Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam
1. Tính cấp thiết đề tài
Quyền con người gắn chặt với hoạt động xã hội, các mối quan hệ xã hội và các phương thức sống của cá nhân. Quyền con người là biểu hiện của tiêu chí tác động qua lại, củng cố các mối liên hệ, phối hợp hành động và hoạt động giữa con người và con người, ngăn ngừa các mâu thuẫn đối đầu và xung đột giữa họ trên cơ sở kết hợp tự do cá nhân với tự do của những người khác, với hoạt động bình thường của Nhà nước và xã hội. Những quyền như quyền được sống, quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, được bất khả xâm phạm về thân thể, được tự do ngôn luận, tự do chính kiếm, tự do tín ngưỡng, được tham gia vào các quá trình chính trị là những điều kiện cần thiết để con người tổ chức đời sống trong xã hội văn minh và cần phải được Nhà nước thừa nhận và bảo vệ một cách vô điều kiện [43].
Tỉnh Quảng Nam là một tỉnh ven biển thuộc vùng phát triển kinh tế trọng điểm của miền Trung đất nước, Quảng Nam có phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng, phía Đông giáp biển Đông với trên 125 km bờ biển, phía Tây giáp tỉnh Kon Tum và nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi. Tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh là 1.043.836,96 ha, dân số năm 2013 là 1.460.164 người, trong đó có 4 tộc người thiểu số cư trú lâu đời là người Cơ Tu, người Co, người Gié Triêng và người Xê Đăng; tổng số người dân tộc thiểu số của toàn tỉnh trên 10 vạn người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh. Với 81,4% dân số sinh sống ở nông thôn, Quảng Nam có tỷ lệ dân số sinh sống ở nông thôn cao hơn tỷ lệ trung bình của cả nước. Tỉnh Quảng Nam không chỉ nổi tiếng nhờ truyền thống anh hùng trong đấu tranh giữ nước, mà còn nổi tiếng nhờ hai di sản văn hoá thế giới là phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn. Đó cũng là những lợi thế trong giao lưu phát triển kinh tế, văn hoá – xã hội. Thực hiện công cuộc đổi mới trong những năm qua, tình hình kinh tế, văn hóa và xã hội của tỉnh Quảng Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và đạt được những thành tựu đáng kể. Đời sống kinh tế, văn hóa của người dân được cải thiện một bước quan trọng, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt tỷ lệ cao, tình hình an ninh trật tự được giữ vững, công tác phòng, chống tội phạm đạt được những kết quả nhất định.
Tuy vậy, ở Quảng Nam hiện nay vẫn tồn tại những hiện tượng tiêu cực, gây bức xúc đối với Đảng bộ, Chính quyền và người dân Quảng Nam, đó chính là tình hình tội phạm những năm gần đây có xu hướng tăng lên và diễn biến ngày càng phức tạp. Theo thống kê, từ năm 2010 đến năm 2014 đã có 4.492 vụ án hình sự với 7.756 bị cáo được ngành toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm, trung bình mỗi năm 898 vụ án và 1.551 đối tượng. Các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh khá đa dạng về tội danh, tuy nhiên nhóm tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người, trong đó có các tội xâm hại tình dục chiếm tỉ phần cao trong tổng số vụ án hình sự đã được phát hiện và xử lý; tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội hết sức nghiêm trọng. Trong cùng thời gian thống kê đã có 86 vụ án với 100 bị cáo bị xét xử sơ thẩm về tội xâm hại tình dục, chiếm tỉ phần 0,19% về số vụ, 1,29% số vụ án hình sự của tỉnh. Bên cạnh đó, thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm nói chung và các tội phạm về tình dục nói riêng còn gặp những khó khăn, vướng mắc nhất định, như một số dấu hiệu pháp lý của các tội xâm hại về tình dục được quy định trong Bộ luật Hình sự chưa rõ ràng; quy định về dấu hiệu định tội, định khung hình phạt tăng nặng và quyết định hình phạt có những điểm còn bất cập, bất hợp lý.
Chính vì vậy, với mong muốn nghiên cứu sâu hơn nhằm nhằm đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định về các tội xâm hại tình dục trong BLHS Việt Nam, đồng thời giúp người tiến hành tố tụng định tội danh và quyết định hình phạt chính xác hơn đối với loại tội này. Nhận thức được điều đó, tác giả chọn đề tài: Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam làm luận văn tốt nghiệp cho mình, góp phần cho công cuộc đấu tranh phòng, chống các tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam nói riêng và trong cả nước nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu lý thuyết
2.2. Tình hình nghiên cứu thực tế cụ thể
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Mục đích của việc nghiên cứu là qua việc phân tích nghiên cứu khái niệm, các dấu hiệu pháp lý hình sự đặc trưng của các tội xâm hại tình dục; thực trạng tình hình định tội danh và quyết định hình phạt đối với nhóm tội này qua thực tiễn xét xử tại tỉnh Quảng Nam đưa ra các đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật hình sự, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với nhóm tội này trong thực tiễn.
3.2. Nhiệm vụ
– Nghiên cứu khái niệm các tội phạm xâm hại tình dục; làm sáng tỏ các dấu hiệu pháp lý hình sự các tội phạm xâm hại tình dục.
– Các vấn đề lý luận về định tội danh, phân tích, đánh giá thực tiễn định tội danh đối với các tội phạm về xâm hại tình dục từ thực tiễn xét xử của TAND các cấp tại tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến 2014.
– Các vấn đề lý luận về quyết định hình phạt, phân tích, đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt đối với các tội phạm về xâm hại tình dục từ thực tiễn xét xử của TAND các cấp tại tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến 2014.
– Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật (định tội danh, quyết định hình phạt) đối với các tội xâm hại tình dục.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử các tội phạm xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
– Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh, quyết định hình phạt đối với các tội phạm xâm hại tình dục dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam gắn liền với địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2010 đến 2014.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề tội phạm nói chung. Các văn kiện đại hội của Đảng và văn bản pháp luật của Nhà nước về quan điểm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
Cơ sở thực tiễn của luận văn là những bản án, quyết định của Tòa án về các tội xâm phạm tình dục; các số liệu thống kê, báo cáo tổng kết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam về tội xâm hại tình dục.
Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong nghiên cứu, tác giả vận dụng các phương pháp: lịch sử, lôgíc, hệ thống, thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh pháp luật, điều tra xã hội.
6. Ý nghĩa đề tài
Tuy trước đây, đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về các tội phạm xâm hại tình dục cụ thể, tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu dưới góc độ thực tiễn từ thực trạng xét xử các loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Nam; chưa thấy rõ mức độ và tính chất của nhóm tội phạm này trên thực tế thông qua công tác điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan bảo vệ pháp luật của tỉnh Quảng Nam.
Kết quả nghiên cứu góp phần làm cơ sở lý luận đấu tranh phòng chống các tội phạm xâm hại tình dục tại tỉnh Quảng Nam nói riêng và trong cả nước nói chung. Đồng thời, góp phần bổ sung, hoàn thiện Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật khác có liên quan.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Các tội phạm xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 2: Định tội danh các tội xâm hại tình dục từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
Chương 3: Quyết định hình phạt đối với các tội xâm hại tình dục từ thực thực tiễn tỉnh Quảng Nam.
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Con người được coi là vốn quý của xã hội, là đối tượng hàng đầu được pháp luật nói chung, luật hình sự nói riêng, bảo vệ. Bảo vệ con người trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của họ, vì đó là những vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với con người. Các tội phạm xâm hại về danh dự, nhân phẩm con người được các triều đại phong kiến Việt Nam quy định vào trong trong các bộ luật từ rất sớm. Các hành vi xâm hại tình dục luôn được quy định là trọng tội, bị trừng phạt rất nghiêm khắc.
Ngay sau khi giành được chính quyền và khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 02/9/1945, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản quy phạm pháp luật hình sự nhằm bảo vệ chính quyền nhân dân, chống thực dân Pháp, chế độ phong kiến nhà Nguyễn và các thế lực Việt gian phản động. Trong đó, đặc biệt quan tâm đến việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nhất là về danh dự, nhân phẩm của con người nói chung và của người phụ nữ, trẻ em nói riêng. Tuy nhiên, trong điều kiện phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài nên không thể ban hành kịp các văn bản quy phạm pháp luật nói chung và pháp luật về hình sự nói riêng, vì vậy, ngày 10/10/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành Sắc lệnh số 47-SL quy định cho tạm thời giữ các luật lệ cũ, trong đó có Bộ “Luật hình An Nam”, “Hoàng Việt hình luật” và “Hình luật pháp tu chính” với điều kiện không trái với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân chủ cộng hòa. Thời kỳ này các tội xâm hại về tình dục được xử lý theo quy định của các văn bản luật này.
Đến năm 1955, Nhà nước ta vẫn chưa ban hành văn bản pháp luật hình sự riêng quy định cụ thể về các tội phạm nói chung và tội xâm hại tình dục nói riêng. Các tòa án xét xử các tội phạm theo án lệ. Tuy nhiên, nhằm đấu tranh phòng chống loại tội phạm xâm hại về tình dục hiệu quả hơn, ngày 15/6/1960 Tòa án nhân dân tối cao ra đã Chỉ thị số 1024, trong đó có hướng dẫn xử lý tội phạm hiếp dâm. Tiếp đến, Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua Bản tổng kết và hướng dẫn đường lối xét xử tội hiếp dâm và các tội phạm khác về tình dục số 329-HS2 ngày 11/5/1967, trong đó đề cập cụ thể đến 04 hành vi xâm hại tình dục là tội phạm, gồm: hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu với người dưới 16 tuổi và dâm ô. Bản tổng kết này đã được áp dụng cho đến khi ban hành BLHS năm 1985 có hiệu lực.
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Nhà nước ta đã ban hành ngay một số chính sách, văn bản quy phạm pháp luật hình sự nhằm phục vụ thực hiện một số nhiệm vụ quan trọng, bảo vệ anh ninh trật tự, an toàn xã hội và đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm, đặc biệt là đối với miền Nam mới được giải phóng. Sắc lệnh số 03-SL/76 ngày 15/3/1976 của Hội đồng Chính phủ lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam quy định các tội phạm và hình phạt làm cơ sở pháp lý để xử lý các hành vi xâm phạm chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, tài sản công cộng, thân thể và các quyền lợi khác của công dân; trong đó, tại Điều 5 quy định về tội xâm phạm đến thân thể và xâm hại tình dục của công dân. Trên cơ sở quy định này, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã vận dụng xử lý đối với các tội phạm xâm hại tình dục.
Nhìn chung, pháp luật trong giai đoạn này còn thiếu nhiều, chủ yếu xét xử theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Nói cách khác, trước khi BLHS ra đời thì quy định về các tội xâm hại tình dục mới chỉ ở trong các văn bản quy phạm dưới luật. Do đó, giá trị pháp lý của các văn bản này chưa cao, quy định còn chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến việc áp dụng không thống nhất, gặp nhiều vướng mắc trong quá trình xét xử, làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử cũng như hiệu quả trong công tác đấu tranh chống loại tội phạm này.
- 1.1.2. Các tội xâm phạm tình dục thời kỳ từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến nay
Thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, đất nước qua đã giành được một số thành tựu nhất định trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, tạo ra những cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó, chúng ta cũng gặp phải nhiều khó khăn và thách thức về mặt kinh tế, xã hội do chính sách quản lý quan liêu, bao cấp duy trì quá lâu… Về mặt lập pháp hình sự, các văn bản quy phạm pháp luật hình sự đã ban hành không thể hiện được toàn diện, đầy đủ chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta. Trong bối cảnh đó, việc ban hành Bộ luật hình sự là vấn đề mang tính tất yếu khách quan và cấp thiết, có ý nghĩa góp phần phục vụ thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Ngày 27/6/1985, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VII, đã thông qua Bộ luật hình sự, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986. Bộ luật hình sự năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu lập pháp hình sự Việt Nam, tổng kết kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian trước năm 1985 và dự báo được tình hình tội phạm trong những năm tiếp theo. Đây là một bước tiến quan trọng, thể hiện sự phát triển về chất của công tác lập pháp trong lĩnh vực hình sự. Có thể nói BLHS năm 1985 là một bước ngoặt đáng kể trong lịch sử lập pháp về hình sự của nước ta.
Trong Bộ luật hình sự năm 1985, nhà làm luật đã quy định các tội xâm hại tình dục ngay ở Chương II các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, gồm 03 tội danh cụ thể: Tội hiếp dâm quy định tại Điều 112, tội cưỡng dâm quy định tại Điều 113 và tội giao cấu với người dưới mười sáu tuổi tại Điều 114. Việc Bộ luật hình sự năm 1985 lần đầu tiên chính thức ghi nhận về mặt pháp lý các tội xâm hại về tình dục đã đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người.
Bộ luật đã đưa ra định nghĩa pháp lý của khái niệm tội hiếp dâm là “hành vi dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác giao cấu trái ý muốn của họ”, bên cạnh đó quy định người nào dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu thì phạm tội cưỡng dâm…Khung cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù thấp nhất từ 3 tháng ở tội cưỡng dâm và tội giao cấu với người dưới mười sáu tuổi đến mức cao nhất 7 năm tù ở tội hiếp dâm. Khung tăng nặng có mức phạt tù thấp nhất từ 2 năm đến tù chung thân hoặc tử hình. Trong lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1985 vào năm 1989, 1991 đã có sửa đổi, bổ sung về định khung tăng nặng và phần hình phạt của tội tội giao cấu với người dưới 16 tuổi và tội hiếp dâm.
Mặc dù BLHS năm 1985 thể hiện được một cách khá toàn diện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta, là công cụ sắc bén trong đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm hiệu lực quản lý của Nhà nước, góp phần thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ, toàn diện các yêu cầu của thực tiễn, nhiều bất cập của BLHS vẫn còn hiện hữu. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện BLHS là hết sức cần thiết nhằm tạo ra một BLHS của thời kỳ mới, là công cụ pháp lý hữu hiệu để bảo vệ chế độ, bảo vệ Nhà nước, đấu tranh có hiệu quả phòng, chống tội phạm trong tình hình mới; bảo vệ và góp phần thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, bảo vệ có hiệu quả các quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân, góp phần quan trọng vào việc tiếp tục hoàn thiện thể chế xã hội, bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội, đồng thời thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập quốc tế của nước ta. Chính vì vậy, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X, tại kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS mới, và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2000.
So với Bộ luật hình sự năm 1985 quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự con người thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định thêm 10 Điều (BLHS sự năm 1985 chỉ có 20 Điều). Các tội xâm hại về tình dục được quy định từ Điều 111 đến Điều 116, tăng 03 điều so với BLHS năm 1985. Theo đó, các tội xâm hại tình dục thuộc Chương XII, Bộ luật Hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) gồm có 06 sáu tội danh, cụ thể:
– Tội hiếp dâm quy định tại Điều 111;
– Tội hiếp dâm trẻ em quy định tại Điều 112;
– Tội cưỡng dâm quy định tại Điều 113;
– Tội cưỡng dâm trẻ em quy định tại Điều 114;
– Tội giao cấu với trẻ em quy định tại Điều 115;
– Tội dâm ô với trẻ em quy định tại Điều 116.
Bên cạnh đó, trong BLHS còn quy định một số hành vi tội phạm khác có liên quan đến tình dục nhưng không thuộc các tội xâm hại tình dục mà thuộc nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, như tội loạn luân quy định tại Điều 150…
So với Bộ luật hình sự năm 1985, những quy định về các tội xâm hại tình dục trong Bộ luật hình sự năm 1999 có những điểm mới như sau:
Thứ nhất, quán triệt chính sách hình sự của Nhà nước ta trong việc xử lý hình sự đối với những hành vi phạm tội và những người thực hiện các hành vi xâm hại tình dục đầy đủ, toàn diện và nghiêm khắc hơn, trong đó khung hình phạt cơ bản của các tội xâm hại tình dục nâng lên mức từ 06 tháng tù cho đến mười lăm năm; quy định hình phạt cao nhất của 03 tội danh lên đến chung thân, tử hình…
Thứ hai, quy định thêm hình phạt bổ sung “người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm” (trong Bộ luật hình sự năm 1985 không có quy định này).
Thứ ba, một số tội đã được bổ sung, quy định mới hoàn thiện về các tình tiết định tội, định khung hình phạt, cụ thể như sau:
– Đối với tội hiếp dâm bỏ tình tiết “có nhiều tình tiết…”; quy định thêm các dấu hiệu trong cấu thành, đó là “đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân”; quy định thêm một số tình tiết định khung mới tại khoản 2, 3.
– Đối với tội hiếp dâm trẻ em, quy định thêm tình tiết định khung hình phạt mới “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%” tại khoản 2 hoặc “biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội” tại khoản 3…
– Đối với tội cưỡng dâm bỏ tình tiết “có nhiều tình tiết…”; quy định tại khoản 2, 3 thêm một số tình tiết định khung hình phạt như “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%”, “cưỡng dâm nhiều người”, “biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội”…
– Đối với tội giao cấu với trẻ em đã thay tình tiết “gây tổn hại nặng cho sức khoẻ của nạn nhân” bằng tình tiết “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%”.
– Đối với tội dâm ô đối với trẻ em không còn quy định tình tiết “có nhiều tình tiết…”, trong khi đó bổ sung thêm tình tiết định khung “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” tại khoản 3 của Điều luật.
Chương XII Bộ luật hình sự năm 1999 quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người. Các hành vi xâm hại tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền nhân thân của con người, đó là quyền được tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người.
Các hành vi xâm hại tình dục ở mức độ nào đó đã xâm hại đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phục nữ, trẻ em. Ngoài ra, hành vi này còn xâm hại tính mạng, sức khỏe của con người mà khách thể này đã được luật hình sự bảo vệ. Sở dĩ như vậy là vì khi hành vi xâm hại tình dục (hiếp dâm, hiếp dâm trẻ em, cưỡng dâm…) được thực hiện, tức là nó đã trực tiếp gây tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân, thậm chí có thể tước đi tính mạng của nạn nhân, đồng thời xâm hại đến danh dự, nhân phẩm cũng bị ảnh hưởng. Như vậy, các tội xâm hại tình dục có mối quan hệ chặt chẽ với danh dự và nhân phẩm con người. Cho nên, để có thể làm sáng tỏ khái niệm các tội xâm hại tình dục, cần làm rõ khái niệm về tình dục, danh dự và nhân phẩm con người.
Về khái niệm “tình dục”, hiện nay được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Định nghĩa đơn giản của từ điển thì đó là những hành vi về quan hệ tính giao (tính giao: dựa trên giới tính) trong đó đặc biệt bao gồm việc giao hợp.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “danh dự là phạm trù đạo đức chỉ lòng tôn trọng của con người trong mọi cử chỉ, hành vi của mình”. Người có danh dự biết tôn trọng lời mình đã hứa và có ý thức bảo vệ danh dự của mình, của dòng họ, của đoàn thể, Tổ quốc mình. Mất danh dự có nghĩa là mất sự tin yêu, mến phục của người khác và đối với người có danh dự, thì đó là tổn thất lớn nhất.
Vấn đề tiếp theo cần làm sáng tỏ là khái niệm nhân phẩm. Theo Đại từ điển tiếng Việt, “nhân phẩm là phẩm chất và giá trị con người”.
Nhân phẩm và danh dự là những giá trị nội tại, vốn có được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển và hoàn thiện của con người về mặt nhân tính. Đây là thuộc tính chung của tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại, không dựa trên bất kỳ sự phân biệt hay khác biệt nào về địa vị xã hội, kinh tế, chính trị, chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, giới tính, … Nhân phẩm và danh dự của con người chính là những cái làm nên sự khác biệt và cũng là bước tiến vượt bậc của con người với phần còn lại của giới tự nhiên. Vì chúng là những giá trị chỉ thuộc tính chung của con người, do vậy, tôn trọng nhân phẩm, danh dự của mỗi cá nhân con người là sự tôn trọng đối với chính mình, đối với đồng loại. Tôn trọng nhân phẩm, danh dự của con người là tôn trọng những giá trị của con người, nhờ đó con người thực hiện được sự công bằng và bình đẳng.
Các tội xâm hại tình dục phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm, mà theo PGS.TSKH Lê Cảm, phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: (i) Bình diện khách quan: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; (ii) Bình diện pháp lý: Tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; (iii) Bình diện chủ quan: Tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi.
Trong khoa học pháp lý hình sự, các nhà hình sự học vẫn chưa đưa ra khái niệm chung về các tội xâm hại tình dục, mà chỉ có các khái niệm về các tội phạm xâm hại tình dục cụ thể.
Theo Bình luận Khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 (phần các tội phạm) của ThS. Đinh Văn Quế thì “Hiếp dâm là hành vi của một người dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc dùng thủ đoạn khác giao cấu với người khác trái với ý muốn của họ” [23].
Trong khi đó, cưỡng dâm được định nghĩa “là hành vi của một người dùng mọi thủ đoạn khiến người lệ thuộc mình hoặc người đang ở trong tình trạng quẫn bách phải miễn cưỡng giao cấu với mình” [23].
Tội giao cấu với trẻ em được hiểu “là hành vi của một người đã thành niên giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi không trái với ý muốn của nạn nhân” [23].
Từ sự phân tích các quan điểm được trình bày ở trên, chúng tôi xin đưa ra khái niệm các tội xâm hại tình dục như sau: Các tội xâm hại tình dục là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, xâm phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phụ nữ.
- 1.3.2. Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của các tội xâm hại tình dục
* Khách thể của các tội xâm hại tình dục
Là một loại hoạt động của con người, nên cũng như các loại hoạt động khác, tội phạm cũng nhằm vào những khách thể cụ thể, tồn tại ngoài ý thức, độc lập với ý thức của chủ thể, nhưng không phải để cải biến mà gây thiệt hại cho chính những khách thể đó.
Trong hệ thống các quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, các quan hệ xã hội có ý nghĩa khác nhau đối với sự phát triển của xã hội được Nhà nước bảo vệ bằng các quy phạm pháp luật khác nhau. Khách thể bảo vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội được Nhà nước xác định cần được bảo vệ bằng những quy phạm pháp luật hình sự. Những quan hệ xã hội đó sẽ là khách thể của tội phạm trong trường hợp chúng bị gây thiệt hại hoặc bị đe dọa gây thiệt hại ở mức độ nhất định. Như vậy, khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Công dân Việt Nam có quyền bất khả xâm phạm về thân thể và được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự. Tôn trọng, bảo vệ danh dự, nhân phẩm của mỗi công dân và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phụ nữ, trẻ em là trách nhiệm của mọi người.
Đối với các tội xâm hại tình dục, khách thể của tội phạm là nhân phẩm, danh dự của con người.
* Mặt khách quan của các tội xâm hại tình dục
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra cũng đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài, mà con người có thể trực tiếp nhận biết được. Đó là hành vi khách quan nguy hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hại; mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả xảy ra. Ngoài ra, còn có một số dấu hiệu khác cũng đặc trưng cho mặt khách quan của tội phạm, đó là hoàn cảnh, thời gian, công cụ và phương tiện phạm tội…
Như vậy, mặt khách quan của các tội xâm hại tình dục là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan. Mặt khách quan của tội phạm này là một trong bốn yếu tố của tội phạm, không có mặt khách quan thì cũng không có các yếu tố khác của tội phạm và do vậy cũng không có tội phạm.
Trong mặt khách quan của các tội xâm hại tình dục, các hành vi khách quan là biểu hiện cơ bản. Hành vi khách quan của các loại tội phạm này luôn luôn được thể hiện dưới hình thức hành động phạm tội – là hình thức của hành vi phạm tội làm biến đổi tình trạng bình thường của đối tượng tác động, gây thiệt hại cho nhân phẩm, danh dự của con người và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phụ nữ, trẻ em qua việc chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm như bằng việc sử dụng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu trái ý muốn của họ; có hành vi dùng mọi thủ đoạn như lừa phỉnh, mua chuộc, dụ dỗ, đe doạ hoặc bằng tình cảm, bằng tiền bạc, có khi chỉ là một lời hứa…để buộc người lệ thuộc hoặc người đang trong tình trạng quẫn bách phái miễn cưỡng giao cấu với mình. Bên cạnh đó, mặt khách quan của các tội phạm này còn biểu hiện ở hành vi sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của nạn nhân; dùng bộ phận sinh dục của mình chà xát với bộ phận sinh dục của nạn nhân hoặc bắt nạn nhân sờ mó, hôn hít bộ phận sinh dục của mình nhằm thoả mãn dục vọng, nhưng không có ý định giao cấu với nạn nhân.
Các tội xâm hại tình dục là tội phạm mà pháp luật hình sự quy định có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành từ khi người phạm tội có hành vi xâm hại tình dục được mô tả trong BLHS. Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội này.
Mặc dù hậu quả không có ý nghĩa trong việc định tội, nhưng việc xác định hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi xâm hại tình dục với thiệt hại xảy ra, có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải quyết trách nhiệm hình sự và hình phạt.
Riêng đối với tội hiếp dâm (Điều 111), hành vi giao cấu trái với ý muốn của người bị hại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội hiếp dâm. Do đó, chỉ khi nào chứng minh việc giao cấu đó là trái với ý muốn của người bị hại (người phụ nữ) thì người có hành vi giao cấu (người đàn ông) mới bị coi là phạm tội hiếp dâm.
* Chủ thể của các tội xâm hại tình dục
Chủ thể của tội phạm là người đã có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự cấm, có năng lực TNHS và đủ độ tuổi chịu TNHS theo luật định [10]. Cơ sở pháp lý để xác định chủ thể của các tội xâm phạm tình dục là Điều 2, Điều 8, Điều 12, Điều 13 và Điều 138 BLHS năm 1999.
Điều 2 BLHS quy định “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Khoản 1, Điều 8 BLHS cũng quy định “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”. Do đó, chúng ta có thể khẳng định rằng, chủ thể của tội phạm chỉ có thể là con người cụ thể đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS. Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam phải là cá nhân, không phải là pháp nhân.
Về chủ thể của các tội xâm hại tình dục phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự. Người có năng lực trách nhiệm hình sự là người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và có khả năng điều khiển hành vi đó. Đối với tội xâm hại tình dục, người có hành vi phạm tội phải có khả năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại quyền bất khả xâm phạm về tình dục của người phụ nữ, trẻ em và danh dự, nhân phẩm của con người và có khả năng điều khiển hành vi đó.
Theo quy định của BLHS, đối với một số tội phạm xâm hại tình dục (như tội hiếp dâm, cưỡng dâm…) do không quy định rõ chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là nam giới hay cả nữ giới là chủ thể của các tội phạm này nên trong thực tế việc nhận thức, kể cả trong áp dụng pháp luật còn vướng mắc, chưa thống nhất.
Các tội xâm hại tình dục có mức tối đa của khung hình phạt là bảy năm tù đối với tội cưỡng dâm (Điều 113) và từ 15 năm đến chung thân, tử hình đối với các tội còn lại. Căn cứ Điều 8 và Điều 12 của BLHS năm 1999, chủ thể của các tội xâm hại tình dục là đủ 16 tuổi trở lên đối với tội cưỡng dâm và từ đủ từ 14 tuổi trở lên đối với các tội xâm hại tình dục còn lại.
* Mặt chủ quan của các tội xâm hại tình dục
Nếu mặt khách quan của tội làm nhục người khác là mặt bên ngoài, thì mặt chủ quan là mặt bên trong, là hoạt động tâm lý của người phạm tội; phản ánh mối liên hệ giữa ý thức và ý chí của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà người đó thực hiện. Mặt chủ quan của các tội xâm hại tình dục gồm ba yếu tố: Lỗi, động cơ phạm tội và mục đích phạm tội.
Các tội xâm hại tình dục được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến nhân phẩm, danh dự của người khác và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của phụ nữ, trẻ em nhưng mong muốn thực hiện hành vi đó.
Biểu hiện thứ hai, mặt chủ quan của các tội xâm hại tình dục là động cơ, mục đích phạm tội. Trong khoa học luật hình sự, động cơ phạm tội được hiểu là động lực bên trong thúc đẩy người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội cố ý, còn mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người phạm tội đặt ra phải đạt được khi thực hiện hành vi phạm tội.
Động cơ, mục đích của chủ thể phạm các tội xâm hại tình dục là mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu tình dục của bản thân.
Dấu hiệu định khung tăng nặng là những tình tiết được quy định cụ thể trong từng khung cấu thành tăng nặng của Điều luật Hình sự, khi có dấu hiệu đó thì sẽ làm tăng mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và người phạm tội phải chịu một hình phạt nghiêm khắc hơn đối với trường hợp phạm tội ở cấu thành cơ bản. Tuy nhiên, mọi cấu thành tội phạm tăng nặng đều phải có đầy đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cơ bản. Nói cách khác, tất cả những trường hợp không thoả mãn cấu thành tội phạm cơ bản của một loại tội phạm nhất định thì dù có những dấu hiệu làm cho tính nguy hiểm cho xã hội tăng lên (tình tiết định khung tăng nặng) thì cũng không phải là tội phạm.
Việc xác định đúng và đủ các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nói chung và đối với tội phạm xâm hại tình dục nói riêng là rất quan trọng trong quá trình định tội danh của tội phạm. Nếu xác định thiếu hoặc thừa đều dẫn đến một hậu quả là quyết định hình phạt không đúng.
Trong 06 tội xâm hại tình dục quy định tại Mục A, Chương XXI Bộ luật hình sự (từ Điều 111 đến Điều 116) ngoài cấu thành cơ bản quy định tại khoản 1 đều có quy định các định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự với nhiều tình tiết định khung tăng nặng. Trong đó có 03 điều luật quy định có 03 định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 4 (tỉ lệ 50%) ở các Điều 111, 112, 113; 03 điều luật quy định có 03 định khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 3 (tỉ lệ 50%) ở các Điều 114, 115, 116. Hình phạt quy định ở các định khung tặng nặng cao hơn và có tính rất nghiêm khắc so với hình phạt ở cấu thành cơ bản, trong đó 02 điều luật quy định tình tiết định khung tăng nặng mức hình phạt cao nhất là tử hình (trong đó một điều luật có hai khoản quy định hình phạt cao nhất là tử hình – khoản 3, 4 Điều 112) và 01 điều luật quy định ở mức chung thân.
Bên cạnh đó, 05/06 tội phạm xâm hại tình dục quy định hình phat bổ sung cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.
ĐỊNH TỘI DANH CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ TỈNH QUẢNG NAM
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự. Việc định tội danh đúng có ý nghĩa về mặt đạo đức và pháp lý quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh khái niệm định tội danh. Quan điểm thứ nhất cho rằng, định tội danh là một trong những giai đoạn hoạt động áp dụng pháp luật do các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử tiến hành. Các cơ quan này căn cứ vào các tình tiết đã được xác định về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của một hành vi cụ thể nào đó mà quyết định xem hành vi đó có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đã được pháp luật quy định hay không? Trong khi đó, quan điểm thứ hai cho rằng, định tội danh là việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi tội phạm cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự.
Theo chúng tôi, định tội danh là hoạt động áp dụng pháp luật sự hình bao gồm việc tiến hành đồng thời ba quá trình [39], cụ thể như sau:
Trước hết là hoạt động xác định các tình tiết của vụ án:
Có thể hiểu rằng, trong quá trình thực hiện các hoạt động tố tụng, các cơ quan bảo vệ pháp luật bao gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án cần xác định được tất cả các tình tiết cần thiết của vụ án phù hợp với hiện thực khách quan. Để đạt được điều đó cần phải áp dụng các biện pháp hợp pháp được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định không được dùng những biện pháp trái pháp luật để thu thập chứng cứ và chứng cứ đã thu thập phải được đánh giá theo quy định của pháp luật, không được quy chụp, suy diễn theo ý chí chủ quan của người tiến hành tố tụng. Để định tội danh đúng cần phải xác định, tìm kiếm chân lý khách quan, chân lý vật chất về vụ án – tức là xác định đầy đủ và chính xác các tình tiết cần thiết của hành vi phạm tội. Các tình tiết này liên quan đến khách thể và mặt khách quan của tội phạm.
Hoạt động chứng minh vụ án hình sự thực chất phải là hoạt động tư duy khách quan của cán bộ điều tra, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm nhân dân đối với các chứng cứ đã phát hiện, thu thập được; đồng thời, tiến hành kiểm tra và đánh giá chúng. Như vậy, để xác định sự thật của vụ án một cách toàn diện, đầy đủ và khách quan, nghĩa là phải xem xét hành vi phạm tội trên các mặt của các yếu tố cấu thành tội phạm trong tổng thể, không tách rời nhau, do đó phải thu thập, kiểm tra và đánh giá tất cả các chứng cứ như chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gốc, chứng cứ sao chép, các lời khai và vật chứng…thì việc định tội danh tội phạm mới đảm bảo chính xác, ít xảy ra sai sót (gây oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm).
Muốn xác định được sự thật khách quan của vụ án, trước hết cán bộ tư pháp phải xác định và đánh giá đầy đủ mọi chứng cứ liên quan đến vụ án với một tinh tinh thần trách nhiệm cao nhất. Việc nghiên cứu, tổng hợp một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án là nguyên tắc luật định đối với cán bộ tư pháp trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (kể cả những người tiến hành xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) được quy định tại Điều 10 BLTTHS. Trong thực tế đã có trường hợp ở tại phiên tòa phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm có những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội không được hội đồng xét xử xem xét, đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và khách quan đã dẫn hậu quả kết quả xét xử những vụ án này không đúng quy định của pháp luật hình sự.
Hai là, nhận thức đúng nội dung của các quy định trong Bộ luật Hình sự:
Trong BLHS quy định cụ thể về tội phạm nói chung và các loại tội phạm cụ thể cũng như việc áp dụng hình phạt đối với tội phạm. Do đó, việc nhận thức đúng nội dung quy định của BLHS đối với từng loại tội và từng tội phạm có ý nghĩa rất lớn đối với việc định tội danh. BLHS của một quốc gia nói chung và BLHS của nước ta nói riêng luôn là công cụ chuyên chính của Nhà nước để bảo vệ những thành quả của cách mạng, bảo vệ chế độ XHCN, an ninh và trật tự xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chống mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức tôn trọng và tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Khi xây dựng BLHS, nhà làm luật đã dự liệu và đánh giá một cách toàn diện tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của các hành vi tương ứng, cân nhắc hiệu quả có thể đạt được trong việc đấu tranh với các hành vi đó bằng các biện pháp pháp lý hình sự, quy định chế tài cần thiết đối với từng tội phạm… Việc tuân thủ đúng quy định của BLHS trong việc định tội là điều kiện cần thiết và quan trọng của việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước nhằm đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa, đấu tranh có hiệu quả đối với các loại tội phạm.
Vì vậy, muốn hoạt động định tội danh tội phạm đúng quy định của pháp luật hình sự thì người tiến hành tố tụng trước hết phải lựa chọn đúng đắn QPPL hình sự để áp dụng; đối chiếu, so sánh chính xác, đầy đủ các dấu hiệu tội phạm được quy định trong điều luật, trong khoản, trong điểm với các tình tiết của hành vi phạm tội đã thực hiện. Nếu đối chiếu có sự phù hợp giữa các tình tiết của sự việc với các dấu hiệu của cấu thành được quy định trong luật thì có thể kết luận sự việc xảy ra phải được định theo điều luật, khoản, điểm của điều luật đó. Trong thực tế áp dụng luật hình sự, sau khi xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết thực tế của vụ án người thực hiện định tội danh phải xác định hành vi nguy hiểm cho xã hội của đối tượng đã thực hiện có phải là tội phạm hay không, nếu là tội phạm thì đó là tội phạm gì, thuộc chương nào của BLHS quy định. Bước tiếp theo là xác định xem hành vi phạm tội của bị cáo nằm ở cấu thành loại tội phạm nào, điều nào của BLHS quy định và cuối cùng là điểm, khoản nào của điều luật quy định tội phạm đã thực hiện. Tuy nhiên, sự phân chia thành từng bước như vậy chỉ mang tính tương đối, trong nhiều trường hợp các bước đó được thực hiện đồng thời trong hoạt động nhận thức của người áp dụng pháp luật, có khi không thể tách rời một cách rõ ràng, độc lập. Việc tách ra phân tích độc lập chỉ thực hiện dưới góc độ lý luận. Định tội danh đúng có nghĩa là tuân thủ chính xác các quy định của đạo luật hình sự, áp dụng điều luật, khoản và điểm của điều luật hoặc tổng hợp các điều luật bao quát được hành vi phạm tội đã thực hiện. Khi định tội danh cần phải viện dẫn đến điều luật ở phần các tội phạm của BLHS. Nếu điều luật đó có nhiều khoản, điểm, thì phải xác định hành vi phạm tội cần áp dụng chính xác tại khoản, điểm nào. Trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt hoặc đồng phạm, ngoài việc nêu điểm, khoản, điều luật quy định phạm tội tương ứng ở phần các tội phạm, còn phải viện dẫn cả các điều về chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 17, 18 BLHS) hoặc đồng phạm (Điều 20 BLHS).
Để đảm bảo thực hiện nguyên tắc pháp chế và nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự, trước hết việc định tội danh phải đầy đủ những hành vi phạm tội đã thực hiện. Tính đầy đủ của việc định tội danh thể hiện ở chỗ trong thực tiễn có bao nhiêu hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện do các điều luật của BLHS quy định là tội phạm, thì phải được định bấy nhiêu tội danh. Đòi hỏi này không cho phép áp dụng nguyên tắc thu hút hành vi tội phạm này vào hành vi phạm tội khác trong việc định tội, hoặc coi hành vi phạm tội này là tình tiết tăng nặng của tội phạm kia. Luật Hình sự đặc biệt nghiêm cấm làm oan sai người vô tội nhưng cũng không cho phép có hành vi cố ý bỏ lọt tội phạm.
Bản chất của việc định tội danh là tìm kiếm sự đồng nhất, sự phù hợp của các dấu hiệu của hành vi nguy hiểm cụ thể cho xã hội đã được thực hiện với các dấu hiệu tương ứng của tội phạm loại đó được quy định trong QPPL hình sự. Và CTTP là cơ sở pháp lý của việc định tội. QPPL hình sự quy định về tội phạm và các tình tiết thực tế của vụ án là hai nhóm hiện tượng được hợp nhất, thống nhất lại quá trình định tội danh. CTTP cụ thể là tổng hợp những dấu hiệu cơ bản được quy định trong luật, đặc trưng cho từng tội nhất định đó và do đó là cơ sở pháp lý của việc định tội danh. Vì vậy, để định đúng tội danh thì đòi hỏi cán bộ điều tra, kiểm sát viên và đặc biệt là thẩm phán, hội thẩm nhân dân phải nắm vững nội dung của CTTP và các dấu hiệu của nó. Để hiểu đúng, chính xác nội dung của CTTP cần dựa vào hệ thống các QPPL hình sự; đến việc giải thích chính thức, khoa học về pháp luật hình sự.
Ba là, xác định mối quan hệ giữa giữa các dấu hiệu thực tế và các dấu hiệu được quy định trong luật
Có thể nói việc định tội danh là một nghiệp vụ pháp lý phức tạp, một dạng hoạt động nhận thức của người tiến hành định tội danh và hoạt động đó phải tuân thủ các giai đoạn của nó. Trong hoạt động thực tế, cán bộ tư pháp thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng phải tiến hành hai mặt của quá trình định tội danh. Trước hết, đó là các hoạt động thu thập, kiểm tra, đánh giá các chứng cứ xác định các tình tiết thực tế của vụ án, mặt khác, tiến hành tìm hiểu và phân tích các QPPL hình sự để nhận thức đúng đắn nội dung của nó. Bằng cách đó tạo ra các tiền đề cho việc thực hiện trực tiếp quá trình định tội danh. Quá trình đó được tiến hành bằng cách đối chiếu, so sánh các tình tiết thực tế của vụ án đã được xác định với các dấu hiệu được chỉ trong QPPL hình sự quy định về CTTP.
Quá trình định tội danh được chia thành ba giai đoạn cơ bản sau:
(i) Giai đoạn đầu tiên là làm sáng tỏ những dấu hiệu chung nhất, dấu hiệu đặc trưng của hành vi. Ở giai đoạn này người tiến hành hoạt động ADPL hình sự giải quyết vấn đề hành vi cụ thể đang được xem xét có dấu hiệu của tội phạm hay không, hay là hành vi đó là hành vi vi phạm pháp luật hành chính hay dân sự.
Sự phân biệt tội phạm với các hành vi không phải là tội phạm được căn cứ vào các dấu hiệu của tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác là mức độ của tính chất nguy hiểm cho xã hội của các loại vi phạm pháp luật đó, bởi vì tính nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu vật chất của mọi sự vi phạm, còn mức độ là đặc tính khách quan tương ứng với từng loại vi phạm pháp luật.
Tội phạm là những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội ở mức đáng kể. Ranh giới giữa “nguy hiểm không đáng kể” và “nguy hiểm đáng kể” là ranh giới cần được xác định khi xây dựng cũng như khi giải thích và áp dụng pháp luật hình sự. Căn cứ vào ranh giới này nhà làm luật xác định những hành vi bị coi là tội phạm và quy định trong BLHS. Việc áp dụng pháp luật hình sự nhiều khi cũng đòi hỏi người áp dụng phải xác định ranh giới giữa tội phạm và hành vi vi phạm pháp luật khác, vì không phải tất cả các điều luật cần giải thích đều đã được giải thích và sự giải thích đó nhiều khi cũng chỉ có tính tương đối. Trong những trường hợp này, người ADPL phải tự đánh giá tính nguy hiểm của hành vi tuy đã được quy định trong pháp luật hình sự, xem xét hành vi đó có tính chất nguy hiểm đáng kể hay chưa. Khi đánh giá tính nguy hiểm cho xã hội có thể dựa vào các căn cứ sau: Tính chất của phương pháp, thủ đoạn, công cụ, phương tiện thực hiện phạm tội; tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi gây ra; tính chất của động cơ; mức độ lỗi và nhân thân người phạm tội.
(ii) Giai đoạn thứ hai là giai đoạn người tiến hành định tội danh làm sáng tỏ các dấu hiệu của hành vi phạm, tức là làm sáng tỏ hành vi đó thuộc loại tội phạm nào và được quy định ở Chương nào của BLHS.
(iii) Giai đoạn thứ ba là làm sáng tỏ và so sánh các dấu hiệu của tội phạm, chỉ rõ CTTP về tội cụ thể nào được áp dụng: Cấu thành cơ bản, cấu thành tăng nặng hay cấu thành giảm nhẹ trong giới hạn của một điều luật nào đó đã được lựa chọn.
Một vấn đề cần chú ý là, quá trình định tội danh phải trải qua ba giai đoạn trên, trong đó có thể cả ba giai đoạn được thực hiện độc lập, cũng có thể được thực hiện một cách đồng thời với nhau không phân chia được trong hoạt động nhận thức của người định tội danh. Trong thực tiễn có không ít trường hợp chỉ đến khi tìm được các cấu thành cụ thể để xác định tội phạm mới có thể xác định được rằng bị can (bị cáo) không phạm tội chứ không phải ở trong giai đoạn đầu. Do đó, người điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, tội thẩm nhân dân phải bao quát đầy đủ, chính xác khách quan các loại yếu tố, như xác định đầy đủ, chính xác các tình tiết thực tế của vụ án; nhận thức đúng nội dung của QPPL hình sự liên quan đến tội phạm đã thực hiện và nhận thức đầy đủ đúng đắn về mối liên hệ giữa các tình tiết thực tế của hành vi và các dấu hiệu của CTTP được quy định trong QPPL hình sự. Hoạt động định tội danh của các cơ quan và người tiến hành tố tụng phải chú ý xem xét, đánh giá tất cả các tình tiết liên quan đến khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của hành vi phạm tội trong thực tế và so sánh với các dấu hiệu đó được quy định trong QPPL hình sự.
Tóm lại, định tội danh là một hoạt động nhận thức, hoạt động áp dụng pháp luật hình sự nhằm đi tới chân lý khách quan trên cơ sở xác định đúng đắn, đầy đủ các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội được thực hiện, nhận thức đúng nội dung quy phạm pháp luật hình sự quy định cấu thành tội phạm tương ứng và mối liên hệ tương đồng giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm với các tình tiết cụ thể của hành vi phạm tội bằng các phương pháp và thông qua các giai đoạn nhất định [39].
F:\DỮ LIỆU MỚI CẦN ĐỔI TÊN VÀ ĐĂNG 2025\ĐÃ HOÀN THÀNH 2024\LUẬN VĂN THẠC SĨ CÁC ĐẠI HỌC KHÁC\KHO SỐ 1\CÁC TỘI XÂM HẠI TÌNH DỤC TRẺ EM TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI\CHUYỂN VÙNG/ LUAN VAN
Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam Các tội xâm hại tình dục theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam


