Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội

Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Phụ nữ là lực lượng lao động đông đảo, có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng trong gia đình và xã hội. Hiện nay, lực lượng lao động nữ chiếm một tỷ lệ khá cao trong tổng số lực lượng lao động tại Việt Nam, tỷ lệ lao động nữ tham gia vào thị trường lao động luôn giữ ở mức ổn định 48-49%. Tất cả các lĩnh vực từ đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, nghệ thuật… đều có sự tham gia của lực lượng lao động nữ, với tỷ trọng chiếm khá lớn trong lực lượng lao động như thế việc họ đóng góp tham gia vào quá trình sản xuất, tạo ra các sản phẩm về vật chất, tinh thần phục vụ cho lợi ích của xã hội. Vì vậy, lao động nữ có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội để được bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong các trường hợp họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của kinh tế thị trường.

Bảo hiểm xã hội là một trong những trụ cột chính của an sinh xã hội được Nhà nước ta đặc biệt quan tâm bởi nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội. Bảo hiểm xã hội giúp người lao động bù đắp phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút trong quá trình lao động đảm bảo các quyền của người được hưởng khi gặp rủi ro trong cuộc sống đồng thời thể hiện bản chất tốt đẹp của Nhà nước luôn quan tâm đến chính sách về con người. Trong cuộc sống con người phải tuân theo quy luật phát triển và sự sinh tồn của tự nhiên nên khi rơi vào các trường hợp bị giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hay do sự tác động của kinh tế thị trường thì người lao động cần có một khoản vật chất giúp đỡ người lao động giải quyết những khó khăn đó. Vì thế, việc tham gia Bảo hiểm xã hội của người lao động là hết sức cần thiết trong đó có sự can thiệp điều chỉnh của Nhà nước để đảm bảo quyền lợi cho người lao động khi gặp rủi ro và xác định trách nhiệm pháp lý của người sử dụng lao động và người lao động khi người lao động gặp phải khó khăn thông qua đóng góp nghĩa vụ tài chính bắt buộc. Các Mác khẳng định: “Vì nhiều rủi ro khác nhau, nên phải dành một số thặng dư nhất định cho quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm cho sự mở rộng theo kiểu luỹ tiến hoá quá trình sản xuất ở mức cần thiết, phù hợp với sự phát triển của nhu cầu và tình hình tăng dân số ”.

Trong hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm thai sản ngoài ý nghĩa đảm bảo thu nhập cho người phụ nữ còn có ý nghĩa xã hội và tính nhân văn rất lớn, đóng góp để tái sản xuất dân số và duy trì nòi giống. Với việc tham gia bảo hiểm xã hội, đặc biệt là chế độ thai sản đảm bảo được thu nhập và ổn định cuộc sống đối với lao động nữ khi họ mang thai, sinh đẻ hay nuôi con trong một thời gian ngắn. Nó có một vị trí quan trọng đối với lao động nữ, nhằm động viên, khuyến khích và hỗ trợ người mẹ khi họ mang thai, sinh sẻ và nuôi con sơ sinh. Cùng với các chế độ bảo hiểm khác, chế độ bảo hiểm thai sản ở nước ta đã được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật lao động từ khi giành đước chính quyền cho đên nay. Đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung nên chính sách bảo hiểm thai sản ngày càng đầy đủ, hoàn thiện và phù hợp hơn với thực tế đời sống, đáp ứng được mục tiêu về bảo vệ sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con và chăm sóc con. Chế độ bảo hiểm thai sản có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách bảo hiễm xã hội, không chỉ bởi tính nhân văn, nhânđạo sâu sắc mà còn góp phần tái sản xuất sức lao động xã hội. Hằng năm, trợ cấp thai sản đã góp phần bảo vệ quyền lợi cho hàng trăm ngàn phụ nữ và trẻ em, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Tuy nhiên vẫn còn khá nhiều quy định bất cập, cần phải tiếp tục nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp, thực tiễn ở Việt Nam nói chung và thành phố Đà Nẵng nói riêng, dưới sự tác động của nền kinh tế thị trường, trong một số vấn đề, đối với lao động nữ chưa được đảm bảo thực hiện một cách đầy đủ.

