Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Hiệu quả là vấn đề cơ bản trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh của một hình thái kinh tế xã hội. Các chủ thể tham gia vào nền kinh tế khi tiến hành sản xuất kinh doanh phải đặt mục tiêu hiệu quả lên hàng đầu cùng với nâng cao năng suất và chất lượng. Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp ngành chế biến thực phẩm đã có cơ hội cạnh tranh bình đẳng. Bên cạnh đó, với sự thay đổi to lớn về môi trường kinh doanh có thể đồng thời tạo ra những thách thức rất lớn đối với việc phát triển trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay.
Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm Việt Nam vẫn đang trên đà phát triển, tuy vậy mức tăng của sản lượng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường. Số liệu thống kê cho thấy, lượng tiêu thụ thực phẩm hàng năm của Việt Nam ước tính chiếm khoảng 15% GDP và đã tăng 18% trong năm 2015. Trong khi đó, sản xuất chế biến thực phẩm chỉ tăng 8,5%, sản xuất đồ uống chỉ tăng 7,4% trong năm 2015.
Trong vòng 20 năm tới, với tốc độ tăng trưởng kinh tế khả thi ở mức 5%/năm, có thể đến 6%, nhu cầu tiêu dùng tăng cao, cùng việc phát triển các khu vực đô thị hóa và gia tăng thị trường bán lẻ tại Việt Nam sẽ khiến người dân quan tâm và có nhu cầu ngày càng cao đối với các sản phẩm thực phẩm chế biến có chất lượng cao.
Như vậy, việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh, phát huy được hết những khả năng của mình, đóng góp nhiều hơn vào sự phát triển chung của đất nước.
Xuất phát từ tầm quan trọng cũng như tính cấp bách của vấn đề hiệu quả hoạt động kinh doanh và sự cần thiết phải tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm, tác giả đã lựa chọn đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu.
– Xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
– Từ kết quả kiểm định của mô hình rút ra kết luận về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, qua đó đề xuất các kiến nghị.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu:
Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu:
+ Các doanh nghiệp trong ngành chế biến sản xuất thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016.
+ Đề tài này nghiên cứu các doanh nghiệp trong ngành chế biến sản xuất thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, không so sánh ngành này với các ngành khác.
– Nguôn dữ liệu: báo cáo tài chính đã được kiểm toán từ năm 2014 đến năm 2016 của 39 doanh nghiệp chế biến sản xuất thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Số liệu được thu thập từ website cafef.vn.
– Phương pháp thực hiện: trong nghiên cứu này tác giả sử dụng phương pháp định lượng, sử dụng công cụ kinh tế lượng hồi quy để thực hiện ước lượng, kiểm định mô hình và từ đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đề tài gồm có 4 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các nhân tố ảnh hưởng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu
Chương 3: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 4: Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trên cơ sở so sánh lợi ích thu được với chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất kinh doanh, hơn nữa, nó còn phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực nhằm thực hiện được mục tiêu kinh doanh.
1.1.2. Bản chất hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
1.1.3. Vai trò của hiệu quả hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp
– Hiệu quả sản xuất kinh doanh là công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị doanh nghiệp thực hiện nhiệm vụ quản trị.
– Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận cũng như các mục tiêu khác.
– Hiệu quả kinh doanh thúc đẩy sự cạnh tranh và tiến bộ
1.1.4. Phân loại hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
a) Căn cứ theo đối tượng cần đánh giá hiệu quả
- Hiệu quả kinh tế cá biệt
- Hiệu quả kinh tế – xã hội.
b) Căn cứ vào chỉ tiêu phản ánh hiệu quả
- Hiệu quả tuyệt đối
- Hiệu quả tương đối hay hiệu quả so sánh
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
- Cơ cấu vốn
- Quy mô của doanh nghiệp
- Tỷ trọng tài sản cố định
- Vòng quay tài sản
- Quản trị nợ phải thu khách hàng
- Nhân tố môi trường quốc tế và khu vực
- Nhân tố môi trường kinh tế quốc dân
- Môi trường ngành:
CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ÁNH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.3.1. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh mang tính cá biệt
- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
- Hiệu quả sử dụng lao động
- Số vòng quay tài sản cố định
1.3.2. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh mang tính tổng hợp
- Tỷ suất sinh lời trên doanh thu
- Tỷ suất sinh lời trên tài sản
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
Chương 1 tác giả đã trình bày lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chương tiếp theo tác giả sẽ khái quát về ngành nghiên cứu là ngành sản xuất, chế biến thực phẩm và trình bày thực trang hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết của ngành trong giai đoạn nghiên cứu.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN NGHIÊN CỨU
2.1. TỔNG QUAN NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM
Theo Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Chính phủ về việc ban hành hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và Quyết định số 377/QĐ-BKH ngày 10/04/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành quy định nội dung hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam
Công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm ở Việt Nam gồm 8 nhóm phân ngành chính (ngành cấp 3) là:
– Chế biến, bảo quản thịt và sản phẩm từ thịt
– Chế biến, bảo quản thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản
– Chế biến và bảo quản rau quả
– Sản xuất dầu, mỡ động, thực vật
– Chế biến sữa và các sản phẩm từ sữa
– Xay xát và sản xuất bột
– Sản xuất thực phẩm khác
– Sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản
Khác với nhiều ngành công nghiệp khác, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm có một số đặc điểm chính như sau:
Sản phẩm của công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm ngày càng được nhiều người sử dụng và sự phát triển của ngành chịu sự tác động mạnh của tiêu dùng
Tính đồng bộ liên ngành trong phát triển công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm được thể hiện rất rõ, đặc biệt là sự gắn bó giữa các cơ sở chế biến công nghiệp với sự phát triển nông nghiệp.
Đầu tư vào ngành nông nghiệp cũng như ngành công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm đều phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, độ rủi ro cao. Do ảnh hưởng của tính thời vụ nên thời gian hoạt động trong năm của các cơ sở chế biến thường ngắn hoặc không ổn định.
2.1.4. Vai trò của ngành công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm
Ngành công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm cung cấp các nhu cầu thiết yếu về ăn, uống của công người.
Giúp chế biến, bảo quản các sản phẩm từ nông nghiệp tốt hơn.
Ngoài ra, công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm còn tạo ra nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị.
2.2. THỊ TRƯỜNG TIÊU THỤ CỦA NGÀNH
Mức tiêu thụ sản phẩm, quy mô sản xuất, cơ cấu sản phẩm tiêu dùng lại chịu ảnh hưởng của các yếu tố như: sự phân bố dân cư, thu nhập bình quân của người tiêu dùng.
2.3. THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
2.3.1. Một vài nét về tình hình ngành công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm Việt Nam hiện nay
Công nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm là phân ngành cấp 2 trong hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam. Nó gồm 8 nhóm phân ngành chính (ngành cấp 3).
2.3.2. Thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sản xuất chế biến thực phẩm trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 2 tác giả đã trình bày tổng quan về ngành sản xuất chế biến thực phẩm của Việt Nam và thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp niêm yết trong ngành giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016. Qua đó làm cơ sở để xây dựng các giả thiết nghiên cứu trong chương tiếp theo. Chương 3 tác giả sẽ phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngành, gồm thiết kế nghiên cứu và trình bày các kết quả nghiên cứu.
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM NIÊM YẾT
TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
3.1. ĐO LƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Hai chỉ tiêu ROA và ROE đã khắc phục được nhược điểm rất lớn của các chỉ tiêu khác trong việc so sánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp cùng ngành có quy mô, đặc điểm khác nhau. Vì vậy, chỉ tiêu mà tác giả lựa chọn sử dụng trong nghiên cứu để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2014-2016 là ROA, ROE.
3.2.1. Các giả thiết về mối quan hệ của các nhân tố ảnh hưởng và hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm trên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh và tỷ lệ nợ (cơ cấu vốn)
Giả thiết 1: Tỷ lệ nợ có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh khi ở mức tỷ lệ nợ thấp.
Giả thiết 2: Tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều (-) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh khi ở mức tỷ lệ nợ cao.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh và quy mô của doanh nghiệp
Giả thiết 3: Quy mô của doanh nghiệp có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh và tỷ trọng tài sản cố định
Giả thiết 4: Tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh và vòng quay tài sản
Giả thiết 5: Vòng quay tài sản có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
- Hiệu quả hoạt động kinh doanh và vòng quay khoản phải thu
Giả thiết 6: Vòng quay khoản phải thu có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Tổng nợ trên tài sản
Quy mô của doanh nghiệp
Tỷ trọng tài sản cố định
Vòng quay tài sản
HIỆU QUẢ HĐKD DOANH NGHIỆP (ROA, ROE)
Vòng quay khoản phải thu
(+/-)
(+)
(+)
(+)
(+)
3.2.3. Mô tả các biến trong mô hình
Các biến sử dụng trong mô hình được mô tả chi tiết trong bảng sau:
| Loại biến | Ký hiệu | Tên biến | Cách tính | Quan hệ với biến phụ thuộc |
|---|---|---|---|---|
| Biến phụ thuộc | ROA | Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản | = Lợi nhuận sau thế/Tổng tài sản bình quân | |
| Biến phụ thuộc | ROE | Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu | = Lợi nhuận sau thế/Vốn chủ sở hữu bình quân | |
| Biến độc lập | NTA | Tỷ lệ nợ/Tổng tài sản | = Tổng nợ/Tổng tài sản | NTA thấp: + NTA cao: – |
| Biến độc lập | SIZE | Quy mô của doanh nghiệp | = Logarit tự nhiên của Tổng tài sản cuối kỳ | + |
| Biến độc lập | TTA | Tỷ trọng tài sản cố định | = Tài sản cố định/Tổng tài sản | + |
| Biến độc lập | VTA | Vòng quay tài sản | = Doanh thu thuần/Tồng tài sản bình quân | + |
| Biến độc lập | VPT | Vòng quay khoản phải thu | = Doanh thu thuần/Phải thu bình quân | + |
Trong nghiên cứu này, dữ liệu được tác giả lựa chọn và thu thập như sau:
– Nguồn dữ liệu: Từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán, cụ thể là bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Số liệu được thu thập từ website Cafef.vn, finance.vietstock.vn
– Thời gian: từ năm 2014 đến năm 2016
– Danh sách 39 doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Như vậy, nghiên cứu sẽ có 117 quan sát.
3.2.5. Phương pháp ước lượng và kiểm định mô hình nghiên cứu
Với đặc thù nghiên cứu dữ liệu theo thời gian (2014-2016) và theo không gian (các doanh nghiệp khác nhau), vì vậy tác giả sử dụng phương pháp hồi quy với dữ liệu bảng (panel data). Dữ liệu bảng là dữ liệu kết xuất giữa chuỗi thời gian và các quan sát chéo. Ước lượng nghiên cứu này được xử lý bằng phần mềm Eview8.
Mô hình dữ liệu bảng có dạng tổng quát:
Yit = m + β0*X1it + β1*X2it + …. + βn*Xnit + ut
Trong đó: i là đơn vị chéo thứ i và t là thời gian thứ t
Y: Biến phụ thuộc
X: Biến độc lập
Đối với dữ liệu bảng có 3 mô hình có thể sử dụng tùy vào đặc điểm các phạm vi nghiên cứu, bao gồm:
Mô hình Pooled OLS
Mô hình Fixed effect
Mô hình Random effect
Việc lựa chọn mô hình sẽ sử dụng kiểm định Hausman giữa mô hình Fixed effect và Random effect, với giả thiết:
Ho: Không có sự tương quan giữa các biến giải thích và thành phần ngẫu nhiên, mô hình Random effect là phù hợp
H1: Có sự tương quan giữa các biến giải thích và thành phần ngẫu nhiên, mô hình Random effect là phù hợp
Mô hình nghiên cứu của tác giả như sau:
ROA = c + β0*NTA + β1*SIZE + β2*TTA + β3*VTA + β4VPT
ROE = c + β0*NTA + β1*SIZE + β2*TTA + β3*VTG + β4VPT
3.3.1. Mô tả thống kê các biến
Kết quả thống kê các biến được trình bày chi tiết trong bảng sau:
Bảng 3.2. Mô tả thống kê các biến
| ROA | ROE | NTA | TTA | VPT | VTA | SIZE | |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Mean | 0.072043 | 0.123789 | 0.464708 | 0.217599 | 9.150955 | 1.571177 | 13.58176 |
| Median | 0.047636 | 0.109066 | 0.483733 | 0.198370 | 5.914556 | 1.293495 | 13.38361 |
| Maximum | 0.721875 | 0.912327 | 0.966925 | 0.943957 | 44.13901 | 5.758957 | 17.19578 |
| Minimum | -0.092859 | -0.953236 | 0.021701 | 0.018196 | 0.888253 | 0.287518 | 11.28222 |
| Std. Dev. | 0.096515 | 0.173553 | 0.215947 | 0.135767 | 8.940849 | 0.991330 | 1.422472 |
| Skewness | 3.207110 | -0.848703 | 0.129746 | 1.815479 | 1.992464 | 1.750529 | 0.563325 |
| Kurtosis | 19.85707 | 17.84442 | 2.278096 | 9.129617 | 6.875400 | 7.027071 | 2.510523 |
| Jarque-Bera | 1585.853 | 1088.285 | 2.868848 | 247.4358 | 150.6296 | 138.8142 | 7.356036 |
| Probability | 0.000000 | 0.000000 | 0.238253 | 0.000000 | 0.000000 | 0.000000 | 0.025273 |
| Sum | 8.429085 | 14.48334 | 54.37083 | 25.45904 | 1070.662 | 183.8278 | 1589.066 |
| Sum Sq. Dev. | 1.080549 | 3.494012 | 5.409453 | 2.138197 | 9272.900 | 113.9973 | 234.7176 |
| Observations | 117 | 117 | 117 | 117 | 117 | 117 | 117 |
3.3.2. Mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình
Kết quả mô tả hệ số tương quan giữa các biến được trình bày trong bảng sau:
Bảng 3.3. Mô tả hệ số tương quan
| ROA | ROE | NTA | SIZE | TTA | VPT | VTA | |
| ROA | 1.00000 | 0.78250 | (0.37617) | 0.11704 | 0.12664 | 0.09450 | 0.23697 |
| ROE | 0.78250 | 1.00000 | (0.16407) | 0.08938 | 0.14667 | 0.11830 | 0.21940 |
| NTA | (0.37617) | (0.16407) | 1.00000 | 0.25604 | 0.02628 | 0.05224 | (0.08343) |
| SIZE | 0.11704 | 0.08938 | 0.25604 | 1.00000 | (0.06841) | (0.18372) | (0.38968) |
| TTA | 0.12664 | 0.14667 | 0.02628 | (0.06841) | 1.00000 | 0.06776 | 0.14079 |
| VPT | 0.09450 | 0.11830 | 0.05224 | (0.18372) | 0.06776 | 1.00000 | 0.75908 |
| VTA | 0.23697 | 0.21940 | (0.08343) | (0.38968) | 0.14079 | 0.75908 | 1.00000 |
Ma trận hệ số tương quan cho thấy các vấn đề sau:
Do 02 biến VPT (Vòng quay khoản phải thu) và VTA (Vòng quay tài sản) có hệ số tương quan bằng 0,76; để tránh hiện tượng đa cộng tuyến, tác giả loại biến VTA ra khỏi mô hình, đảm bảo mô hình hồi quy phù hợp hơn.
Biến phụ thuộc ROA và ROE có tương quan thấp đối với các biến độc lập trong mô hình, hệ số tương quan với biến độc lập của 02 biến phụ thuộc dao động từ 0,09 – 0,24.
Qua kết quả mô tả hệ số tương quan, tác giả xây dựng lại mô hình nghiên cứu như sau:
ROA = c + β0*NTA + β1*SIZE + β2*TTA + β3*VPT
ROE = c + β0*NTA + β1*SIZE + β2*TTA + β3*VPT

3.3.3. Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu
a. Phân tích hồi quy cho ROA
Mô hình lựa chọn là:
ROA = –0,123259 – 0,204866*NTA + 0,018564*SIZE + 0,104249*TTA + 0,001714*VPT
b. Phân tích hồi quy cho ROE
Mô hình lựa chọn là:
ROE = –0,170326 – 0,179735*NTA + 0,022626*SIZE + 0,197918*TTA + 0,002981*VPT
3.4. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG CỦA MÔ HÌNH
Sau khi tiến hành ước lượng mô hình xem xét các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp tác giả nhận định như sau:
Tỷ lệ nợ tác động ngược chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thông qua chỉ tiêu ROA và ROE. Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Onaolapo & Kajola 2010 [5] và tác giả cũng chấp nhận giả thiết này.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) tác động cùng chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thông qua chỉ tiêu ROA và ROE. Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Weixu thực hiện năm 2005 [7] và nghiên cứu của hai tác giả Zeitun & Tian [8] vào năm 2007 cũng đưa ra những kết luận tương tự. Tác giả chấp nhận giả thiết 3: Quy mô của doanh nghiệp có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh được chấp nhận đối với các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Đối với biến tỷ trọng tài sản cố định (TTA), kết quả nghiên cứu cho thấy biến này có tác động cùng chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thông qua chỉ tiêu ROA và ROE. Vì vậy, tác giả chấp nhận giả thiết 4: Tỷ trọng tài sản cố định trên tổng tài sản có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Biến vòng quay khoản phải thu (VPT) theo kết quả nghiên cứu có tác động cùng chiều tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán thông qua chỉ tiêu ROA và ROE. Tác chấp nhận giả thiết 6: Vòng quay khoản phải thu có tác động cùng chiều (+) đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Chương 3 tác giả đã trình bày các kết quả nghiên cứu, gồm: kết quả mô tả thống kê, kết quả mô tả sự tương quan, xây dựng mô hình hồi quy, đồng thời tác giả đã có các kiểm định cần thiết. Từ đó, tác giả đã giải thích chi tiết về kết quả nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu này cũng là cơ sở để đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện cấu trúc vốn và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các kiến nghị được trình bày cụ thể ở Chương 4.
ĐỀ XUẤT CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Kết quả nghiên cứu ở Chương 3 cho thấy trong các biến nghiên cứu thì biến tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và các biến còn lại là quy mô doanh nghiệp, tỷ trọng tài sản cố định và vòng quay khoản phải thu có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất một số kiến nghị đối với các doanh nghiệp như sau:
4.1. PHÁT TRIỂN CÁC KÊNH HUY ĐỘNG KHÁC
Huy động vốn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu: Việc chào bán cổ phiếu giúp công ty tăng vốn nhanh chóng và công ty có thể vốn này để đem đi đầu tư và cải tiến sản phẩm hoặc trả giảm nợ trong kinh doanh, điều này giúp giảm tỷ lệ nợ trong tổng tài sản, vì tỷ lệ nợ tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh nên việc giảm tỷ lệ nợ giúp hiệu quả hoạt động kinh doanh được cải thiện. Ngoài ra, không giống như những khoản vay, công ty khi phát hành cổ phiếu sẽ không phải trả khoản vốn thu về từ việc phát hành này.
Một hình thức huy động vốn từ nguồn khác đang được phổ biến hiện nay là: sáp nhập và mua lại (M&A), là hoạt động giành quyền kiểm soát doanh nghiệp thông qua hình thức sáp nhập hoặc mua lại giữa hai hay nhiều doanh nghiệp để sở hữu 1 phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đó. Doanh nghiệp sáp nhập sẽ sở hữu toàn bộ tài sản, những lợi ích cũng như quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Hai doanh nghiệp liên kết với nhau vì lợi ích chung. Như vậy, đối với các doanh nghiệp bị sáp nhập, bài toán về vấn đề tỷ lệ nợ được giải quyết nhanh chóng, hiệu quả hoạt động kinh doanh chung sẽ khả quan hơn. Thực tế, hiện này có nhiều doanh nghiệp mua lại các doanh nghiệp khác và quản lý tốt, mang lại hiệu quả kinh doanh cao hơn, điển hình là việc Tập đoàn SCG vào cuối năm 2012 mua lại 100% vốn cổ phần (tương đương 156 triệu đô la Mỹ) từ các cổ đông hiện tại của Công ty CP Vật liệu xây dựng Việt Nam (“VCM”) tại miền trung Việt Nam. Giá trị doanh nghiệp (EV) trong giao dịch này trị giá 440 triệu đô la Mỹ, bao gồm nợ ròng và chi phí đầu tư cải tiến hiệu quả đối với tài sản mua lại. Sau khi mua lại, Tập đoàn SCG với nguồn lực tài chính dồi dào đã thanh toán hầu hết các khoản nợ vay của Công ty CP Vật liệu xây dựng Việt Nam tại các Ngân hàng ở Việt Nam, tỷ lệ nợ được giảm ở mức thấp nhất. Điều này giúp doanh nghiệp sau khi được mua lại hoạt động hiệu quả hơn.
Huy động vốn từ việc vay các quỹ đầu tư: hiện nay nước ta có khá nhiều quỹ đầu tư. Các quỹ đầu tư với tiềm lực về tài chính, năng lực chuyên môn trong thu thập và phân tích thông tin sẽ là cầu nối không chỉ giúp doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn về nguồn vốn mà còn giảm sự yếu kém trong quản trị. Bằng cách tư vấn chiến lược, cải tiến quy trình sản xuất, kế toán tài chính, giới thiệu nhân sự chuyên nghiệp. Điều này cũng là chiến lược để các quỹ đầu tư quản lý nguồn vốn, giảm thiểu sự rủi ro và có tiếng nói nhất định trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, để thu hút được nguồn vốn từ các quỹ đầu tư, doanh nghiệp cần có đội ngũ quản lý chuyên nghiệp, có năng lực chuyên môn cao.
Việc huy động vốn từ các kênh nêu trên giúp doanh nghiệp gia tăng quy mô, có đủ tiềm lực tài chính để đầu tư thêm tài sản cố định hiện đại, tiên tiến đảm bảo đồng bộ với nhân lực cũng như trình độ quản lý tại doanh nghiệp.
4.2. NÂNG CAO NĂNG LỰC KINH DOANH VÀ ĐẨY MẠNH UY TÍN CỦA DOANH NGHIỆP
Vấn đề nâng cao năng lực kinh doanh là vấn đề hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam hiện tại đang tìm cách giải quyết, theo quan điểm của tác giả, việc nâng cao năng lực kinh trước tiên phải xuất phát từ Người đứng đầu của doanh nghiệp, người đứng đầu phải có tầm nhìn, mục tiêu dài hạn rõ ràng, cụ thể và tất cả các nguồn lực của doanh nghiệp phải tập trung phục vụ cho mục tiêu dài hạn đó. Khi đã xác định được mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, việc thực hiện mục tiêu đó cần những kế hoạch kinh doanh rõ ràng trong từng thời kỳ cụ thể. Có như vậy, doanh nghiệp sẽ chiếm được lòng tin của nhà đầu tư, việc huy động vốn từ các kênh khác sẽ dễ dàng và việc giảm tỷ lệ nợ để gia tăng hiệu quả hoạt động kinh doanh là điều có khả năng thực hiện được.
Để đẩy mạnh uy tín của doanh nghiệp, điều không thể thiếu là tạo dựng hình ảnh về năng lực của doanh nghiệp: năng lực thể hiện qua trình độ quản lý, kỹ năng hoạt động, năng lực tài chính tốt, không có nợ xấu hoặc chậm trả, có sự nhạy bén trong hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó là tính trung thực trong báo cáo tài chính có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là điều mà các nhà đầu tư cần nhất.
Ngoài ra, việc nâng cao nhận thức của nhà quản trị điều hành doanh nghiệp về tầm quan trọng của cấu trúc vốn đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần tăng cường đào tạo để nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực quản lý cho đội ngũ các nhà quản trị tài chính của doanh nghiệp, đồng thời cần chú trọng đổi mới công tác quản lý tài chính, kiểm tra thường xuyên các hoạt động sử dụng vốn, đảm bảo hiêu quả sử dụng vốn ngày càng được nâng cao.
4.3. MỞ RỘNG QUY MÔ, ĐẦU TƯ TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH BÁN HÀNG HỢP LÝ
Theo mô hình nghiên cứu của tác giả đã kết luận tại Chương 3, quy mô doanh nghiệp, tỷ trọng tài sản cố định và vòng quay khoản phải thu tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy, việc mở rộng quy mô, đầu tư tài sản cố định cũng như điều chỉnh chính sách bán hàng hợp lý để gia tăng vòng quay khoản phải thu sẽ giúp cho hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp được cải thiện hơn nữa.
Tăng vốn để gia tăng quy mô, đảm bảo khả năng tự chủ về năng lực tài chính giúp doanh nghiệp có điều kiện trong việc đầu tư thêm tài sản cố định hiện đại nhằm đổi mới, nâng cấp công nghệ. Từ đó, số lượng sản phẩm gia tăng và chất lượng sản phẩm được cải thiện.
Khi các yếu tố về chất lượng sản phẩm, về thương hiệu của các doanh nghiệp ở mức tương đồng, với một chính sách bán hàng hợp lý, doanh nghiệp có thể dễ dàng gia tăng được vòng quay khoản phải thu, tuy nhiên, để xây dựng được một chính sách bán hàng hợp lý, điều cần thiết nhất của các doanh nghiệp lúc này là đầu tư về chất lượng của công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu của thị trường, đây là yếu tố hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam chưa tập trung tối đa hoặc có nhưng ở mức một vài cá nhân lãnh đạo của doanh nghiệp dự đoán theo kinh nghiệm của bản thân. Việc nghiên cứu và dự báo được nhu cầu của thị trường giúp doanh nghiệp chủ động trong việc xây dựng chính sách tiêu thụ sản phẩm hợp lý.
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2016. Tác giả đã đi đến các kết luận:
Thứ nhất, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xây dựng mô hình từ các nhân tố chủ quan tác động đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam và mô hình này cũng tuân theo các mô hình đã nghiên cứu trên thế giới.
Thứ hai, nghiên cứu này chỉ ra rằng tỷ lệ nợ có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh và các yếu tố còn lại là quy mô doanh nghiệp, tỷ trọng tài sản cố định và vòng quay khoản phải thu có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện cơ cấu vốn của doanh nghiệp trong ngành theo chiều hướng giảm tỷ lệ nợ thông qua việc huy động các nguồn vốn từ các kênh khác như phát hành cổ phiếu, nguồn vốn từ các quỹ đầu tư và M&A. Đồng thời, có các đề xuất nhằm nâng cao năng lực kinh doanh và đẩy mạnh uy tín của doanh nghiệp, qua đó tăng khả năng tiếp cận nhiều nguồn vốn khác.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN NGOC VU\SAU BAO VE


