Chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Thành phố Đà Nẵng là một trong những địa phương đi đầu trong công tác cải cách hành chính, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, trong đó có đội ngũ công chức cấp xã. Với hàng loạt chính sách quản lý, đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố đã và đang ngày càng phát triển, năng lực, hiệu quả thực thi công vụ được cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng và năng lực thực thi công vụ của một bộ phận công chức cấp xã vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định… Vấn đề đặt ra hiện nay là làm sao để nâng cao hiệu quả các chính sách tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức cấp xã trên địa bàn thành phố nhằm nâng cao chất lượng, phát huy năng lực của công chức cấp xã, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của quá trình phát triển kinh tế, xã hội của thành phố Đà Nẵng. Từ cách tiếp cận trên đây, việc nghiên cứu đề tài “Chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng” là cần thiết.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận giải, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
3.2. Nhiệm vụ
– Hệ thống hóa và luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng đội ngũ công chức cấp xã; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng công chức cấp xã;
– Đánh giá thực trạng thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và công tác quản lý công chức cấp xã trên địa bàn thành phố;
– Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
– Không gian nghiên cứu: UBND cấp xã tại thành phố Đà Nẵng;
– Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2010 đến nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử), tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp tổng hợp, thống kê; Phương pháp phỏng vấn sâu; Phương pháp phân tích đối chiếu, so sánh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã; Cung cấp những luận cứ khoa học cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã của thành phố Đà Nẵng nói riêng và đội ngũ công chức cấp xã của cả nước nói chung. Vì vậy, luận văn có giá trị tham khảo trong công tác quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã và là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công chức cấp xã và chất lượng công chức cấp xã.
Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
VÀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ
1.1. Một số khái niệm cơ bản về công chức cấp xã
1.1.1. Công chức và công chức cấp xã
1.1.1.1. Công chức
Khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.”
1.1.1.2. Công chức cấp xã
Công chức cấp xã là công dân Việt Nam, được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm 07 chức danh: Trưởng Công an xã; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng – thống kê; Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc Địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã) (sau đây gọi chung là công chức Địa chính – xây dựng); Tài chính – kế toán; Tư pháp – hộ tịch; Văn hóa – xã hội.
1.1.2. Tiêu chuẩn, điều kiện của công chức cấp xã
1.1.2.1. Tiêu chuẩn chung
– Hiểu biết về lý luận chính trị, nắm vững quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
– Có năng lực tổ chức vận động nhân dân ở địa phương thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước;
– Có trình độ văn hóa và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, có đủ năng lực và sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao;
– Am hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán của cộng đồng dân cư trên địa bàn công tác.
Đối với công chức Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã, ngoài những tiêu chuẩn trên còn phải có khả năng phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thực hiện một số nhiệm vụ phòng thủ dân sự; giữ gìn an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước.
1.1.2.2. Tiêu chuẩn cụ thể
Thông tư số 06/2012/TT-BNV quy định tiêu chuẩn cụ thể của công chức cấp xã như sau:
– Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên;
– Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông;
– Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm;
– Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên;
– Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công;
– Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm.
Tiêu chuẩn cụ thể đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã và Trưởng Công an xã thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đối với các chức danh này.
Căn cứ Quyết định số 38/2015/QĐ-UBND ngày 16/12/2015 của UBND thành phố Đà Nẵng ban hành quy định về quản lý cán bộ, công chức phường, xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, công chức cấp xã trên địa bàn thành phố phải có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên, chuyên ngành phù hợp với chức danh công chức cấp xã, riêng chức danh Trưởng công an xã và Chỉ huy trưởng Quân sự cấp xã phải tốt nghiệp trình độ trung cấp trở lên.
1.2. Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.1.1. Quan niệm về chất lượng
“Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn”.
1.2.1.2. Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã là tổng hợp thống nhất những giá trị, những thuộc tính đặc trưng, bản chất của công chức về mặt con người và các mặt hoạt động, quy định và phản ánh mức độ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công chức trong điều kiện kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế.
Chất lượng đội ngũ công chức cấp xã được phản ánh thông qua các tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ, tin học, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, hiệu quả thực thi công vụ của đội ngũ công chức trong thực thi công vụ.
1.2.2. Tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.2.1. Kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ
1.2.2.2. Kỹ năng của công chức cấp xã
1.2.2.3. Tinh thần, thái độ làm việc của công chức cấp xã
1.2.3. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.3.1. Nguồn hình thành đội ngũ công chức cấp xã
1.2.3.2. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã
1.2.3.3. Cơ chế quản lý đội ngũ công chức cấp xã
– Công tác tuyển dụng, bố trí và sử dụng
– Công tác theo dõi, đánh giá
– Thực hiện chế độ chính sách
1.3. Sự cần thiết nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã
1.3.1. Vị trí, vai trò của đội ngũ công chức cấp xã đối với công tác quản lý nhà nước ở địa phương
1.3.2. Yêu cầu chuẩn hóa đội ngũ công chức cấp xã hiện nay
1.3.3. Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa
1.4. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng công chức cấp xã tại một số địa phương
1.4.1. Thu hút nguồn nhân lực để bố trí công tác tại UBND cấp xã tại tỉnh Quảng Ngãi
1.4.2. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Nghệ An
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã nêu ra những cơ sở lý luận về công chức cấp xã và chất lượng công chức cấp xã. Những vấn đề này đóng vai trò quan trọng nhằm đảm bảo tìm hiểu thực trạng công chức cấp xã hiện nay và đề xuất những giải pháp phù hợp.
Có thể nói công chức cấp xã là một trong những lực lượng đặc biệt quan trọng nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời đây cũng là đội ngũ đóng vai trò cầu nối giữa nhà nước với nhân dân, vì vậy, nâng cao chất lượng công chức cấp xã là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của chính quyền, tạo được lòng tin, sự đồng thuận của nhân dân.
Chương 2:
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC
CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1. Tổng quan về thành phố Đà Nẵng
2.1.1. Yếu tố địa lý
2.1.3. Yếu tố văn hóa – xã hội
2.2. Thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Số lượng đội ngũ công chức cấp xã
Tính đến ngày 31/12/2016, tổng số lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng là 679 người. Số lượng công chức cấp xã giai đoạn 2010 – 2016 tăng 2,9 lần.
2.2.2. Cơ cấu của đội ngũ công chức cấp xã
2.2.2.1. Cơ cấu theo giới tính
Trong số 679 công chức cấp xã có 283 công chức nữ, chiếm tỷ lệ 41,68%.
2.2.2.2. Cơ cấu theo chức danh công chức cấp xã
Trong số 679 công chức cấp xã, Trưởng Công an xã có số lượng thấp nhất 11 người, chiếm 1,62% và công chức Văn phòng – thống kê có số lượng cao nhất 162 người, chiếm 23,86%. Số lượng công chức Tài chính – kế toán tương đối cao là 130 người, gấp 1,18 lần công chức Địa chính – xây dựng.
2.2.2.3. Cơ cấu theo độ tuổi
Công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng có độ tuổi tương đối trẻ, có đến 78,6% công chức có độ tuổi từ 45 trở xuống. Lực lượng công chức trẻ năng động, sáng tạo, tích cực trong thực thi công vụ, góp phần cải thiện đáng kể chất lượng hoạt động của chính quyền cơ sở.
2.2.3. Chất lượng
2.2.3.1. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Bảng 2.2. Số lượng công chức cấp xã theo trình độ đào tạo
| Chức danh | Tổng | Trình độ chuyên môn | |||||
| Thạc sĩ | Đại học | Cao đẳng | Trung cấp | Sơ cấp | Chưa đào tạo | ||
| Trưởng Công an xã | 11 | 0 | 6 | 0 | 5 | 0 | 0 |
| Chỉ huy trưởng QS | 53 | 1 | 16 | 3 | 28 | 1 | 4 |
| Văn phòng – thống kê | 162 | 6 | 118 | 2 | 27 | 0 | 9 |
| Địa chính – xây dựng | 110 | 10 | 68 | 4 | 21 | 0 | 7 |
| Tài chính – kế toán | 130 | 9 | 77 | 21 | 14 | 1 | 8 |
| Tư pháp – hộ tịch | 110 | 0 | 89 | 0 | 17 | 0 | 4 |
| Văn hóa – xã hội | 103 | 0 | 65 | 2 | 25 | 1 | 10 |
| Tổng | 679 | 26 | 439 | 32 | 137 | 3 | 42 |
| Tỷ lệ | 100 | 3.83 | 64.65 | 4.71 | 20.18 | 0.44 | 6.19 |
[Nguồn: Sở Nội vụ thành phố Đà Nẵng]
2.2.3.2. Trình độ ngoại ngữ, tin học
Tỷ lệ công chức có chứng chỉ tin học, ngoại ngữ trở lên khá cao. Trong đó, tỷ lệ công chức có chứng chỉ tin học trở lên là 89,4%, tỷ lệ công chức có chứng chỉ ngoại ngữ là 83,21%.
2.2.3.3. Trình độ lý luận chính trị
Tính đến ngày 31/11/2016, số lượng công chức có trình độ cử nhân chính trị là 36 người, chiếm tỷ lệ 5,3%; trung cấp lý luận chính trị có 375 người, chiếm tỷ lệ 55,23% và sơ cấp lý luận chính trị là 73 người, chiếm tỷ lệ 10,75%.

2.2.4. Chất lượng thực thi công vụ của công chức cấp xã
Năm 2015, trong tổng số 594 công chức cấp xã được đánh giá kết quả làm việc, có 60 công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 10,61%; 513 công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ, chiếm tỷ lệ 86,36%; 18 công chức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực, chiếm tỷ lệ 3,03%.
2.3. Thực trạng công tác nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.3.1. Tuyển dụng
Thành phố Đà Nẵng tổ chức tuyển dụng công chức cấp xã lần đầu tiên vào năm 2006, suốt thời gian dài từ 2006 đến 2013, thành phố không thực hiện tuyển dụng công chức cấp xã. Sau thời gian dài không tổ chức tuyển dụng, năm 2013 được xem là đợt tuyển dụng lớn, với số lượng chỉ tiêu là 449 người, chiếm hơn 75% chỉ tiêu công chức phường, xã được Trung ương giao. Sau đợt tuyển dụng năm 2013, các phường, xã hầu như đã tuyển dụng gần hết chỉ tiêu công chức cấp xã, vì vậy, công tác tuyển dụng không được triển khai thực hiện. Đến năm 2016, chỉ có UBND quận Sơn Trà tổ chức tuyển dụng với số lượng chỉ tiêu thấp là 17 chỉ tiêu, trong đó thực hiện thi tuyển đối với 13 vị trí và tiếp nhận không qua thi tuyển đối với 05 vị trí.
2.3.2. Thu hút nguồn nhân lực
Sau gần 20 năm triển khai thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực, thành phố Đà Nẵng đã tiến hành phỏng vấn và bố trí công tác cho 152 đối tượng thu hút về công tác tại UBND cấp xã. Đến nay, số lượng đối tượng thu hút đang công tác tại cấp xã là 129 người, trong đó có 31 nam (24%) và 98 nữ (76%).
Theo thống kê, trong tổng số đối tượng thu hút đang công tác tại cấp xã, có 42 người đang đảm nhận các chức danh công chức cấp xã, chiếm tỷ lệ 32,6%. Có thể nói, công tác thu hút nguồn nhân lực về công tác tại phường, xã đã phát huy được những ưu điểm tích cực, góp phần vào việc kiện toàn đội ngũ cán bộ, công chức phường, xã, nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
2.3.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng
Giai đoạn 2010 – 2016, thành phố Đà Nẵng tổ chức 107 lớp đào tạo, bồi dưỡng dành cho công chức cấp xã với tổng số lượt công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng là 2698 lượt người.
Trong đó năm 2011, số lượt công chức được cử đi đào tạo bồi dưỡng cao nhất là 469 lượt, năm 2014 thấp nhất với số lượng 265 lượt người. Năm 2016, thành phố tổ chức 12 lớp đào tạo dành cho công chức cấp xã với số lượng 291 lượt người.
2.3.4. Việc thực hiện chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã
Chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ và Thông tư liên tịch số 03/2010/TTLT-BNV-BTC-BLĐTB&XH của Bộ Nội vụ, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ.
Bên cạnh những quy định của Trung ương, thành phố Đà Nẵng cũng đã có những hỗ trợ nhất định đối với công chức cấp xã như phụ cấp theo loại đơn vị hành chính, phụ cấp kiêm nhiệm…
2.4. Đánh giá chung về chất lượng công chức cấp xã và công tác nâng cao chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
2.4.1. Ưu điểm
Toàn thành phố đã có 93,97% công chức cấp xã đạt chuẩn theo quy định của Trung ương, trong đó có tới 73,19% công chức có trình độ trên chuẩn. Đây là một tỷ lệ rất cao đối với đội ngũ công chức cấp xã so với các tỉnh, thành trên cả nước. Kết quả khảo sát mức độ hài lòng đối với công chức cấp xã và hoạt động cung cấp dịch vụ công tại phường, xã là một minh chứng điển hình cho hiệu quả hoạt động không ngừng được cải thiện của chính quyền cơ sở.
Việc nâng cao yêu cầu về tiêu chuẩn đối với công chức cấp xã so với Trung ương cũng như quy định rõ số lượng tối đa của từng chức danh công chức cấp xã tạo điều kiện nâng cao hiệu quả công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng công chức. Công tác tuyển dụng, quản lý, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức cấp xã được thành phố quan tâm. Bên cạnh những quy định của Trung ương, thành phố cũng đã hỗ trợ một phần ngân sách để thực hiện các chế độ phụ cấp, giúp công chức cấp xã yên tâm hơn trong thực thực thi công vụ.
Đối tượng thu hút nguồn nhân lực công tác tại phường, xã là lực lượng quan trọng bổ sung cho đội ngũ công chức phường, xã, góp phần xây dựng đội ngũ công chức cấp xã năng động, tích cực, có trình độ chuyên môn cao.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được thực hiện thường xuyên, liên tục, nhằm mục tiêu cập nhật kịp thời những kiến thức phù hợp với vị trí việc làm của công chức, đảm bảo thực thi công vụ đạt hiệu quả cao nhất.
Chỉ thị số 29-CT/TU của Thành ủy Đà Nẵng với khẩu hiệu “năm xây, ba chống”, được triển khai mạnh mẽ, góp phần nâng cao đạo đức công vụ của công chức, đồng thời tạo sự tin tưởng của người dân vào hoạt động của nền hành chính nhà nước, phát huy vai trò tích cực của chính quyền cơ sở đối với người dân.
2.4.2. Hạn chế
Vẫn còn 6,63% công chức chưa qua đào tạo, gây ảnh hưởng nhất định đến chất lượng hoạt động công vụ.
Chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã chưa đáp ứng được nhu cầu đời sống của bản thân mỗi công chức.
Công tác tuyển dụng công chức cấp xã chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chỉ tiêu tuyển dụng thấp, số lượng người dự tuyển ít dẫn đến hiệu quả cải thiện chất lượng công chức cấp xã thông qua tuyển dụng không cao.
Số lượng đối tượng thu hút về phường, xã tương đối nhiều nhưng chủ yếu được bố trí vào các chức danh người hoạt động không chuyên trách cấp xã, không đóng góp nhiều cho việc cải thiện chất lượng công chức cấp xã.
Số lượng lớp bồi dưỡng và số lượng công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng đang có xu hướng giảm.
Xu hướng chạy theo bằng cấp ngày càng tăng, nhiều công chức tham gia học tập chỉ để có bằng cấp nhằm đảm bảo tiêu chuẩn và quyền lợi chứ không chú trọng đến nâng cao năng lực công tác.
2.4.3. Nguyên nhân
2.4.3.1. Mặt tích cực
Chất lượng công chức cấp xã đạt được những ưu điểm tích cực nêu trên, trước hết nhờ sự quan tâm của các cấp, các ngành từ thành phố đến phường, xã, với những giải pháp đồng bộ, hiệu quả.
Đội ngũ công chức cấp xã ngày càng được trẻ hóa, năng động, tích cực trong thực thi công vụ, tích cực học tập nâng cao trình độ, luôn có ý thức giữ gìn đạo đức, lối sống, tạo lòng tin của nhân dân đối với chính quyền cơ sở.
2.4.3.1. Mặt hạn chế
Chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã còn tương đối thấp xuất không tạo được nhiều động lực cho công chức trong quá trình làm việc.
Quy định cụ thể về số lượng tối đa của từng chức danh công chức cấp xã tại các phường, xã gây khó khăn cho việc bố trí, sử dụng công chức. Công tác tuyển dụng, sử dụng, quản lý công chức vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Môi trường làm việc, việc bố trí, sử dụng công chức một số phường, xã chưa thật sự được quan tâm đúng mức làm giảm hiệu quả, ảnh hưởng đến chất lượng thực thi công vụ của công chức.
Ý thức của một bộ phận công chức trong thực thi công vụ chưa cao.
Tiểu kết Chương 2
Chương 2 của luận văn đã tìm hiểu thực trạng chất lượng công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ việc đưa ra cái nhìn tổng quan về đội ngũ công chức cấp xã đến việc tìm hiểu cụ thể về những giải pháp mà thành phố đã và đang triển khai thực hiện nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ này. Thông qua đó, luận văn đưa ra những ưu điểm, hạn chế nhất định của công chức cấp xã tại thành phố Đà Nẵng để có thể nhìn nhận, đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm kiện toàn đội ngũ này.
Chương 3:
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ
CÔNG CHỨC CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
3.1. Quan điểm, định hướng phát triển nguồn nhân lực của Đảng và Nhà nước
Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khẳng định mục tiêu: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu có phẩm chất và năng lực, bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển biến liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội.”
Nghị quyết số 30c/NQ – CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020 xác định nhiệm vụ xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong giai đoạn tới là: “Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, đủ trình độ và năng lực thi hành công vụ, phục vụ nhân dân và phục vụ sự nghiệp phát triển của đất nước” [9].
3.2. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
3.2.1. Hoàn thiện quy định về số lượng, tiêu chuẩn, chức danh và một số chế độ, chính sách đối với đội ngũ công chức cấp xã
3.2.1.1. Về tiêu chuẩn nhóm ngành đào tạo của các chức danh công chức
Luận văn đề xuất nhóm ngành đào tạo cụ thể như sau:
Đối với chức danh Trưởng Công an xã: chuyên ngành công an, quân sự, luật, hành chính; có chứng nhận đã được đào tạo chương trình huấn luyện Trưởng Công an xã theo quy định.
Đối với chức danh Chỉ huy trưởng Quân sự: chuyên ngành quân sự, luật; có chứng nhận đã được đào tạo theo Quyết định số 799/QĐ-TTg ngày 25 tháng 5 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo cán bộ quân sự Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường, thị trấn trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Đối với chức danh Văn phòng – thống kê: nhóm ngành nội vụ, hành chính, luật, chính trị – hành chính, văn thư – lưu trữ, hành chính văn phòng, quản trị văn phòng, quản trị nguồn nhân lực, ngữ văn, công nghệ thông tin, tài chính, thống kê.
Đối với chức danh Địa chính – xây dựng: nhóm ngành địa chính, xây dựng, quản lý đất đai, quản lý đô thị, kiến trúc, môi trường; đối với xã quy định thêm ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, phát triển nông thôn.
Đối với chức danh Tài chính – kế toán: nhóm ngành tài chính, kế toán.
Đối với chức danh Tư pháp – hộ tịch: nhóm ngành luật.
Đối với chức danh Văn hóa – xã hội: nhóm ngành văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, khoa học xã hội, luật, hành chính, lao động – thương binh và xã hội.
3.2.1.2. Về số lượng công chức cấp xã theo các chức danh
Thực tế công tác quản lý, sử dụng công chức nảy sinh những bất cập nhất định liên quan đến việc khống chế số lượng tối đa một cách cứng nhắc đối với các chức danh công chức. Vì vậy, luận văn đề xuất việc bố trí chức danh công chức cấp xã do địa phương quyết định căn cứ vào tình hình thực tế trong công tác quản lý của mình, đồng thời phải đảm bảo 02 nguyên tắc sau:
– Tổng số lượng cán bộ, công chức cấp xã không được vượt quá số lượng tối đa cán bộ, công chức xã theo loại đơn vị hành chính như Trung ương quy định. Cụ thể là không quá 25 người đối với cấp xã loại 1, không quá 23 người đối với cấp xã loại 2 và không quá 21 người đối với cấp xã loại 3;
– Số lượng công chức tối đa của các chức danh công chức cấp xã là không quá 03 người.

3.2.2. Nâng cao chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức cấp xã
3.2.2.1. Xác định nhu cầu công chức cấp xã
Xác định nhu cầu công chức cấp xã là một bước đặc biệt quan trọng trước khi thực hiện hoạt động tuyển dụng công chức cấp xã vì thông qua việc xác định nhu cầu, công tác tuyển dụng công chức sẽ được thực hiện phù hợp, đáp ứng được yêu cầu thực tế, không để xảy ra tình trạng thừa hoặc thiếu công chức để thực thi công vụ.
3.2.2.2. Tuyển dụng công chức cấp xã
Để đảm bảo hiệu quả thực sự của công tác tuyển dụng theo nguyên tắc cạnh tranh thực tài, luận văn đề xuất kiện toàn công tác tuyển dụng công chức cấp xã như sau:
Thứ nhất, mở rộng đối tượng dự tuyển
Để mở rộng đối tượng dự tuyển, tiêu chí hộ khẩu cần được loại bỏ để đảm bảo tạo điều kiện cho những người có năng lực và nguyện vọng từ các địa phương tham gia dự tuyển. Đối tượng dự tuyển nên được xác định “là công dân Việt Nam, không bị mất hoặc hạn chế hành vi dân sự”. Điều này cũng phù hợp với quy định của pháp luật về tiêu chuẩn công chức cũng như quyền của công dân. Bên cạnh tiêu chí hộ khẩu, tiêu chí kinh nghiệm công tác tại vị trí việc làm cần tuyển dụng cũng là yếu tố giới hạn đối tượng dự tuyển công chức cấp xã, chính vì vậy, tiêu chí này cũng cần loại bỏ.
Thứ hai, xác định lại nội dung thi tuyển
Theo đề xuất của luận văn, sẽ đưa bốn môn vào thi tuyển chính thức là: Kiến thức chung, nghiệp vụ chuyên ngành, tin học và ngoại ngữ. Trong đó đề thi môn kiến thức chung và tiếng anh được sử dụng cho tất cả các vị trí công việc, còn đề thi môn nghiệp vụ chuyên ngành và tin học sẽ thay đổi theo từng vị trí. Các môn thi được tính theo thang điểm 100.
Thứ ba, tăng thêm kênh thông báo tuyển dụng
Việc thông báo kế hoạch tuyển dụng phải được thực hiện trên nhiều kênh thông tin đại chúng như báo, đài, mạng internet, đồng thời niêm yết công khai tại trụ sở UBND cấp xã, huyện, nơi có nhu cầu tuyển dụng công chức cấp xã.
Thứ tư, lựa chọn những người xứng đáng nhất tham gia vào hội đồng tuyển dụng
3.2.3. Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã theo yêu cầu của vị trí việc làm
3.2.3.1. Xác định nhu cầu, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng một cách đầy đủ, cụ thể
Để có thể xác định đúng và đầy đủ nhu cầu tham gia đào tạo, bồi dưỡng của công chức cấp xã, hàng năm nên thực hiện khảo sát đối với bản thân công chức và những người quản lý trực tiếp công chức. Thông qua đó, cơ quan chủ trì tổ chức đào tạo, bồi dưỡng sẽ xác định được những nội dung đào tạo cần thiết, phù hợp với nhu cầu của công chức cũng như của công tác quản lý hành chính nhà nước, đảm bảo xây dựng kế hoạch đào tạo thiết thực, hiệu quả.
3.2.3.2. Kết hợp các loại hình đào tạo chính quy và các hình thức bồi dưỡng thích hợp. Đổi mới chương trình, nội dung và hình thức đào tạo bồi dưỡng
Về nội dung bồi dưỡng cần tập trung vào các nội dung cơ bản sau:
– Kiến thức chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách mới của nhà nước.
– Kiến thức hành chính và pháp luật được sửa đổi, bổ sung thường xuyên, đáp ứng yêu cầu trực tiếp của quản lý nhà nước.
– Kiến thức chuyên môn nghiệp vụ theo vị trí chức danh công chức;
– Kỹ năng trong thực thi công vụ như: Kỹ năng giao tiếp, quản lý công việc, soạn thảo văn bản, sắp xếp hồ sơ công việc, ngoại ngữ, tin học.
Trong các nội dung đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã, việc đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc làm là hình thức đặc biệt quan trọng, đảm bảo công chức được trang bị đầy đủ kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, đảm bảo hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng cần được cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo và được thẩm định bởi Hội đồng thẩm định tài liệu đào tạo, bồi dưỡng và được Chủ tịch UBND thành phố phê duyệt.
3.2.3.3. Tập trung xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo, bồi dưỡng
Sau mỗi khóa đào tạo, bồi dưỡng, cơ quan, tổ chức thực hiện bồi dưỡng phải khảo sát, đánh giá chất lượng công tác bồi dưỡng, tiếp thu ý kiến đóng góp của đội ngũ công chức cấp xã để tiếp tục hoàn thiện nội dung, cách thức tổ chức, góp phần kiện toàn hoạt động, nâng cao hiệu quả công tác đào tạo, bồi dưỡng.
3.2.3.4. Kiện toàn hơn nữa các quy định về chế độ đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức cấp xã, khuyến khích công chức tự tham gia học tập nâng cao trình độ
Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng cần ưu tiên hơn đối với đội ngũ công chức cấp xã. Trong đó, cần nâng mức trợ cấp đào tạo, bồi dưỡng đối với công chức và các chế độ hỗ trợ khuyến khích công chức tự học tập nâng cao trình độ.
3.2.4. Tạo động lực làm việc đối với công chức cấp xã
3.2.4.1. Đảm bảo cơ bản về tiền lương và các chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã
3.2.4.2. Bố trí, sử dụng công chức cấp xã phù hợp với năng lực, sở trường và nguyện vọng của công chức
3.2.4.3. Kết hợp hài hòa giữa mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của từng cá nhân công chức cấp xã
3.2.4.4. Đảm bảo công bằng, khách quan trong công tác đánh giá kết quả làm việc của công chức cấp xã
– Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện Phần mềm đánh giá kết quả làm việc đối với cán bộ, công chức theo hướng mở rộng đối tượng tham gia đánh giá bao gồm công chức cấp xã
Phát huy những điểm tích cực của Phần mềm đánh giá kết quả làm việc, việc đánh giá công chức cấp xã trên phần mềm được thực hiện hàng tháng theo các bước sau:
+ Bước 1. Công chức cấp xã kê khai kết quả làm việc trong tháng, tự đánh giá việc chấp hành nội quy, quy chế cơ quan.
+ Bước 2. Các công chức khác đánh giá tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, việc chấp hành nội quy, quy chế cơ quan của công chức cấp xã.
+ Bước 3. Thủ trưởng trực tiếp quản lý công chức đánh giá kết quả làm việc, chất lượng công việc, tiến độ thực hiện nhiệm vụ của công chức, tinh thần trách nhiệm, ý thức kỷ luật, việc chấp hành nội quy, quy chế cơ quan. Thủ trưởng cho điểm thưởng nếu công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ hoặc có thành tích nổi trội, trừ điểm nếu công chức không hoàn thành nhiệm vụ hoặc có phẩm chất đạo đức, tinh thần kỷ luật không đạt.
+ Bước 4. Hội đồng đánh giá công chức của cơ quan thông qua kết quả đánh giá, xếp loại công chức hàng tháng. Kết quả đánh giá công chức được chia thành 04 loại: Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và không hoàn thành nhiệm vụ trên cơ sở điểm đánh giá trên phần mềm và nhận xét của các thành viên hội đồng về quá trình công tác của công chức trong tháng.
Xuất phát từ thực tế công tác của công chức cấp xã, Hội đồng đánh giá công chức theo đề xuất của luận văn bao gồm: Chủ tịch UBND phường, xã; các Phó Chủ tịch UBND phường, xã; Chủ tịch Công đoàn; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường, xã. Bên cạnh đó, có thể mời đại diện Thường trực HĐND phường, xã hoặc đại diện lãnh đạo Đảng ủy phường, xã để góp ý kiến về việc đánh giá công chức cấp xã.
Các cá nhân hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong quý được xem xét khen thưởng để động viên công chức tiếp tục phát huy tinh thần làm việc, kết quả đánh giá công chức hàng tháng là cơ sở để đánh giá công chức hàng năm và căn cứ để xét khen thưởng, bố trí, quy hoạch, bổ nhiệm công chức cấp xã vào các chức danh lãnh đạo tạo địa phương.
– Thứ hai, đảm bảo công bằng, khách quan trong công tác đánh giá
– Thứ ba, thực hiện công tác khen thưởng kịp thời, kỷ luật nghiêm minh những hành vi vi phạm của công chức cấp xã
3.2.4.5. Tạo cơ hội thăng tiến cho công chức cấp xã
3.2.4.6. Xây dựng môi trường làm việc hiệu quả
– Thứ nhất, nâng cấp, hiện đại hóa công sở, trang thiết bị, phương tiện làm việc;
– Thứ hai, xây dựng và phát triển văn hóa tổ chức.
Tiểu kết Chương 3
Tóm lại, trên cơ sở phân tích thực trạng chất lượng công chức cấp xã tại thành phố Đà Nẵng và những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, luận văn đã đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này như hoàn thiện lại hệ thống pháp luật có liên quan đến tiêu chuẩn chức danh công chức, nâng cao chất lượng công chức cấp xã thông qua việc tuyển dụng công chức và công tác quản lý, sử dụng công chức, tạo động lực làm việc để công chức cấp xã có thể phát huy hết năng lực của mình, vì sự phát triển chung của toàn thành phố.
Thông qua những giải pháp xuyên suốt quá trình tuyển dụng, quản lý, sử dụng công chức cấp xã, tác giả hy vọng có thể đóng góp một vài ý kiến để kiện toàn công tác quản lý nguồn nhân lực tại cấp cơ sở, góp phần xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển thành phố trong tình hình mới.
KẾT LUẬN
Xã, phường, thị trấn là cấp hành chính cơ sở, trực tiếp quan hệ và giải quyết các mối quan hệ chính trị, xã hội, quốc phòng và an ninh, gắn với đời sống và sinh hoạt của người dân. Do đó, việc xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền cơ sở nhằm phát huy và nâng cao vai trò, nhiệm vụ trong việc tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động mọi tiềm năng phát triển kinh tế, xã hội của địa phương là một vấn đề bức xúc. Chính vì vậy, cần có một bộ máy chính quyền cơ sở thật sự trong sạch, vững mạnh, đủ sức đưa địa phương thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế – chính trị – xã hội mà Đảng và Nhà nước giao phó.
Để xây dựng hệ thống chính trị xã hội vững mạnh toàn diện, chất lượng công chức cấp xã – những người trực tiếp thi hành pháp luật, đưa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với nhân dân cần được đặc biệt quan tâm. Đồng thời các hoạt động nâng cao chất lượng công chức cấp xã cần được chú ý hơn nữa để có thể thực hiện một cách đồng bộ, thiết thực và hiệu quả.
Đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng nếu được sự quan tâm đúng mức từ các cấp, các ngành sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả thực thi công vụ. Thông qua các giải pháp kịp thời, chúng ta sẽ xây dựng được một đội ngũ công chức cấp xã giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu tường tận về chính quyền cơ sở, đưa nền công vụ phát triển hiện đại và có được niềm tin từ phía nhân dân – điều đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ nền hành chính nào./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN HOC VIEN HANH CHINH\TRAN THI HUYENTRANG