Vì sự ưu việt của chế độ bảo hiểm thai sản có tầm quan trọng đặc biệt đối với lao động nữ nói chung tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt chức năng làm mẹ vừa tạo điều kiện để lao động nữ thực hiện tốt công tác xã hội nên việc nghiên cứu đề tài “Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng” là rất cần thiết.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu làm rõ một số vấn đề lý luận về chế độ bảo hiểm thai sản, đánh giá thực trạng chế độ bảo hiểm thai sản từ thực tiễn tại Đà Nẵng, từ đó đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Chỉ ra và làm rõ một số vấn đề mang tính lý luận cơ bản như: chế độ thai sản; tìm hiểu quan niệm của quốc tế về vấn đề thai sản và chế độ thai sản, từ đó chỉ ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

– Dựa trên các đặc điểm cụ thể của Đà Nẵng và các quy định hiện hành của chế độ thai sản, Luận văn luận giải cho những thành công và hạn chế của việc thực hiện chế độ thai sản ở Đà Nẵng trong thời gian qua.

– Trên cơ sở những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, Luận văn chỉ ra những định hướng và giải pháp để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ thai sản

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là quy phạm bảo hiểm thai sản theo pháp luật bảo hiểm xã hội của Việt Nam hiện nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

– Phạm vi về không gian nghiên cứu: Luận văn được nghiên cứu trên phạm vi nước Việt Nam, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng

– Phạm vi về thời gian nghiên cứu: đề tài được tiến hành trong 03 tháng, từ tháng 06/2017 đến tháng 08/2017

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận: Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước làm kim chỉ nam cho quá trình nghiên cứu.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

– Phương pháp chủ nghĩa duy vậtbiện chứng và duy vật lịch sử: tìm hiểu về sự ra đời, quá trình phát triển, của bảo hiểm xã hội, chế độ bảo hiểm thai sản, từ đó rút ra bản chất và quy luật của chế độ bảo hiểm thai sản.

– Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: nghiên cứu các tài liệu, lý luận khác nhau về bảo hiểm thai sản bằng cách phân tích chúng thành từng bộ phận để tìm hiểu sâu sắc về đối tượng, sau đó liên kết từng mặt, từng bộ phận thông tin đã được phân tích tạo ra một hệ thông lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chế độ bảo hiểm thai sản.

– Phương pháp thu thập thông tin: dựa trên nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp thu thập được từ những tài liệu nghiên cứu trước đây về chế độ bảo hiểm thai sản để xây dựng cơ sở luận cứ để chứng minh giả thuyết.

– Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết: sắp xếp những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau về chế độ bảo hiểm thai sản thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ để từ đó mà xây dựng một lý thuyết hoàn chỉnh.

Đồng thời kế thừa có chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học đã được công bố.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về chế độ bảo hiểm thai sản cho lao động nữ như: khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản; nội dung pháp luật của chế độ bảo hiểm thai sản; nghiên cứu và khảo kinh nghiệm một số nước và pháp luật quốc tế về chế độ thai sản .

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn cung cấp các luận cứ khoa học cho việc nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay.

Luận văn cũng là tài liệu tham khảo cho các hoạt động nghiên cứu, giảng dạy đại học và sau đại học về chế độ thai sản.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cơ cấu thành ba chương chính sau:

Chương 1: Khái quát chung về chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật bảo hiểm xã hội

Chương 2: Thực trạng áp dụng chế độ thai sản đối với lao động nữ tại thành phố Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện các quy định về chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay

CHƯƠNG 1

KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN THEO PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1. Khái niệm chế độ bảo hiểm thai sản

Dưới góc độ pháp lý, chế độ bảo hiểm thai sản là một trong các chế độ BHXH, bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nhận nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai.

1.2. Nội dung của chế độ bảo hiểm thai sản

1.2.1. Nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản

– BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội

  • BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện
  • Xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH
  • BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động
  • Công bằng trong BHXH:

1.2.2. Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

– Về đối tượng hưởng chế độ thai sản:

Đối tượng của chế độ thai sản chủ yếu là lao động nữ trong độ tuổi sinh đẻ khi khám thai, bị sẩy thai, nạo hút thai hoặc thai chết lưu, sinh con, nuôi con sơ sinh hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai.

– Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Những người đang mang thai hoặc sinh đẻ có tham gia BHXH và phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh. Thời gian này được quy định theo điều kiện của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, thông thường các nước yêu cầu thời gian đóng góp tối thiểu trong khoảng từ 6 tháng đến 12 tháng.

– Về thủ tục hồ sơ hưởng bảo hiểm thai sản:

Phụ nữ thuộc đối tượng được nghỉ thai sản, phải xuất trình một giấy chứng nhận y tế dự tính thời điểm sinh đẻ của mình. Khi lập giấy chứng nhận y tế hoặc các xác nhận thích hợp khác, theo quy định của luật pháp và thực tiễn, phải nêu rõ ngày sinh dự kiến.

1.2.3. Chế độ và quyền lợi

1.2.3.1. Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản bao gồm thời gian khi thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo sau sinh.

“Độ dài thời gian nghỉ thai sản ít nhất là 12 tuần, trong đó một phần thời gian bắt buộc phải nghỉ sau khi sinh đẻ” theo Khoản 2 Điều 3, Công ước số 103 Công ước về bảo vệ thai sản (xét lại) năm 1952 quy định.

1.3.3.2. Mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Trợ cấp chế độ thai sản có hai phương thức thực hiện là trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế.

– Đối với chăm sóc y tế:

Đối với trường hợp thai nghén, sinh đẻ và các hậu quả của sự kiện này (nếu có), người lao động nữ sẽ được hưởng trợ cấp y tế về thai sản, trợ giúp về y tế bao gồm sự chăm sóc trước khi đẻ, trong khi đẻ và sau khi đẻ, do một người đỡ đẻ có bằng cấp hoặc một thầy thuốc phụ trách và cả việc nằm viện nếu cần thiết, các dịch vụ hỗ tợ y, dược, khám thử, chăm sóc răng, kể cả giải phẫu và nằm viện khi cần thiết.

– Đối với trợ cấp thai sản bằng tiền:

Trong trường hợp gián đoạn thu nhập do thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo, lao động nữ sẽ được trợ cấp bằng tiền theo định kỳ. Mức trợ cấp phải đảm bảo nuôi sống chính mình và con mình trong điều kiện sức khỏe đảm bảo và mức sống phù hợp.

1.3.3.3. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản

Lao động nữ sau thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai hoặc thai chết lưu, hoặc sau thời gian hưởng chế độ khi sinh con mà sức khoẻ còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe. Trong trường hợp giấy chứng nhận y tế xác nhận ốm đau vì nguyên nhân sinh đẻ, thì người phụ nữ đó được quyền kéo dài thời gian nghỉ sau khi đẻ, độ dài tối đa có thể do nhà chức trách có thẩm quyền ấn định.

Kết luận Chương 1

Chương 1 của Luận văn đã phân tích một số nội dung cơ bản của chế độ bảo hiểm thai sản, cụ thể:

  1. Khái niệm, ý nghĩa của chế độ bảo hiểm thai sản: là một trong các chế độ BHXH bắt buộc, bao gồm các quy định của Nhà nước nhằm đảm bảo thu nhập và đảm bảo sức khoẻ cho lao động nữ nói riêng khi mang thai, sinh con và cho người lao động nói chung khi nhận nuôi con nuôi sơ sinh, thực hiện các biện pháp tránh thai. Với mục đích trợ giúp, giữ cân bằng về thu nhập, góp phần tạo sự bình ổn về mặt vật chất, bảo vệ sức khoẻ cho lao động nữ và người lao động.
  2. Nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản: là một chế độ của BHXH cho nên chế độ bảo hiểm thai sản tuân thủ các nguyên tắc sau: BHXH là sự bảo đảm về mặt xã hội, BHXH vừa mang tính bắt buộc, vừa mang tính tự nguyện, xác định đúng đắn mức tối thiểu của các chế độ BHXH, BHXH phải đảm bảo sự thống nhất và liên tục cả về mức tham gia và thời gian thức hiện, đảm bảo quyền lợi của người lao động và công bằng trong BHXH.
  3. Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản là những người đang mang thai hoặc sinh đẻ có tham gia BHXH và phải có thời gian đóng góp tối thiểu trước khi sinh. Những trường hợp được hưởng chế độ thai sản bao gồm thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả sau sinh, sự gián đoạn thu nhập nảy sinh.
  4. Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản: thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản bao gồm thời gian khi thai nghén, sinh đẻ và những hậu quả tiếp theo sau sinh, là toàn bộ thời gian được bảo vệ và tối thiểu là 14 tuần (Khuyến nghị 191 năm 2000).
  5. Mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản: trợ cấp phải đảm bảo nuôi sống chính mình và con mình trong điều kiện sức khỏe đảm bảo và mức sống phù hợp. Bao gồm trợ cấp bằng tiền và chăm sóc y tế trước sinh, trong khi sinh và sau khi sinh bởi một bác sĩ đủ năng lực và trong một bệnh viện tùy theo sự lựa chọn của người mẹ.
  6. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản: lao động nữ sau khi hưởng chế độ thai sản mà sức khỏe còn yếu chưa thể đi làm được thì sẽ được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe.
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Thực trạng quy định chế độ bảo hiểm thai sản ở Việt Nam hiện nay

2.1.1. Nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản

Là một chế độ của Bảo hiểm xã hội nên Bảo hiểm thai sản phải tuân theo các nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội:

– Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội

– Thực hiện bảo hiểm xã hội trên cơ sở cân đối mức đóng và hưởng bảo hiểm, kết hợp với nguyên tắc “lấy số đông bù số ít”

– Thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động và cho mọi người lao động

– Mức trợ cấp bảo hiểm xã hội không được cao hơn mức tiền lương khi đang làm việc, nhưng không được thấp hơn mức bảo hiểm tối thiểu

2.1.2. Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

2.1.2.1. Đúng đối tượng hưởng chế độ thai sản:

Đối tượng hưởng chế độ thai sản theo quy định bao gồm những người hưởng lương từ ngân sách nhà nước như cán bộ, công nhân viên chức nhà nước, công nhân quốc phòng, công an nhân dân,… và những người hưởng lương theo hợp đồng lao động với hợp đồng không xác định thời hạn và hợp đồng có thời hạn từ 3 tháng trở lên theo quy định của Bộ luật lao động.

2.1.2.2. Đúng trường hợp được hưởng chế độ thai sản:

Người lao động thuộc trường hợp: lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ, người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi. Người lao động là lao động nữ sinh con đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

2.1.2.3. Đúng và đủ thủ tục hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Để được hưởng chế độ thai sản, người lao động phải có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền. Trong thời gian mang thai, lao động nữ phải có phiếu khám thai, có giấy xác nhận đối với người mang thai bệnh lý, thai không bình thường, sẩy thai, thai chết lưu của cơ sở y tế có thẩm quyền. Khi sinh con, lao động nữ phải có giấy chứng sinh hoặc bản sao giấy khai sinh của con. Trường hợp nhận nuôi con nuôi dưới 4 tháng tuổi phải có chứng nhận theo quy định pháp luật.

2.1.3. Chế độ và quyền lợi

2.1.3.1. Thời gian hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Thời gian hưởng chế độ khi khám thai:

Trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai.

  • Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý:

Lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản 10 ngày nếu thai dưới một tháng; 20 ngày nếu thai từ 1 tháng đến dưới 3 tháng; 40 ngày nếu thai từ 3 tháng đến dưới 6 tháng; 50 ngày nếu thai từ 6 tháng trở lên

  • Thời gian hưởng chế độ khi sinh con:

Điều 34, Luật BHXH năm 2014 quy định, lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 06 tháng.

  • Chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ:

Lao động nữ mang thai hộ được hưởng chế độ khi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý và chế độ khi sinh con cho đến thời điểm giao đứa trẻ cho người mẹ nhờ mang thai hộ.

  • Thời gian hưởng chế độ khi nhận nuôi con nuôi:

Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản cho đến khi con đủ 06 tháng tuổi.

  • Thời gian hưởng chế độ khi thực hiện các biện pháp tránh thai:

07 ngày đối với lao động nữ đặt vòng tránh thai; 15 ngày đối với người lao động thực hiện biện pháp triệt sản.

2.1.3.2. Mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản

Mức hưởng một tháng bằng 100% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội của 06 tháng trước khi nghỉ việc hưởng chế độ thai sản. Trường hợp người lao động đóng bảo hiểm xã hội chưa đủ 06 tháng thì mức hưởng chế độ thai sản theo quy định của Luật BHXH năm 2014 là mức bình quân tiền lương tháng của các tháng đã đóng bảo hiểm xã hội.

2.1.3.3. Dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản

Trong khoảng thời gian 30 ngày đầu làm việc mà sức khoẻ chưa phục hồi thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ từ 05 ngày đến 10 ngày.

2.2. Thực tiễn thực hiện chế độ thai sản tại thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chế độ thai sản ở Đà Nẵng

– Đặc điểm lao động nữ tại TP. Đà Nẵng:

Lực lượng lao động thành phố đa số còn trẻ, dồi dào, trong đó, lao động nữ chiếm nữ giới chiếm 49,73% lực lượng lao động,.

– Đặc điểm hệ thống các cơ quan trực tiếp thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản:

Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng: là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; tổ chức thu, chi chế độ bảo hiểm thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ: Bảo hiểm xã hội, hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế; thanh tra chuyên ngành việc đóng bảo hiểm xã hội, hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn thành phố theo quy định của pháp luật và quy định của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Cơ quan y tế: khá hoàn thiện, cả về con người và cơ sở vật chất, về mạng lưới y tế đến chất lượng khám và điều trị bệnh.

  • Hoạt động của Công đoàn, thanh tra:

Công đoàn TP. Đà Nẵng: các cấp công đoàn TP. Đà Nẵng đang đẩy mạnh việc thực hiện các chế độ chính sách, thiết chế đối với lao động nữ tại các cơ quan, doanh nghiệp, lao động nữ được quan tâm, được hưởng thụ đầy đủ các thiết chế như: nhà ở, nhà trẻ, khu vệ sinh, nhà tắm đảm bảo quy định, chế độ chính sách BHXH, thai sản…

Thanh tra thành phố Đà Nẵng: là cơ quan chuyên môn của UBND thành phố Đà Nẵng, có trách nhiệm giúp UBND thành phố quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật, trong đó có BHXH.
– Công tác tuyên truyền:

Đà Nẵng chú trọng nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội. Các cấp ủy đảng, chính quyền tiếp tục nâng cao tinh thần trách nhiệm, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, chính sách, chế độ về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế (BHXH, BHYT), góp phần thực hiện tốt lộ trình tiến tới BHXH cho mọi người lao động, BHYT toàn dân.

2.2.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng chế độ thai sản đối với lao động nữ tại thành phố Đà Nẵng

2.2.2.1. Thành tựu

– Về đối tượng tham gia:

Số đối tượng tham gia BHXH nói chung và chế độ thai sản nói riêng có sự gia tăng, thể hiện qua việc đóng bảo hiểm những năm gần đây. Đến 31/12/2016, có 218.302 người cùng tham gia BHXH, BHYT bắt buộc, so với năm 2015 tăng 14.466 người (tăng 7,1%).

– Về chi trả chế độ thai sản:

Năm 2016, số thu mà BHXH thành phố được giao chỉ tiêu là 3.818 tỉ đồng, tính đến 15/12 đã thu được gần 3.500 tỉ, đạt hơn 90% kế hoạch. Hiện BHXH thành phố quản lý chi trả cho khoảng 45.000 người hưởng lương hưu và chế độ BHXH hàng tháng như tử tuất, mất sức lao động… với tổng số chi trả khoảng 150 tỉ/tháng, và hàng tháng chi trả cho khoảng 5.000 người hưởng chế độ bảo hiểm thai sản cho lao động nữ.

– Về thủ tục giải quyết và công tác quản lý chế độ thai sản:

BHXH Đà Nẵng đã đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đào tạo nâng cao chất lượng đội ngũ CBCCVC nhằm phục vụ tốt đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH, BHYT.

2.2.2.2. Hạn chế và nguyên nhân

Tình trạng nợ đọng dù giảm nhiều những vẫn là một tồn tại lớn, có 626 đơn vị nợ BHXH, BHYT, BHTN trên 6 tháng với số tiền hơn 105 tỉ đồng. Số tiền này đã bao gồm tiền lãi chậm đóng.

– Về điều kiện hưởng chế độ thai sản:

Luật BHXH năm 2014 quy định về điều kiện hưởng là bất hợp lý đối với trường hợp trước đó lao động nữ đã có nhiều năm đóng BHXH nhưng khi mang thai không bình thường phải nghỉ dưỡng thai dài ngày hoặc do đơn vị gặp khó khăn phải ngừng việc dài ngày thì không đủ điều kiện về thời gian như nêu trên để hưởng chế độ thai sản khi sinh con.

Chưa chỉ rõ đó là việc người lao động phải đóng BHXH đủ sáu tháng liên tục trở lên hay chỉ cần sáu tháng cộng dồn.

– Về mức hưởng chế độ thai sản:

Mức hưởng còn thấp so với thu nhập thực tế. Trợ cấp một lần bằng 02 tháng lương tối thiểu chung là chưa đảm bảo cho những chi phí cần thiết.

– Về thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản:

Một là, thời gian nghỉ khám thai: Việc quy định thời gian nghỉ cho mỗi lần khám thai như vậy là ngắn , đặc biệt trường hợp ở xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có dấu hiệu bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ hai ngày..

Hai là, trường hợp lao động nữ đi làm trước thời hạn nghỉ sinh con: quy định này cần được làm rõ về thời gian báo trước.

Ba là, thời gian nhận trợ cấp thai sản: không quy định rõ thời gian nhận trợ cấp là khi nào, có thể ứng trước hay không?

Nguyên nhân của những hạn chế:

Về phía người lao động, do sức ép về việc làm và nhận thức chưa đầy đủ về tính ưu việt của chính sách BHXH.

Về phía người sử dụng lao động, các doanh nghiệp cố tình trốn đóng, lạm dụng tiền đóng BHXH.

Đối với công tác kiểm tra, thanh tra thực hiện chính sách BHXH của cơ quan quản lý Nhà nước chưa được thường xuyên, nguyên nhân là do sự thiếu trầm trọng cán bộ thanh tra lao động và yếu về chất lượng.

Tỷ lệ Công đoàn doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có tổ chức công đoàn còn rất thấp, khoảng dưới 40%, và chưa phát huy được vai trò.

Kết luận Chương 2

Chương 2 trình bày thực trạng thực hiện chế độ bảo hiểm thai sản tại thành phố Đà Nẵng, cụ thể:

  1. Đà Nẵng với lực lượng lao động trẻ và dồi dào, trong đó có 49,73% là lao động nữ, tập trung ở lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Vì vậy, Đà nẵng đã rất chú trọng các chính sách bảo hiểm xã hội nhằm bảo vệ và phát triển lực lượng lao động của thành phố.
  2. Pháp luật về bảo hiểm xã hội nó chung và chế độ bảo hiểm thai sản nói riêng được áp dụng thực hiện trong cả nước trong những năm qua, và tại TP. Đà Nẵng đã đạt được một số thành tựu: số đối tượng tham gia gia tăng; công tác chi trả được chỉ đạo chặt chẽ, kịp thời; công tác, thủ tục giải quyết chế độ chế độ thai sản cho người lao động từng bước được đổi mới.
  3. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng vẫn còn tồn đọng một số hạn chế, vướng mắc, đó là: tình trạng nợ đọng là một tồn tại lớn, về điều kiện hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản, thời gian hưởng chế độ thai sản vẫn còn những bất cập.
  4. Nguyên nhân là vì nhận thức chưa cao của NLĐ và NSDLĐ về trách nhiệm và quyền lợi tham gia BHXH. Mặt khác, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan ban hành và thực hiện pháp luật, công tác tuyên truyền BHXH chưa rộng rãi và sau sắc, công tác kiểm tra, thanh tra chưa phát huy tốt tác dụng.
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng
Chế độ bảo hiểm thai sản theo pháp luật Bảo hiểm xã hội từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHẾ ĐỘ BẢO HIỂM THAI SẢN

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thai sản bảo hiểm xã hội

  • Về điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Cần đưa ra các chính sách và từ đó thể chế trong quy định pháp luật về bảo hiểm tự nguyện dành cho chế độ thai sản, đáp ứng nhu cầu tham gia của các đối tượng không thuộc diện bắt buộc.

Thời gian nghỉ khám thai, tăng thời gian nghỉ khám thai cho lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 5 lần, mỗi lần 2 ngày, trường hợp xa cơ sở y tế hoặc người mang thai có bệnh lí hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 3 – 4 ngày cho mỗi lần khám thai để có thời gian theo dõi, làm các xét nghiệm cần thiết…

Trường hợp lao động nữ đi làm trước thời hạn nghỉ sinh con, đề nghị Luật BHXH cần quy định rõ ràng.

Thời gian nhận trợ cấp thai sản, quy định rõ thời gian nhận trợ cấp là khi nào, có thể ứng trước để nhận trợ cấp hay không.

Về thời gian nghỉ nuôi con nuôi sơ sinh, cần bổ sung thêm thời gian nghỉ cho NLĐ khi cùng lúc nhận nuôi từ hai trẻ sơ sinh trở lên.

Ngoài ra, cần tách trường hợp người mẹ sinh non để được hưởng chế độ BHXH về thai sản với thời gian ưu đãi hơn.

  • Về mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản:

Cần quy định mức trợ cấp một lần theo mức chung hợp lý hơn nhằm giúp người mẹ sắm sửa những vật dụng cần thiết khi sinh con. Quy định lại đối tượng đóng BHXH trong thời gian lao động nữ nghỉ chế độ thai sản.

3.2. Các giải pháp khác nâng cao hiệu quả thực thi chế độ thai sản

3.2.1. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn

Nâng cao vai trò của công đoàn cơ sở trong việc bảo vệ lao động nữ về quyền làm mẹ.

3.2.2. Hoàn thiện mô hình quản lý và nâng cao năng lực quản lý

Nhà nước ta cần đổi mới hoạt động thông tin, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của cả người lao động và người sử dụng lao. Cần hoàn thiện mô hình quản lý theo chiều dọc, lực lượng quản lý cấp cao sẽ quản lý trực tiếp các bộ phận chuyên môn của mình.

3.2.3. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, xử lý nghiêm vi phạm

Cơ quan thanh tra kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm, để từ đó có biện pháp xử lý phù hợp.

3.2.4. Tuyên truyền nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thai sản

Thường xuyên tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức, qua đó nắm được những nội dung cơ bản của Luật bảo hiểm xã hội cũng như bảo hiểm thai sản để cán bộ, hội viên, đoàn viên, người dân hiểu và thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia.

Kết luận Chương 3

Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bảo hiểm thai sản trong thời gian tới. Cụ thể:

  1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm thai sản bảo hiểm xã hội. Về điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản. Để đáp ứng được các đòi hỏi của xã hội, hệ thống pháp luật phải bảo đảm tính khoa học, phải thỏa mãn các tiêu chí về tính ổn định, tính thống nhất, tính khả thi.
  2. Hoàn thiện mô hình quản lý và nâng cao năng lực quản lý, cần hoàn thiện mô hình quản lý theo chiều dọc, lực lượng quản lý cấp cao sẽ quản lý trực tiếp các bộ phận chuyên môn của mình.
  3. Nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ thai sản.
  4. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, xử lý nghiêm vi phạm kịp thời phát hiện những hành vi vi phạm, để từ đó có biện pháp xử lý phù hợp.
  5. Tuyên tuyền nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thai sản: thường xuyên tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức pháp luật và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức.

KẾT LUẬN

Nội dung của luận văn đã đạt được những kết quả sau đây:

  1. Hệ thống hóa và góp phần làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về khái niệm, vai trò của chế độ bảo hiểm thai sản, nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản, điều kiện hưởng, thủ tục hồ sơ hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, chế độ và quyền lợi: thời gian hưởng, mức hưởng, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe sau thai sản.
  2. Phân tích thực trạng quy định của chế độ bảo hiểm thai sản tại Việt Nam hiện nay: nguyên tắc của chế độ bảo hiểm thai sản Việt Nam, điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, chế độ và quyền lợi: thời gian và mức hưởng chế độ bảo hiểm thai sản, dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau thai sản.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng chế độ thai sản tại thành phố Đà Nẵng. Những thành tựu mà TP. Đà Nẵng đạt được đó là: đối tượng tham gia BHXH ngày càng tăng; công tác chi trả chặt chẽ, kịp thời; công tác giải quyết chế độ chế độ thai sản từng bước đổi mới. Tuy nhiên, vẫn còn một số tồn đọng như về điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian hưởng chế độ thai sản, mức hưởng chế độ thai sản…., đặc biệt là nợ đọng BHXH vẫn rất lớn (đến hết tháng 4/2017, số nợ đọng BHXH ước tính gần 16.000 tỷ đồng), cùng với bất cập của hệ thống pháp luật bảo hiểm thai sản.
  4. Luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chế độ bảo hiểm thai sản: hoàn thiện pháp luật chế độ bảo hiểm thai sản về điều kiện hưởng chế độ thai sản, thời gian và mức hưởng chế độ thai sản, nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức Công đoàn, hoàn thiện mô hình quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, xử lý nghiêm vi phạm, tuyên truyền nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thai sản.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\KINH TE\TAN NGOC LAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *