CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

MỞ ĐẦU

1. Sự cần thiết của việc nghiên cứu đề tài

Quyềnkếthôn là quyềntựnhiêncủaconngườiđượcpháp luật ghi nhận vàbảo vệ. Với ý nghĩa đó pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của mỗi quốc gia đều chú trọng bảo đảm quyền tự do kết hôn của cá nhân. Trong bối cảnh hiện nay, việc bảo đảm thực thi pháp luật về quyền con người ngày càngđược cộng đồng quốc tếđặcbiệt quan tâm, nhất là các quyền mang giátrịhếtsứcnhân văn như quyền kết hôn. Đảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân không chỉ là bảo đảm lợi ích cho người kết hôn mà còn đảm bảo để thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Bởi lẽ, kết hôn lànềntảng quantrọng đểtạodựng gia đình mà gia đình luônđượcxácđịnhlà“tếbào” của xã hội. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Nghị quyết Hội nghị lần thứ V Ban Chấp hành Trung ươngĐảngCộngsảnViệt Nam khóa IX tiếptụckhẳngđịnhgiađìnhgiữmộtvịtrí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng văn hóa và phát triển mọi mặt của đất nước. Điều này cũng được ghi nhận trong Hiến pháp và cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật khác, đặc biệt là trong Luật HN&GĐ. Chế định kết hôn điều

chỉnh việc xáclậpquanhệvợchồng–quanhệnềntảngcủagia đình. Vì vậy,chếđịnh kết hôn không chỉ đảm bảo quyền tự do kết hôn của cá nhân mà còn có vai tròquan trọng đối với việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc tạo tiền để tốt để xây dựng một xã hội văn minh, phồn thịnh.

Chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 được quy định trên cơsởkếthừa có chọnlọccác quyđịnhvềkếthôn trong các vănbảnpháp luật HN&GĐ trước đó, đồng thời tiếp tục phát triển cho phù hợp với việc điều chỉnh quan hệ HN&GĐ trong thời kỳ hội nhập. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật cũng đãbộc lộ khá nhiều bất cập, tác động không nhỏ đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về vấn đề kết hôn, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người kết hôn, của gia đình và xã hội. Việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn ngày càng có những diễn biến phức tạp, tình trạng tảo hôn và “hôn nhân cận huyết” ở các tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên đã gióng lên những hồi chuông báođộngcầnphải ngăn chặnkịpthời.Chỉriêng tỉnh Lào cai, năm 2012 TổngcụcDân số-Kếhoạch hóa gia đình thực hiện khảo sát tình trạngtảohôn và hôn nhân cận huyết thống ở 44 xã thuộc 9 huyện của tỉnh Lào Cai đã phát hiện 224 cặp kết hôn cận huyết thống [93]. Điều này khiến dư luận hết sức lo ngại về việc suy giảm giống nòi,ảnh hưởngđến chất lượng dân số và sự phát triển bền vững của đất nước. Đặc biệt gần đây nhiều đám cưới của những người đồng tính được tổ chức công khai bất chấp sự phản đối của gia đình đã trở thành tâm điểm chú ý của dư luận xã hội với nhiều ýkiến trái chiều về việc thừa nhận hay không thừa nhận hôn nhân đồng giới. Mặt trái của kinh tế thị trườngđã tác động tới lốisống của một bộ phận không nhỏ nam nữthanh niên tạo ra những thay đổi đáng kể trong quan niệm về tình yêu và hôn nhân. Vì vậy, tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng có chiều hướng gia tăng. Việc namnữchung sống nhưvợchồngthểhiệnởnhiều dạng thức khác nhauđãtạora những hiệuứngkhôngtốtảnhhưởngtớiđờisống HN&GĐ. Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định cụ thể về việc giải quyết hậu quả của tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng dẫn đến nhiều trường hợp tranh chấp giữa các bên trở lên phức tạp. Việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam với người nước ngoài, phổ biến là với nam giới Hàn quốc, Đài Loan, còn mang nặng mục đích kinh tế, hoặc mang tính trào lưu,

nhiều trường hợp thông qua môi giới trái phép…Hoạt động kinh doanh môi giới kết hônbấthợpphápcủamộtsốtổchức, cá nhânvẫntiếptụcdiễn radướinhiều hình thức không lành mạnh, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc, xúc phạm danh dựnhân phẩmcủaphụnữViệt Nam, gâybứcxúc trong dư luận [104]. Rađờitrong trong bối cảnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 có giải quyết một cách thỏa đáng những vấnđềtồntạiphát sinh trong quá trình thực thi pháp luậtđiềuchỉnh việc xác lập quanhệvợchồng hay không?cầncó giải pháp nàođểổnđịnhquanhệHN&GĐ, góp phần thúcđẩysựphát triển chungcủatoàn xã hội?Đâylà nhữngvấnđềcầnđược nghiên cứu một cách công phu và toàn diện làm cơ sở nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn. Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi lựa chọn đềtài: “chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ- vấn đề lý luận và thực tiễn” nhằm nghiên cứu một cách sâu sắc và toàn diện chế định kết hôn và đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả điều hỉnh của pháp luật về kết hôn trong giai đoạn hiện nay.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là:

– Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định kết hôn;

– Chỉ ra những điểm bất cập trong pháp luật hiện hành và thực tiễn thực hiện pháp luật về kết hôn;

– Đánh giá hiệuquảđiềuchỉnhcủachếđịnhkếthônđốivớiviệc xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay;

-Đềxuấtýkiến nhằm hoàn thiệnchếđịnh kếthôn, nâng cao hiệuquảđiều chỉnh của pháp luật đối với chế định kết hôn;

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:

– Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn và chế định kết hôn đểtừ đó làm rõ vị trí, vai trò của chế định kết hôn đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam;

– Phân tích các quy định về kết hôn trong Luật HN&GĐ cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật để phát hiện những hạn chế, bất cập;

– Đánh giá sự tác động của chế định kết hôn đối với việc xây dựng gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới;

– Xây dựng cơsởlý luận và thực tiễnđểđềxuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về kết hôn.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

1 Xem phần phụ lục 1

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề lý luận về kết hôn; quy định củahệthống pháp luật Việt Namvềkếthôn(đặcbiệt là các quyđịnhvềkếthôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 và Luật HN&GĐ năm 2014); Luật của một số nước trên thế giới về kết hôn; thực tiễn thực hiện pháp luật về kết hôn của nước ta trong những năm gần đây.

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của chế định kếthôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam.Vấnđềkếthôn cóyếutốnướcngoàichỉđược nghiên cứu dưới góc độ là một phần nội dung trong pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Luận án không nghiên cứu việc giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến kết hôn có yếu tố nước ngoài bởi vì vấn đề này được tiếp thu trong các nghiên cứu chuyên sâu thuộc lĩnh vực tư pháp quốc tế.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận ánđượcnghiêncứudựatrên phương pháp luậncủaChủnghĩa Mác- Lênin với phép biện chứng duy vật và lịch sử, gắn kết với tư tưởng Hồ Chí Minh vàquan điểm, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về vấn đề HN&GĐ nói chung và kết hôn nói riêng.

Bên cạnhđó,các phương pháp nghiêncứukhoa học chuyên ngànhđượcsửdụng để thực hiện đề tài như phương pháp lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp và so sánh, phương pháp điều tra xã hội học

…Đặc biệt, các phương pháp phân tích, tổng hợp và so sánh luật sẽ được sử dụng triệt để nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như các quy định của pháp luật hiện hành về kết hôn và thực tiễn thực hiện.

6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án là công trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu toàn diện về chế định kếthôn trong pháp luật Việt Nam.Kếtquảnghiêncứucủaluận án góp phầnbổsung và hoàn thiện những vấn đề lý luận khoa học pháp lý về chế định kết hôn nói riêng, pháp luật HN&GĐ nói chung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức khoa học pháp lý.

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy

và học tập khoa học luật tại các cơ sở đào tạo, nghiên cứu luật …Luận án cũng có

6

thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan thi hành và áp dụng pháp luật để giải quyết các vấn đề có liên quan.

7. Những đóng góp mới của luận án

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định kết hôn một cách toàn diện và hệ thống. Kết quả nghiên cứu của luận án có những đóng góp mới sau:

– Xây dựng các khái niệm khoa học về kết hôn;

– Phân tích, đánh giá có hệ thống các quy định của pháp luật hiện hành vềkết hôn;

– Phân tích và chỉ ra những điểm hạn chế, bất cập trong thực tiễn thi hành, áp dụng pháp luật về kết hôn;

– Đánh giá ảnh hưởng của chế định kết hôn tới việc xây dựng, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam;

– Chỉ rõ yêu cầu và những quan điểm hoàn thiện pháp luật về kết hôn;

– Nêu ramộtsốkiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luậtvềkếthôn. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về kết hôn được xây dựng trên cơ sở khoa học, phù hợp với phong tục, tập quán, đạo đức, lối sống của người Việt Nam, tạo thành hệ thống các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnhvấnđềkếthôn hiệnđạinhưng có những nét riêng thể hiện bản sắc, văn hóa của người Việt Nam đáp ứng được việc điều chỉnh pháp luật về kết hôn trong giai đoạn hiện nay.

8. Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụlục, luận án có kết cấu gồm 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kết hôn

Chương 2: Thực trạng pháp luậtvềkếthôntrướckhi Luật HN&GĐ năm 2014 có hiệu lực

Chương 3: Phươnghướngvà giải pháp hoàn thiệnchếđịnhkếthônởViệt Nam trong giai đoạn hiện nay

 

CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾT HÔN

1.1. KHÁI NIỆM, MỤC ĐÍCH VÀ BẢN CHẤT CỦA KẾT HÔN 1.1.1. Khái niệm kết hôn

1.1.1.1. Khái niệm kết hôn dưới góc độ xã hội

Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng khi con người vừa thoát thai ra khỏi cuộc sống hoang dãcủađộngvật, khái niệm kết hôn chưađược biếtđến. Lúc này quan hệ giữa người đàn ông và người đàn bà mới chỉ dừng lại ở “tính loài” gọi làquanhệ“tínhgiao”. Vì thế,sựliênkếtgiữahọchỉnhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy. Do đó, ở thời kỳ tiền sử, sự liên kết giữa một người đàn ông vàmộtngườiđànbà không cósựphân chia ngôithứthích thuộc, không cóbấtcứsựràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào. Đó chính là sự liên kết hoàn toàn tự nhiên.Đặt trong tiến trình phát triển của nhân loại, dần dần sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không còn chỉ là sự ràng buộc đơn thuần bởi quan hệ tính giao mà làsựliênkếtmang tính xã hội,thểhiện những giátrịvăn minhcủaconngườitrong mối liên hệ đặc biệt được gọi là “hôn nhân”. Cùng với sự xuất hiện của các hình thái HN&GĐ, dù là hình thái HN&GĐđầutiên, chứađựngnhững néthếtsứcsơ khai, khái niệm “hôn nhân” bắt đầu được biết đến. Dưới góc độ này, sự liên kết giữa ngườiđànông vàngườiđànbà khôngchỉđơnthuần nhằm thỏa mãn những nhucầubản năng mà là sự liên kết đặc biệt nhằm tạo dựng các mối liên hệ gia đình. “Hàng ngày táitạorađờisốngbảnthân mình, conngườibắtđầutạora những conngườikhác, sinh sôi nảy nở- đó là quan hệ giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái, đó là giađình”[22, tr.147]. Khơi nguồn để hình thành một gia đình là việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa hai người nam, nữ. Trong đời sống HN&GĐ, sự kiện xác lập quan hệ hôn nhân được gọi là “kết hôn”. Như vậy, việc kết hôn đã tạo ra một sự liên kết đặc biệt giữa một người nam và người nữ, tạo thành quan hệ vợ chồng.

Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: “kết hôn là việc nam, nữ chính thức lấy nhau thành vợ, chồng” [99, tr. 467]. Theo truyền thống và phong tục, tập quán của người Việt Nam thìđượccoi là nam,nữchính thứclấynhau thànhvợchồng khi hai bên nam,nữtổchứclễcướitheo nghi thức truyền thống.Kểtừthờiđiểmđóhọđược

8

cộng đồng thừa nhận là vợ chồng. Vì thế, việc tổ chức lễ cưới cho hai bên nam, nữluôn là một việc hệ trọng của một đời người. Nghi thức cưới phản ánh một không khítrang trọng, thiêng liêng đánh dấu thời điểm họ chính thức trở thành vợ chồng. Bên cạnh nghi thức truyền thống, nghi thức tôn giáo cũngđượcáp dụngđốivớinhững ngườitheo tôn giáo. Chẳng hạn, việctổchứcđámcướiởNhàthờđốivớinhững ngườitheođạoThiên chúa hoặctổchức“lễhằngthuận”tạiChùađốivớinhững người theo đạo Phật. Đôi nam, nữ khi tổ chức lễ cưới ở Nhà thờ hay Chùa theo nghi thức tôn giáo sẽ được thừa nhận là vợ chồng kể từ thời điểm tiến hành nghi thức đó. Khác với nghi thức truyền thống, việc tổ chức cưới theo nghi thức tôn giáo không cósựchứng kiếncủanhiều người, thườngchỉlà nhữngngườithân thiết nhấtcủađôi nam, nữ. Vì vậy, sự thừa nhận của cộng đồng đối với quan hệ hôn nhân của hai bên namnữđượcxáclậptheo nghi thức tôn giáo giớihạnhơn. Cho nên, những người theo tôn giáo thườngtổchức nghi thức truyền thống cùngvớiviệc thực hiện nghi thức tôn giáo. Từ đó, nghi thức cưới truyền thống trở thành nghi thức phổ biến đánh dấu bước ngoặt của đời sống lứa đôi. Ở Việt Nam, theo “Thiên Nam dư hạ tập”- bộtùng thư mang tính điển chế do Lê Thánh Tông giao cho các văn thần biên soạn năm 1483, quyển “Hồng Đức Hôn giá lễ nghi” có ghi cụ thể về nghi thức kết hôn. Theođó, khi kết hôn phải phải tiến hành lần lượt các lễ sau:

– Lễ nghị hôn (lễ dạm mặt);

– Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi); – Lễ nạp chưng (đưa đồ sính lễ);

– Lễ thân nghinh (đón dâu).

Nghi thức trên không chỉ thể hiện tính trang trọng của việc cưới hỏi mà còn cóý nghĩa đối với người kết hôn. Lễ nghị hôn là nghi lễ có ý nghĩa quyết định đến việc xem xét và tiến hành các nghi thức tiếp theocủaviệccướihỏi. Thông qua nghilễnày, gia đình hai bên tìm hiểu rõ hơn về gia cảnh, thân thế của bên kia. Lễ định thân (lễ đính hôn hay ăn hỏi) là nghi lễ thể hiện sự cam kết của đôi bên sẽ kết duyên vợchồng được họ hàng hai bên xác nhận. Người xưa có câu “nhận trầu là dâu nhà họ”. Từ đó, sau lễ ăn hỏi, về hình thức cô dâu đã được xác định là dâu con của đàng nhàtrai. Qua lễ nạp chưng rồi đến lễ thân nghinh (đón dâu) thì người con trai và người con gái mới chính thức nên duyên chồng vợ. Các bước trong nghi lễ cưới đề cao sự

9

chứng kiến của người thân và cộng đồng đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng của hai bên namnữ.Như vậy, nghilễtruyền thống cóýnghĩa quan trọngđốivớiđời sống hôn nhân, bởi lẽ việc thực hiện các nghi thức này chính là sự phản ánh về hình thứcđãcósựkiện thiếtlậpquanhệhôn nhânđượcmọingườichứng kiến. Vì thế,đối với người kết hôn việc thực hiện nghi lễ cưới hỏi truyền thống là cơ sở để chứng minh giữa họ đã có sự tồn tại của quan hệ hôn nhân. Do đó, trải qua những biến cốlịchsử,nghi thức truyền thốngtrởthànhmộtnét văn hóa trongđờisống HN&GĐcủa người Việt Nam và là một nội dung không thể thiếu trong Luật tục của đồng bào

các dân tộc như Luật tục Êđê, Luật tục Khơ me, Luật tục Gia rai…..

Theo Từ điển Hán – Việt thì “kết” là hợp lại với nhau, còn “ hôn” là con trai lấy vợ [98, tr. 212]. Theo nghĩa này, thuật ngữ kết hôn muốn nhấn mạnh chuyện “lấy vợ” là việc quan trọng đối với người đàn ông. Bởi vì, “làm nhà, lấy vợ, tậu trâu” làba việc có ý nghĩa quan trọng đối với người đàn ông. Như vậy, xét trên phương diện ngôn ngữ học, “kết hôn” chính là một từ Hán Việt chỉ việc người con trai lấy vợ. Doảnhhưởng củahàng nghìn nămBắcthuộc, thuậtngữnàyđượcngười Việt Nam sửdụng kháphổbiến.Từđó,“kếthôn”,đượcsửdụngđểchỉviệc namnữlấynhau thành vợ chồng. Trong đời sống hàng ngày, người Việt Nam thường sử dụng các từ:

lấyvợ,lấychồng,đi ởriêng hoặc xây dựng gia đình khi nóivềviệc“kếthôn”của nam hay nữ. Cách sử dụng từ như vậy là cách nói thuần Việt để chỉ việc nam nữ lấy nhau thànhvợchồng. Vì thế, trong bài nói chuyệntạiHộinghị thảo luậnDựthảo Luật HN&GĐ năm 1959,ChủtịchHồChí Minhđãsửdụngtừ“Luậtlấyvợ,lấy chồng” thay cho “Luật HN&GĐ” [50, tr. 241 – 242].

Như vậy,dướigócđộxã hội,kếthônđượchiểu làmộthình thức xác lập quan hệ vợ chồng.

1.1.1.2. Khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm kết hôn được xem xét với ý nghĩa là một sựkiện pháp lý hoặc một chế định pháp lý.

• Khái niệm kết hôn với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý

Hôn nhân làmộthiện tượng xã hội. Do vậy, việc nam nữ lấy nhau thành vợchồng luôn là vấn đề của mọi thời đại. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi chưa có Nhànước,mọiquanhệxãhộiđềuđượcđiềuchỉnh bằng những “quy

10

ước” nhất định nhằm đảm bảo trật tự xã hội. Sự liên kết giữa người đàn ông và đàn bà cũng được điều chỉnh bởi các quy ước được hình thành một cách tự nhiên. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước” Ăng-ghenđãchứng minh rằngởthờikỳtiềnsử,đểduy trì diệncấmđoán quanhệtính giao những “quy ước” hết sức tự nhiên đã được hình thành trong xã hội thị tộc. Nhờ đó, việc cấm đoán quan hệ tính giao giữa cha mẹ với các con, ông bà với các cháu; giữa anh chị em với nhau được tuân thủ. Sự xuất hiện của “gia đình huyết tộc”, “gia đình pu-na-lu-an” hay“gia đìnhđốingẫu”hoàn toàn chịusựphốicủacác quy luậttựnhiên. Hình thái HN&GĐ một vợ, một chồng ra đời đã đánh dấu một bước tiến mới trong lịchsửxã hội loài người.Bướcngoặtấycho thấy rằng, gia đìnhmộtvợmột chồng xuất hiện không chỉ đơn thuần do sự đào thải tự nhiên thuần túy mà đã có sựtác động của các quy luật xã hội. Khi xã hội có sự phân công lao động sâu sắc, của cải dư thừa xuất hiện đã dẫn đến sự hình thành chế độ tư hữu. Chế độ tư hữu chính lànguồn gốc cho sự xuất hiện của “Nhà nước”và “Gia đình một vợ, một chồng”. Khi Nhà nước xuất hiện, ngoài những quy ước của cuộc sống cộng đồng, các quan hệ xãhội còn được điều chỉnh bằng pháp luật. Quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tựnhiêncủamỗicá nhânđượcpháp luật ghi nhận vàbảovệ.Từđócũng hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý.

Theo Dictionary of Law (Từ điển luật học) của Trường Đại học Oxford thì kết hôn (marriage) là việc xác lập quan hệ giữa vợ và chồng. Pháp luật Anh buộc người kếthôn phải thực hiệnđồngthờicảhai nghi thứckếthôn là nghi thức tôn giáo vànghi thức dân sự thì hôn nhân mới có giá trị đối với những người theo một tôn giáo nhất định [129, tr. 305]. Như vậy, theo pháp luật Anh, đối với những người theo tôn giáo, khi kết hôn phải tiến hành cả hai nghi thức kết hôn thì quan hệ vợ chồng mớiđược thừa nhận trước pháp luật.

Dướigócđộpháp lý việc nam,nữlấynhau thànhvợ,chồngphụthuộc vào việc thừa nhậncủaNhànướcthông quamộtnghi thứccụthểđượcghi nhận trong pháp luật. Nghi thứckếthônđượcthừa nhận trong pháp luậtđượcchi phối bởi phong tục, tập quán cũng như truyền thống lập pháp của mỗi quốc gia. Trên thế giới, xu hướng quy định về nghi thức kết hôn có thể khái quát thành bốn nhóm sau:

11

+ Nhóm thứ nhất: Bao gồm các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức dân sự (việc kếthôn phải đăng kýtrướccơ quan nhànướccó thẩm quyền) như Pháp,Đức,Áo,

Bỉ, Hà Lan, Liên Xô cũ, Việt Nam…;

+ Nhóm thứ hai: Bao gồm các quốc gia chỉ thừa nhận nghi thức tôn giáo, đó làcác quốc gia Hồi giáo;

+ Nhóm thứ ba: Bao gồm các quốc gia chấp nhận sự tương đương của cả hai nghi thức kết hôn. Người kết hôn có thể lựa chọn một trong hai nghi thức kết hôn lànghi thức tôn giáo hoặc nghi thức dân sự. Đây là giải pháp được lựa chọn trong pháp

luật của các quốc gia như Mỹ, Đan Mạch, Thụy Điển…;

+ Nhómthứtư: Buộc thực hiệnmộtlượthai nghi thứckếthôn là nghi thức tôn giáo và nghi thức dân sự. Như vậy, đối với những người theo một tôn giáo nhấtđịnh, họ phải thực hiện cả hai nghi thức kết hôn thì việc kết hôn mới có giá trị. Ví dụnhư Vương Quốc Anh.

Nghi thức dân sự vẫn là nghi thức được nhiều quốc gia lựa chọn và ghi nhận trong pháp luật. Ở Việt Nam, các bộ dân luật thời kỳ Pháp thuộc đã tiếp nhận sự du nhập nghi thức kết hôn dân sự vào xã hội Việt Nam. Bộ Dân luật Bắc kỳ năm 1931 (Bộ DLBK), Bộ Dân luật Trung kỳ năm 1936 (Bộ DLTK) và Bộ Dân luật giản yếu năm 1883 (Bộ DLGY) đều quy định việc kết hôn phải được khai với Hộ lại. Từ đó,đánh dấu một bước tiến mới đối với việc quy định về nghi thức kết hôn. Việc nam, nữ lấy nhau thành vợ chồng không chỉ đơn thuần là việc ràng buộc về mặt xã hội màphải có sự ràng buộc về mặt pháp lý, là cơ sở chứng minh quan hệ vợ chồng giữa hai bên namnữ.Vì vậy, pháp luật HN&GĐcủaNhànướctatừsau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay đều ghi nhận nghi thức kết hôn có giá trị pháp lý là nghi thức dân sự.

Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học (phần chuyên ngành Luật dân sự. Luật tố tụng dân sự, Luật HN&GĐ) của Trường Đại học Luật Hà Nội giải thích: kết hôn là việc nam và nữ chính thứclấynhau làmvợ,chồng theo quyđịnhcủapháp luật. Kết hôn đựợc hiểu là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân. Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mới được công nhận là hợp pháp [112, tr. 150].

12

Với cách giải thích này, thuật ngữ kết hôn có mối liên hệ không thể tách rời với hình thức xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Theo đó nam, nữ chỉ được coi là đã “kết hôn” khi đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vìvậy,dướigócđộpháp lý, việc nam,nữlấynhau thànhvợchồng theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo mà không đăng ký kết hôn thì không được xácđịnh là đã “kết hôn”. Do đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “nam nữchung sốngvớinhau nhưvợchồng không đăng kýkếthôn”đểphân biệt với trường hợp “kết hôn”. Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn cũng được hiểu là một hình thức xáclậpquanhệvợchồng nhưng phải là hình thứcđượcNhànướcthừa nhận. Tùy thuộc điều kiện kinh tế xã hội, phong tục, tập quán cũng như truyền thống văn hóa, pháp luật của mỗi quốc gia có những lựa chọn khác nhau về hình thức xác lậpquanhệvợchồng. Theo quyđịnhcủapháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện hành, nghi thức duy nhất có giátrịpháp lý là nghi thức đăng kýkếthôntạicơ quan nhànước có thẩm quyền.

Trong đời sống HN&GĐ, nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân rất phong phú, nghi thức này cũng luôn được xác định là một nghi thức quan trọng đối với đời sống củamỗi con người.ỞViệt Nam,mỗivùng, miền nghi thứccướiđềucó những nét riêng. Tôn giáo cũng cóảnhhưởngnhấtđịnhđếnnghi thứccưới.NgườitheoĐạo Thiên Chúa chú trọng nghi thức làm lễ cưới ở Nhà thờ. Người theo đạo Phật làm “lễhằng thuận” tại Nhà chùa. Ngoài ra nghi thức cưới truyền thốngvới đầy đủ nghi lễđể công khai quan hệ hôn nhân trước cộng đồng được thực hiện phổ biến ở tất cả các miền vùng. Nghi thức truyền thống và tôn giáovừamang tính chất văn hóa, vừa mang tính chất tâm linh và có ý nghĩa đặc biệt đối với người kết hôn. Nghi thức này trở thành “nghi lễ” không thể thiếu trong phong tục “cưới hỏi” của người Việt. Bởi vì, thông qua nghi thức này, quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ được thừa nhận trướccộngđồng.Trong văn hóacủangườiViệt,sựthừa nhậncủacộngđồngcóýnghĩa quan trọngđốivớiđờisống HN&GĐ.Sựchứng kiếncủagia đình,họhàng, làng xãvềsựkiện hai bên namnữchính thứctrởthànhvợthành chồngđượccoi trọng hơncảhình thức xáclậpquanhệhôn nhânđượcNhànướcthừa nhận.Điều này lý giải rằng vì sao trên thực tế ở Việt Nam, khi xác lập quan hệ hôn nhân, người kếthôn khôngthểbỏqua nghi thứccướihỏitruyền thống song những cuộc“hôn

13

nhân” không đăng ký lại không phải là chuyện hiếm gặp. Như vậy, có thể thấy, nghi thức đăng ký kết hôn và nghi thức truyền thống có sự khác biệt nhất định. Nghi thức truyền thống thể hiện sựa thừa nhận quan hệ hôn nhân của cộng đồng, xã hội. Nghi thức đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thể hiện sự thừa nhận quan hệ hôn nhân của Nhà nước. Nhà nước không can thiệp sâu vào đời sống riêng tư của cá nhân mà chỉ bằng các quy định của pháp luật, Nhà nước bảo vệ quyền tự do kết hôncủamỗicá nhân. Dođó,namnữlấynhau thànhvợchồng tuânthủnhững quyđịnh của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn thì quan hệ hôn nhân mớiđược Nhà nước bảo vệ.

Như vậy, với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý, kết hôn được hiểu là một hình thức xáclậpquanhệvợchồngđượcNhànướcthừa nhận.Kếthôn là việc namnữxác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn [76, Điều 8].

Có quanđiểmcho rằngkếthôn làmộtgiao dịch có tính pháp lýchứkhông phải một giao dịch có ý nghĩa vật chất hoặc tôn giáo [46, tr. 35]. Quan điểm này hợp lý ở chỗthừa nhận việc xác lập quan hệ hôn nhân có sự ràng buộc về mặt pháp lý. Vớicách hiểu này thuậtngữkếthônđượcnhìn nhậndướigócđộpháp lý,vượtra khỏi giới hạn của phong tục, tập quán hay tôn giáo. Theo đó, người kết hôn phải tuân thủnghiêm ngặt các quyđịnhcủapháp luậtvềkếthôn. Tuy nhiên,nếukếthôn làmột “giao dịch” thì việc kết hôn có thể hiểu là một hành vi pháp lý đơn phương hoặc cóýnghĩa nhưmộthợpđồng.Bởivì, “giao dịch dânsựlàhợpđồnghoặc hành vi pháp lýđơnphương”[79,Điều121]. Như vậy, việc nhìn nhậnkếthôn là một giao dịch có tính pháp lý có phần chưa thỏa đáng. Bởi lẽ, kết hôn không phải là một hành vi pháp lý đơn phương và cũng không phải là căn cứ thiết lập một hợp đồng dân sự.

– Sự kiện kết hôn không phải là căn cứ thiết lập một hợp đồng dân sự

Vềmặthọcthuật, quanđiểmcoi việc xáclậpquanhệvợchồng cóýnghĩa như việc thiếtlậpmộthợp đồng dânsựdu nhập vào Việt Nam từ thời Pháp thuộc, sau này các luật gia của chính quyền Sài Gòn ít nhiều ủng hộ quan điểm này nhưng không thể hiện xu hướng đó một cách rõ rệt. Sở dĩ kết hôn được xem như việc thiết lậpmộthợpđồngdânsự làvì quanđiểmnày xuất pháttừcơsởcoi hôn nhân nhưmột hợp đồng. Từ phương diện khoa học pháp lý, có thể khẳng định rằng, hôn nhân

14

khôngthểlàmột“hợpđồng”.Vì thế,kếthôn khôngthểhiểu là việc thiếtlậpmột hợp đồng. Bởi vì:

+ Khi kết hôn, hai bên nam nữ không thể thỏa thuận làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ vợ chồng mà quyền và nghĩa vụ này được pháp luật quyđịnh.Sự kiện kết hôn làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Trên cơ sở đó, quyền vànghĩavụgiữavợchồngđượcxác lập. Tronghợpđồngdânsựtrên cơsởquyđịnh của pháp luật, mỗi bên trong quan hệ hợp đồng có thể thỏa thuận để thiết lập các điều khoản mà trên cơsởđóquyền và nghĩavụcủamỗibênđượcxác lập.Bởilẽ,bản chất của hợp đồng là tự do ý chí, tự do thỏa thuận. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán, các bên có thể thỏa thuận về giá cả, phương thức thanh toán, địa điểm giao hàng…, trong khiđó,các bên không thể thỏa thuậnvớinhauvềquyền và nghĩavụ giữahọphát sinhtừviệc xáclậpquanhệhôn nhân. Quyền và nghĩavụgiữahọđượcquyđịnh trong pháp luật, họ không thể thỏa thuận để làm thay đổi.

+ Hai bên namnữkếthôn phảiđảmbảosựtựnguyện.Tựnguyệnkếthôn chính là hình thức bảo đảm quyền tự do kết hôn cho các bên. Sự tự nguyện này là sựthểhiệnýchícủangườikếthôn mà khôngthểthông qua“ngườiđạidiện”.Trong dânsự,việc thiếtlậphợpđồngdânsựtuânthủnguyêntắctựdo thỏa thuận trong việc giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, việc giao kết hợp đồng trong một số trường hợp cóthểthực hiện thông quangườiđạidiện. Nhưvậytựnguyện trongkếthôn hoàn toàn khác với sự tự nguyện trong giao kết hợp đồng. Sự tự nguyện trong kết hôn phải là sự thể hiện ý chí của chính bản thân người kết hôn: “việc kết hôn do hai bên nam nữ tự nguyện quyết định, không bên nào được ép buộc bên nào, không ai được phép cưỡng ép hoặc cản trở”. Mặt khác, sự tự nguyện kết hôn cũng chỉ được đảm bảo khi người kết hôn tuân thủ đầy đủ các quy định khác của pháp luật về điều kiện kết hôn. Do đó, hình thức của việc thể hiện sự tự nguyện phải là thể hiện ý chí mong muốn kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

+ Nếu coi hôn nhân là một hợp đồng, chúng ta phải xác định được đối tượng của hợp đồng. Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, đối tượng của hợp đồng dânsựlà tàisảnphải giao, công việc phải làm, hoặc khôngđượclàm(Điều402). Như vậy, tronghợpđồngdânsựchúng ta luôn xácđịnhđượcđốitượngcủahợpđồng. Ví dụ, trong hợp đồng mua bán tài sản thì đối tượng của hợp đồng là tài sản,

15

trong hợp đồng dịch vụ thì đối tượng của hợp đồng là một công việc phải làm. Tuy nhiên, coi hôn nhân như một hợp đồng chúng ta không thể xác định được đối tượng của hợp đồng. Bởivì hôn nhân hàm chứa những giá trị nhân văn sâu sắc. Bản thân ngườikếthôn khôngthểlàđốitượngcủa“hợpđồnghônnhân”mà làchủthểcủa quan hệ hôn nhân, quyền và lợi ích của họ được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi chăm sóc, yêu thương của mỗi bên đối với bên kia cũng không thể hiểu đó là “công việc phải làm” mà trong đời sống hôn nhân trước hết là thể hiện tình cảm giữa hai người kết hôn. Trong quan hệ tình cảm thì điều này là sự thể hiện tính chất của sự “cho” và“nhận” chi phối bởi quy luật tình cảm chứ không thể là sự thỏa thuận mang tính chất trao đổi. Vì thế, nếu coi hôn nhân là một hợp đồng chúng ta không thể xác định đượcđối tượng của hợp đồng.

+ Khôngthểáp dụng hình thức phạt vi phạmhợpđồngtrong quanhệhôn nhân. Trong giaokếthợpđồngdânsự,các bên thỏa thuậnvềquyền và nghĩa vụ. Trong trường hợp một bên không thực hiện đúng các nghĩa vụ đã cam kết gây thiệt hại cho bên kia thì phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bên kia do vi phạm hợp đồng. Như vậy, phạt vi phạm được áp dụng trên cơ sở cam kết của hai bên chủthể trong quan hệ hợp đồng. Điều này không thể xảy ra với quan hệ hôn nhân bởi lẽtrước khi kết hôn, người kết hôn không phải cam kết với bên kia bất cứ điều gì. Hai bên thực hiện quyền và nghĩa vụ trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Khi một bên có hành vi vi phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của bên kia thì người thực hiện hành vi phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Từsựphân tích trên, cóthểkếtluận rằng, hôn nhân không phải làmộthợpđồng. Do vậy, không thể hiểu kết hôn là một “giao dịch”. Việc nhìn nhận hôn nhân không phải là một hợp đồng có ý nghĩa nhất định tới việc xem xét và điều chỉnh pháp luật đối với các quan hệ HN&GĐ, đặc biệt là việc điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Đây cũng là cơ sở để lý giải những điểm khác biệt trong pháp luật của một số nước theo xu hướng nhìn nhận hôn nhân như là một hợp đồng dân sự. Các nước theo xu hướng này xác định Luật HN&GĐ chỉ là một bộ phận của Luật Dân sự. Do vậy, các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ nằm trong Bộ luật Dân sự.Đây cũng là cấu trúc chung của nhiều Bộ luật Dân sự trên thế giới, trong đó có thể kể

16

ến một số đại diện như Bộ luật Dân sự của Cộng hòa Pháp, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và Thương Mại Thái Lan.

– Kết hôn không phải là một hành vi pháp lý đơn phương

Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng. Vì vậy, trong việc xác lập quan hệvợ chồng ngoài ý chí của người kết hôn luôn phải có sự thừa nhận của Nhà nước. Ởphương diện này, sự thừa nhận của Nhà nước là một đảm bảo về pháp lý để quyền lợi của người kết hôn được bảo vệ bằng pháp luật. Giả thiết rằng căn cứ pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng là hành vi pháp lý đơn phương thì chỉ cần hai bên nam nữtuyên bốkếthônđã cóđủ căncứlàm phát sinh quanhệ vợchồng.Điềunày rõràng không thể xảy ra. Bởi vì, việc kết hôn phải đăng ký trước cơ quan Nhà nước cóthẩm quyền. Vì vậy, việc kết hôn không thể là một hành vi pháp lý đơn phương.

Về mặt lý luận, trong khoa học luật, khái niệm kết hôn cần được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng. Theo lý luận chung về Nhà nước vàpháp luật,sựkiện pháp lý có thể là sự kiện pháp lýđơnnhất hoặcsựkiện pháp lýphức hợp. Sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng thể hiện dưới dạng là sựkiện pháp lý phức hợp. Trongđó,sựthểhiệnýchícủaNhànướcbằng việc thừa nhận quan hệ hôn nhân thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn là một sự kiện có tính chất bắt buộc. Bởi lẽ, không có sự thừa nhận của Nhà nước thì quan hệ hôn nhân không được thừa nhận trước pháp luật. Trên thực tế, sự thể hiện ý chí của hai người kết hôn mong muốn xác lập quan hệ vợ chồng có thể coi là một tuyên bố ý chíđơn phương, xuất phát từ tình cảm tự nhiên hai bên nam nữ mong muốn trở thành vợchồng, họ chủ động thể hiện ý chí bằng việc nộp Tờ khai đăng ký kết hôn tới cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, tiếp nhậnTờkhai đăng kýkếthôn, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét và xác minh, chỉ khi hai bên tuân thủ đầyđủ các điều kiệnkết hôn thìmớicấpGiấy chứng nhậnkếthôn. Quanhệvợchồngcủahai bên namnữtrong trường hợp nàymới đượcthừa nhậntrướcpháp luật. Vì vậy,sự kiệnpháp lýlàm phát sinh quan hệ vợ chồng phải là sự kiện pháp lý phức hợp bao gồm nhiều sựkiện có tính chất khác nhau, trongđónhất thiết phải cósựkiện công nhậncủacơquan nhà nước có thẩm quyền. Nói một cách khác, hai bên nam nữ không thể xác lập quan hệ vợ chồng mà không có sự thừa nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Điều này hoàn toàn khác với hành vi pháp lý đơn phương bởi vì hành vi pháp lý đơn

17

phương không nhất thiết phải có sự công nhận của cơ quan có thẩm quyền vẫn phát sinh hiệu lực pháp lý.

Từsựphân tích trên, chúng tôi cho rằng trong lý luận khoahọcluật, khái niệm kết hôn với ý nghĩa là một sự kiện pháp lý nên được hiểu như sau:

Kết hôn là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật hôn nhân vàgia đình dùng để chỉ căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, trên cơ sở đó quyền và lợi ích của người kết hôn được Nhà nước bảo vệ.

Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn được nhìn nhận như một sự kiện pháp lýlàm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ. Kết hôn theo quy định của pháp luật là căn cứ để Nhà nước thừa nhận và bảo vệ các quyền và lợiích hợp pháp của người kết hôn.

• Khái niệm kết hôn với ý nghĩa là một chế định pháp lý

– Khái niệm chế định kết hôn

Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, trong suốt một thời kỳ dài khi chưa có Nhà nước, những quy ước của xã hội thị tộc được thiết lập nhằm duy trì sựliênkếtgiữangườiđànông vàngườiđànbà. Khi Nhànướcxuất hiện, pháp luậtđược ban hành và trở thành công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý mọi lĩnh vực củađờisống xã hội, trongđócó lĩnhvựcHN&GĐ.Từđây, việc xáclậpquanhệhôn nhân phải tuân theo các quyđịnhcủapháp luật. NhànướcLa Mãcổđại đãhướng các cuộc hôn nhân vào khuôn phép. Ngoài các quy định về điều kiện kết hôn, Luật 12 bảng còn quy định cụ thể về hình thức xác lập quan hệ hôn nhân. Theo đó, việc kếthônđượcxáclậptheo nghi thức tôn giáo hay nghi thức dânsựđềuđượcthừa nhận. Trải qua các thời kỳ phát triển của lịch sử, các kiểu Nhà nước lần lượt ra đời và pháp luật của mỗi kiểu Nhà nước điều chỉnh các quan hệ về HN&GĐ nói chung, các vấn đề về kết hôn nói riêng, phản ánh những đặc thù riêng. Ở Việt Nam, theo các tài liệu còn lưu giữ được cho đến ngày nay, từ thời kỳ phong kiến, Nhà nước đã ban hành các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ HN&GĐ. QTHL và HVLL đều quyđịnh khá chi tiết về những trường hợp cấm kết hôn, điều kiện để việc kết hôn được coi làhợppháp. Những quy phạm pháp luật này cóýnghĩa thiết thựcđốivớiviệcđảm bảo quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân và xây dựng gia đình hạnh phúc.

18

Theo dòng thời gian, các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc kết hôn không chỉ là những quy phạm đơn lẻ mà là tập hợp các quy phạm. Khoa học luật hiện đại gọi đó là những “chế định” pháp luật. Từ đây, chế định kết hôn cũng được sử dụng một cách rộng rãi.

Theo lý luận chungvềnhànướcvà pháp luật,chếđịnhpháp luật là nhóm những quy phạm pháp luậtđiềuchỉnhmộtnhóm các quanhệxãhộicùng loại cóliên hệ mật thiết với nhau [114, tr. 460]. Như vậy, theo nghĩa chung nhất, chế định kết hôn là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ giữa vợvà chồng.Nộidungcủachếđịnhkếthôn baogồmcác quyđịnhvềđiềukiện kết hôn, đăng ký kết hôn và hình thức xử lý các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn. Ngoài ra, trongbốicảnhmởcửavàhộinhập cũng như xuthếchungcủathếgiới trong việcbảovệvà tôn trọng các quyền con người, việckếthôn cóyếutốnước ngoài cũngđượccác quốc gia trênthếgiới chú trọngđiềuchỉnh bằng pháp luật. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận vấn đề này. Ở Việt Nam, việc kết hôn có yếu tố nước ngoài đã từng được đề cập đến trong các văn bản pháp luật của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975. Tuy nhiên, suốt một thời kỳ dài vấnđề này là một khoảng trống trong pháp luật. Sau này, Pháp lệnh về HN&GĐ có yếu tốnướcngoài năm 1993đượcban hànhđãđặtnềnmóngđầutiên cho việcđiều chỉnh bằng pháp luật các quanhệHN&GĐ cóyếutốnướcngoài. Luật HN&GĐnăm 2000 đánhdấumộtbướcphát triểnvượtbậcđốivớiviệcđiềuchỉnh quanhệHN&GĐ có yếu tố nước ngoài trong thời kỳ mới. Theo quy định tại khoản 14 Điều 8 và khoản 4 Điểu 100 Luật HN&GĐ năm 2000, kết hôn có yếu tố nước ngoài được hiểu là việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam; giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặccảhai bênđịnhcưởnướcngoài.Kếthôn cóyếutốnướcngoài là một trong những vấn đề nhạy cảm. Bởi vì, trong bối cảnh hội nhập và giao lưu quốc tếvới sự phát triển bùng nổ của công nghệ internet, con người ngày càng có điều kiện gặp gỡ vàgần gũi nhau không giới hạn bởi không gian địa lý. Vì thế, trong những thập niêngầnđây, xuhướnghôn nhân đa chủngtộckhông còn làmộtvấn đềmới mẻ mà đã là câu chuyện thật tự nhiên của công dân các quốc gia trên thế giới. Ở Việt Nam, thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập, khung pháp luật điều chỉnh quan hệ

19

HN&GĐ có yếu tố nước ngoài ngày càng hoàn thiện. Do đó, trong những năm gầnđây việc kết hôn cố yếu tố nước ngoài không ngừng gia tăng. Vì vậy, kết hôn có yếu tốnước ngoài làmộtnộidung quan trọng trong pháp luậtđiềuchỉnh việckếthôn. Sự khác biệt trong việc giải quyết vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài là việc xácđịnh luật áp dụng và thẩm quyền giải quyết việc đăng ký kết hôn. Xuất phát từ đặc thù của quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài nói chung, kết hôn cóyếu tố nước ngoài nói riêng, việclựachọn luật áp dụng cũng như thẩm quyền giải quyết cóýnghĩa quan trọng đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người kết hôn. Bởi vì, trong quan hệ này, “yếu tố nước ngoài” được xem xét như một dấu hiệu đặc trưng có mối liên hệ đến việc lựa chọn luật áp dụng cũng như xác định thẩm quyền giải quyết các việc kết hôn có yếu tố nước ngoài. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn cũng phải dự liệu được những nét đặc thù của việc kết hôn cóyếu tố nước ngoài nhằm bảo vệ quyền tự do kết hôn của công dân, lợi ích của gia đình và xã hội.

Từ sự phân tích trên đây có thể đưa ra khái niệm chế định kết hôn như sau:

Chếđịnhkếthôn trong Luật HN&GĐ làhệthống các quy phạm pháp luật do Nhànướcban hành,điềuchỉnh việc xáclậpquanhệvợchồng, baogồmcác quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, hình thức xử lý đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về kết hôn.

– Các yếu tố cấu thành chế định kết hôn

+ Điều kiện kết hôn

Điềukiệnkếthôn làmộttrong nhữngnộidung quan trọng thuộc phạm vi điều chỉnh của chế định kết hôn. Điều kiện kết hôn được quy định chặt chẽ phù hợp vớiđiều kiện kinh tế xã hội và phong tục, tập quán sẽ là đảm bảo để cuộc hôn nhân được xác lập phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội. Xét một cách khái quát nhất, điều kiện kết hôn chỉ rõ, người kết hôn được phép xác lập quan hệ hôn nhân khi có đủ những điều kiện gì; trong trường hợp nào thì họ không được phépkếthôn. Nội dung cácđiềukiệnkếthôn cụ thể phụ thuộc vào quan điểm của nhà làm luật khi xác định vai trò của hôn nhân đối với đời sống gia đình và xã hội.

Theo từ điển Tiếng Việt, điều kiện được hiểu là “điều nêu ra như một đòi hỏi trướckhi thực hiệnmộtviệc nàođó”[99, tr. 322].Theo nghĩa này,điềukiệnđược hiểu là những yêu cầu buộc người kết hôn phải tuân thủ.

20

Từ điển giải thích thuật ngữ luật học (phần Luật Dân sự, Luật HN&GĐ, Luật Tố tụng dân sự) định nghĩa: “điều kiện kết hôn là điều kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam nữ” [112, tr. 145].

Xét trên phương diện ngôn ngữ,“điềukiện”thườngđượcsửdụngđểchỉnhững yêu cầu cần thiết phải có khi tiến hành một công việc. Với cách giải thích này,điều kiện kết hôn được hiểu là những yêu cầu mà pháp luật đặt ra đối với người kết hôn. “Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo Luật hôn

nhân một khi người đó kết hôn…hôn nhân không thể phục tùng sự tùy tiện của người kếthôn mà trái lại sự tùy tiệncủangườikếthôn phải phục tùngbảnchấtcủahôn nhân”[22, tr. 218]. Như vậy, người kết hôn buộc phải chấp hành những quy tắc xửsự mang tính bắt buộc chung khi kết hôn. Việc quy định các điều kiện kết hôn là tất yếu khách quan. Bởi vì, bản chất của hôn nhân chính là nội dung chi phối và mang tính chất quyết định tới nội dung các quy phạm pháp luật về điều kiện kết hôn. Đây là điểm cơ bản để chúng ta có thể lý giải rằng vì sao pháp luật của các kiểu nhà nước khác nhau quyđịnhvềđiều kiệnkếthôn mang nhữngsắcthái khác nhau. Nói một cách khác, hôn nhân làmộthiệntượngxãhộimang tính giaicấpcho nên các quyđịnh về điều kiện kết hôn cũng phản ánh rõ tính giai cấp, thể hiện quan điểm của nhàlàm luật cũng như những giá trị về hôn nhân mà giai cấp thống trị trong xã hội cần bảo vệ. Luật HN&GĐ năm 2000, tại Điều 9 quy định về điều kiện kết hôn chỉ rõ:

Namnữkếthônvớinhau phải tuânthủcácđiềukiện sau đây: Namtừhai mườituổitrởlên,nữtừmườitám tuổitrởlên; việckếthôn do nam,nữtựnguyện quyếtđịnh,không bên nàođượcép buộc,lừadốibên nào; không aiđược cưỡng ép hoặc cản trở; việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp luật cấm kết hôn quy định tại Điều 10 của Luật này.

Như vậy, điều kiện kết hôn chỉ rõ những yêu cầu của pháp luật đối với người kết hôn. Những yêu cầu này không chỉ xuất phát từ việc bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân mà còn đặt nó trong mối liên hệ với lợi ích của cộng đồng. Nói một cách khác, điều kiện kết hôn cũng phản ánh trách nhiệm của người kết hôn đối với gia đình và xã hội.

Từsựphân tích trên đây, chúng tôi cho rằngđiềukiệnkếthôn cóthểđịnh nghĩa như sau:

21

Điều kiện kết hôn là những yêu cầu của pháp luật thể hiện dưới dạng các quy phạm pháp luật buộcngườikếthôn phải tuân thủ, nhằmmụcđích thiếtlậpnhững cuộc hôn nhân phù hợp với lợi ích của người kết hôn, lợi ích của gia đình và xã hội.

Định nghĩa trên cho thấy, tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn là nghĩa vụmà mỗi cá nhân phải thực hiện. Tiếp cận dưới góc độ quyền, có thể kết luận rằng, cánhân khi thực hiện quyền kết hôn phải có nghĩavụtuânthủpháp luậtvềđiềukiện kết hôn. Xét trên phương diện này, quyền kết hôn không còn là quyền tự nhiên thuần túy mà là “quyền con người” được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bằng các quy địnhđiều kiện kết hôn, Nhà nước bảo vệ quyền được tự mình lựa chọn và quyết định việc kết hôn của mỗi cá nhân. Pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhậnđây là một điều kiện để hôn nhân có hiệu lực. Một vài nước cho phép việc thể hiện ýchíkếthôn thông quangườiđạidiện(điểnhình là cácnướctheoĐạoHồi). Nhìn chung, việc thể hiện ý chí có thể thực thông qua người đại diện ảnh hưởng nhiều đến “sự tự do ý chí” của người kết hôn. Vì thế, giải pháp này không được nhà làm luậtđươngđạiViệt Nam lựa chọn (trong lịch sử lập pháp Việt Nam,đã cóthờikỳgiải pháp này từng tồn tại. Ví dụ thời kỳ phong kiến, pháp luật trao quyền quyết định việc kết hôn cho các bậc tôn thuộc chứ không phải là quyền của bản thân người kết hôn). Cùngvới“sựtựnguyện”, tuổikếthôn cũng làmộtđiềukiện quan trọng mà người kết hôn phải tuân thủ. Điều kiện tuổi kết hôn có mối liên hệ nhất định với điều kiện về sự tự nguyện. Vì xét ởmộtkhía cạnh nhất định, tuổi kết hôn có mối liên hệ với khảnăng nhận thứccủacá nhân. Theođó,cá nhânmớicóthểtựmình quyếtđịnh việc kết hôn mà không bị ảnh hưởng bởi người khác. Xét ở khía cạnh rộng hơn, tuổi kết hôn còn thể hiện bởi sự phát triển toàn diện của người kết hôn cả về thể chất vàtrí tuệ. Từ đó, khi kết hôn họ có thể sinh ra những thế hệ đời sau khỏe mạnh. Tuổi kết hôn do đó không chỉ là bảo vệ quyền của người kết hôn mà một mặt còn hướng tới lợi ích của cộng đồng và xã hội. Bên cạnh đó, trong những trường hợp cần thiết vìquyềnlợicủamỗicá nhân, gia đình và xãhộitùy thuộc vàođiềukiện thựctếcủa mỗi quốc gia, các trường hợp cấm kết hôn cũng được dự liệu. Ví dụ, pháp luật của cácnướchầuhếtcác quốc gia trênthếgiớiđềucấmkếthôn giữa nhữngngườicómối liên hệ huyết thống về trực hệ hoặc có họ trong phạm vi 3 đời. Một số nước cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi bốn đời[10, Điều 10]. Như vậy, có thể

22

thấyđiềukiệnkếthôn cũngchỉrõ,ngườikếthôn phải tuânthủpháp luật nhưthếnào. Đây là “ranh giới” cần thiết để phân biệt giữa quyền kết hôn với tư cách là một “quyền tự nhiên” với quyền kết hôn với tư cách là “quyền con người” được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Pháp luật bảo vệ quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân nhưng đóphải là sự tự do trong khuôn khổ luật định.

Từ sự phân tích trên cho thấy, pháp luật về điều kiện kết hôn có mối liên hệvới nhiều quy định trong hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam, quy định về điều kiện kết hôn trước hết phải là sự cụ thể hóa quy định của Hiến pháp- đạo luật cơ bản của Nhànước về quyền tự do kết hôn của cá nhân. Điều kiện kết hôn phải thể hiện sự tương thíchvớicác quy định có liên quanđếnquyền tự dokếthôncủacá nhânđượcghi nhận trong Bộ luật Dân sự và phù hợp với nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối của Luật Bình đẳng giới. Với ý nghĩa là một ngành luật điều chỉnh các quan hệ giới và bình đẳng giới, Luật Bình đẳng giới có vai trò quan trọng đối với việc bảo vệ các quyền con người, trong đó có quyền tự do kết hôn. Đảm bảo bình đẳng giới trong kết hôn là nền tảng để bảo đảm quyền lợi cho phụ nữ, xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụnữ.Đâylà những giátrịđích thực vàmụctiêucốtlõicủaviệcbảovệquyền con ngườicủaphụnữ.Vì thế,chếđịnhkếthôncầnphảithểhiệnsựđồngbộvớipháp luật về bình đẳng giới bằng việc ghi nhận và bảo đảm bình đẳng giới trong kết hôn. Bên cạnh đó, các quy định của Bộ luật hình sự, Bộ luật TTDS… cũng phải thể hiệnđược phạmvi điều chỉnh trong việc bảo vệ quyền tự do kết hôn của các nhân cũng như bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn, trật tự xã hội và lợi ích công cộng. Vì thế có thể khẳng định rằng, hoàn thiện pháp luật về điều kiện kết hôn phải đặt trong mối liên hệ không thể tách rời với việc hoàn thiện các quy định pháp luật thuộc các lĩnh vực liên quan.

+ Đăng ký kết hôn

Quyềntựdokếthôncủacá nhânđượcpháp luật ghi nhận vàbảovệ,Nhànướckhông can thiệp sâuvào đờisống HN&GĐ. Tuy nhiên, việc đăng kýkếthôn trướccơ quan nhànướccó thẩm quyền chính là căncứđểNhànướcbảohộcác quyền HN&GĐ cho người kết hôn và các chủ thể có liên quan. Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn cũng chú trọng ghi nhận vấn đề đăng ký kết hôn.

23

Xét dưới góc độ quản lý hộ tịch, đăng ký kết hôn là một thủ tục do cơ quan cóthẩm quyền tiến hành nhằm kiểm tra các điều kiện kết hôn và xác nhận việc kết hôn của hai bên nam nữ thông qua việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy, việc đăng ký kết hôn không chỉ có ý nghĩa đối với người kết hôn mà thông qua thủ tục này Nhànướccũng kiểm soátđượcviệckếthôn nhằm xáclậpnhững cuộc hôn nhân lành mạnh, tiến bộ, hạnh phúc.

Theo quyđịnhcủapháp luật HN&GĐ, việc xáclậpquanhệvợchồng phảiđượcđăng kýtạicơ nhà nước có thẩm quyền. Theo nghĩa này, đăng ký kết hôn cóthểhiểu nhưmộtđiềukiện hình thức mà qua đó Nhànướccông nhận quanhệhôn nhâncủahai bên namnữ.Do vậy, các bên nam,nữxáclậpquanhệvợchồngđều phải tuân thủ điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Các quốc gia theo xu hướng ghi nhận nghi thức dân sự đều quy định để quan hệ hôn nhân có hiệu lực thì việc đăng ký kết hôn là bắt buộc. Theo đó, đăng ký kết hôn không chỉ thể hiện về mặt hình thức sự thừa nhận của Nhà nước đối với quan hệhôn nhân mà thông quađó,Nhànướccũng kiểm soátđượcviệc tuânthủcácđiều kiệnkếthôn luậtđịnh.Tuy nhiên, trên thựctếcũng có trườnghợpnam,nữchung sống nhưvợchồng không đăng kýkếthôn.Dướigócđộxã hội,ngườita thườngđồng nhất hiện tượng này với việc “kết hôn”. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp luật, họchỉđượcxácđịnhlàmộtcặpnamnữchung sốngvớinhau nhưvợchồng vàvềnguyên tắc họ không được thừa nhận là vợ chồng. Từ đây cũng kéo theo nhiều vấnđề thực tế phát sinh cần phải được dự liệu, làm cơ sở để giải quyết các việc liên quanđến cặp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Vì vậy, pháp luậtđiều chỉnh việc kết hôn cũng quy định về đăng ký kết hôn và những vấn đề có liên quan đến trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn. Trên cơ sở đó, mỗi cá nhân căn cứ vào quy định của pháp luật sẽ có những lựa chọn phùhợp để quyền và lợi ích của họ được đảm bảo.

Pháp luậtcủamộtsốnướctrênthếgiới ngoài việc quyđịnhvềđăng ký kết hôn cũng dự liệu những quy định về việc nam nữ chung sống như vợ chồng khôngđăng ký kết hôn. Một số nước như Đan Mạch, Hà Lan, Pháp có những đạo luật riêngđiều chỉnh việc nam nữ chung sống như vợ chồng. Thụy Điển có đạo luật riêng điều chỉnh việc chung sống giữa những người cùng giới tính [113, tr. 112 – 117 ]. Ở Việt

24

Nam, chưa có một đạo luật riêng điều chỉnh việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng kýkếthôn nhưng nhà làm luật Việt Nam cũng ít nhiều giànhsựquan tâm nhất định đến hiện tượng này để giải quyết những vấn đề nảy sinh trên thực tế. Dướigócđộpháp lý, việc nam,nữlấynhau thànhvợchồngchỉtổchức theo nghi thức truyền thống hay nghi thức tôn giáo không được coi là “kết hôn”. Từ đó, trong khoa học pháp lý cũng xuất hiện thuật ngữ “hôn nhân thực tế” hoặc “nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn”. Ở Việt Nam, thuật ngữ “hôn nhân thựctế”đượcsửdụngtrướckhi ban hành Luật HN&GĐ năm 2000.Từđiển giải thích thuật ngữ luật học (phần Luật Dân sự, Luật HN&GĐ, Luật Tố tụng dân sự) giải thích như sau:

Hôn nhân thựctếlà hôn nhânđượcxáclậpvàtồntạinhưngngườikếthôn không tuân thủ điều kiện về thủ tục là đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Cơ sở để công nhận hôn nhân thực tế là thừa nhận các bên đãvà đang chung sốngvớinhau nhưvợchồng. Pháp luật hiện hànhchỉcông nhận hôn nhân thực tế đối với những trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng chưa đăng ký kết hôn kể từ ngày 3/1/1987(ngày Luật HN&GĐ1986 có hiệu lực thi hành) trở về trước và đã thỏa mãn đầyđủ các điều kiện kếthôn; các bên chung sống công khai, thựcsựcoi nhau làvợchồng, cùng nhau chăm lo gia đình và được mọi người xung quanh thừa nhận là vợ chống [112, tr. 149].

Như vậy, hôn nhân thực tế là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ những trường hợpnamnữchung sốngvớinhau nhưvợchồng không đăng kýkếthônđượcthừa nhận làvợchồng. Theođó,giữa hai bên namnữchung sống nhưvợchồngđược công nhận là“hônnhân thựctế”cũng phát sinh quyền và nghĩavụgiữavợvàchồng, được pháp luật bảo vệ.

Thuậtngữ“hônnhân thựctế”và “namnữchung sống nhưvợchồng khôngđăng kýkếthôn”cómốiliênhệnhấtđịnhvớinhau. Hôn nhân thựctếchỉnhững trườnghợpnamnữchung sống nhưvợchồngđượccông nhận làvợchồng. Xétởgóc độ này, phân tích trên cho thấy không phải mọi trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng đều được công nhận là hôn nhân thực tế. Do vậy, việc nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn có thể khái quát thành ba trường hợp sau:

25

(i) chung sống nhưvợchồngđượcNhànướcthừa nhận, (ii) chung sống nhưvợchồng trái pháp luật, (iii) chung sống nhưvợchồng khôngbịcoi là trái pháp luật nhưng không được Nhà nước thừa nhận là vợ chồng.

Từ sự phân tích trên cho thấy, đăng ký kết hôn có ý nghĩa pháp lý quan trọng.Đối với người kết hôn, việc đăng ký kết hôn là cơ sở để Nhà nước thừa nhận, quan hệvợchồngtrướcpháp luật, theo đó quyền vàlợiíchhợpphápcủangườikếthônđược pháp luật bảo vệ. Đăng ký kết hôn cũng giúp cho cơ quan có thẩm quyền quản lý được việc kết hôn nhằm đảm bảo ổn định đời sống HN&GĐ, bảo vệ quyền và lợiích hợp pháp của những người có liên quan, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Do vậy, đăng kýkếthôn làmộtyếutốkhôngthểthiếu trongnộidungđiềuchỉnh pháp luật của chế định kết hôn.

Từ những phân tích trên có thể định nghĩa đăng ký kết hôn như sau:

Đăng ký kết hôn là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đăng kýkếthôn làmộtnộidung quan trọng thuộc phạm viđiềuchỉnh của pháp luậtvềkếthôn nhưng thực hiện việc đăng kýkếthônlạithuộc lĩnhvựccủa công tác hộ tịch. Vì vậy, ở phương diện này pháp luật về kết hôn có mối liên hệ sâu sắc với pháp luật về hộ tịch. Dưới góc độ quản lý hộ tịch, đăng ký kết hôn là một thủtục mà thông qua đó, Nhà nước thực hiện được việc theo dõi thực trạng và biến động của việc kết hôn, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình. Vì thế, xét trên phương diện này,mốiliênhệgiữa Luật HN&GĐvớicác văn bản pháp luậtvềhộtịch làmốiliênhệgiữa Luậtnộidung và Luật hình thức. Các quyđịnh trong các văn bản pháp luật về hộ tịch có mối liên hệ mật thiết với các quy định của Luật HN&GĐ. Do đó, việc đăng ký kết hôn được tổ chức chặt chẽ theo đúng quyđịnh của pháp luật về thẩm quyền, về trình tự thủ tục sẽ góp phần đảm bảo hiệu quảđiều chỉnh của Luật HN&GĐ về kết hôn. Từ đây cho thấy rằng, nâng cao hiệu quảđiều chỉnh của pháp luật về kết hôn cần đặt trong mối liên hệ không thể tách rời với việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về hộ tịch.

+ Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn

Điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn là một trong cácyếu tố cấuthành chếđịnh kết hôn. Do vậy, việc kết hôn không tuân thủ các quy định của pháp luật về kết

26

hôn thì sẽ bị xử lý. Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn là một trong nội dung không thể thiếu đối với pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Bởi vì, xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn là việc áp dụng các biện pháp chế tài cần thiết nhằm “bảo đảm” để điều kiện kết hôn được tuân thủ. Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn theo pháp luật Việt Nam đa dạng về các hình thức chế tài và không chỉ áp dụng riêng đối với người kết hôn mà còn áp dụng với những người có liên quan. Chế tài hành chính hoặc hình sựcũng có thể được áp dụng để xử lý đối với hành vi vi phạm. Tùy từng trường hợp cụthể mà hành vi vi phạm có thế bị xử lý ở từng mức độ khác nhau.

Chếtàicủaluật HN&GĐthểhiệnsự“không thừanhận”củaNhànướcđối với quan hệ hôn nhân được xác lập chỉ áp dụng đối với người kết hôn. Pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn của hầu hết các nước trên thế giới đều dự liệu vấn đề này, việc xáclậpquanhệhôn nhân vi phạm cácđiềukiệnkếthônsẽkhôngđượcthừa nhận (hôn nhân vô hiệu).ỞViệt Nam, trong cácbộdân luật thờikỳPháp thuộc,vấnđềhôn nhân vô hiệu đã được đề cập đến. Hôn nhân vô hiệu là hệ quảtấtyếu của việc xác lập quan hệ hôn nhân không tuân thủ các quy định của pháp luật. Phỏng theo các Bộ dân luật Pháp, Bộ Dân luật năm 1972 dự liệu khá chi tiết về hôn nhân vô hiệu. Cóhai trường hợp hôn nhân vô hiệu, đó là vô hiệu tương đối và vô hiệu tuyệt đối. Theođó,hôn nhânđượcxáclậpdo cósựcưỡngép hoặc cósựnhầmlẫnhay hôn nhânđược xác lập không có sự ưng thuận của các bậc tôn thuộc là hôn nhân vô hiệu tươngđối (Điều127). Các trường hợp hôn nhân vô hiệu tuyệt đối bảo vệ trật tự xã hội và lợiích chung, cụ thể là các trường hợp sau: (i) chưa đến tuổi kết hôn; (ii) không có sựưng thuậncủahai người; (iii) song hôn; (iv) loạn luân; (v) hônlễcửhành không công khai hay do viên chứchộtịch vô thẩm quyền, nhưngvớiđiềukiện làsựcửhành trái luật ấy có tính cách gian lận (Điều 132). Xét về hậu quả pháp lý, dù là hôn nhân vô hiệu tương đối hay tuyệt đối thì hậu quả của sự vô hiệu đều như nhau, hôn nhân bị hủy bỏ và bị xem như chưa bao giờ được thiết lập. Pháp luật HN&GĐ hiện hành không phân chia thành các trườnghợphôn nhân vô hiệu tuyệtđốivà vô hiệu tươngđốinhưngvềbảnchất pháp lý cũng có nét tươngđồng.Theo quyđịnhcủa Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, chế tài xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn đượcđặt ra đối với cả trường hợp “kết hôn trái pháp luật”, “chung sống như vợ chồng trái pháp luật” và “đăng ký kết hôn sai thẩm quyền”. Kết hôn trái pháp luật là việc xác

27

lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn do pháp luật quy định (Điều 8). Đăng ký kết hôn sai thẩm quyền là trường hợp việc đăng kýkết hôn không phải do cơ quan có thẩm quyền thực hiện [91, Mục 2 Điểm b]. Ví dụ, A và B đều có hộ khẩu trường trú ở xã X, tại thời điểm đăng ký kết hôn cũng cư trú ởxã X nhưng lại thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã T. Chung sống như vợchồng trái pháp luật là việc xáclậpquanhệ“hônnhân”theo phong tục,tậpquán không đăng kýkếthôn nhưng vi phạm cácđiềukiệnkếthôn. Vídụmộttrong hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, một trong hai bên là người đang có vợ hoặc cóchồng…Như vậy, vi phạm pháp luật về kết hôn có nhiều dạng thức khác nhau. Tùy thuộc vào từng trườnghợpvi phạmcụthểmà cách thứcxửlý cóthểkhác nhau. Trường hợp kết hôn trái pháp luật thì xử lý theo hướng “hủy việc kết hôn trái pháp luật”.Đăng kýkếthôn sai thẩm quyền thì tuyênbố“không công nhậnhọlàvợchồng”. Chung sống như vợ chồng trái pháp luật thì tuyên bố “buộc phải chấm dứt hành vi chung sống như vợ chồng trái pháp luật”. Song về hậu quả pháp lý, đều giải quyết giống nhau. Về nhân thân, hai bên nam nữ không được thừa nhận là vợ chồng. Tài sản giải quyết theo nguyên tắc tài sản riêng của ai thì vẫn thuộc quyền sở hữu của người đó, tài sản chung được chia theo thỏa thuận của các bên; nếu không thỏa thuậnđượcthì yêucầuTòa án giải quyết, có tínhđếncôngsứcđóng gópcủamỗibên. Quyền lợi của con được giải quyết như trường hợp cha mẹ ly hôn.

Từ sự phân tích trên cho thấy, hủy việc kết hôn trái pháp luật chỉ đặt ra đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật. Các dạng thức vi phạm pháp luật về kết hôn khác cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật nhưng không áp dụng chế tài này để xử lý. Sự phân hóa các dạng thức vi phạm để lựa chọn cách thức xử lý phù hợp, xét về tính chất, đó cũng là sự xử lý linh hoạt đối với việc vi phạm pháp luật về kết hôn.

Như vậy, kết hôn trái pháp luật có thể được định nghĩa như sau:

Kếthôn trái pháp luật làmộtthuậtngữpháp lý dùngđểchỉnhững trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn nhưng vi phạm điều kiện kết hôn luật định.

Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Các chế tài xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn được dự liệu cụ thể là căn cứ để giải quyết những trường hợp vi phạm pháp luật

28

về kết hôn, góp phần đảm bảo tính thực thi của pháp luật. Hủy việc kết hôn trái pháp luật được dự liệu để xử lý đối với trường hợp kết hôn trái pháp luật. Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một biện pháp chế tài của Luật HN&GĐ Việt Nam được áp dụng đối với các trường hợp kết hôn trái pháp luật. Theo đó, trên cơ sở yêu cầu của người cóquyền khởi kiện, Tòa án buộc các bên phải chấmdứtquanhệvợchồng trái pháp luật.

Như vậy, hủy việc kết hôn trái pháp luật có thể được định nghĩa như sau:

Hủy việc kết hôn trái pháp luật là một thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ một biện pháp chế tài được áp dựng đối với trường hợp kết hôn kết hôn trái pháp luật.

Kết hôn trái pháp luật không chỉ bị “hủy” theo quy định của Luật HN&GĐ màcũng có thể bị xử lý hành chính hoặc xử lý hình sự nếu hành vi vi phạm cấu thành tội phạm. Như vậy,xửlý vi phạm pháp luậtvềkếthôn cómốiliênhệmậtthiết với nhiều lĩnhvựcpháp luật khác nhau, trongđóbaogồmcảlĩnhvựcLuậtnộidung cũng như Luật hình thức. Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn có mối liên hệ chặt chẽvớicác quyđịnhcủaLuật Hìnhsự,Luật hành chínhvớitư cách là Luậtnộidung trong việc ghi nhận các biện pháp chế tài đối với từng hành vi vi phạm pháp luật vềkết hôn, tạo cơ sở pháp lý để xử lý hành vi vi phạm pháp luật về kết hôn, đảm bảo tính pháp chế xã hội chủ nghĩa. Xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn có mối liên hệvới các quy định của Luật Bình đẳng giới. Với ý nghĩa là môt ngành luật điều chỉnh các quanhệgiới và bìnhđẳnggiới, Luật Bìnhđẳnggiới thiếtlậpkhung pháp lýchung mang tính chất nguyên tắc để đảm bảo bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực củađờisống xã hội. Vì vậy, việcxửlý vi phạm pháp luậtvềkếthôn phải phùhợpvới quy định của Luật bình đẳng giới, bảo đảm bình đẳng giới. Xử lý vi phạm pháp luật vềkếthôn cũng cómốiliênhệmậtthiết khôngthểtáchrờivớicác quyđịnhcủa Luật hình thức như Luật TTDS trong việc giải quyếtvấnđềhủyviệckếthôn trái pháp luật. Vì vậy, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có mối liên hệ không thể tách rời với các quy định pháp luật có liên quan tạo thành một chỉnh thể thống nhất, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn.

– Nguyên tắc của chế định kết hôn

Chế định kết hôn là tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc xác lập quanhệgiữavợvà chồng.Chếđịnhkếthônđượcxây dựng nhằmmụcđíchtạo

29

dựng lên các cuộc hôn nhân hạnh phúc làm nền tảng vững chắc cho gia đình. Với ýnghĩa đó, chế định kết hôn phải dựliệu đượcmọi vấn đề phát sinh trong việc điều chỉnh pháp luật đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng. Vì vậy, quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn cũng như xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn phải được xây dựng trên các nguyêntắccơbảncủaLuật HN&GĐ. Tuy nhiên, xuất pháttừbản chất và mục đích của việc kết hôn, nguyên tắc của chế định kết hôn cũng có những nét đặc thù.

+ Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ

Hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà với mụcđích là tạo dựng một gia đình. Vì vậy, xét về mặt bản chất, hôn nhân phải là sự liên kết hoàn toàn tự nguyện của những người kết hôn. Từ đó, các quy định của pháp luật liên quanđếnvấnđềkếthôn phảicụthểhóa nguyêntắcnày. Luật HN&GĐ năm 2000 ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn của các bên nam, nữ nên việc kết hôn hoàn toàn dohọlựachọn và quyếtđịnh.Pháp luật phong kiến,bảovệquyền của người gia trưởng, nên tính tự nguyện trong việc xác lập quan hệ hôn nhân được luật hóa theo xu hướng trao quyền cho người gia trưởng. Do đó, việc xác lập quan hệ hôn nhân của các bên nam nữ là việc của gia đình, dòng họ. Nhà làm luật tư sản quy định việc xác lập quan hệ hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện nhưng thực chất đó là sự tựnguyện thỏa thuận mang bản chất của việc thỏa thuận trong giaokếthợpđồng.Tựnguyện trong kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam, khác về bản chất so với nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận trong giao kết hợp đồng dân sự. Người kết hôn có quyền tựnguyện xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không thể tự thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ phát sinh sau khi kết hôn. Nguyên tắc tự nguyện đòi hỏi người kết hôn phải tôn trọng quyềntựdokếthôncủangườikhác, khôngđượcép buộcngườikiakếthôn trái với ý chí của họ, đồng thời các chủ thể khác cũng phải tôn trọng ý chí của chủthể kết hôn, nhằm đảm bảo mọi cuộc hôn nhân được xác lập trước hết phải xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn.

Nguyêntắctựnguyệnđòihỏicácchủthểáp dụng pháp luật trong phạm vi quyền hạn của mình phải đảm bảo thực thi pháp luật một cách chính xác để bảo vệquyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân. Ví dụ, khi có dấu hiệu của việc kết hôn giả tạo, cơ quan đăng ký kết hôn phải từ chối việc đăng ký kết hôn. Bởi vì sự tự nguyện của

30

hai người kết hôn trong trường hợp này không hướng tới mục đích xác lập quan hệvợ chồng.

Nguyên tắc tự nguyện sâu chuỗi các quy định pháp luật trong chế định kết hôn có ý nghĩa quan trọng đối với việc ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn của các bên namnữ,hướngtớiviệctạodựng các cuộc hôn nhân lành mạnh, góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc.

+ Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối xử

Quyềnkếthôn là quyềngắnliềnvớinhân thânmỗicá nhânđượcpháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vì thế, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật trong việc thực hiện quyền mà không bị phân biệt đối xử. Pháp luật HN&GĐ phải ghi nhận và bảo vệ quyền bình đẳng trong việc xác lập quan hệ hôn nhân giữa nam và nữ, giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, các tôn giáo, giữangườitheo tôn giáo và người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài. Đó cũng là cơ sởquan trọngđểtạodựng các cuộc hôn nhântựnguyện, tiếnbộphùhợpvớixuthếchung của thời đại.

Nguyêntắcbình đẳng, không phân biệtđốixử,yêucầumọicá nhân khi kết hôn đều phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Theo đó, dùngười kết hôn là ai thì khi xác lập quan hệ hôn nhân họ vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định về điều kiện kết hôn. Trong trường hợp vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn thì họ đều bị xử lý theo quy định của pháp luật.

+ Nguyên tắc hôn nhân một vợ- một chồng

Hôn nhân một vợ – một chồng là một giá trị văn minh của xã hội loài người.Đó là hôn nhân tiến bộ. Hôn nhân một vợ một chồng cũng là điều kiện quan trọng đểxây dựng những cuộc hôn nhân bình đẳng, bền vững, hạnh phúc làm nền tảng để tạo dựng gia đình, góp phần đảm bảo mục đích của cuộc hôn nhân. Nguyên tắc hôn nhân một vợmột chồng là nguyên tắc đặc trưng của chế định kết hôn. Bởi lẽ, kết hôn làcăn cứ nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, khi kết hôn các bên phải tuân thủ những điều kiện kết hôn luật định. Từ đó, nhà làm luật Việt Nam quy định việc cấm kết hôn đối vớingườiđang cóvợ,có chồng. Theođó,chỉnhữngngườichưa cóvợ,có chồng hoặc đã có vợ, có chồng nhưng quan hệ hôn nhân trước đã chấm dứt mới được phép kết hôn. Trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, mỗi cá

31

nhân phải tôn trọng pháp luật về điều kiện kết hôn, tôn trọng quyền tự do kết hôn của cá nhân khác vàđặcbiệt phải loạibỏnhững phong,tụctậpquánlạchậucảntrởnguyên tắc hôn nhân một vợ- một chồng.

+ Nguyên tắc tôn trọng phong tục, tập quán tốt đẹp

Lĩnh vực HN&GĐ làmộtlĩnh vực chịusựtácđộngsâusắccủacác quytắcđạo đức và phong tục, tập quán. Xét trên bình diện rộng, gia đình Việt Nam được xây dựng dựa trên nền tảng đạo đức, truyền thống. Vì vậy, tôn trọng phong tục, tập quán tốtđẹplàmộtđòihỏiquan trọng trong việc xây dựng và thực thi pháp luậtvềHN&GĐ.

Các quy phạm phạm pháp luật điều chỉnh việc kết hôn được xây dựng dựa trên nền tảng của quy tắc đạo đức và phong tục, tập quán tốt đẹp. Vì vậy, đảm bảo thực thi pháp luật về kết hôn cũng góp phần giữ gìn, phát huy những giá trị truyền thống, văn hóathểhiệnbảnsắcdântộcvềHN&GĐ. Bên cạnhđó,những phong tục, tập quántốtđẹpvềHN&GĐ khôngđượcluật hóa thành các quy phạm pháp luậtđiều chỉnh việckếthôn nhưng phùhợpvớinguyêntắccủaLuật HN&GĐ cũngđược khuyến khích áp dụng trong đời sống HN&GĐ.

Tôn trọng phong tục,tậpquántốtđẹpvềHN&GĐ,đòihỏiquá trình thực thi pháp luật về kết hôn phải khai thác những lợi thế của phong tục, tập quán tốt đẹp vềHN&GĐ để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, góp phần nâng cao hiệu quảđiều chỉnh pháp luật về kết hôn. Đẩy mạnh việc đấu tranh để loại bỏ khỏi đời sống xãhội những phong tục, tập quán lạc hậu ảnh hưởng không tốt tới việc điều chỉnh pháp luậtvềkếthôn. Trong thực tiễn áp dụng pháp luậtvềđiềukiệnkếthôn, việcđấu tranhđểloạibỏnhững phong tục,tậpquánlạchậukhỏiđờisống HN&GĐ là một việc không đơn giản. Hiện nay, ở một số tỉnh miền núi phía Bắc, miền Trung và Tây nguyên, nhiều dân tộc thiểu số có những phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ, tácđộng tiêu cực tới việc thực thi pháp luật về kết hôn mà điển hình là tình trạng “hôn nhâncậnhuyết”.Đâylàmộtvấnđềgây nhức nhối,ảnhhưởngnghiêm trọngđến chấtlượngdânsố.Vì vậy, nguyêntắctôn trọng phong tục,tậpquántốtđẹpvềHN&GĐ phải chi phối tới nội dung điều chỉnh pháp luật về kết hôn

1.1.2. Mục đích và bản chất của kết hôn

1.1.2.1.Mục đích của kết hôn

32

Từgócđộtựnhiên, việc liênkếtgiữangườiđànông vàngườiđànbàchỉnhằm thỏa mãn những nhucầubảnnăng thuần túy thìdầndầntrải qua những giaiđoạnphát triểncủalịchsửxãhộiloài người, nhân loạiđãchứng kiến nhữngbước tiến mới trong việc nhìn nhận mục đích của việc kết hôn. Theo đó, người đàn ông vàngười đàn bà khi thõa mãn những nhu cầu bản năng cũng phải có trách nhiệm đối với thế hệ đời sau bằng việc tuân thủ diện cấm đoán quan hệ tính giao. Khi “gia đình một vợ, một chồng” xuất hiện, sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà không chỉnhằm thỏa mãn những nhu cầu bản năng thuần túy mà là sự liên kết đặc biệt nhằm mục đích xác lập quan hệ vợ chồng. Từ đây, việc xác lập quan hệ vợ, chồng giữa hai bên nam nữ không chỉ nhằm thõa mãn những nhu cầu tình cảm cá nhân thuần túy màcòn là thể hiện trách nhiệm của người kết hôn đối với việc tạo lập một gia đình- nền tảng cơ bản của xã hội. Ở góc độ này, người kết hôn đã tham gia vào quá trình phát triển lịch sử “quan hệ tham dự ngay từ đầu vào quá trình phát triển lịch sử là quan hệvợ chồng- cha mẹ – con cái, đó là gia đình” [21, tr. 35 – 36].

Hôn nhân là một quan hệ thể hiện sự liên kết mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Bởi lẽ, hôn nhân trước hết được xác định là nền tảng cơ bản của gia đình. Theo pháp luật HN&GĐ hiện hành thì hôn nhân được hiểu là quan hệ vợ chồng sau khi đã kết hôn. Vì vậy, nếu mục đích của kết hôn là xác lập quan hệ vợ chồng thì mục đích của hôn nhân là xác lập quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Quyền và nghĩa vụ giữa vợ vàchồng là nội dung của quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng. Quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Như vậy, mục đích của kết hôn khác vớimụcđích của hôn nhân nhưnglạicómốiliênhệnhấtđịnhvớinhau.Mụcđích của hôn nhân có cơ sở bảo đảm khi việc “kết hôn” tuân thủ quy định của pháp luật. Mặtkhác,nếukếthôn không nhằmmụcđích xáclậpquanhệvợchồng thì giữa nhữngngườikếthôn cũng khôngthểtồntạinghĩavụvà quyền giữavợvà chồngđượcpháp luậtbảovệ.Vì vậy, việc xáclậpquanhệhôn nhân theo đúng quyđịnh của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn là một cơ sở để đảm bảo cho mục đích của cuộc hôn nhân. Sự ràng buộc về quyền và nghĩa vụ giữa những người kết hôn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ là những hành lang pháp lý an toàn cho mụcđíchcủacuộc hôn nhân. Trong những trườnghợpđặcbiệt khimụcđích hôn

33

nhân không đạt đến, quyền và lợi ích của người kết hôn sẽ được bảo vệ. Đó chính làsự “bảo hộ” của Nhà nước đối với quan hệ hôn nhân.

Có quan điểm cho rằngmụcđíchcủahôn nhân là nhằm sinh conđểnốidõi tôngđường.Quanđiểmnày ít nhiều mang tính xãhộivà lịchsử.Bởilẽ,ởmộtsốquốc gia trênthếgiới, trong những giaiđoạnnhấtđịnhđãtừng gán cho hôn nhân mục đích duy nhất và cao cả này. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, việc nhìn nhậnmụcđíchcủahôn nhân nhưvậysẽthểhiện làmộtquanđiểmphiến diện. Quyềnkếthôn là quyềncủamỗicá nhân. Vì thế, pháp luật quyđịnhvềquyền kết hôn trước tiên phải xuất phát từ lợi ích của người kết hôn. Do vậy, khi xác lập quan hệ hôn nhân hai bên nam nữ có thể không sinh con nhưng vẫn chung sống hạnh phúc bên nhau. Vì thế, lợi ích của bản thân người kết hôn trước hết phải được bảo vệ, lợiích của gia đình và xã hội chỉ được xem xét trong sự hài hòa với lợi ích của cá nhân. Xácđịnhcụthểmụcđíchcủaviệckếthôn và phân biệt rõvớimụcđíchcủahôn nhân có giátrịthiết thựcđểchúng tadựliệu các phương ánđiềuchỉnh pháp luật nhằm bảo vệ quyền tự do kết hôn của cá nhân.

1.1.2.2. Bản chất của kết hôn

– Kết hôn – một quyền tự nhiên cơ bản của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ

Đốivớicon người, nhucầuvềgiao lưu tìnhcảmlàmộtnhucầukhôngthểthiếu. Do vậy, quyềnđượcmưucầuhạnh phúc trongđócó hạnh phúclứađôilàquyền tự nhiên của mỗi con người được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Tuyên ngônđộclậpnăm 1876củaHoaKỳ vànhiềubảnTuyên ngôncủacácnướctrongđó cóViệt Nam đều viện dẫn một sự thật hiển nhiên “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bìnhđẳng.Tạohóa chohọnhững quyền không ai cóthểxâm phạmđược;trong những quyềnấy,có quyềnđượcsống, quyềntựdo và quyềnđượcmưucầuhạnh phúc”.Vớiýnghĩađó,quyềnkếthôntrướchếtphải là quyềntựnhiêncủamỗi người. Cùng với việc duy trì sự sống, con người có mối liên hệ tình cảm với nhau vàhình thành nhu cầu giao lưu tình cảm. Ở thời kỳ tiền sử, mặc dù là sự liên kết mang tínhbảnnăng nhưngdầndầntrậttựvềquanhệtính giaothểhiện văn minhngườiđượcxác lập. Khi Nhànướcrađời,quanhệHN&GĐđượcđiềuchỉnh bằng pháp luật. Theo đó, quyền được mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân không đơn thuần là

34

quyền tự nhiên mà là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi người- đó là quyền con người.Mặcdù xãhộiluôn phát triển, nhưngmụcđíchcốtlõi nhấtcủahôn nhân không nằm ngoài việc mong muốn tạo dựng một gia đình hạnh phúc. Bởi vậy, pháp luật của mỗi Nhà nước, suy cho cùng đều mong muốn hướng đến một mục tiêu hết sức nhân văn là ghi nhận và đảm bảo bằng pháp luật quyền tự do kết hôn cho mỗi cánhân.

+ Kết hôn là cơ sở để tạo dựng gia đình, góp phần duy trì và thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người

Kết hôn không phải là hình thức duy nhất để tạo dựng gia đình nhưng là một trong những hình thức quan trọng để tạo dựng gia đình nhằm duy trì và thúc đẩy sựphát triểncủaxãhộiloài người. Dù xãhộiphát triển, quan niệmvềtình yêu, hôn nhân có sự thay đổi nhất định nhưng hôn nhân vẫn có những giá trị nhân văn không thể phủ nhận. Bởi lẽ, gia đình dù ở bất cứ xã hội nào cũng thực hiện một trong những chức năng cơ bản, đó là chức năng sinh đẻ. Như vậy, sứ mệnh duy trì và bảo tồn nòi giống trước hết phải là sứ mệnh của hôn nhân. Xét trên phương diện xã hội, việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng rồi sinh con đó không chỉ là lẽ tự nhiên, là quy luật của tạo hóa mà là ước muốn của mỗi cá nhân. Quy luật ấy tiếp biến từ ngàn đời nay để xãhội nhờ đó không ngừng phát triển. Trải qua tiến trình phát triển của lịch sử, từ đời sống thực tiễn, con người không ngừng nâng cao nhận thức của mình trong việc đảm bảo để hôn nhân thực hiện trọng trách cao cả này. Từ sự cấm đoán mang tính chất tựphát về diện những người có quan hệ tính giao ở “gia đình huyết tộc” đến những quyđịnh chặt chẽ, khoa học vềđiềukiệnkết hôn đềulà cơ sở để hình thành lên những gia đình tốt- những tế bào “khỏe mạnh” của xã hội. Do đó, kết hôn không phải là căn cứduy nhấtđểtạodựng gia đình nhưng gia đìnhđượchình thành trên cơsởhôn nhân khôngchỉlà hình thứcphổbiến trong xãhộimà nó còntạoramộtnềntảng vững chắc, một liên kết bền vững thúc đẩy xã hội phát triển. Bởi vì:

Theo quan điểm duy vật, thì nhân tố quyết định trong lịch sử, suy chođến cùng là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng sản xuất đó, bản thân nó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: Ra thứcăn, quần áo và nhà cửa và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứđó;mặtkhác làsảnxuất ra ngaybảnthân con người, là tiếptụcnòi giống.

35

Những trật tự xã hội, trong đó con người của một thời đại lịch sử nhất địnhđang sống là do hai loại sản xuất đó quyết định: Một mặt là là trình độ phát triển của lao động và mặt khác là sự phát triển của gia đình [1, tr. 245].

Vì thế,“tềgia,trịquốc, bình thiênhạ”cũngtrởthànhmộttriết lý nhân sinh sâusắccủacác nhà tưtưởngphương Đông trong việc chấn hưng xã hội.Điềunày cũng kết tinh trong tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình bằng lời tổng kết thật giản dị:

“Gia đình là tế bào của xã hội”, “gia đình tốt thì xã hội mới tốt”. Do vậy, việc xác lập quan hệ vợ chồng xét về bản chất nó là hình thức quan trọng góp phần thúc đẩy sựphát triển của xã hội.

+ Kết hôn là cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn

Kết hôn có vai trò quan trọng đối với đời sống HN&GĐ. Thông qua sự kiệnđăng ký kết hôn, Nhà nước kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn, thực hiện quản lý nhà nước về kết hôn nhằm đảm bảo cho việc kết hôn được xác lập phù hợp với lợi ích của gia đình và xã hội. Quyền kết hôn là quyền tự do cơ bản của mỗi người nhưng khi thực hiện quyền kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Trường hợp, xét thấy chỉ một điều kiện kếthôn khôngđượcđảmbảo, cơ quan có thẩm quyềnsẽtừchối việc đăng ký kết hôn. Như vậy, thông qua việc đăng kýkếthôn, các cuộc hôn nhânđượcxác lập không chỉ đảm bảo lợi ích của người kết hôn mà còn đảm bảo một cách hài hòa lợiích của gia đình và xã hội. Sự kiện kết hôn còn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệquyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn. Bởi vì, kết hôn theo đúng quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn là căn cứ làm phát sinh quyền vànghĩa vụ giữa vợ và chồng. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các quyền và lợi ích hợp pháp của hai người kết hôn được bảo vệ bằng pháp luật. Ví dụ, hai người kết hôn hợp pháp thì giữa họ phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Trường hợp haingườichung sống nhưvợchồng không đăng kýkếthôn hoặckếthôn trái pháp luậtsẽkhôngđượcbảovệvớitư cách làvợchồng. Vì vậy, việckếthôn theo quyđịnh của pháp luật là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người kết hôn.

Khác với kết hôn, bản chất của hôn nhân là tình yêu và lòng chung thủy. Tình yêu và lòng chung thủy cũng tạo ra sự gắn kết bền vững giữa hai người kết hôn. Đây

36

là yếu tố quyết định để mỗi cuộc hôn nhân đạt được mục đích và mang lại những giátrị nhân văn, đích thực cho đời sống lứa đôi. Vì thế, ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kếthôn chomỗicá nhân là trao chohọchiếc chìa khóađểhọđượctựmình quyếtđịnhmởcánhcửatương lai cho chính mình. Nhànướcchỉbằng các quyđịnhcủa pháp luật nhằm định hướng cách xử sự cho mỗi cá nhân mà không can thiệp vào đời sống riêng tư của mỗi cá nhân. Mỗi cá nhân, căn cứ vào các quy định của pháp luật có sự lựa chọn phù hợp để quyền và lợi ích của mình được bảo vệ.

1.2. CÁCYẾUTỐCƠBẢNTÁCĐỘNGTỚIPHÁP LUẬTĐIỀUCHỈNH VIỆC KẾT HÔN VÀ Ý NGHĨA CỦA CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN

1.2.1. Các yếu tố cơ bản tác động tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn

Nghiên cứu vấn đề kết hôn dưới góc độ tự nhiên, xã hội và pháp lý cho thấy, pháp luậtđiềuchỉnh việckếthôn chịusựchi phốicủanhiềuyếutố.Cóthểkểđến một số yếu tố cơ bản sau:

* Yếu tố tự nhiên

Làmộtthựcthểcủathếgiớitựnhiên, conngườitôn trọng quy luậtcủathếgiới tự nhiên. Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn trước hết xuất phát từ quyền tự nhiêncủacá nhân, chịusựchi phốicủayếutốtựnhiên. Quyền conngườitrước khi là quyền- con người xã hội thì nó là quyền tự nhiên [51, tr. 129]. Quyền kết hôn là quyền tự nhiên của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Vì thế, theo lẽ tựnhiên, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà. Do đó, khi nóiđếnkếthôn là nóiđếnviệc xáclậpquanhệvợchồng giữa haingườikhác giới tính. Vì thế, chođếnnay,mặcdùđãcómộtsốquốc gia thừa nhận“hônnhânđồnggiới”nhưng pháp luậtcủahầuhếtcác quốc gia trênthếgiớiđềuchưa thừa nhậnvấnđềnày hoặc cũng có nhữngbướcđirấtthận trọng trong tiến trình điđến thừa nhận “hôn nhân đồng giới”.

Cũng như vậy, việc cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ và giữa những người có họ trong phạm vi ba đời vốn đã được hình thành một cách tự nhiên ngay từ thời kỳ tiền sử. Trong tác phẩm “Nguồn gốc của gia đình, của chếđộ tư hữu và của Nhà nước”, Ăng ghen đã chứng minh rằng, gia đình đầu tiên trong lịchsửxã hội loàingườixuất hiện,đãthểhiện nhưng nét khác biệtvớitổtiên của loàingườitrướcđóvì thuhẹpdiện nhữngngườiđượcphép quanhệtính giaovới

37

nhau. Việc cấm quan hệ tính giao giữa cha mẹ với các con, ông bà với các cháu hình thành một cách tự nhiên. Thời đó, con người cũng không lý giải được, đó là sự cấmđoán xuất pháttừcơsởkhoa học.Dầndầnxãhộiphát triển, chínhsựcấmđoán mang tính chất hoàn toàn tự nhiên ấy đã được lý giải một cách khoa học và trở thànhđiều cấm kết hôn. Như vậy, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn ghi nhận quyền kết hôn với ý nghĩa là một quyền tự nhiên của con người cũng chịu sự chi phối của yếu tố tựnhiên. Ở góc độ này, những yếu tố tự nhiên được lý giải là cơ sở quan trọng để nhàlàm luật hiện thực hóa quyền kết hôn của cá nhân.

* Yếu tố xã hội

– Điều kiện kinh tế xã hội: Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có tác động bởiđiều kiện kinh tế xã hội. Trong phạm vi quốc gia, các điều cấm kết hôn liên quan đến thể chất của người kết hôn phản ánh rõ dấu ấn của điều kiện kinh tế xã hội. Ở Việt Nam, vào những năm 1960, theo Luật HN&GĐ năm 1959, những người bị loạn óc, bị bệnh phong (hủi) hoặc bị bất lực về sinh lý không được phép kết hôn (Điều 10). Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự phát triển không ngừng trong lĩnh vực y học đã giúp chúng ta loại bỏ được sự nguy hiểm của các căn bệnh trên đối với việc xác lập quan hệ hôn nhân. Vì thế, từ Luật HN&GĐ năm 1986 điều cấm nàyđã được loại bỏ.

Ở phạm vi quốc tế, điều kiện kinh tế xã hội cũng là yếu tố quan trọng chi phốiđến pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Pháp luật của hầu hết các nước phát triển đều quy định tuổi kết hôn của nam và nữ thấp hơn so với quy định tuổi kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam.Bởilẽ,điềukiện kinhtếxãhộitácđộngtrực tiếptớisựphát triển và hình thành và phát triển nhân cáchcủamỗicá nhân. Dođó,phầnlớncác nướcphương Tây và các bangcủaHợpchủng quốc HoaKỳ,tuổikếthônđềudaođộng là 16 tuổi (đối với nữ) và 18 tuổi (đối với nam). Trong khi đó, ở Việt Nam độtuổi này phải là 18 tuổi (đối với nữ) và 20 tuổi (đối với nam). Như vậy có thể thấy,điều kiện kinh tế xã hội có tác động đáng kể đến pháp luật điều chỉnh việc kết hôn.

– Phong tục, tập quán: Lĩnh vực HN&GĐ- một lĩnh vực điều chỉnh pháp luật liên quan nhiềuđếnphong tục,tậpquán vàđạođức[70, tr. 14]. Vì vậy, pháp luật HN&GĐ nói chung, pháp luậtvềkếthôn nói riêng chịusựtácđộngsâusắcbởi phong tục, tập quán. Sự tác động của phong tục, tập quán thể hiện ở cả hai góc độ.

38

Góc độ thứ nhất, phong tục, tập quán tốt đẹp về HN&GĐ được luật hóa thành những quy phạm, pháp luậtđiềuchỉnh việckếthôn. Xuyên suốthệthống các quy phạm pháp luậtvềHN&GĐcủapháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, chúng ta nhận thấy nhiều phong tục,tậpquántốtđẹpvềHN&GĐđượcnâng lên thành luật. Các quyđịnh về cấm kết hôn thể hiện việc gìn giữ thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam về việc tôn trọng trật tự, thứ bậc trong gia đình được nhà làm luật dự liệu. Điều này có ý nghĩa sâu sắc đối với việc lưu giữ những giá trị truyền thống trong gia đình Việt Nam.Ởmộtgócđộkhác, phong tục,tậpquánvềHN&GĐ cóthểlàmảnhhưởngđáng kể đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn. Nhiều phong tục, tập quán lạchậuvềHN&GĐcảntrởquyềntựdo kết hôn của cá nhân. Vídụ,tục“nốidây” hay “cướp vợ” buộc một người phải kết hôn trái với ý chí tự nguyện của họ. Tập tục về “hôn nhân cận huyết” vi phạm các điều cấm kết hôn… là những vật cản đáng kểlàm giảm tính thực thicủapháp luật. Vì vậy,đểđảmbảonâng cao hiệuquảđiều chỉnhcủapháp luậtvềkếthôn, góp phần xây dựng gia đình Việt Nam phồn thịnh cần phải loại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ khỏi đời sống xã hội.

– Truyền thống văn hóa của dân tộc

Nền văn hóa Việt Nam có bề dày hàng nghìn năm với những thành tựu rực rỡcủa nền văn hóa bản địa: Đông sơn, Sa Huỳnh, Hòa Bình… Tiếp thu có chọn lọc các nềnvăn hóa phương Đông du nhập vào Việt Nam như Phật giáo, Lão giáo…,Đặc biệt,ngườiViệt Nam biết tiếp thumộtcách uyển chuyển và tinhtếtưtưởngNho giáo với cốt lõi là tư tưởng coi trọng các mối quan hệ rường cột trong đời sống xã hội như mối quan hệ gia đình. Kết hợp với lối sống trọng tình của người Việt, tư tưởngấy đã tạo ra sự liên kết giữa cá nhân và cộng đồng một cách sâu sắc, hun đúc thành tinh hoa văn hóa Việt.Đólà tình đoàn kết, yêu thươnggắnbóvớinhau giữa con ngườivớiconngườikhôngchỉtrong phạm vi gia đình mà rộng hơnnữalà trong phạm vi làng xã, quốc gia và nâng lên cả ở tầm quốc tế. Điều này chi phối nhiều đếnđời sống hôn nhân và có tác động đến pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Trong bối cảnh hội nhập, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn đã bắt kịp với xu thế chung của thờiđại bằng việc ghi nhận việc kết hôn có yếu tố nước ngoài. Ở góc độ này, pháp luật vềkếthôn khôngchỉcóýnghĩa trong việcđảmbảoquyềntựdokếthôncủamỗicánhân mà còn thể hiện rõ những giá trị truyền thống trong văn hóa ứng xử của người

39

Việt Nam. Bên cạnhđó,những giátrịtruyền thống văn hóacủangườiViệt Nam cũng được thể hiện trong các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn. Ví dụ nhưtruyền thống đề cao lòng chung thủy, thể hiện qua các quy định về việc cấm kết hônđốivớingườiđang cóvợ,có chồng hoặc truyền thống tôn trọngthứbậcvà trậttựtrên dưới trong quan hệ gia đình, phản ánh qua quy định về cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi bađời; cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi…

Như vậy, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn không chỉ chịu sự tác động và chi phối bởi truyền thống văn hóa của dân tộc mà pháp luật cũng có vai trò quan trọng trong việc lưugiữcác giátrịtruyền thốngvềHN&GĐ mà chúng tacầnphát huy. Truyền thống văn hóatốtđẹpvềHN&GĐcủadântộcđượcđềcao cóảnhhưởng tích cực tới việc thực thi pháp luật về kết hôn. Ví dụ, truyền thống trọng tình, trọng nghĩa đề cao lòng chung thủy được phát huy sẽ là cơ sở quan trọng để mỗi cá nhân tuân thủ nguyên tắc hôn nhân một vợ, một chồng. Nhờ đó, việc cấm kết hôn đối với người đang có vợ hoặc có chồng được tuân thủ. Ngược lại nếu truyền thống này bịxem nhẹ, sẽ ảnh hưởng nhiều đến hiệu qủa điều chỉnh của pháp luật. Vì thế, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, việc giữ gìn và phát huy nền văn hóa Việt Nam đậm đàbản sắc dân tộc có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực thi pháp luật về HN&GĐ góp phần xây dựng gia đình Việt Nam hạnh phúc, bền vững.

– Chính sách xã hội

“Chính sách xã hội là hệ thống các quan điểm cơ bản, giải pháp và biện pháp màĐảngcầmquyền và Nhànướcđềra vàtổchức thực hiện trong thực tiễnđời sống nhằm kiểm soát, điều tiết và giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra trước xã hội” [68]. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng là kim chỉ nam cho mọi quyết sáchđối với các lĩnh vực đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, Nhà nước đề ra các giải pháp cụthể nhằm thực hiện một cách hiệu quả các quyết sách này. Có thể nói, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn có mối liên hệ biện chứng với các chính sách về gia đình nói riêng và chính sách phát triển kinhtếxãhộinói riêng. Các chính sáchvềgia đìnhđược Nhà nước ban hành có tác động sâu sắc tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Chiến lược quốc gia về gia đình của Việt Nam là nhóm chính sách có mối liên hệ sâu sắc với pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Bởi vì thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng

40

gia đình Việt Nam tiến bộ, no ấm, bình đẳng, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Vì thế, pháp luật điều chỉnh việc kết hôn trước hết phải đảm bảo là hệ thống các quy phạm pháp luật tạo cơ sở để xác lậpcác cuộc hôn nhân lành mạnh làmnềntảng xây dựng gia đình.Ởgócđộnày, chính sách về gia đình cũng là cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật về kết hônđồngthời cũng giúp chúng tađưacác quyđịnhcủapháp luậtvềkếthôn vào cuộc sống. Ví dụ như việc thực hiện mô hình phòng chồng tảo hôn và hôn nhân cận huyết là chính sách góp phần giảm thiểu tình trạng vi phạmđiềukiệnkếthôn. Như vậy, chính sách về gia đình là cơ sở để hoàn thiện khung pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng nhưng các quy định này của pháp luật có tính thực thi lại góp phần thực hiện tốt các chính sách về gia đình.

Cácyếutốtácđộngtớipháp luậtđiềuchỉnh việc xáclậpquanhệvợchồng cũng tạo ra những điểm tương đồng và khác biệt trong pháp luật về kết hôn giữa các quốc gia trênthếgiới.Mỗiquốc giavớinhữngnềnvăn hóa khác nhau,điềukiện kinh tế và các chính sách xã hội đặc thù thì pháp luật điều chỉnh việc kết hôn của mỗi quốc gia đó cũng phản ánh rõ những nét riêng nhất định.

Cácyếutốtrên tácđộngđếnpháp luậtđiềuchỉnh việckếthôn không mang tính chất riêng rẽ và độc lập mà thể hiện một cách linh hoạt, đan xen vào nhau, có sựtác động qua lại với nhau. Sự phân chia như trên chỉ mang tính chất tương đối nhằmđánh giá một cách tổng quát những yếu tố tác động tới pháp luật điều chỉnh việc kết hôn để đưa ra những giải pháp tốt nhất cho việc hoàn thiện pháp luật về kết hôn.

1.2.2. Ý nghĩa của chế định kết hôn * Ý nghĩa pháp lý

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn tạo chuẩn mực pháp lý cho hành vi ứng xửcủa mỗi chủ thể thi hành, áp dụng pháp luật trên cơ sở tôn trọng các quyền con người của cá nhân

Mỗi cá nhân đều có quyền tự do kết hôn. Tuy nhiên, sống trong xã hội quyền tự do đó phải là sự tự do trong khuôn khổ luật định. Mỗi cá nhân khi thực hiện quyền kếthôn, phải tôn trọng quyền củangườikhác.Ngườikếthôn khôngchỉbảovệ lợiích của bản thân mình mà phải tôn trọng lợi ích của người khác, lợi ích của gia đình và xã hội. Vì vậy, bản thân người kết hôn phải tuân thủ pháp luật về kết hôn. Ở góc

41

độ này, chế định kết hôn đã tạo ra chuẩn mực pháp lý cho hành vi ứng xử của chủ thểthi hành pháp luật.Ngườikếthôn, căncứvào các quyđịnhcủapháp luật,họbiết mình được phép và không được phép làm gì khi kết hôn. Ví dụ, người kết hôn biết rằng mình đã đủ tuổi kết hôn hoặc biết rằng không được phép buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ. Đó chính là việc thực hiện quyền tự do kết hôn trên cơ sở tôn trọng quyền con người của cá nhân khác. Chủ thể áp dụng pháp luật, căn cứ vào các quy định về điều kiện kết hôn, các hành vi vi phạm pháp luật về điều kiện kết hôn sẽ có các quyết định phù hợp về việc ghi nhận sự xác lập quan hệ hôn nhân, công nhận hay công nhận quanhệhôn nhân hoặcxửlý các hành vi vi phạm pháp luậtvềkếthôn, nhằmbảođảmcho quanhệhôn nhânđượcxáclậptheo đúng quyđịnh của pháp luật.

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của gia đình và xã hội

Pháp luậtđiềuchỉnh việckếthônvớicác quyđịnhcụthểvềđiềukiện kết hôn, đăng ký kết hôn, hình thức và hậu quả của việc xử lý vi phạm về điều kiện kết hôn là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của gia đình và xã hội. Với các quy định này quyền tự do kết hôn của mỗi cánhânđượcpháp luậtbảovệ.Trườnghợpngườikếthôn,kếthôn tráivớiýchítựnguyện của họ thì theo quy định của pháp luật, họ có quyền khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đó. Ngoài ra lợi ích của các chủ thể khác có liên quan, lợiích của gia đình và xã hội cũng được bảo vệ bằng các quy định của pháp luật về kết hôn. Chế định kết hôn ghi nhận các trường hợp không được phép kết hôn nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình và xã hội. Ví dụ như việc cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Đó là việc kết hôn ảnh hưởng đến thuần phong, mỹ tục của người Việt Nam đồng thời làm suy giảm chấtlượnggiống nòi. Vì thế, vìlợiíchcủagia đình và xã hội,ngườikếthôn khi có mối quan hệ gần gũi này sẽ không được phép két hôn. Chế định kết hôn cũng dự liệu các chế tài cần thiết nhằm xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân, của gia đình và xã hôi.

* Ý nghĩa xã hội

42

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên, nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội

Các quy phạm pháp luật trong chế định kết hôn được xây dựng dựa trên cơ sởkhoa học, điều kiện kinh tế xã hội có tính đến phong tục, tập quán, đạo đức… Điều kiệnkếthônđịnhhướngcáchxửsựcho thanh niên trên conđườngtìmđếncuộc sống hôn nhân. Ngày nay, trong vòng xoáycủaxãhộihiệnđại,quan niệmvềtình yêu, hôn nhân của thanh niên có sự thay đổi đáng kể. Sự tự do trong tình yêu dễ kéo theo lối sống buông thả, vị kỷ. Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực HN&GĐ nói chung, việc kết hôn nói riêng cóý nghĩa thiết thực trong việc giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên. Hôn nhân làchuyện của các bên nam nữ nhưng hôn nhân ảnh hưởng tới gia đình và xã hội, cho nên mỗi cá nhân không thể chạy theo lối sống vị kỷ mà bỏ qua lợi ích của gia đình vàxã hội. Vìvậynam,nữkhi xáclậpquanhệhôn nhân phảiýthức trách nhiệm của mình trước gia đình và xã hội. Các quy định về điều kiện kết hôn định hướng cho họcó tháiđộđúngmựctrong cáchlựachọnbạnđời,đóphải làmộtsựlựachọn phùhợp, đúng luật chứ không thể là một sự tự do tùy tiện. Một người không thể cưỡng ép hay lừa dối bên kia để kết hôn trái với ý chí tự nguyện của họ. Hai bên nam nữ chỉđượcphépkếthôn khiđãđủtuổikếthôn luậtđịnh,việckếthôncủahọkhông rơi vào các trường hợp luật cấm kết hôn. Từ đó, các bên nam, nữ ý thức rằng họ được phép và không được phép kết hôn trong trườnghợpnào. Việc xáclậpquanhệhôn nhân, trên cơ sở tuân thủ các quy định mà nhà làm luật dự liệu là tiền đề quan trọng,đểxây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc,bềnvững. Trườnghợpkếthôn hoặc chung sống như vợ chồng trái pháp luật sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hai bên nam nữ trong trường hợp này sẽ không được Nhà nước thừa nhận là vợ chồng. Với ý nghĩa đó, các quy định của pháp luật trong chế định kết hôn đã định hướng cho ngườikếthôn cáchứngxửphù hợp, góp phần giáodụcđạođức,lốisống và nâng cao trách nhiệm của cá nhân đối với gia đình và xã hội.

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần giữ gìn và phát huy nét bản sắc, văn hóa truyền thống trong gia đình Việt Nam

Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn phản ánh khá sâu sắc các yếu tố phong tục, tập quán, đạo đức truyền thống của người Việt Nam. Người Việt Nam coi trọng giá

43

trị của đời sống HN&GĐ. Do đó, việc xác lập quan hệ hôn nhân của đôi bên nam nữluôn được xem là vấn đề hệ trọng của một đời người. Thời kỳ phong kiến, hôn nhân không phải là việc riêngcủađôibên mà là việccủagia đình, dònghọ.Hôn nhân thường được cha mẹ hay các bậc bề trên dàn xếp thông qua người mai mối. Hai cánhân không có quyền tự lựa chọn bạn đời và họ thường chỉ được thông báo về sự dàn xếp sau khi đã xong công việc [55, tr, 100]. Ngày nay, trong xã hội hiện đại, bảo đảm quyềntựdokếthôn nên quyền quyếtđịnhviệc hôn nhân làcủacác bên nam, nữ. Tuy nhiên, việc coi trọng hôn nhân – nền tảng của gia đình vẫn thể hiện rõ thông qua các quy định về điều kiện kết hôn. Điều kiện kết hôn đảm bảo cho việc xác lập một gia đình mới tiến bộ, bình đẳng và hạnh phúc. Quy định này, thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong Chiến lược xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam trong thờikỳcông nghiệp hóa, hiệnđạihóađấtnước.Thờiđạingày nay, trong xu thế mở cửa và hội nhập, tất sẽ dẫn đến sự giao thoa của nhiều nền văn hóa. Trong khiđó, HN&GĐ luôn là vấn đề nhạy cảm, có ảnh hưởng rõ nét từ sự giao thoa văn hóa. Vì vậy, muốngiữgìnmộtnềnvăn hóađậmđàbảnsắcdântộcthì phảibắtđầutừviệc giữ gìn những nét văn hóa truyền thống trong gia đình. Pháp luật HN&GĐ hiện hành, cũng xuất phát từ mục đích này mà quy định cấm kết hôn giữa những người cóhọ trong phạm vi ba đời; giữa cha mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng làcha mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng.

Người Vỉệt Nam vốn có lối sống duy tình và tôn trọng trật tự trên dưới, trước sau, đặc biệt là trong đời sống gia đình. Vì vậy, các quyđịnh vềđiều kiện kếthôn, thể hiện rõ việc giữ gìn những thuần phong, mỹ tục- nét đẹp truyền thống trong giađình Việt Nam từ ngàn đời nay. Nét đẹp ấy trong văn hóa gia đình Việt Nam là nét bản sắc văn hóa của người Việt Nam cần phải bảo tồn và phát huy cho muôn đời sau. – Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn tạo tiền đề để xây dựng gia đình Việt Nam tiến

bộ, bình đẳng, hạnh phúc

Gia đìnhbềnvững, hạnh phúc là nhântốthúcđẩysựphát triểncủaxã hội. Trongbốicảnhmởcửavàhộinhập,sựgiao thoacủanhiềunềnvăn hóadẫnđến nhữngảnhhưởngđángkểtớiđờisống HN&GĐ. Gia đình trong thờikỳđổimớiởnướcta có những biếnđổinhấtđịnh.Mô hình gia đình truyền thốngvớisựchung

44

sống của nhiều thế hệ trong một mái nhà dần dần mất đi thay vào đó là các gia đình hai thế hệ (gia đình hạt nhân). Hôn nhân chính là khởi điểm đầu tiên, hình thành lên gia đình. Vì vậy, việc liên kết tự nguyện và bình đẳng giữa hai bên nam nữ là cơ sởđểthiếtlậpmộtgia đình tiếnbộ,bìnhđẳng.Khácvớiquan niệmcủacác nhà làm luật thời kỳ phong kiến, việc xác lập quan hệ hôn nhân của hai bên nam nữ là việc của gia đình, dòng họ. Trong thời đại ngày nay, việc xác lập quan hệ hôn nhân hoàn toàn được quyết định bởi ý chủ quan của người kết hôn. Việc tự do lựa chọn và quyếtđịnhhôn nhâncủacác bên nam,nữlànềntảng chomộtcuộc hôn nhânbềnvững, hạnh phúc. Vì vậy,sựtựnguyệncủahai bên namnữkhikếthôn làmộtđiềukiện quan trọng được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Bên cạnh đó, các quy định về độ tuổi kết hôn, các điều cấm kết hôn là những điều kiện cần thiết đảm bảo sự sàng lọc cần thiết, tránh những nguy cơ cho gia đình tương lai. Với ý nghĩa đó, chế định kết hôn chính là những chuẩn mực pháp lý, tạo tiền đề để xây dựng gia đình Việt Nam bền vững, hạnh phúc.

* Ý nghĩa kinh tế

Gia đình là một thiết chế cơ bản của xã hội mà hôn nhân chính là nền tảng căn bản để tạo lập gia đình. Vì vậy, việc điều chỉnh pháp luật về kết hôn có ý nghĩa kinh tế sâu sắc, thể hiện ở những góc độ sau:

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần củng cố và cung cấp nguồn nhân lực cóchất lượng cao cho nền kinh tế

Bất cứ nền kinh tế nào cũng đề cao nhân tố con người. Bởi lẽ, con người lànhântốquyếtđịnhđếnsựphát triển củanềnkinhtế.Gia đình thực hiệnmộttrong những chức năng cơ bản đó là chức năng sinh đẻ để duy trì và bảo tồn nòi giống. Ởgóc độ này, chế định kết hôn góp phần sàng lọc để chất lượng dân số được cải thiện, mỗi con người sinh ra đều khỏe mạnh về thể chất và trí tuệ. Đây chính là cơ sở quan trọng để chúng ta có một nguồn nhân lực tốt đóng góp công sức cho việc thúc đẩy sựphát triển của nền kinh tế.

Chếđịnhkếthôn góp phần xây dựng gia đình hòa thuận hạnh phúc và bền vững là động lực cho các thành viên gia đình phát huy mọi nỗ lực của mình để học tập, laođộngvà cống hiến đóng góp vàosựphát triển chungcủatoàn xãhộicũng như sự phát triển của nền kinh tế.

45

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn góp phần giảm tải sức nặng đối với nền kinh tế,đẩy lùi tình trạng đói nghèo và lạc hậu đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế

Việccấmkếthôn giữa nhữngngườicùng dòng máuvềtrựchệ,giữa những người có họ trong phạm vi ba đời sẽ hạn chế được tỷ lệ những trẻ em ra đời mắc các

bệnhvềmáu,bịdịtậtbẩmsinh… là gánh nặng chonềnkinhtế.Đấtnướcta còn nghèo nên việc giải quyết cácvấnđềphúclợivà an sinh xãhộigặpkhông ít khókhăn. Vì thế, số lượng công dân thiệt thòi do ra đời từ những cuộc “hôn nhân” này sẽcản trở đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Thực tế ở những vùng miền núi phía Bắc, miền trung và Tây Nguyên đã và đang gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh về tình trạng đòi nghèo và lạc hậu ở nơi mà người dân đang loay hoay trong vòng luẩn quẩn của tình trạng “hôn nhân cận huyết”. Việt Nam cũng giống như tất cả các nước châuÁđangbướcvàokỷnguyên“dânsốvàng”.Nếucâu chuyệnvể“hônnhân cận huyết” không được đẩy lùi, cùng với thách thức của kỷ nguyên “dân số vàng” chúng ta sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề phúc lợi và an sinh xã hội để đưa đất nước đi lên. Với ý nghĩa đó, chế định kết hôn góp phần quan trọng làm giảm thiểu các yếu tố đe dọa sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Qua việc phân tích ý nghĩa của chế định kết hôn cho thấy, chế định kết hôn cóvịtríđặcbiệt quan trọngđốivớipháp luậtđiềuchỉnh các quanhệHN&GĐ.Chếđịnh kết hôn thể hiện rõ vị trí là một chế định trung tâm trong hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ, thể hiện ở những khía cạnh sau:

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn là hệ thống các quy phạm mang tính chất nòng cốt để Luật HN&GĐ thực hiện nhiệm vụ: xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chếđộHN&GĐ tiếnbộ,xây dựng chuẩnmựcpháp lý cho cáchứngxửcủacác thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Trong gia đình Việt Nam, quan hệ hôn nhân là quan hệ khởi đầu, quan hệ nền tảng và có tính chi phối tới các quan hệ khác như quan hệ cha mẹ và con, quan hệ giữa anh chị em với nhau. Vìthế, những cuộc hôn nhân bền vững, hạnh phúc luôn là cơ sở vững chắc làm tiền đề

46

quan trọngđểxây dựng gia đình hạnh phúc. Pháp luậtđiềuchỉnh việckếthônđãđóng vai trò quan trọng trong việc xác lập những cuộc hôn nhân tự nguyện, tiến bộtạo nền tảng bền vững để xây dựng gia đình. Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn cũng loạibỏđượcnhữngyếutốtrởngạicản trởsự phát triểncủagia đình. Vì thế, pháp luậtđiềuchỉnh việckếthôn đóng vai trò làhệthống các quy phạm nòngcốttrong việc thực hiện nhiệm vụ của Luật HN&GĐ.

– Pháp luật điều chỉnh việc kết hôn là nền tảng pháp lý quan trọng có tính chất quyếtđịnh tới nội dung điều chỉnh của nhiều chế định pháp lý khác.Chếđịnh kết hôn cómối liên hệ với hầu hết các chế định pháp luật điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ nhưchếđịnhquyền và nghĩavụgiữavợvà chồng, quyền và nghĩavụgiữa chamẹvàcon, chế định cấp dưỡng, chế định ly hôn… Trong mối liên hệ này, chế định kết hôn tạo tiền đề pháp lý quan trọng để chúng ta xem xét việc bảo vệ quyền và lợi ích của cácchủthể có liên quan. Vídụ,quyền và nghĩavụgiữavợvà chồng chỉ phát sinh khi hai bên namnữđượcthừa nhận làvợchồngtrướcpháp luật.Mốiliênhệhôn nhân được xác định là một trong những điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng. Hai người có quan hệ hôn nhân hợp pháp thì khi có yêu cầu chấm dứt quanhệhôn nhân, Tòa ánmớigiải quyết yêucầucủahọtheothủtụcly hôn…Do vậy, nếu không có căn cứ pháp lý để xác định rõ hai bên nam nữ có phải là vợ chồng hay không sẽ không có cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề pháp lý phát sinh trong các chế định có liên quan. Vì thế, chế định kết hôn được quy định cụ thể, chặt chẽ vàtoàn diện không những tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để chúng ta hoàn thiện các chếđịnhcó liên quan mà còntạorasựliênkếtthống nhất toànbộhệthống pháp luật HN&GĐ, góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực HN&GĐ, thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội.

1.3. KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH VIỆC KẾT HÔN Ở VIỆT NAM QUA CÁC THỜI KỲ

1.3.1. Quyđịnhvềkếthôn trong pháp luật Việt NamtrướcCách mạng tháng Tám năm 1945

1.3.1.1. Quy định về kết hôn trong pháp luật thời kỳ phong kiến

Trải qua nhiều biến cố Lịch sử, cho đến nay di sản pháp luật phong kiến Việt Nam còn lưugiữđượckhông nhiều. Vì vậy, nghiêncứupháp luật phong kiến Việt

47

Namvềkếthôn, cóthểxem xét qua haibộluật tiêu biểu là Quốc triều hình luật (QTHL) và Hoàng Việt luật lệ (HVLL). Cả hai bộ luật này đều có những điểm tươngđồng trong các quy định về điều kiện kết hôn. QTHL và HVLL đều quy định việc kết hôn phải có sự ưng thuận của cha mẹ hoặc các bậc tôn thuộc. Đây là sự phản ánh khárõ quan điểm của nhà làm luật phong kiến khi coi hôn nhân là việc hệ trọng. Do đó, quyếtđịnhviệc hôn nhân không phải là việc củangườikếthôn, mà là việccủagiađình và dònghọ.Các quyđịnhvềcấmkếthônthểhiện rõ những giátrịđạođức trong đạo làm người. Theo quan niệm của Nho giáo, làm con phải biết hiếu kính với cha mẹ, nếu không sẽ phạm tội “bất hiếu”. Do vậy, QTHL quy định việc cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế, cấm kết hôn khi cha mẹ bị giam cầm tù tội (Điều 317 – 318). Bên cạnh đó, các quy định về điều cấm kết hôn còn thể hiện rõ việc bảo vệ những giátrị truyền thống, đạo đức của người Việt Nam đối với việc xác lập quan hệ vợ chồng:

cấm lấy cô, dì, chị, em gái, kế nữ (con gái riêng của vợ, người thân thích); cấm lấy vợ của anh, em, của thầy học đã chết (Điều 324). Đặc biệt, các quy định điều cấm kết hônthểhiện rõ việcbảo vệtrậttự,đẳngcấpxã hội:cấmcác quan và thuộclạilấyđàn bà con gái hát xướng làm vợ (Điều 323). Vì người đời xưa quan niệm đàn bà con gái hát xướng là người có thân phận thấp kém “xướng ca vô loài”. Như vậy, nền tảngđạođức đặt nềnmóng cho việc xây dựng các quy phạm pháp luậtvềđiềukiện kết hôn đồng thời các quy phạm pháp luật đó cũng chính là những công cụ dẫn dắt người dân tôn trọng quytắcđạođức,tôn trọng pháp luật. Tronglờitựakhi ban hànhBộ

HVLL, Hoàng đế Gia Long đã viết: “…sống trong xã hội, con người với những ham muốn vô bờ, nếu không có luật pháp để ngăn ngừa thì không có cách gì để dẫn dắt ngườita vàođườnggiáo hóa mà biếtđượcđạođức.Cho nênlờixưa có nói: Luật pháp là công cụ giúp cho việc cai trị thêm tốt đẹp”. Vì thế, ngoài những điểm tươngđồng trong quy định về điều kiện kết hôn so với QTHL, HVLL còn quy định về việc cấm lừa dối trong hôn nhân. Phổ biến nhất trong trường hợp này là trường hợp “tráo hôn”, ví dụ như mạo trá con tật nguyền, mạo trá con nuôi thành con đẻ (Điều 93- 94). Về nghi thức kết hôn, QTHL và HVLL đều không quy định về nghi thức kết

hôn. Tuy nhiên, theo quyển “Hồng Đức hôn giá lễ nghi” có thể thấy rằng, nghi thức truyền thống là nghi thức được thừa nhận. Cả hai văn bản pháp luật này đều quy định khi nhà gái đã nhận đồ sính lễ của nhà trai thì coi như hai người đã “thành hôn”. Vì

48

vậy, nếu đem người con gái mà gả cho người khác thì xử tội đồ làm khao đinh [85,Điều 322], [54, Điều 94]. QTHL cũng dự liệu một vài trường hợpđặc biệt,mặc dùđã nhận đồ sính lễ nhưng vẫn có thể từ hôn mà không bị phạt. Đó là trường hợp, con gái hứa gả chồng mà chưa thành hôn, nếu người con trai bị ác tật, hay phạm tội hoặc phá tán tàisảnthì cho phépngườicon gáiđượckêu quan màtrảđồlễ.Nếungười con gáibịáctậthay phạmtộithì không phảitrảlạiđồlễ.HVLL còn có quyđịnh mới mẻ về hiệu lực của hôn nhân qua quy định về “hôn thư”. Hôn thư là việc hứa gảthể hiện bằng văn bản. Hứa gả có văn bản mà đổi ý phạt 50 roi. Nhà gái đã nhận đồsínhlễcũng như vậy.Nếunhà gáilạihứagảcho nhà khác thì phạt 70 trượng,đãthành hôn xử 80 trượng (Điều 94).

Cả hai bộ luật này đều quy định việc xử lý các trường hợp vi phạm điều kiện kết hôn rất nặng. Hình thức xử lý là xử phạt bằng trượng, xử biếm, xử đồ… Như vậy,ởthờikỳnày, xuhướnghìnhsựhóa các vi phạmvềđiềukiệnkếthônđượccoi trọng.Điềunày cho thấy việcbảovệcác giátrịvềđạođức,phong tục,tậpquán trong lĩnh HN&GĐ cũng như trậttựđẳngcấpxãhộiđượcđềcao. HVLL nêu rõ:

Phàm lấy người cùng họ, chủ hôn và trai gái mỗi người bị phạt 60 trượng, phải li dị, tiền cưới sung công. Lấy chị, em của mẹ xử treo cổ, chị em cùng mẹ khác cha, cùng cha khác mẹ lấy nhau xử theo tội thân thuộc gian dâm trong thập ác (Điều 100-101). QTHL cũng quy định hình phạt nghiêm khắc cho những kẻ lợi dụng quyền thế để ép buộc hôn nhân: Những nhà quyền thế mà ức hiếp để lấy con gái kẻ lương dân, thì xửtội phạt, biếm hay đồ (Điều 338). Đây là quy định khá tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng trong việc tạo dựng quan hệ hôn nhân của hai bên bam nữ, vượt ra khỏi những ràng buộc của xã hội phong kiến thời đó.

Có thể thấy, các quy định của pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn trong pháp luật phong kiến chưa hướng tới việc bảo vệ quyền của bản thân người xác lập quan hệ hôn nhân. Lợi ích của gia đình, dòng họ và trật tự cộng đồng được đặt lên trên hết. Vì thế, việc quyết định hôn nhân không phải là việc của bản thân người kết hôn màlà việc của gia đình, dòng họ. Hình thức xử lý vi phạm khá nặng chủ yếu là áp dụng “hình phạt”. Pháp luật HN&GĐ về kết hôn ở thời kỳ này là sản phẩm tất yếu của một thời kỳ mà tư tưởng Nho giáo được xem như khuôn vàng thước ngọc và chuẩn mựcđể quản lý xã hội. Mặc dù vậy, quyđịnhvềkết hôn trong hai bộ luật có những nét

49

riêng kháđặcthù mangđậmnét phong tục,tậpquáncủangườiViệt Nam. Nghiên cứu các quy định này có ý nghĩa sâu sắc để chúng ta chắt lọc những tinh hoa trong cổluật, góp phần gìn giữ những nét đẹp trong văn hóa truyền thống của người Việt Nam về kết hôn.

1.3.1.2. Quy định về kết hôn trong pháp luật Việt Nam thời kỳ Pháp thuộc

Thời Pháp thuộc, thực hiện chính sách chia để trị, thực dân Pháp chia nước ta làm ba miền Bắc, Trung, Nam. Vì vậy, có ba Bộ dân luật được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ. Ở Bắc kỳ, áp dụng các quy định trong Bộ DLBK, Trung kỳáp dụng Bộ DLTK và ở Nam kỳ áp dụng các quy định trong Bộ dân luật Giản yếu năm 1883 (Bộ DLGY).

Về kỹ thuật lập pháp, ba bộ luật này đều ảnh hưởng từ Bộ Dân luật pháp. Các quy phạm pháp luậtđiềuchỉnh quanhệhôn nhântậphợpthànhmộtchếđịnhcủa Luật dân sự. Về mặt nội dung, xét một cách tổng quát, Bộ DLBK và bộ DLTK phảnánh nhiều nét phong tục,tậpquán truyền thốngcủaViệt NamvềHN&GĐ.BộDLGY chịu ảnh hưởng của Bộ dân luật Pháp 1804 cho nên có nhiều điểm cách tân theo quan điểm của nhà làm luật phương Tây.

Về điều kiện tuổi kết hôn, Bộ DLBK và Bộ DLTK đều quy định tuổi kết hôn của nam là đầy mười tám tuổi và nữ là đầy mười năm tuổi [3, 5 Điều 73]. Khác với hai Bộ dân luật trên, Bộ DLGY trong phần thứ năm nói về Hôn thú, tại mục “phép cưới cùng phép làm chứng” quy định tuổi kết hôn của nữ ít nhất là đầy mười bốn tuổi, nam ít nhất là đầy mười sáu tuổi. Như vậy, so với thời kỳ phong kiến, tuổi kết hôn theo pháp luật thời kỳ Pháp thuộc đã có những chuyển biến nhất định, tuổi kết hôndầnđượctăng lên làdấuhiệuthểhiệnđiểmtiếnbộđáng kể trong việcđiều chỉnh pháp luật về kết hôn hướng tới việc bảo vệ quyền tự do kết hôn đối với mỗi cá nhân.

Về sự ưng thuận của cha mẹ, cả ba Bộ dân luật này đều có những nét tươngđồng, thể hiện sự tiếp nhận những giá trị văn hóa, truyền thống của người Việt Nam thể hiện trong cổ luật. Bởi vì, ba Bộ dân luật đều quy định, việc kết hôn phải có sựưng thuận của cha mẹ, dù hai bên trai gái đã trưởng thành. Tuy nhiên, Bộ DLBK vàBộ DLTK cũng dự liệu nếu có lý do chính đáng các tỉnh trưởng có quyền miễn cho các người con thành niên khỏi phải có sự ưng thuận của cha mẹ [3, 5 Điều 77]. Bộ

50

DLGY cóđiểmtiếnbộvượtxa sovớiquyđịnhcủapháp luật phong kiến khi trao cho người kết hôn quyền được phép ưng thuận. Đặc biệt, Bộ DLGY quy định cụ thểviệckếthôn phải khaitrướcHộlại. Nhữngnộidungngườikếthôn phải khai báo như: Tên, tuổi và chỗ ở của người kết hôn; họ, tên cha mẹ và chủ hôn, người mai mối nếu có. Sau đó mọi người nói trên và Hộ lại cùng ký tên vào và đóng con dấu làng (Điều 13-18).

Vềcấmkếthôn, sovớicác quyđịnhcấmkếthôn trong pháp luật thờikỳphong kiến, phạm vi cấm kết hôn ở cả ba bộ dân luật thời Pháp thuộc đều được thu hẹp hơn. Các quy định điều cấm nhằm bảo vệ trật tự đẳng cấp của thời kỳ phong kiếnđược loại bỏ. Bên cạnh đó, điểm khác biệt đáng kể so với pháp luật trước đó thể hiện trong ba bộ dân luật này là quy định về hình thức kết hôn. Về hình thức kết hôn, BộDLBK và Bộ DLTK vẫn ghi nhận hiệu lực của nghi thức truyền thống. Theo đó, sau khi nhậnđồsínhlễ,bên nào bãibỏlờihứahôn mà không có lý do chính đáng thìphải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Tuy nhiên, để hôn nhân có giá trị pháp lý, việc kết hôn phải được khai với Hộ lại. Về điểm này, Bộ DLGY còn có sự cách tân táo bạo hơn khi quy định người kết hôn có thể lựa chọn nghi thức kết hôn cử hành trước mặt Hộ lại mà không cần thiết phải thực hiện các nghi thức truyền thống. Điều này cho phép suy đoán rằng, về mặt hình thức kết hôn, pháp luật thời kỳ này bắt đầu cósựphânđịnhgiữa nghi thức truyền thống và nghi thức dânsự.Đâycũng là những vấnđềkhá thúvịđểchúng ta có nhữngdẫnluận nghiêncứuvềcác nghi thức kết hôn. Pháp luật quy định, việc kết hôn phải được khai báo với Hộ lại cũng đánh dấu sự xuất hiện một bằng chứng quan trọng để chứng minh có sự tồn tại của giá thú. Đóchính là “chứng thư giá thú”. Chứng thư giá thú là cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho những người kết hôn.

Về việc xử lý vi phạm các điều kiện kết hôn, khác với pháp luật phong kiến, pháp luật thờikỳnày không quyđịnh“hìnhphạt”đốivớicác trườnghợpvi phạmđiều kiện kết hôn. Việc kết hôn vi phạm điều kiện thì tùy từng trường hợp vi phạm có thể bị coi là hôn nhân vô hiệu tuyệt đối hay vô hiệu tương đối.

Có thể thấy, pháp luật thời kỳ Pháp thuộc thực chất là sự chuyển tiếp về nội dung các quy định pháp luật thời kỳ phong kiến. Bởi lẽ, nội dung các quy định của pháp luật phong kiến khá phùhợpvớichính sách“nôdịch, ngudân”củathực dân

51

Pháp. Mặt khác, các quy định của pháp luật phong kiến đã ăn sâu vào thói quen, cáchứngxửcủangườidân Việt Nam, cho nên nhàcầmquyền Pháp cũng khôngchủtrương phávỡ.Tuy nhiên, vềmặtkỹthuật lập pháp, pháp luật thờikỳnày ít nhiềuảnh hưởng pháp luật Pháp. Sự du nhập kỹ thuật lập pháp của phương Tây đã khiến cho các quy định về kết hôn đi theo xu hướng “dân sự hóa” với sự cách tân đáng kể. Việc bảo vệ quyền của người kết hôn ít nhiều được thể hiện. Xử lý vi phạm pháp luật vềkếthôn cũng không còn mang tính“hìnhsựhóa”màthểhiệnsựmềmdẻohơn

thông qua việc ghi nhậnvấnđềhôn nhân vôhiệu…Sựgiao thoacủapháp luật phương Tây, phản ánh trong cácBộdân luật nàythểhiệnmộtsựtrải nghiệm hoàn toàn khác lạ vào xã hội Việt Nam trong suốt một thời kỳ dài. Xét trên khía cạnh học thuật, pháp luật về kết hôn ở thời kỳ này ít nhiều đã làm phong phú thêm kho tàng khoa học pháp lý.

1.3.2. Quy định về kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975

1.3.2.1 Quyđịnhvềkếthôn trong pháp luật Việt NamtừCách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1954.

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công,nướcViệt Nam dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhànướcmới, đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật mới. Năm 1946, bảnHiến phápđầutiêncủanhànướcđộclậpđượcban hành, đánhdấumộtbước ngoặt mới trong lịch sử lập pháp của Nhà nước Việt Nam. Với tính chất là đạo luật nguồn, Hiến pháp năm 1946 là cơsởpháp lý quan trọngđểNhànướcta ban hành các vănbảnpháp luật,điềuchỉnh những quanhệxã hội, trongđócó lĩnh vực HN&GĐ. Tuy nhiên, trongbốicảnh Nhànướcnontrẻphảiđốimặtvớinhiều khókhăn để bảo vệ nền độc lập, nên chưa thể ban hành ngay một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh. Vì vậy, ngày 10/10/1945, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh số90/SL cho phép áp dụng một cách chọn lọc quy lệ và chế định trong các Bộ dân luật cũ. Tiếp đến, ngày 22/5/1950, Sắc lệnh số 97/SL về việc sửa đổi một số quy lệ và chếđịnh trong dân luật được ban hành. Sắc lệnh đã có những quy định tiến bộ về kết hôn như xóa bỏ việc cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế và cho phép người kết hôn được tự nguyện quyết định việc kết hôn không cần có sự bằng lòng của cha mẹ (Điều 2-3). Với quy định này, bước đầu đã tạo ra những hiệu ứng vô cùng tích cực cho việc xây

52

dựng đời sống HN&GĐ mới, tạo nền tảng tiến tới xây đựng một đạo luật hoàn chỉnhđiều chỉnh các quan hệ về HN&GĐ.

Như vậy, pháp luật Việt Nam thờikỳđầutiêncủaNhànướcđộclậpđãthểhiện được sự khác biệt cơ bản về chất so với pháp luật trước đó thông qua những quyđịnhnhằmbảovệquyềntựdokếthôncủacá nhân.Bởivì, chuyện“hônnhânsắpđặt”tồntạisuốt chiều dàicủaxãhộiphong kiến cũng như thờikỳPháp thuộcđãđược xóa bỏ. Quy định này mở ra một thời kỳ mới – thời kỳ pháp luật điều chỉnh việc kết hôn trước tiên phải xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích của người kết hôn.

1.3.2.2. Quy định về kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1975

Đây là giai đoạn khá đặc thù, do hoàn cảnh lịch sử, đất nước bị chia cắt thành hai miền nên cũng có hai hệ thống pháp luật song song tồn tại. Pháp luật ở miền Bắc của Nhà nước Việt Nam và pháp luật ở miền Nam của chế độ Ngụy quyền Sài gòn.

* Ở miền Bắc, Luật HN&GĐ năm 1959 được Quốc hội khóa I kỳ họp thứ 11 thông qua vào ngày 29/12/1959. Đâylàđạoluậtđầutiêncủa NhànướctavềHN&GĐ.SựrađờicủaLuật HN &GĐ năm 1959 cóýnghĩa chínhtrịto lớn. Luật này ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn, quyền bình đẳng nam nữ trong đời sống HN&GĐ. Với ý nghĩa đó, Luật HN&GĐ năm 1959 là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng một chế độ HN&GĐ tự do, tiến bộ, xóa bỏ những tập tục lạc hậu của chế độ HN&GĐ phong kiến, góp phần giải phóng phụ nữ. Ở góc độ này, quy định vềkết hôn có tính chất bản lề mở ra cánh cửa bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình. Luật HN&GĐ năm 1959 đã giành riêng một chương quy định về kết hôn.

Về tuổi kết hôn: Luật HN&GĐ năm 1959 quy định nam từ hai mươi tuổi trởlên,nữtừmườitám tuổitrởlênmớiđượcphépkếthôn(Điều5). Như vậy, so với pháp luậttrướcđó,độtuổikếthôn trong Luật này quyđịnhởmứccao hơn. Luật HN&GĐ năm 1959 cũng quy định cấm tảo hôn nhằm ngăn chặn trường hợp xác lập quan hệ hôn nhân trước tuổi luật định.

Về sự tự nguyện: Khác với pháp luật dưới chế độ cũ, Luật HN&GĐ năm 1959 ghi nhậnsựtựnguyệnkếthôn cho hai bên namnữ(Điều4).Đâylàmộtđảmbảo quan trọng để các bên nam nữ thực hiện quyền tự do kết hôn. Theo đó, những hành vicưỡngépkếthôn,cảntrởhôn nhântựdođềubịcấm. Trên cơsởđó,Luật

53

HN&GĐ 1959 cũng quy định cho phép người đàn bà góa có quyền tái giá (Điều 8). Quy định này thực sự là một sự “cởi trói” cho người phụ nữ, giúp họ vượt qua những lễ giáo phong kiến hà khắc để thực hiện quyền tự do kết hôn.

Về các trường hợp luật cấm kết hôn: Quy định về cấm kết hôn được xây dựng theo hướng khoa học hơn. Ngoài việc cấm kết hôn đối với những người đang có vợhoặc có chồng; giữa nhữngngườicùng dòng máuvềtrựchệ,giữa chamẹnuôi vàcon nuôi, giữa anhchịem ruột, anhchịem cùng cha khácmẹhoặc cùngmẹkhác

cha… Luật HN&GĐ năm 1959 còn cấm kết hôn đối những người bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi (Điều 9 – 10). Như vậy, các điều cấm đã đi theo xu hướng quan tâm nhiều đến thể chất của người kết hôn. Đây cũng là những quy định thể hiện việc bảo đảm cho các cuộc hôn nhân phát triển lành mạnh, giúp gia đình thực hiện chức năng sinh đẻ để bảo tồn nòi giống.Điềunày khẳngđịnhrằng, quyđịnhvềđiềukiệnkếthôn khôngchỉchịu sựtác động của phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống mà còn phải xem xét trên cảkhía cạnh khoa học.

Vềhình thứckếthôn: Luật HN&GĐ năm 1959chỉcông nhậnmộtnghi thứckếthôn có giátrịpháp lý,đólà nghi thức đăng kýkếthôntạicơ quan nhànướccó thẩm quyền.Mọinghi thứckếthôn khácđềukhông có giátrịpháp lý.Đây là cơ sở để xóa bỏ những hủ tục lạc hậu như tục thách cưới cao hay yêu sách của cải trong việc cưới, góp phần lành mạnh hóa các quan hệ HN&GĐ.

* Ởmiền Nam, từ năm 1954đếnnăm 1975, chính quyền Sài Gòn ban hành mộthệthống pháp luật riêng. Pháp luậtđiềuchỉnh các quan hệ HN&GĐtậptrung trong ba văn bản pháp luật là: Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64 và Bộ dân luật năm 1972.

Mặcdù là chính quyền bù nhìn, tay saicủa ĐếquốcMỹnhưng các văn bản pháp luật thờikỳnày mangdấu ấncủacácBộdân luật thời Pháp thuộc.Hệthống pháp luật Anh Mỹ dường như không chi phối tới quan điểm của nhà làm luật chếđộ Ngụy quyền Sài gòn. Vì vậy, pháp luật thời kỳ này có nhiều điểm tương đồng với pháp luật thời kỳ Pháp thuộc. Tuy nhiên, chính quyền Sài Gòn cũng cố gắng, nỗ lực thể hiện một chút khác biệt nhất định trong pháp luật về kết hôn.

54

Luật Gia đình năm 1959 quy định độ tuổi kết hôn giống như Bộ DLBK và BộDLTK.Độtuổikếthôncủanữlàđủmườinăm tuổi và nam làđủmườitám tuổi (Điều 6). Bộ Dân luật năm 1972 và Sắc luật số 15/64 đều quy định độ tuổi kết hôn của nữ là đủ mười sáu tuổi và nam là đủ mười tám tuổi. Bên cạnh đó, thể hiện sự linh hoạt của thực tiễn đời sống HN&GĐ trong việc thực thi pháp luật về điều kiện tuổi kết hôn, nhà làm luật thời kỳ này cũng cho phép đặc cách hạ thấp tuổi kết hôn trong những trường hợp đặc biệt.

Cả ba văn bản luật này đều có điểm tiến bộ đáng kể trong việc ghi nhận hôn nhân chỉ có giá trị khi có sự ưng thuận của người kết hôn. Tuy nhiên, bên cạnh quyđịnh này, nhà làm luật cũng dự liệu rằng vị thành niên không thể kết hôn nếu không cósựưng thuậncủachamẹ.Theo pháp luật thờikỳnày,ngườithành niên phải làngười đủ 21 tuổi. Trong khi đó, người Việt Nam thường là kết hôn sớm. Vì thế, quyđịnh trên chưa thực sự có sức lan tỏa tới đời sống HN&GĐ. Có thể nói, nhà làm luật thời kỳ này chưa giải quyết triệt để trong việc ghi nhận sự tự nguyện cho người kết hôn. Điều này cho thấy, yếu tố truyền thống, phong tục, tập quán vẫn chi phối nhiều tớiýchícủanhà làm luật. Vì vậy,sựcách tân nàychỉmang tính chất nửa vời,thểhiện bản chất của chế độ HN&GĐ phong kiến, tư sản.

Các quy định về cấm kết hôn có sự pha trộn giữa yếu tố truyền thống và văn minh hôn nhân kiểu phương Tây. Cả ba văn bản pháp luật đều dự liệu diện cấm kết hôn rất rộng. So với các Bộ dân luật thời Pháp thuộc, diện nhữngngười bị cấm kết hôn còn nới rộng hơn. Theo Bộ Dân luật năm 1972, những người không có mối liên hệ về huyết thống nhưng vì lý do đạo đức, họ vẫn bị cấm kết hôn: cấm kết hôn giữa cha mẹ nuôi với con nuôi cũng như với ti thuộc trực hệ của người này; giữa cha mẹnuôi với người phối ngẫu của người con nuôi; giữa những người con nuôi của cùng mộtngười; giữa nhữngngườicon nuôi và conđẻ củangườiđứng nuôi(Điều111). Cấm kết hôn khi hôn thú trước chưa “đoạn tiêu”. Pháp luật thời kỳ này thừa nhận chếđộđơnhôn, nênchỉcho phép xáclậpquanhệhôn nhân khi cuộc hôn nhân trước không còn tồn tại. Đây là một quy định mới so với cổ luật. Cũng có thể coi đó nhưmột điểm cách tân đáng chú ý mà nhà làm luật của chính quyền Sài Gòn đã dự liệu.

Cấm kết hôn trong trường hợp người đàn bà ở vào thời kỳ “cư sương”. Pháp luật thời kỳ này không cấm kết hôn trong thời kỳ tang chế. Tuy nhiên, lại quy định

55

việc cấm kết hôn khi người đàn bà ở vào thời kỳ “cư sương”. Thời kỳ “cư sương” làkhoảng thời gian luật định, sau khi người chồng chết, người đàn bà không được phép kết hôn. Pháp luật thời kỳ này dự liệu thời kỳ cư sương kéo dài 300 ngày tính từ thờiđiểm người chồng chết. Trong thời gian này, người đàn bà góa không thể tái giá [55, tr. 62]. Quyđịnhnày là giải pháphạnchếtranh chấp trong việc xácđịnhcha cho con. Bởi vì, trong phạm vi 300 ngày, nếu người vợ kết hôn với người khác thì theo nguyêntắcsuy đoán pháp lý,đứatrẻsinh ravẫnđượcsuy đoán là concủangười chồng trước, trong khiđó,ngườivợlạiđangtồntạiquanhệhôn nhânvớingười chồng sau.

Cảba vănbảnpháp luậtcủachính quyền Sài gònđềuquyđịnhđểquanhệhôn nhân được thừa nhận trước pháp luật, các bên kết hôn phải khai việc kết hôn với viên chức hộ tịch và ghi vào Sổ kết hôn [59, Điều 12], [86, Điều 13], [43, Điều 122]. Cũng giống như các bộ Dân luật thời Pháp thuộc, trước khi làm lễ kết hôn, viên chức hộ tịch phải niêm yết tại công sở nơi cư sở và cư trú của hai người kết hôn trong thời hạn 10 ngày, nếu không có sự phản đối việc kết hôn thì việc làm lễ kết hôn mới được tiến hành. Pháp luật thờikỳnày cũng quyđịnhcụthểvềngườicó quyền phảnđối việckếthôn. Theođó,vợchồngcủangườikếthôn, cha,mẹ,ông, bà hoặc người giámhộđềucóthểthực hiện quyền phảnđốiviệckếthôn. Trườnghợpkếthôn vi phạm quyđịnhcủapháp luậtvềđiềukiệnkếthôn thì hôn nhânbịcoi là vô hiệu. Pháp luậtcủachính quyền Sài Gòndựliệucụthểvềcác trườnghợphôn nhân vôhiệu cũng như hậu quả của trường hợp hôn nhân vô hiệu. Đó là những cơ sở pháp lýquan trọng để xử lý vi phạm pháp luật về kết hôn, bảo đảm hiệu quả điều chỉnh của pháp luật về kết hôn.

Ngoài ra, nhà làm luật cũngdựliệuvềtrườnghợpkếthôn cóyếutốnước ngoài. Theo đó, dù việc kết hôn giữa người Việt Nam với nhau hay người Việt Nam với người ngoại quốc được cử hành theo nghi thức vẫn dùng trong nước hoặc được lãnh sự hay đại diện ngoại giao Việt Nam cử hành theo nghi thức mà pháp luật quyđịnh cũng có giá trị. Đây là điểm mới được nhà làm luật Sài Gòn dự liệu, nó phù hợp vớimộtthờikỳlịchsử-thờikỳmà nhiều cuộc hôn nhân giữangườiViệt Nam vàngười nước ngoài được xác lập do có sự hiện diện của hàng vạn binh lính Mỹ ở miền Nam Việt Nam.

56

Như vậy, pháp luật của chính quyền Sài Gòn về kết hôn, có nhiều nét tươngđồng với các bộ dân luật thời Pháp thuộc nhưng cũng thể hiện ít nhiều dấu ấn riêng. Nhà làm luật thời kỳ này, mặc dù cố gắng trao quyền tự do cho người kết hôn nhưng pháp luật về kết hôn, thực chất vẫn chưa bảo đảm quyền tự do kết hôn cho các bên nam, nữ. Ở một góc độ nhất định, sự cách tân theo xuhướng tiến bộ vẫn chỉmang tính chấtnửavời.Mặtkhác, pháp luậtcủachính quyền Sài gòn là pháp luật của chính quyền bù nhìn tay sai do Mỹ dựng lên nhưng không chịu ảnh hưởngbởiluật pháp Mỹ. Đây là điểm khá đặc thù so với thời kỳ Pháp thuộc.

Từsựphân tích trên cho thấy, pháp luật Việt Namvềkếthôn dùđượcban hành trong những thờiđiểmnhạycảm(ảnhhưởngcủakỹthuậtlậppháp Pháp,sựgiao thoacủavăn minh phương Tây haylốisốngMỹthì pháp luậtđiềuchỉnh việc kết hôn vẫn giữ được nét bản sắc văn hóa của người Việt Nam về HN&GĐ. Đây lànhững đóng góp quý báu đối với di sản pháp luật nước nhà khi nhìn nhận dưới gócđộ bảo tồn truyền thống và văn hóa.

1.3.3. Quy định về kết hôn trong pháp luật Việt Nam từ năm 1976 đến nay

Sau ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng,đấtnướcthống nhất, Luật HN&GĐ năm1959đượcthi hành thống nhất trên phạm vicảnướctheo Nghịquyết số 76/CP ngày 25/3/1977của Hội đồngChính Phủ. Các quyđịnh vềkếthôn trong Luật HN&GĐ năm 1959 và các vănbảnhướngdẫnthi hànhđượcáp dụng thống nhất trêncảnước.Năm 1980, Hiến phápmớiđượcban hành thaythếHiến pháp năm 1959. Tình hình kinh tế xã hội cũng đã có những thay đổi, Luật HN&GĐnăm 1959bắtđầuthểhiện nhữngbấtcậpcầnphảiđượcbổsungđểđápứngviệcđiềuchỉnh các quanhệHN&GĐ trong tình hình mới. Vì vậy, Luật HN&GĐ năm 1986đượcban hành thaythếLuật HN&GĐ năm 1959. Các quyđịnhvềđiềukiện kết hôn về cơ bản vẫn giống như Luật HN&GĐ năm 1959 nhưng có những sửa đổi phù hợp hơn. Diện cấm kết hôn được quy định theo hướng thu hẹp hơn. Về hình thức kết hôn, nhà làm luật 1986 lại chưa tỏ ra dứt khoát với quy định về đăng ký kết hôn. Theođó,việckếthôn do hai bêntựnguyện, tuânthủquyđịnhđiềukiệnđộtuổi, không rơi vào các trườnghợpluậtcấmkếthôn thì khôngbịcoi là trái pháp luật (Điều 9). Như vậy, ngoài trường hợp xác lập quan hệ vợ chồng có đăng ký kết hôn, Luật này đã gián tiếp thừa nhận “hôn nhân thực tế”. Luật HN&GĐ năm 1986 dành

57

mộtđiềuluật riêng quyđịnhvềviệckếthôn cóyếutốnướcngoài. Pháp lệnhvềHN&GĐ giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài năm 1993, và Nghị định số184/CP ngày 30/11/994 của Chính phủ quy định về thủ tục kết hôn, nhận con ngoài giá thú, nuôi con nuôi, nhận đỡ đầu giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, tiếp tục cụ thể hóa, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền tự do kết hôn cho các bên namnữ.Trongbốicảnh, Việt Namđẩymạnhhợptác và giao lưuvớicác nước tất sẽ dẫn đến sự giao lưu giữa công dân Việt Nam với công dân của các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, việc quyđịnh vấn đề kết hôn cóyếu tố nước ngoài là cần thiết,tấtyếuvà phùhợpvớixuthếphát triểncủathờiđại.Vớiýnghĩađó,Luật HN&GĐ năm 1986 góp phần điều chỉnh các quan hệ HN&GĐ nói chung, vấn đề kết hôn nói riêng, tạo cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng gia đình Việt Nam tiến bộ, hòa thuận, hạnh phúc.

Hiến pháp năm 1992 được ban hành, cùng với việc ghi nhận quyền tự do kết hôn của mỗi cá nhân- đạo luật cơ bản của Nhà nước ta tiếp tục khẳng định vị trí quan trọngcủagia đình trongsựnghiệp phát triểncủađấtnước.Bộluật Dânsựđược Quốc Hội khóa IX, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28/10/1995 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1996 đã quy định việc bảo vệ quyền tự do kết hôn cho mỗi cá nhân. Việc tự do kết hôn giữa những người thuộc các dân tộc, tôn giáo khác nhau, giữa những người theo tôn giáo và không theo tôn giáo được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ(Điều35). Dưới góc độ thực tiễn, diện mạo của nền kinh tế thị trường đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế sâu rộng cũng tạo ra nhiều cơhộivà thách thức khôngchỉvớinềnkinhtếmà cònđốivớimọilĩnhvựccủađời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực HN&GĐ. Trong bối cảnh đó, Luật HN&GĐ năm 2000 đã được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 thông qua vào ngày 9/6/2000, có hiệu lực từ ngày 1/1/2001 thay thế Luật HN&GĐ năm 1986. Có thể nói, chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000đãcómộtbướcphát triểnvượtbậcsovớiLuật HN&GĐ năm 1986. Các quy định về điều kiện kết hôn được sắp xếp khoa học hơn. Về việc đăng ký kết hôn, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định để việc kết hôn có giá trịpháp lý,mọitrườnghợpkếthônđềuphải đăng kýtạicơ quan nhànướccó thẩm quyền. Quy định này giải quyết được sự “chưa rõ ràng” trong việc áp dụng Điều 8,Điều9củaLuật HN&GĐ năm 1986,thểhiện rõ tháiđộkiên quyếtcủaNhànước

58

trong việc không thừa nhận quanhệvợchồngđốivớinhững trườnghợpnamnữchung sống nhưvợchồng không đăng kýkếthôn [94, tr. 81]. Xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký kết hôn được quy định cụ thể. Đặc biệt, quy định về kết hôn có yếu tố nước ngoài đã được dự liệu đầy đủ hơn. Với các quy định này, Luật HN&GĐ năm 2000đãtiến xa hơnmộtbướctrong việcbảovệquyềntựdokếthôncủamỗicánhân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người có liên quan, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc.

Hiến pháp năm 2013đượcban hànhthểhiện nhiềunộidung mang tínhđột phá trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người cũng như tiếp tục khẳng định tầm quan trọng của gia đình đối với sự phát triển chung của xã hội. Luật HN&GĐ năm 2000, qua hơn 10 năm thi hành áp dụng cũng đãbộclộ nhữngbấtcập,vướngmắc trong việcđiềuchỉnh các quanhệHN&GĐ nói chung, điều chỉnh việckếthôn nói riêng. Trong bối cảnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 đã được ban hành thay thế Luật HN&GĐ năm 2000.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trên cơsởnghiêncứunhững vấnđềlý luận cơbảnvềchếđịnhkếthôn, cóthể rút ra một số kết luận sau:

Kết hôn là một thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật HN&GĐ dùngđể chỉ căn cứ làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng, trên cơ sở đó quyền vàlợiíchcủangườikếthônđượcNhànướcbảovệ.Khi Nhànướcxuất hiện, các quan hệ xã hội được điều chỉnh bằng pháp luật, vấn đề kết hôn được pháp luật điều chỉnh vàtrởthành những quytắcxửsựchung buộcmọingườiphải tuyệtđốituân thủ. Nhờ đó, quyền kết hôn được pháp luật bảo vệ, trật tự gia đình được gìn giữ, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng xã hội phồn vinh. Vì vậy, pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến cho đến nay đều chú trọng điều chỉnh việc kết hôn bằng pháp luật.

2. Pháp luật điều chỉnh vấn đề kết hôn có mối liên hệ sâu sắc với phong tục, tập quán và đạo đức. Xét về điểm này, có thể ghi nhận rằng, trong việc xây dựng vàthực thi pháp luật vềkếthôn,cầnphải tínhđếncácyếutố đạođức, phong tục, tập quán.Đâylàmộtnộidung quan trọng nhằmđảmbảoviệc nâng cao hiệuquảđiều chỉnh của pháp luật về kết hôn.

59

3.Chếđịnhkếthônđượcxây dựngdựatrên những nguyêntắcđặcthù. Những nguyêntắcnày có tính chấtđịnhhướngđốivớiviệc xây dựng và thực thi pháp luật về kết hôn. Chế định kết hôn ghi nhận và bảo vệ quyền tự do kết hôn cho các bên namnữ,bảovệquyền conngườivà các giátrịnhân văncủađờisống HN&GĐ. Với ý nghĩa đó, chế định kết hôn có ý nghĩa quan trọngđối vớiviệc xây dựng gia đình Việt Nam dân chủ hòa thuận, tiến bộ hạnh phúc; giáo dục đạo đức, lối sống và định hướng cách xử sự cho mỗi cá nhân khi thực hiện quyền tự do kết hôn.

4. Nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về kết hôn qua các thời kỳ cho thấy, pháp luật Việt Nam về kết hôn qua các thời kỳ có những điểm khác biệt nhất định, phù hợp với điều kiện chính trị, kinh tế- xã hội trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, các quy phạm pháp luật về kết hôn ở thời kỳ sau luôn có sự kế thừa pháp luậtở thời kỳ trước, tạo ra sự liên hệ mang tính sâu chuỗi, gắn kết các giá trị truyền thống trong pháp luật điều chỉnh việc xác lập quan hệ vợ chồng, trong đó, đặc biệt phải kểđến các giá trị đạo đức, văn hóa truyền thống của người Việt Nam. Vì vậy, cũng cóthể nói, đạo đức văn hóa truyền thống chi phối nhiều tới các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc kết hôn. Ngược lại, các quy phạm pháp luật khi được ban hành lại có tác dụng hữu hiệu trong việc bảo tồn những giá trị đạo đức, truyền thống của người Việt NamvềHN&GĐ. Vì thế, trong hoạt động xây dựng và thực thi pháp luậtcầnphải chú trọng đến việc xem xét các yếu tố truyền thống, đạo đức, tâm lý để đảm bảo tính hiệu quả của việc điều chỉnh pháp luật, góp phần ổn định các quan hệ HN&GĐ.

5. Chế định kết hôn là tổng hợp các quy phạm pháp luật được Nhà nước ban hành nhằmđiềuchỉnh việc xáclậpquanhệvợchồng. Vì vậy, cũng giống như các chế định pháp luật khác, chế định kết hôn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tự nhiên và xã hội. Do đó, các quy định của pháp luật về kết hôn không thể mang tính bất biến mà luôn có sự thay đổi cho phù hợp. Trong mối liên hệ này, cần phải nhận thức rằng việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh việc kết hôn luôn là yêu cầu mang tính tất yếu khách quan.

60

Chương 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN TRƯỚC KHI LUẬT

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014 CÓ HIỆU LỰC

2.1. ĐIỀU KIỆN KẾT HÔN

Không ai bị buộc phải kết hôn, nhưng ai cũng bị buộc phải tuân theo Luật hôn nhânmộtkhingườiđókếthôn. Vì vậy,điềukiệnkếthôn theo pháp luật HN&GĐđược áp dụng cho mọi cá nhân khi kết hôn. Người nước ngoài khi kết hôn với công dân Việt Nam mà việc kết hôn đăng ký trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cũng phải tuân thủ pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn.

2.1.1. Tuổi kết hôn

Theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữtừmườitám tuổitrởlênmớiđượcphépkếthôn.Đâylà quyđịnhđộtuổitốithiểu nam, nữ được phép kết hôn. Tuổi kết hôn được duy trì ổn định từ Luật HN&GĐ năm 1959, 1986 cho đến Luật HN&GĐ năm 2000.

So sánh với pháp luật của một số nước trên thế giới, quy định về tuổi kết hôn theo Luật HN&GĐ Việt Nam có những điểm khác biệt nhất định. Hầu hết các nước phương Tây quyđịnhtuổikếthôncủanam vànữthấp hơn sovớiViệt Nam. Daođộng trung bình ở khoảng cách hai tuổi, nữ (16 tuổi) và nam (18 tuổi). Một số nước cho phépngườichưa thành niênkếthôn nhưngcầnphải cósựđồngýcủachamẹhoặc người đại diện hợp pháp như Nhật bản, Campuchia, Liên bang Nga và hầu hết các bang của Hợp chủng quốc Hoa kỳ. Cá biệt, có nước quy định tuổi kết hôn theo nguyên tắc chỉ có người đã thành niên mới được kết hôn. Ví dụ như Luật Hôn nhân Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định tuổi kết hôn của nam là từ đủ 22 tuổi và nữtừ đủ 20 tuổi [14]. Như vậy, quy định về tuổi kết hôn trong pháp luật của mỗi quốc gia đều xuất phát từ tình hình thực tế của mỗi quốc gia, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội và nền văn hóa của quốc gia đó.

Tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật HN&GĐ Việt Nam được xây dựng dựa trên các cơ sở khoa học có tính đến phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa của người Việt. Nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân nhằm xây dựng gia đình. Vì vậy, việc sinh con để duy trì nòi giống luôn là mong muốn của mỗi cặp vợ chồng

61

sau khi xác lập quan hệ hôn nhân. Các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y học đãchỉra rằng, phảiđạtđếnđộtuổi này thì việc namnữxáclậpquanhệhôn nhân vàsinh con mới đảm bảo được những chỉ số của việc “ưu sinh”. Bởi vì, đến độ tuổi này, nam vànữmớiphát triển hoàn thiệnvềtâm sinh lý.Mộtsốnghiêncứutrong lĩnh vực sức khỏe sinh sản đã kết luận: các bà mẹ sinh con trước tuổi mười tám thường hay gặp các vấn đề về sức khỏe, đứa trẻ sinh ra thường hay mắc các bệnh về nhiễm sắcthể,sứcđềkháng yếu. Các bàmẹởtuổivịthành niên sinh con có nguy cơtửvong mẹ cao hơn gấp nhiều lần so với sinh con ở tuổi thành niên [44, tr.168]. . Ngoài cơ sở khoa học, tuổi kết hôn còn được xem xét dựa trên các khía cạnh như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa… Vì thế, quy định độ tuổi như hiện nay còn là một sựhài hòa giữa cơ sở khoa học và cơ sở xã hội. Bởi lẽ, phải đạt đến tuổi này nam, nữmới trưởng thành về mặt nhân cách, tham gia lao động, tạo ra thu nhập để duy trì vàphát triển gia đình.Điềunàyđãthểhiện rõ vì sao tuổikếthôn theo quyđịnhcủa pháp luật Việt Nam lại có tính ổn định như vậy trong suốt nhiều thập kỷ qua.

Xã hội không ngừng phát triển, gia tốc phát triển2 của loài người không ngừngđược tăng nhanh ở khắp mọi nơi trên trái đất. Các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau đã nói nhiều đến sự gia tốc sinh học, gia tốc xã hội- tâm lý. Trong đó, sự gia tốc sinh học có liên quan đến một loạt các chỉ tiêu phát triển hình thái và chức năng của con người. Nhiều cứ liệu khoa học đã xác nhận tuổi dậy thì hiện nay đến sớm hơn. Sự gia tốc sinh học cũng ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý, sự trưởng thành về mặt xã hội của thế hệ trẻ. Vì thế, sự gia tốc sinh học cũng đặt ra một loạt các vấn đề phải quan tâm nghiên cứu trong đó có vấn đề về tuổi kết hôn [53, tr. 129 – 130]. Xuất phát từ đâycũng có ý kiến cho rằng cần phải xem xét hạ thấp tuổi kết hôn cho phù hợp với thực tiễn [125]. Xét dưới góc độ khoa học, ý kiến này cũng có điểm hợp lý nhấtđịnh.Tuy nhiên,hạthấp tuổikếthôn còn phải xétđếnkhía cạnh cơsởxãhộicủa việc quy định tuổi kết hôn. Hiện nay, nhóm trẻ em có chỉ số phát triển sớm, sống chủyếu tập trung ở các đô thị, nhưng ở thành thị phần lớn nam nữ thường có xu hướng kếthôn muộn hơn. Trong khiđó,ởnông thôn và miền núi, tình trạnglấyvợ,lấy chồng sớm vẫn diễn ra khá phổ biến. Do đó, hạ thấp tuổi kết hôn là tạo ra một nghịch

2 Sự tiến nhanh hơn, sớm hơn về mặt thể chất cũng như tinh thần.

62

lýảnhhưởngđếnđờisống HN&GĐ. Vì thế, việchạthấp tuổikếthôn theo quanđiểm của chúng tôi cần phải được xem xét thận trọng.

Tuổikếthôn theo quyđịnhcủaLuật HN&GĐ Việt Nam năm 2000 làtừmười tám tuổi trở lênđối vớinữ và từ hai mươi tuổi trở lên đối với nam. Theo đó,

“…nam đã bước sang tuổi hai mươi, nữ đã bước sang tuổi mười tám mà kết hôn làkhông vi phạmđiềukiệnvềtuổikếthôn”[91,Mục1]. Việc quyđịnhđộtuổi tối thiểu được phép kết hôn là phù hợp. Bởi vìđộ tuổi tối thiểu đượcphép kết hôn thểhiện rõ giớihạncầnthiếtđảmbảochosựan toàncủamỗicuộc hôn nhân xéttừphương diện sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của người kết hôn, phùhợp với sự phát triển tâm sinh lý của mỗi nam, nữ. Mức tuổi kết hôn có tính kế thừa các quyđịnhtronghệthống pháp luậtvềHN&GĐtừLuật HN&GĐ năm 1959 vàkhông nằm trong nhóm các nước có quy định về tuổi tối thiểu được phép kết hôn quácao (ví dụ như Trung Quốc) hoặc nhóm cá nước quy định về tuổi tối thiểu được phép kết hôn quá thấp (ví dụ một số nước Hồi Giáo).

Tuy nhiên, quy định về tuổi kết hôn theo Luật HN&GĐ năm 2000 cũng bộc lộ những bất cập nhất định. Đặt trong mối liên hệ với quy định của pháp luật dân sự, pháp luật tố tụng dân sự, có thể nhận thấy tuổi kết hôn đối với nữ theo Luật HN&GĐnăm 2000 tạo ra sự thiếu đồng bộ với các quy định trong hệ thống pháp luật. Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định người có năng lực hành vi dân sự là người đủ mười tám tuổi (Điều 18- 19). Tương tự như vậy, theo Bộ luật TTDS năm 2004, người đủ mười tám tuổi trở lên mới là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự ( Khoản 3,Điều 57).Trong khi đó, nữ bước sang tuổi mười tám là được phép kết hôn. Như vậy, một người chưa có năng lực hành vi dân sự đầy đủ vẫn có thể bày tỏ ý chí tự nguyện khikếthôn. Sau khikếthôn, muốn chấmdứthôn nhân bằng ly hôn thìngườivợchưa đủ mười tám tuổi vẫn được xác định là đương sự của vụ án ly hôn. Với những quyđịnhnày,ngườiphụnữcó thể trở thành“ngườiyếu thế” hơnkhiđưara quyếtđịnh, nhất là việc cung cấp các chứng cứ cần thiết với tư cách là đương sự trong vụán ly hôn. Vì thế, quyền lợi của họ sẽ bị ảnh hưởng đáng kể.

Tham khảo pháp luật của một số nước trên thế giới, chúng tôi nhận thấy đa sốcác nước đều quy định cách tính tuổi tròn. Luật hôn nhân Cộng hòa nhân dân Trung

63

Hoa, Cộng hòa Cu-ba; Luật Gia đình Australia, Luật Gia đình Liên bang Nga,Bộluật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan, Luật Gia đình của Philipines,Bộluật dânsựCam pu chia, Luật Hôn nhân Thụy Điển…đềuquyđịnh tuổi kết hôn theo cách tính tuổi tròn và về cơ bản tuổi kết hôn tối thiểu của nam cao hơn so với nữ. Như vậy, quy định tuổi kết hôn theo các tính tuổi tròn là lựa chọn phổbiến của nhiều quốc gia trên thế giới. Lựa chọn cách tính tuổi này, sẽ giải quyết được những bất cập đặt trong mối liên hệ với các quy định của pháp luật có liên quan.

LIÊN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH – VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *