ, thủ kho

v.v…) không phải là chủthểcủa các tội tham nhũng. Tuy nhiên, với tư cách làthành viên của Công ước của Liên hợp quốc vềchống tham nhũng, chúng ta phải hình sự hoá một số hành vi tham nhũng được nêu trong Công ước như: hối lộ trong khu vực tư; biển thủtài sản trong khu vực tư; hối lộcông chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công.

Trên thực tếởnước ta đã xuất hiện trường hợp vì lợi ích của cơ quan, tổchức hoặc địa phương mình mà cá nhân Việt Nam đã thực hiện hành vi đưa hối lộcho công chức nước ngoài, công chức của tổchức quốc tế, tổchức phi chính phủnhưng chúng ta không có cơ sở pháp lý để xử lý hìnhsự đối với cácđối tượng này về hành vi nhận hối lộ cũng như hành vi đưa hối lộ. Tương tự như vậy, việc không coi người có chức vụ, quyền hạn làm việc ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh làchủthểtội tham nhũng nên dẫn đến việc áp dụng không thống nhất,xửlý không công bằng, ví dụ: cũng một hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác do mình đang quản lý nhưng nếu người thực hiện là cán bộ, công chức thì bị xử lý về tội tham ô tài sản, còn chủ thể khác thì bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản; nếu cán bộ, công chức thực hiện hành vi nhận tiền đểlàm một việc thuộc trách nhiệm của mình thì sẽbịxửvềtội nhận hối lộ, nhưng nếu là người có chức vụ, quyền hạntrong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài, các công ty liên doanh, tập đoàn không có vốn của Nhà nước hoặc có vốn của Nhà nước nhưng có tỷ lệ dưới 50% thì

23

không bị xử lý về tội này. Việc xử lý này là chưa hoàn toàn phù hợp, dẫn đến việc xử lý hình sự thiếu nhất quán và chưa tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội trong nhiều trường hợp cụ thể.

Đâycũng là vấn đềcần được nghiên cứu kỹđểcó phương án thích hợp bổsung vào BLHS nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng và yêu cầu thực thi Công ước chống tham nhũng ở nước ta.

Khái niệm về CSPLHS nói chung và CSPLHS đối với người có chức vụ nói riêng vẫn còn có một số nội dung chưa được thống nhất trong khoa học hình sự Việt Nam, vì vậy cần tiếp tục nghiên cứu để đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh và thống nhất hơn, cụ thể như:

– Nghiên cứu và phân tích chưa đầyđủ, chưa sâu CSPLHSvềtộiphạm vàhình phạt đối với các tội phạm về chức vụ, do đó, cần nghiên cứu, phân tích đầy đủhơn để làm rõ.

– Đánh giá thực tiễn áp dụng hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ chưađầy đủ để có thể chỉ ra những tồn tại, hạn chế và các nguyên nhân cơ bản;

– Cần nghiên cứu sửa đổi các quy định của BLHS đốivớicác tội phạm tham nhũng nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tham nhũng và yêu cầu thực thi Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng

– Cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung những điều luật có liên quan đến các tội phạmvề chức vụ nhằm hoàn thiện CSPLHS theo hướng đề cao hiệu quả phòng ngừa và mang tính hướng thiện trong việc xử lý ngườiphạm tội; tôn trọng và bảo đảm thực thi các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013. Đây là định hướng cơ bản thể hiện rõ chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong việc xử lý người phạm tội.

-Cầnnghiên cứu, so sánh,họctậpkinh nghiệmđấutranh phòng, chống tội phạm có liên quan đến các tội phạm về tham nhũng của các nước trên thế giớiđểđưara những giải pháp nhằm hoàn thiện BLHS và nâng cao hiệuquảđấu tranh phòng, chống các loại tội phạm về chức vụ theo tình hình thực tiễn ở Việt Nam hiện nay.

24

Kết luận chương 1

Trong quá trình lập pháp hình sự, một công đoạn quan trọng phải kể đến là việc xácđịnhcho được những vấn đề nào mang tính chiến lược, vấn đề nào mang tính sách lược làm cơ sởcho việcđịnh hướng xây dựng các quy phạm pháp luật hình sự. Để làm tốt công đoạn này, bên cạnh việc tham khảo, học hỏi kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia tiến bộ trên thế giới, thì nhà làm luật còn phải căn cứvào điều kiện và đặc điểm về tình hình kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, tình hình

an ninh – quốc phòng của đất nước ở từng thời kỳ, đây chính là yếu tố cơ bản và cốt lõi trong việc xây dựng CSPLHS. Điều này cũng có ý nghĩa, CSPLHS phải xuất phát từ thực tiễn cuộc sống và quay trở lại điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cuộc sống. CSPLHS sẽđược thực tiễn kiểm nghiệm thông qua hiệu quảáp dụng trong thực tiễn. Lý luận và thực tiễn lập pháp cũng như áp dụng pháp luật thời gian qua cho thấy, pháp luật hình sựsẽkhông phát huyđược hiệu quảtrong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, hoặc không khả thi nếu nó không xuất phát từthực tiễn, không phù hợp với thực tiễn hoặc khi nó không đồng bộvới các ngành luật khác, và do đó để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng ngừa vàxử lý các hành vi phạm tội nhằm kịp thời bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, chúng ta phải tiến hành sửa đổi, bổ sung CSPLHS. Một biểu hiện thường thấy đó là việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành BLHS mới.

CSPLHS đối với các tội phạmvềchức vụcũng vậy, luôn là vấn đềcó ý nghĩa chính trị xã hội, pháp lý vàý nghĩa lý luận, thực tiễn rất quan trọng thể hiện trên nhiều bình diện khác nhau. CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ là sự thểhiện quan điểm, tư tưởng và ý chícủagiai cấp cầmquyền với pháp luật của Nhà nước, giữa pháp luật với việc áp dụng pháp luật đó trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và các tội phạm về chức vụ nói riêng.

Với ý nghĩa như vậy, trong chương 1 của luận án chúng tôi đã tập trung nghiên cứu, phân tích, kiến giải, làm sáng tỏnhững kết quảđạt được, những hạn chế, thiếu sót cũng như những khoảng trốngvềmặt khoa học thểhiện trong các công trình nghiên cứu liên quan đến CSPLHS đối với tội phạm về chức vụ ở trong và ngoài nước. Thông qua việc nghiên cứu này chúng tôi cho rằng, vấn đề tội phạm

25

về chức vụ nói chung và tội phạm về tham nhũng nói riêng đang được coi là vấn nạn mang tính toàn cầu, nó có khả năng đe dọa tính ổn định an ninh chính trị và sự

tồn vong của chế độ. Chính vì vậy, những công trình khoa học đề cập đến lĩnh vực tư pháp hình sự đối với các tội phạm về chức vụ là khá phong phú. Tuy nhiên, các công trình này hầu như chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá các quy định cụ thểtrong thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm mà chưa nêu ra được những vấn đềthuộc về lý luận ở tầm chiến lược hay nói cách khác là chưa làm rõ những vấn đề có liên quan đến CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ như: khái niệm, nội dung, các bộ phận hợp thành cũng như mục đích, ý nghĩa và quy trình chính sách. Ngoài ra, vì mục đích và phương pháp tiếp cận khác nhau cho nên chưa giải quyết được những vấn đề cốt lõi liên quan đến CSHS đối với các tội phạm về chức vụ như:

Chưa hìnhsựhóađượcđầy đủcác hành vi phạmtộicủangườicó chức vụ, quyền hạn đang tồn tại trên thực tế để làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, các biện pháp thực hiện chính sách, các nhân tố tác động và ảnh hưởng đến việc tổchức thực hiện quy trình chính sách, thực tiễnđịnhtộidanh và quyếtđịnh

hình phạt đối với các tội phạm về chức vụ.v.v…Mặc dù vậy, các công trình khoa học nêu trên đã cung cấp cho tác giả những lý luận và kinh nghiệm thực tiễn đấu tranh phòng, chống cáctộiphạm tham nhũngđểlàm cơsởtiếp tục nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện CSPLHS đối với các tội phạm về chức ở Việt Nam hiện nay nhằmđápứngyêucầuđấutranh phòng, chốngtộiphạm nói chung và các tội phạm về chức vụ nói riêng.

26

Chương 2

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ CHÍNH SÁC PHÁP LUẬT

HÌNH SỰ ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

CSPLHS là những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nướcđã được cụ thể hoá bằng cácbộ luật, luật, pháp lệnh quan trọng trong đấutranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên, CSPLHS trên thực tế vẫn còn thiếu đồng bộ, chưa theo kịp những biến đổi sôi động của cuộc sống. Xét ở tầm hoạch định chính sách thì Việt Nam đang thiếu một chương trình tổng thể (từ ý tưởng, pháp luật, biện pháp và tổ chức thực hiện) trongđấutranh phòng, chống tội phạm phù hợpvới định

hướng phát triển kinh tế –xã hội, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN giai đoạn từnayđến2020. Để có cơ sở xây dựng và hoạch định CSPLHS phùhợpvớithực tiễn,đáp ứngyêucầu đấutranh phòng, chống tội phạm về chức vụ trong giai đoạn hiện nay chúng ta phải làm rõ được những vấn đề lýluận, thực tiễn và khái quát được những CSPLHS đối với các tội phạmvề chức vụtrong lịch sử để làm cơ sở kiến nghị hoàn thiện CSPL hiện hành.

2.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ

– Khái niệm CSPL

Chính sách được xây dựng và thực hiện trong các lĩnh vực khác nhaucủa đời sống xã hội, do vậy có thể có thực chất và có tính định hướng khác nhau. Chính sách có nhiều loại như: Chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách văn hóa, chính sách giáo dục và đào tạo, chính sách quốc phòng , chính sách an ninh, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách đốingoại..v.v. Tất nhiên, trong tất cảcác loại chính sáchđócó CSPL – loại chính sách mà với sự trợ giúp của nó thì tất cả các loại chính sách nói trên được đưa vào đời sống pháp luật (chẳng hạn thông qua các văn bảnpháp luật và các phương tiện pháp lý khác).Đồng thời cùng vớicác loại chính sách nói trên, CSPL có ý nghĩa độc lập của mình và CSPL giữvịtrí quan trọng và là một trong những định hướng nghiên cứu của khoa học pháp lý và khoa học chính sách công trong thế kỷ XXI ở nước ta. Trong đời sống hàng ngày, thông thường mọi người gọichính sách là hoạt động có tính hướng đích của Nhà nước, của Đảng, của các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức kinh tế, …

27

V.I. Lênin quan niệm: “Chính sách là sựtham gia vào các công việc của Nhà nước, là đường hướng của Nhà nước, là sự xác định các hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước” [35, tr 340].

Chính sách, do vậygóp phần xác định conđường hoạt động cụthể, cách thức tiến hành, biện pháp bảođảmcũng như những mục tiêu cơ bản cần đạt được của các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, các tổ chức chính trị – xã hội và của chính mỗi cá nhân trong xã hội đó. Như vậy, bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất củađường lối, nhiệm vụchính trị, kinh tế,

văn hóa, xã hội…. Muốn định ra chính sách đúng phải căn cứ vào tình hình thực tiễn trong từng lĩnh vực, từng giai đoạn, phải vừa giữvững mục tiêu, phương hướng được xác định trong đường lối, nhiệm vụchung, vừa vận dụng linh hoạt vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể.

Hoạt động quản lý xã hội của Nhà nướcđược thực hiện ởtầm vĩ mô trước hết là bằng chính sách, tức là bằng việc xác định hình thức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Nhà nước trong đời sống xã hội nói chung cũng như trong các lĩnh vực cụthể của xã hội đó nói riêng.

Trong lĩnh vực pháp luật, “CSPL được hiểu là việc xác định đường hướng, các hình thức, nhiệm vụvà nội dung hoạt động của Nhà nước trong việc sửdụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thúc đẩy tiến trình phát triển của xã hội. CSPL cùng với các chính sách khácđược hoạchđịnh cho từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho việc sử dụng một cách cóhiệu quả các khả năng điều chỉnh của pháp luật, xác định đúng đắn cơ cấu tổ chức và hoạt động của các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật của xã hội cũng như mỗi cá nhân CSPL cùng với các chính sách khác được hoạch định cho từng giai đoạn phát triển của đất nước nhằm tạo lập cơ sở đúng đắn cho việc sử dụng có hiệu quảcác khảnăng điềuchỉnh củapháp luật, xác định đúng đắn cơ cấu tổchức vàhoạt độngcủa các cơ quan pháp luật, xây dựng ý thức pháp luật của xã hội cũng như mỗi cá nhân” [22, tr 33].

Với tính chất là những nguyên tắc, đường hướng cơ bản vềviệcsửdụng pháp luật, CSPL có mối liênhệchặt chẽvớicác chính sách khác như: chính sách kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục… và trở thành một bộ phận hữu cơ trong hệ thống các đường lối và chính sách chung của Nhà nước. Nhưng CSPL khác với các chính

28

sách khác ở chỗ:CSPL gắn liền với sự hiện diện của pháp luật; CSPL có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội; CSPL xâm nhập vào các lĩnh vực của đời sống xã hội chỉởmức độcó sựđiềuchỉnh của pháp luật. Nhữngđiểmkhác nhau trên phát sinh từ vai trò và chức năng của pháp luật nói chung. Pháp luật, dù ở mức độphát triển nào cũng vẫn là công cụ, phương tiện quản lý xã hội với chức năng cơbản là điều chỉnh quan hệ xã hội. Mục đích của việc sử dụng pháp luật không phải là chính pháp luật, mà là ở hiệu quả sử dụng pháp luật.

Mục đích tổng quát của CSPL là hiệu quả sử dụng pháp luật nhằm phát triển xã hội. Mục đích tổng quát này lại là sựtổng hợp nhiều mục tiêu khác nhau được xây dựng thông qua các hướng triển khai CSPL, bao gồm các nội dung sau:

Một là, CSPL xác định các loại quan hệxã hội cần điều chỉnh bằng pháp luật. Nghĩa là cần hoạch định chính sách đúng đắn để xác định phạm vi điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ thực tế trên cơ sở nhu cầu khách quan.

Hai là, CSPL xác định phương hướng điềuchỉnh pháp luật cho từng loại quan hệ xã hội. Nghĩa là xác định cần hay không cần duy trì và phát triển loại quan hệ xã hội đó? hướng sự phát triển của loại quan hệ đó theo chiều nào?; v.v…

Ba là, CSPL xác địnhhệthống các mối liên hệgiữa các cơ quan có chức năng lập pháp và các cơ quan áp dụng pháp luật.

Bốn là, CSPL xác định nội dung và phương pháp giáo dục, phổbiến pháp luật nhằm nâng cao trình độ văn hoá pháp lý của nhân dân.

Các hướng triển khai CSPL nói trên cũng chính là nội dung cơ bản của CSPL. Trong suốt quá trình phát triển của đất nước kể từ khi chính quyền dân chủnhân dân được thiết lập, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc hoạch định CSPL nhằm xây dựng và củng cốcác quan hệpháp luật, xây dựng và hoàn thiện các chế định, các thiết chế tổ chức pháp lý.

Kết quảcủa sựquan tâm đúngđắn đối vớiCSPL ởnước ta, qua mỗi giaiđoạn phát triển đều có hiến pháp và một hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Chính những công cụ pháp lý này đã tạo điều kiện cần thiết để nhà nước quản lý xã hội, thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội được đề ra cho từng giai đoạn.

Việc triển khai CSPL thông qua yêu cầu thực hiện pháp luật cũng luôn là vấn đề mà Đảngvà Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nghị quyết của các đại hội toàn quốc

29

của Đảng, nhất là ở Đại hội lần thứ VI, VII, VIII và Đại hội IX luôn nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật.

Nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền,

lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tựpháp luật xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và nhất là việc đảmbảo thực thi những điều đó là một trong những chức năng quan trọng nhất của Nhà nước pháp quyền. Tình trạng tội phạm gia tăng trong xã hội hiện nay gây thiệt hại to lớn cho lợi íchcủaNhà nước, của xãhộivà của công dân, ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình chính trị- đạo đức, xãhội. Việc bảovệcác quyền cá nhân vàlợiích xã hội chỉ có được trong điều kiện thiết lập sựkiểm soát nghiêm khắc của xã hội đối với tình trạng tội phạm từ phía Nhà nước thông qua các cơ quan chuyên trách. Việc sử dụng các quyền lực chính quyền có tính chất cưỡngchế từphía nhà nước trong quá trình kiểm soát tình trạng tội phạm làm cho hệ thống quản lý xã hội mang tính chất chính trị. Sựcần thiết soạn thảo chính sách nhà nước nhằm ảnh hưởng tới tình trạng tội phạm theo các phương hướng cần thiết cho xã hội là nhu cầu khách quan.

Hoạt độngcủa Nhà nước trong lĩnh vực đấu tranh chống mọi hành vi phạm tội kể cả các hành vi mang tính chất vi phạm, tệ nạn xã hội và khắc phục chúng là khuynh hướng đặc trưng trong chính sách thống nhất của Nhà nước ngày nay và được gọi là chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm. Những quan điểmvàđường lối của chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm được hình thành trên cơ sở phân tích các qui luật khách quan của sự phát triển xã hội có tínhđến nhữngđặc điểm và nhu cầu của xã hội trong những giai đoạn nhất định. Cơ sở quan niệm của chính sách đấutranh phòng, chống tội phạm hiện nay là những luận điểm có tính nguyên tắc như các tư tưởng vềtính chất và nội dung có tính chất xã hội của tội phạm; về sự ưu tiên của các giá trị xã hội cần bảo vệ; của các biện pháp đấu tranh với tội phạm có tính chất xã hội hơn là các biện pháp cưỡng chế; về các mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung của sự trừng phạt; về tính hợp pháp trong hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật… Nội dung của chính sách đó làviệc áp dụng tất cả các biện pháp kinh tế, xã hội, tổ chức, luật pháp… trong cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm là sự tổng hợp các tưtưởng chủ

30

đạo có cơ sởkhoa học và các luậnđiểm vềcác lậptrường, khuynh hướngchiến lược, đườnglối và phương sách hạn chế tội phạm mà các cơ quan nhà nước và xãhội phải thấm nhuần trong hoạt động thực tiễn của mình. Chính sách đó là bộ phận không thể tách rời trong chính sách đối nội của Nhà nước, nó có những nét chủ yếu của chính sách xã hội mới nhất, nhưng đồngthời nó khác biệt với các chính sách khác ở đối tượng, các nhiệm vụ và cách thức tác động. Tội phạm – một hiện tượng xã hội được coi là đối tượng của chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm. Chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm như một hoạt động xã hội có tính chất xã hội – nhà nước bao gồm nhiều biện pháp đa dạng dựa trên cơ sở các lĩnh vực của luật pháp. Chính sách này bao gồm việc nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa tội phạm; việc xây dựng các đạo luật hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, luật pháp hành chính và luật pháp dân sự nhằm thực hiện chức năng phòng ngừa; việc áp dụng pháp luật trong hoạt động thực tiễn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, việc hình thành trình độ nhận thức pháp luật ở mức nhất định và ý thức luật pháp cho nhân dân; qua đó nhằm làm giảm bớt tội phạm và làm thay đổi nó về chất. Sự trấn áp cần thiết cáctộiphạmđượcthực hiện thông quahệthống các cơ quanbảovệpháp luật cũng như các cơ quan nhànướcvà xãhộikhác cùng tham gia vào cuộcđấutranh phòng, chống tội phạm trong khuôn khổ và chức năng được trao cho các cơ quan đó. Chính sách đấu tranh phòng, chống tội phạm còn được thực hiện nhờ vào việc áp dụng biện pháp thuyết phục, giáo dục và biện pháp cưỡng chế của nhà nước.

Trên cơsởphân tích các quanđiểm hiện có trong sách, báo gắn với nhận thức về CSPL, có thể khái quát thành 03 cách tiếp cận ở mức độ nhất định về CSPL,

đó là: cách tiếp cận tư tưởng, cách tiếp cận tư tưởng – hoạt động và cách tiếp cận hoạt động. Tuy nhiên, chúng ta cần lưu ý sự phân chia và tên gọi nêu trên chỉ mang tính tương đối.

Qua nghiên cứu, phân tích các quan niệm, tôiđồng tình với quanđiểm của GS.TS Võ Khánh Vinh vềcách tiếp cận hoạt độngchọn cách tiếp cận hoạt động,

bởi lẽ CSPL – trước hết là các hoạt động của các chủ thể tương ứng trong lĩnh vực pháp luật. Các quan điểm, mục tiêu, chiến lược, sách lược, định hướng, chương trình, kế hoạch …đó chỉ là cơ sở của CSPL, làyếu tố của hệ tưtưởngvà hệ tư tưởng

31

pháp luật theo bản chất của nó là mang tính khách quan được quy định bởi các đòi hỏi của hạ tầng kinh tế, của toàn bộ đời sống xã hội [114, tr4].

Các tư tưởng, quan điểm, mục đích – đó chưa phải là CSPL,đó cái được gọi

là tiền đề của CSPL – các tư tưởng, các quan điểm, mục đíchcó thể được tồn tại ởmức độ như vậy.

CSPL, cũng như chính sách nói chung, là hoạt động thực hiện các tư tưởng, quan điểm nhất định. Do vậy, CSPL theo thực chất nó là một hoạt động, chứ không phải là các tư tưởng, quan điểm. CSPL là hoạt động mà trong cơ sở, nền tảng của nóchứa đựng các tư tưởng, quanđiểm pháp luật mang tính chất chiếnlược đãđược hình thành dưới dạng một quan niệm tổng thể.

CSPL ở nghĩa nhận thức rộng thì nó là một hiện tượng tập hợp hơn là hiện tượng thống nhất, trong phạm vi của nó có hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn. Tất nhiên, CSPL là hoạt động buộc phải dựa vào những tư tưởng, quan điểm, dự định nàođó, và nó hoạt độngcó hướng mục đích. Không thể nói về hoạt động mà thiếu các tư tưởng, mục đích, các định hướng. Chính sách là hoạt động, nhưng đó là hoạt động được định hướng về mặt tưtưởng, về mục đích và cơ sở tư tưởng của CSPL chỉlà dựđịnh. Dựđịnh đó trởthành CSPL khi được đưa vào lĩnh vực thực tiễn. Ví dụ: Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ở nước ta chỉ trở thành CSPL khi Bộ Chính trị thông qua Nghị quyết số 49. Bên cạnh đó, cũng cần nói rõcác tư tưởng, quan điểm về pháp luật do cộng đồng các nhà khoa học hoặc các chủthể khác soạn thảo, vì lý do này hay lý do khác mà không được áp dụng vào trong thực tiễn xây dựng pháp luật thì đó cũng không phải CSPL đúng nghĩa của nó màđó chỉ là dự thảo, kiến nghị về CSPL mà thôi.

Để nghiên cứu đầy đủ giá trị của khái niệm CSPL cần tìm hiểu các dấu hiệu của nó, các dấu hiệu này thể hiện rõ nét nhất bản chất của CSPL. Hiện nay, vấn đềnày có rất nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng cần phân loại theo các dấu hiệu chung và dấu hiệu riêng.

Dấu hiệu chung của CSPL gồm: ý chí nhà nước và mệnh lệnh quyền lực; tính chất liên kết và hình thức; tính hệ thống; tính nền tảng; tính quan niệm tổng thể; tính hiện thực; tính chất công; tính năng động và tính ổn định; tính kế hoạch; sự phụ thuộc

32

vào các yếu tố môi trường bên ngoài và bên trong và các dấu hiệu khác. Tất cả các dấu hiệu đó có thể đặc trưng cho mọi loại chính sách công khác như đã nêu ở trên.

Dấu hiệu riêng của CSPL, theo chúng tôi gồm:

Thứ nhất, CSPL bao giờ cũng là hoạt động trong lĩnh vực đời sống pháp luật của xã hội, nó bao gồm cảpháp luật,điềuchỉnh pháp luật,hệthống pháp luật, cảđời sống pháp luật tích cực và tiêu cực.

Thứhai, CSPL là hoạt động hướng tới việc nâng cao chất lượng đời sống pháp luật của xã hội.

Thứ ba,đó làhoạt động thể hiện tháiđộcủa các chủ thể của CSPL đối với những vấn đề quan trọng nhất của phát triển đời sống pháp luật của xã hội,đối với sựthayđổi và đối vớinhững bộphận quan trọng nhất của nó đểxác định các ưu tiên trong hình thành và thực hiện CSPL.

Thứtư, CSPL là hoạt động gắn liền với việc soạn thảo và thực hiện các tưtưởng, quan điểm pháp luật mang tính chất chiến lược và sáchlược;các quanđiểm đó là tiền đề của CSPL và hướng đến việc tổ chức đời sống pháp luật của xã hội.

Thứ năm, CSPL là hoạt động chủ yếu do các chủ thể trong đời sống chính trịvà pháp luật của xã hội thực hiện. Các chủthểnày có thẩm quyền, có trình độlý luận, có thực tiễn và kinh nghiệm chính trị – pháp luật, dođó họ cóthể xây dựng và thực hiện CSPL một cách có hiệu quả.

Khi xem xét CSPL cần phải phân tích các dấu hiệu không chỉlàđặc trưng của chính sách nói chung mà cần phân tích những dấu hiệu riêng, dấu hiệu đặc trưng của pháp luật và có thể chia chúng thành ba mức độ như: CSPL mong muốn có được, hợp lý; CSPL được công bố chính thức; CSPL được thực hiện trên thực tế.

Từnhững phân tích nêu trên, chúng tôi cho rằng CSPL là quan điểm, tư tưởng chung, nhất quán của Đảng, Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác được thểhiện thông qua hoạt động có căn cứkhoa học nhằm xây dựng hệthống quy phạm pháp luật đồng bộ nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quátrình chấp hành và điều hành của Nhànước,đảm bảo đầy đủ nhấtcác quyền của con người và quyền tự do, dân chủ của công dân, hình thành Nhà nước pháp quyền, văn hoá pháp luật và đời sống pháp luật của xã hội và của cá nhân.

33

– Khái niệm CSHS

Trong khoa học Luật hình sựcác vấn đềcủa CSHS từlâu đã được các nhà nước quan tâm, ởnước ta vấn đềnày hiện còn nhiều quan niệm khác nhau vềCSHS.

Theo quan điểm của GS.TSKH. Đào Trí Úc, CSHS là một bộ phận của CSPL, bởi vì đó là những định hướng, những chủ trương trong việc sử dụng pháp luật hình sựvà lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm và phòng ngừa tội phạm [39, tr 17].

Còn theo TS. Phạm Thư thì CSHS là những định hướng, chủ trương,đường lối có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Đảng và Nhà nước để giải quyết các vấn đềhình sự trong việc sử dụng pháp luật hình sự vào lĩnh vực đấu tranh phòng, chống

tội phạm. CSHS là một bộ phận cấu thành của CSPL nên CSHS vừa gắn bó hữu cơvới CSPL vừa mang những đặc tính chung của CSPL và nó có mối liên hệ chặt chẽvới đường lối, chính sách xã hội chung của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ, từng giai đoạn phát triển của xã hội [130, tr 56].

Hoặc theo một sách chuyên khảo hiện nay, TS. Phạm Văn Lợi và tập thể tác giảquan niệmvềCSHS, căn cứcác yêu cầu vềxây dựng Nhà nước pháp quyền trong thời kỳđẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước như sau: “CSHS trong giai đoạn đẩymạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,xây dựng nhànước pháp quyền là một phần của chính sách xã hội nói chung, đồng thời là CSPL trong lĩnh vực tư pháp hình sự nói riêng và bao gồm tổng thể bốn chính sách – chính sách phòng ngừa tội phạm, CSPLHS, CSPL tốtụng hình sựvà CSPL thi hành án hình sự – với tính cách là những phương hướng có tính chất chỉ đạo, chiến lược của Nhà nước trong cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm nhằm đảm bảo thực hiện tốt đường lối xửlý vềhình sự, góp phần đưa các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền vàođờisống thực tế, giáo dục công dân ý thức tôn trọng, tuân thủvà chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tiến tới xây dựng thành công nhà nước pháp quyền ởViệt Nam” [39, tr 24].

Như vậy, dù được tiếp cận dưới giác độ khác nhau, với quan niệm về phạm vi rộng, hẹp khác nhau song các quan điểm trên đều thừa nhận CSHS là một phần của chính sách xã hội nói chung thểhiện quan điểmcủa Đảng và Nhà nước trong

34

đấu tranh phòng, chống tội phạm trong từng thời kỳ phát triển của xã hội. CSHS có

quan hệgắn bó mật thiết với việc xây dựng và thực hiện CSPL, quốc phòng –an ninh, chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, môi trường…và trong một chứng mực nào đó cũng chịu chi phối bởi những chính sách này.

Trên cơ sởtổng hợp quan điểmvềCSPL và quan điểmvềCSHS nêu trên, chúng tôi cho rằng CSHS là quan điểm, tư tưởng chung, nhất quán có tính chỉ đạo chiến lược của Đảng,Nhà nước và các thiếtchếquyền lựckhácvềlĩnh vực tội phạm và hìnhphạt nhằm đảm bảo thực hiện tốt đườnglối xử lýhình sự, nâng cao ý

thức pháp luật, đảm bảo phápchế xã hội chủ nghĩa … gópphần ổn địnhan ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của của công dân, lợi ích của Nhà nước và tăng cường hiệu lực của pháp luật hình sự, đồng thời nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống các loại tội phạm trong từng giaiđoạn nhất định.

– Khái niệm CSPLHS

Hiện nay, vấn đề CSPLHS trong khoa học pháp lý còn có nhiều quan điểm khác nhau, theo quan điểm của các tác giả trong cuốn sách chính sách hình sự trong thời kỳ đổi mới do TS. Phạm Văn Lợi làm chủ biên thì CSPLHS là một bộ phận cấu thành của CSHS nhằm xác định những phương hướng cơ bản có tính chất chỉ đạo của Nhà nước trong hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật hình sự, đảm bảo sựổn định của hệ thống pháp luật hình sự, tăng cường bảo vệ các quyền và tự do của con người, cũng như các lợi ích hợp pháp của xã hội và của nhà nước bằng PLHS,đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm [39, tr 37].

Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì CSHS là quan điểm, tư tưởng chung, nhất quán của Đảng, Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác có liên quan đến tội phạm, hình phạt và phương hướng xửlý các vấn đềcó liên quan đến tội phạm và trách nhiệm hình sự. Nhưng nếu tư tưởng, quan điểm chung đó không được đưa vào thực tiễn thông qua hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể thì nó mới chỉlà chỉ là dự định mà thôi.

Vì vậy, theo tác giả thì CSPLHS là tư tưởng, quan điểm nhất quán của Đảng,

35

Nhà nước và các thiết chế quyền lực khác liên quan đến tội phạm và hình phạt, màthông qua các hoạt động có căn cứ khoa học, đã được thể chế hóa trong hệ thống PLHS như: Các Nghị quyết có liên quan đến CSHS, BLHS, Bộ luật Tố tụng hình sự,

Luật Thi hành án hình sự… làm cơ sở xử lý tội phạm, và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, đấu tranh chống các loại tội phạm góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tựan toàn xã hội, đảm bảo các quyền, lợi ích hợp pháp của của công dân, lợi ích của Nhà nước và tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật hình sự trong từng giai đoạn nhất định.

2.1.1. Khái niệm CSPLHS đối với các tội phạm về chức vụ

Tội phạm về chức vụ, nhìn dưới giác độ CSPLHS, là khái niệm chung để chỉ

tất cả các tội phạm có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới các hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổchức trong quản lý và được quyđịnh cụthểtại Chương XXI, BLHS hiện hành. Tộiphạmvềchức vụdướigóc độtộiphạmhọccòn được hiểu như một bộ phận cấu thành của tội phạm nói chung, nó là khái niệm tổng hợp để chỉmột hiện tượng, một tình trạng xã hội do nhiều bộ phận hợp thành. Do vậy, bàn vềCSPLHS đối với tội phạm chức vụởViệt Nam hiện nay, phải xem xét hếtnhững khía cạnh liên quan đến các hành vi xâm phạmđến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổchức, cá nhân của người có chức vụ, quyền hạn.Nếunhững hành vi vi phạm nguy hiểm đáng kể cho xã hội vì đã xâm hại đến những lợi ích, những quan hệ xã hội có ý nghĩa quan trọng đáng kể được Nhà nước bảo vệ thì phải chịu hình phạt, xét từ mục tiêu và lợi ích giai cấp của nhà nước và chế độ xã hội. Những hành vi xâm phạm đến hoạtđộng đúng đắn của cơ quan, tổchức do người có chức vụthực hiện lại càng cần phải trừng trị. Bởi lẽ, hành vi lợi dụng chức vụ để phạm tội luôn được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sựcủa các tội phạm có liên quan về vấn đề này vì nó mang lại sự thiệt hại trước hết cho lợi ích nhà nước, uy tín và trật tự pháp luật XHCN, cố tình làm trái những lợi ích của sự tồn tại Nhà nước và chế độ xã hội. Kinh tế thị trường với những sự biến đổi nhanh chóng và sự đòi hỏi tính năng động caođộcủa cơ chếvận hành,tổchức quản lý trong mọi lĩnh vực. Nhưng chính sựnăng động đó cũng tạora nguy cơ cao vềvi phạm pháp luật. Vềmặt pháp luật, những điểm chưa hoàn thiện trong pháp luật hình sự chính là mảnh

36

đất tốt để gieo cấy những động cơ vụ lợi đó. Ví dụ, việc đưa vào trong BLHS những quy định, những chế tài tuỳ nghi với dải phân cách rộng có thể thuận lợi cho người áp dụng pháp luật nhưng đồng thời cũng tạo ra nguy cơ cao trong việc áp dụng sai trái để vụ lợi bằng việc “phi hình sự hoá” hoặc “hình sự hóa” tùy tiện. Để khắc phục vấn đềcần thiết phải có một hệthống giải pháp toàn diện, tuy nhiên trên phương diện lập pháp hình sự cần sửa đổi, bổ sung BLHS 1999 với tinh thần sao cho những ai đang có thẩm quyền của chủ thể áp dụng pháp luật muốn thực hiện những hành vi vụlợi khó mà thực hiện được ýđồ. Thực tếcũng đang đòi hỏităng cường những hình phạt bổ sung sao cho những đối tượng như thế không có chỗ đứng trong môi trường quản lý kinh tế, vật chất hay công tác cán bộ. Trong điều kiện pháp luật đãđược ban hành ngày càng đầy đủ, các quan hệ xã hội ngày càng được tổ chức chặt chẽhơn thì càng cần gia tăng hình sựhoá, tội phạm hoá những hành vi, thói xấu tham lam, lợi dụng hoàn cảnh, chức vụquyền hạn đểtrục lợi. Cơ chếgiám sát vàkiểm soát quyền lực trong thực tế đang kém hiệu quả. Việc giải quyết khiếu nại, tốcáo của công dân, tổ chức cũng chưa được hoàn chỉnh, chưa thuận lợi cho công dân, các tổ chức, doanh nghiệp thông qua đó để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Các tranh chấp, khiếu kiện, khiếu nại chậmđượcgiải quyết dẫn đến tâm lý chán nản, không tin tưởng khả năng có thể bảo vệ lợi ích của mình bằng giải pháp pháp luật. Việc hìnhsựhoá một sốhành vi vi phạm pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tốcáo như: cố tình trì hoãn không thực hiện nghĩa vụ trong giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật để đòi hỏi lợi ích không chính đáng cho bản thân hoặc người hoặc tổ chức khác cũng cần được xem xét nhằm làm lành mạnh hoá các quan hệứng xửgiữa nhà nước với công dân mà còn nhằm làm trong sạch bộmáy nhànước, tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước. Vì tính chất quan trọng của các quan hệpháp luậtđược điều chỉnh trong Luật khiếu nại tốcáo đối vớiNhà nước, xã hội và công dân mà những hành vi nghiêmcấmtrong lĩnh vực này cần được hình sự hoá tối đa. Xuất phát từ thực tiễn đấu tranh với các loại tội phạm vềchức vụ, trên cơ sở dự báo khoa học cũng như để phù hợp với yêu cầu của các điều ước quốc tếmà Việt Namđã ký kết, phê chuẩn thì việc phi hìnhsựhoá, phi tội phạm hoá hoặc hình sự hoá, tội phạm hoá các hành vi phạm tội của người có chức

37

vụ ở Việt Nam là sự cần thiết vì pháp luật hình sự, xét về mặt triết học, cũng là sựphản ánh chủ quan đời sống xã hội khách quan và vì thế, nghĩa vụ của nhà lập pháp là bảo đảm sự phản ánh đó phù hợp tối đa với điều kiện tồn tại khách quan đó. Sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật hình sự phải trong những giới hạn cần thiết và có thể, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụthểcủa đất nước, những nhiệmvụđặt rađối với nhà nước và xã hội trong hoàn cảnh hiện tại cũng như trong những tương lai được dự báo đúng đắn.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ CHỨC VỤ

Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ Chính sách pháp luật hình sự Việt Nam đối với các tội phạm về chức vụ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *