Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự
Mở đầu
1. Tínhcấpthiết của việc nghiên cứu đề tài
Thừa kế là một quan hệ pháp luật phổ biến trongđời sống xã hội. Trong giaiđoạn hiện nay, khi số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng đa dạng, phong phúthì vấn đề thừa kế di sản cũng nảy sinh nhiều dạng tranh chấp.Bộluật dânsựcủaCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 quy định các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhưng việc hiểu và áp dụng những quy định đó trong việc giải quyết phân chia di sản thừa kế theo di chúc trên thực tếcòn nhiều bất cập. Những khó khăn thườngđược thểhiện trong việc xác định phải có những điều kiện gì thì di chúc mới được coi là hợp pháp,điều kiện của người lập di chúc, ý chí của người lập di chúc, nội dung của di chúc và hình thức của di chúc. Trong thực tiễn thì các quy định của pháp luậtvề các điềukiện có hiệu
lực của di chúc còn có những cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc nhận định và quyết định không giống nhau của một số bản án giải quyết cùng một vụ án tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm làm rõ những quyđịnh của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quyđịnhcủa Bộluật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 là đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn. Qua nghiên cứu đề tài, tác giả cũng muốn xác định ý nghĩa của chế định về quyền thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng. Với việc nghiên cứu đề tài,tác giảmuốn hoàn thiện hơn nữa những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc, nhằm mục đích nâng cao hơn nữa hiệu quả điều chỉnh của những quy định này trong Bộ luật dân sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Nội dung của luận văn không nghiên cứu toàn diện những quy định của pháp luật về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêng, mà chỉ tập trung nghiên cứu vềcác điều kiện có hiệu lực của di chúc được quy định trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1995 và có sự đối chiếu với những quy định tương ứng trong Bộ luật dân sự của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2005 (có hiệu lực kể
từ ngày 1-1-2006). Qua đó, tác giả so sánh, đối chiếu với những quy định pháp luật trước khi Bộ luật dânsựđược ban hành để làm nổi bật tính hiệnđạicủa những quyđịnhvề cácđiều kiện có hiệulực củadi chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dânsựnăm 2005. Mặt khác, đề tài cũngcó sựso sánh (ở diện hẹp) về các điều kiện có hiệu lực của di chúc ở các nước như Nhật Bản, Cộng hòa Pháp với Việt Nam để làm nổi bật những nétđặc thù và tính hiện đại của pháp luật Việt Nam quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Trong quá trình nghiên cứu,mộtsố các quy định của pháp luật có liên quan đến nội dung của đề tài cũng được tìm hiểu như: Năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, giao dịch dân sự… theo pháp luật dânsựViệt Namđể có sựso sánh,đốichiếu, với mục đích làm nổi bật những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
– Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của pháp luậtở ViệtNam.
– Luận văntậptrung nghiên cứu có hệ thống và toàn diệntừng điềukiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005, hiệu quả điều chỉnh của những quy định pháp luật về các điều kiện đó. Luận văn tìm ra
những điểm phù hợp với đời sống xã hội và những điểm cần phải bổ sung các quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dânsự.
– Qua nghiên cứu, tác giả luận văn có những kiến nghị nhằm hoàn thiện một bước những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc, giúp các nhàlập pháp bổ sung những quy định còn thiếu về các điều kiện có hiệu lực của di chúc đểđáp ứngkịp thời những đòi hỏi của xã hội trong quan hệ thừakế nói chung và thừa kếtheo di chúc nói riêng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vềNhà nước và pháp luật, luận vănsửdụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.Bên cạnh đó,những phương pháp khoa học khác như: So sánh, phân tích, tổng hợp, thốngkê cũng được sửdụng để giải quyết những vấn đề mà đề tài đã đặt ra.
Một số vụ án giải quyết tranh chấp về các điều kiện có hiệu lực của di chúc cũng được sửdụng có chọn lọc để bình luận và các số liệu thống kê của ngành Tòa án nhân dân cũng được tham khảo để việc nghiên cứu được toàn diện và sâu sắc hơn.
6.Kếtquả đạt được và những điểm mới của luận văn
– Luận văn phân tích có hệ thống những quy định pháp luật về các điều kiện cóhiệu lực của di chúc. Qua nghiên cứu, luận văn chỉ ra những quy định phù hợp với quan hệ thừa kế theo di chúc và nhữngđiểmcòn bất cập về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995, những điểm cần hướng dẫn thực hiện theo Bộ luật dân sự năm 2005.
– Kết quả nghiên cứu đề tài, tác giả đã có những điểm mới sau đây:
+ Đây là đề tài khoa học được nghiên cứu lần đầu tiên ở nước taở cấpthạc sĩ luật học.
+ Luận văn hệ thống hóa được những quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc ở Việt Namtừnăm 1945 đến nay, làm cơ sở để nghiên cứu toàn diện và hệ
thống những quy định của pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúcđược quyđịnh trong Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉra những hạn chế, nhữngvấnđề còn thiếu củanhững quyđịnh pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 1995, phân tích những quy định về các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luậtdân sựnăm 2005, qua đó có những kiến nghị khoa học nhằm hoàn thiện những quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong Bộ luật dân sự năm 2005.
+ Luận văn chỉ rađược những bất cậptrong việc hiểu không đúng các quy định pháp luật về các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong việc áp dụng pháp luật, đồng thời có những kiến nghị để các cơ quan nhà nướccó thẩm quyền ban hành những văn bản hướngdẫn cần thiết.
7.Kết cấucủa luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 mục.
Khái quát chung về di chúc
1.1. Vài nét về thừa kế và quyền thừa kế
Ngay từ khi nhà nước và pháp luật chưa ra đời thì quan hệ thừa kế đã tồn tại nhưmột yếu tố khách quan. Thừa kế với ý nghĩa là một phạm trù kinh tế có mầmmống vàxuất hiện ngay trong thời kỳ sơ khai của xã hội loài người.Thừa kế và để lại thừa kế mặc dù chưa được điều chỉnh bằng các quy phạm pháp luật, nhưng nó vẫn tồntại mộtcách khách quan trong xã hội. ở thời kỳ này, quan hệ thừa kế dựa trên quan hệ huyết thống vàdo những phong tục tập quán riêng của từng bộ lạc,thị tộcquyết định.
Quan hệ thừa kế là một quan hệ pháp luật xuấthiện đồngthời với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người. Khi có tư hữu, nhà nước ra đời, quyền thừakế được pháp luật quy định,bảo vệ.Mỗinhà nước khác nhau cóhệ thống những quy phạm pháp luật về thừa kế khác nhau. Pháp luật thừa kế thể hiện rõ bản chất giai cấp. Quyền thừa kế với tư cách là một chế định pháp luật, luôn gắn liền với một nhànước nhất định.
Trong chế độ phong kiến và tư bản, giai cấp bóc lột chiếm hữu hầu hết tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Các quy định của pháp luật thừa kế phong kiến và tư bản đảm bảo sựchuyển dịch tài sản từ người bóc lột này sang người bóc lột khác. Qua việc chuyển dịch tài sản bằng hình thức thừa kế, giai cấp tư sản, giai cấp phong kiến duy trì sự thống trị cả về chính trị và kinh tế. Bằng công cụ pháp luật nói chung và pháp luật về thừa kếnói riêng, giai cấp bóc lột duy trì sự thống trị xã hội từthế hệ này sang thế hệ khác qua việc nắm giữ các tư liệu sản xuất,để từđó nắm giữthành quả lao động của xã hội. Có thểnhận thấy rằng, bản thân thừa kế không tạo ra quyền thống trị cho giai cấp bóc lột mà nóchỉ duy trì quyền lực đó mà thôi.
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sảnxuất thuộc về nhân dân lao động.Vìvậy, pháp luật thừa kế trước hết đảm bảo cho công dân yên tâm lao động, sản xuất, hưởng
thành quả lao động của mình và cóquyền đểlại thành quả lao động đó cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật khi người đó chết. Pháp luật về thừa kế trong chế độ xãhội chủ nghĩa đã động viên, khuyến khích được nhân dân trong việc tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội.
1.2. Di chúc và đặc điểm của di chúc 1.2.1. Di chúc
Theo quy địnhtại Điều649 Bộ luật dân sự năm 1995 và Điều 646 Bộ luật dânsựnăm 2005: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Di chúc chính là phương tiện để phản ánh ý chí của người cótài sản trong việc định đoạttài sảncủa họcho người kháchưởngsau khi người lậpdi chúc chết. Một người có thể có nhiều bản di chúc định đoạt một loại tài sản và những di chúc này đều thể hiện ý chí tự nguyện của họ, phù hợp với những quy định của pháp luật nhưng không phải tất cả các di chúc trên đều phát sinh hiệu lực mà di chúc có hiệu lực pháp luật là di chúc thể hiện ý chí sau cùng của người lập di chúc.
Di chúc thường được thể hiện thông qua một hình thức nhất định. Theo quy định
tại Điều 652 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 649 Bộ luật dân sự năm 2005), di chúc được thể hiện dưới hai hình thức: Di chúc bằng vănbảnvà di chúc miệng. Pháp luật chỉ cho phép người lập di chúc miệng trong những trường hợp đặc biệt theo quy định tại Điều 654 Bộluật dân sựnăm 1995 (Điều 651 Bộ luật dânsựnăm 2005).Về chữviết trong di chúc cũng được pháp luật quy định: Đối với người dân tộc thiểusố cóquyền lập di chúc bằng chữ viết hoặc tiếng nói của dân tộc mình.
Với những quy định trên, pháp luật dân sự nước ta đã có những quy địnhcụ thểvề di chúc. Cùng chung sống trên đất nước ta gồm có nhiều dân tộc, nên pháp luật dân sự
cũngđã tính đến yếu tố lịch sử,nhận thức…tạo điều kiện cho mọi cá nhân thực hiện quyền lập di chúc,nếucá nhân đó có năng lực lập di chúc theo luật định.
Đối với di chúc bằng văn bản, pháp luật quy định có 4 loại di chúc bằng văn bản:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có chứng thực của công chứng nhà nước hoặc chứng thực
của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và di chúc bằng văn bản có giá trị như di chúcđược chứngnhận, chứng thực.
Quyền của người lập di chúc được phápluật quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 1995, bao gồm những quyền sau:
– Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; – Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
– Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng; – Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản;
– Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Trongthực tếthì không phảibất cứngười lập di chúc nào cũng thực hiện đúng các quyền được ghi nhận trên, hoặc làsửdụng một phần, hoặc lại sử dụng quá cả phần quyềnđược pháp luật quy định. Về thực hiện quyền phân định di sản thì người lập di chúc cũng có sự phân định disảnkhác nhau: Có di chúc chỉ phânđịnhmột phần disảncho người thừa kế, còn một phần di sản di chúc không nhắc đến. Trên thực tế cũng có những di chúc định đoạtcả phần tài sảncủangườikhác (thường làđịnhđoạttoànbộtàisảnchungvợchồng). Trong trường hợp này, di chúc chỉ có hiệu lực một phần tương ứng với di sản của người
lập di chúc.
Theo quy định của Bộ luật dân sự Pháp thì di chúc có nhiều điểm tương tự nhưpháp luật dân sự nước ta,được thểhiện:
Điều 895 quy định: “Di chúc là một chứng thư theo đó người để lại di chúc định đoạt sau khi chết,mộtphần hoặc toànbộ tài sản củamình, người đó có thể hủybỏ di chúc” [5].
Điều 967 quy định: “Mọi người đều có thể định đoạt bằng di chúc để lập thừa kếhoặc để di tặnghoặc được gọi bằngbất cứtên nào khác để thể hiện ý chí của mình” [5].
Điều 969 quy định: “Di chúc có thể viết tay, lập công chứng thư hoặc di chúc bímật” [5].
Còn Bộ luật dân sựNhật Bản quy định di chúc tuy có nhữngđặc trưng riêng, nhưng về cơ bản các quy định cũng tương tự như Bộ luật dân sự của Cộng hòa Pháp.
Pháp luật dân sựcủa Cộng hòa Pháp và pháp luật dân sựNhật Bản còn có quyđịnh hình thức của di chúc bí mật. Bản chất của di chúc bí mật tương tự như di chúc được lập tại công chứng nhà nước ởnước ta, nhưng có thủ tục chặt chẽhơn (chúng tôi xin phân tích kỹ hơn ở phần hình thức của di chúc).

1.2.2.Đặc điểmcủa di chúc
Di chúc có những đặc điểm riêng biệt so với các giao dịch dânsựkhác ở những điểmsau:
Trước hết, di chúc chính là sự thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc.ýchí đơn phương nàyđược thểhiện qua việc người lập di chúc toàn quyền địnhđoạt tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho người khác sau khi chết. Người lập di chúc không phải bàn bạc với bất kỳ ai trong việc định đoạt tài sản thuộc quyền sởhữu của mình
(trường hợp lập di chúc chung vợ chồng thực chất thì vẫn là phần tài sản của ai thì ngườiđó có quyền định đoạt). Người lập di chúc không có nghĩa vụ phải trao đổi với những người thừa kế về nộidung di chúc.Người lậpdi chúc phải tự nguyện, không bị đe dọa, cưỡngép trong việc lập di chúc. Di chúc thể hiện ý chí của người lập di chúc, không bịsự chi phối nào của người khác. Bằng việc lập di chúc,người để lạidi sản đã xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế theo di chúc.
ý chí đơn phương của người lập di chúc còn được thể hiện việc người lập di chúc toàn quyền định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho bất kỳ ai và có quyền cho ai bao nhiêu phần trămsố tài sản thuộc quyền sởhữu của mình mà không phụ thuộc vào việc người được hưởngthừa kế theo di chúc có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡnghay thân thích với người lập di chúc.Người lậpdi chúc có thể cho người này nhiều, người kia ít, hoặc không cho người nào đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
Như vậy, nếu như trong tất cả các loại hợp đồng dân sự đều phải thể hiện ý chícủa các bên tham gia hợp đồng và các bên đều phải tự nguyện thỏa thuận, bàn bạc, trao đổi…, thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của bên lập di chúc. Hợp đồng dân sự chỉ phát sinh
hiệu lực khi các bên tham gia hợp đồngthống nhất được nhữngđiều khoản ghi nhận tronghợp đồngvà cùng nhau ký kết hợp đồng, còn trong di chúc thì không có sự thống nhất giữa người lậpdi chúc và người được thừa kế theo di chúc. Thực tế đã có nhiều trườnghợp người được hưởng thừa kế theo di chúc không thể biết mình có quyền được hưởngdi sản theo di chúc vì di chúc chưa được côngbố và được cất giữ bí mật.
Đối với nhữngdi chúc do vợ chồng lập chung, trong đó mặc dù thể hiện ý chí chung của hai người, nhưng thực chấtvẫn thểhiệnýchí đơn phươngcủatừng người trong việcđịnh đoạt tài sản chung (ý chí đơn phương của chồng và vợ trùng nhau trong việcđịnhđoạt tài sản chung vợ chồng). Mặt khác, di chúc chung của vợ chồng vẫn chỉ thể hiệnýchí của một bên – bên chuyển giao tài sản.
ý chí đơn phương này là đặcđiểmkhác biệt của di chúc với các loại giao dịch dân sự khác. Đây không phải chỉ riêng di chúc theo pháp luật dân sự Việt Nam mà pháp luật dân sự của hầu hết các nước thì vấn đề này cũng được quy định rõ như: Bộ luật dân
sự của Cộnghòa Pháp,Đức…
Đặc điểmthứhai: Di chúcthể hiện sự định đoạt tài sản củangười lập di chúc nhằm chuyển dịch tài sản cho người khác, sau khi người lập di chúc chết.
Nếu như các loại hợp đồng dân sự đều thể hiện ý chí thỏa thuận của các chủ thểnhằm chuyển dịch tài sản từ người này sang người khác thì di chúc lại nhằm chuyển dịch tài sản của người đã chết sang cho người còn sống. Người thừa kế theo di chúc phải còn sống vào thời điểmmở thừa kế.
Thực tế cho thấy không phải bất cứai trướckhi chết cũng lập di chúc, mà cóngười trước khi chết họ chỉ để lại những lời dặn dò, ví dụ: Dặn dò các con phải thương yêu nhau, phải cố gắng học tập, tránh xa các thói hư, tật xấu…
Với khái niệm về di chúc tại Điều 649 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 646 Bộ luật dân sự năm 2005) thì di chúc phải thể hiện việc chuyển dịch tài sản của người lập di chúc cho người khác sau khingười lậpdi chúc chết. Vì vậy,nếunhư một tài liệu nào đó của người chết để lạimà không hàm chứanộidung chuyển tài sảncho người khác, thì không thểđược coi là di chúc. Pháp luật cho phép công dân có quyền định đoạt tài sản, trong đó có
việc để lại di sản thừa kế theo di chúc, nhưng pháp luật cũng chỉ công nhận khi di chúc của công dânđó thỏa mãn nhữngđiềukiện nhất định.Trong thực tiễnđã có không ít những di chúc không tuân theo những quy định của pháp luật về hình thức và nội dung, dẫn tới di chúc không được công nhận hoặc chỉ được công nhận một phần.
Đặc điểm thứ ba: Di chúc là một loại giao dịch dân sựđặc biệt,chỉ có hiệu lực khi người lập di chúc chết.
Khoản 1 Điều 670 Bộ luật dân sựnăm 1995 (khoản 1 Điều 667 Bộ luật dân sựnăm 2005) quy định: “Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế” [6], [7].
Về thời điểmmở thừa kế,Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 quy định thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trong trường hợp Tòaán tuyên bốmộtngười là đã chết, thì thời điểm mở thừakế làngày được xác định theo quy định của pháp luật.
Đây là mộtđặc điểm thể hiện rõ nét sự khác biệt giữa di chúc với các loại giao dịch dân sựkhác, vídụ như hợp đồng dân sựcó hiệulựckể từthời điểm giao kếttrừtrường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác, còn thời điểm có hiệu
lực của di chúc lại phụ thuộc vào thời điểm mà người lập di chúc chết hoặc thời điểm mà quyết định của Tòa án tuyên bố người lập di chúc chết có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, việc xác định đúngthời điểmmở thừa kế (thời điểmngười lập di chúc chết) có ý nghĩa trong việc xác định thời điểmcó hiệu lực của di chúc. Mặt khác, xác định đúngthời điểmmở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định di chúc nào là di chúc có hiệu lực trong trường hợp một người có nhiều di chúc. Di chúc thể hiện ý chí đơn phương của người lập di chúc và người
lập di chúc có quyền thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúc hay hủy bỏ di chúc. Sự thay đổi hay hủy bỏ di chúc có thể được thể hiện dưới hình thức người đó lập di chúc mới ghi nhận về việc thay đổi hay hủy bỏ di chúc, nhưng cũng có thể bằng di chúc mới (mặc dù không nói rằng thay đổi hay hủy bỏ di chúc) người lập di chúcđịnh đoạt tàisản mà nội dung địnhđoạt khác với di chúc đã viết trước đó. Việc đánh giá hiệulực củadi chúc như vậy dựa theo quy định tại khoản 5 Điều 670 Bộ luật dân sựnăm 1995: “Khi
một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản, thì chỉ có bảndi chúc sau cùng mới có hiệu lực pháp luật” [6].
Tóm lại, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc dù có phù hợp với các quyđịnh của pháp luật về hình thức và nội dung, thì di chúc cũng chưa phát sinh hiệu lực. Do di chúc chưa phát sinh hiệu lực (khi người lập di chúc chưa chết) nên những người thừa kế theo di chúc chưa có bất kỳ một quyền nào đối với tài sản mà họ sẽ được hưởng. Quyền đối với tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc cho đến khi người lập di chúc chết.
1.3 Tiến trình phát triển của những quy định pháp luật về thừa kế nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng ở Việt Nam
1.3.1. Giai đoạn trước năm 1945
Dướichếđộphong kiến,đờisốngcủanhân dân ta vô cùngkhổcựcvìchếđộ sưu cao, thuế nặng. Người nông dân chiếmđại đa số trong xã hội, nhưng bị trói buộc bởi ruộng đất củađịa chủ, phong kiến. Giai cấpđịa chủ chiếm số ít trong xã hộinhưng lại nắm đa số các tư liệu sản xuất chủ yếu. Nhà nước phong kiến dùng pháp luật trong đó có pháp luật về thừa kế để duy trì và củngcố quyền sởhữu của giai cấpđịa chủđốivới ruộng đất từđời này sang đời khác.
Chế độ phong kiến đã tồn tại ở nước ta qua nhiều thế kỷ. Trải qua nhiều triều đại, mỗi Nhà nước phong kiến đều ban hành các văn bản pháp luật để củng cố quyền lực vàphục vụ việc quản lý đất nước.Từxa xưa, cácbộ cổ luật củacác triều đại phong kiến đãcó nhiều quyđịnh cụthể về thừa kế.Đáng chú ý của thời kỳ phong kiến là: Bộ luật Hồng Đức (năm 1943), Bộ luật Gia Long (năm 1815), Bộ Dân luật Bắc kỳ (năm 1931), Bộ Dân luật Trungkỳ (năm 1936). Ngoài các bộluật, các nhà nước phong kiến còn ban hành
nhiều văn bản như chiếu, chỉ,dụ,lệnh của vua…
Trong Bộ luật Hồng Đức hay còn gọi là Quốc triều hình luật hoặc Luật hình triều Lê có quy định tôn trọng ý muốn và quyền quyết định của người có tài sản.
Điều 388 Bộ luật Hồng Đức quy định:
Cha mẹ mất cả, có ruộng đất, chưa kịp để lại chúc thư, mà anh em chị emtựchia nhau, thì lấy một phần 20 số ruộngđất làm hương hỏa, giao cho người con trai trưởng giữ, còn thì chia nhau. Phần con của vợ lẽ, nàng hầu, thìphải kém. Nếu đã có lệnh của cha mẹ và chúc thư, thì phải theo đúng, trái thìmất phần mình.
Điều 390 Bộ luật Hồng Đức quy định: “Người làm cha mẹ phải liệu tuổi già mà
lập sẵn chúc thư…” [11].
Như vậy,Bộ luật HồngĐức đã quy định quyền lập chúc thưđể lại di sản,đặc biệt là những người tuổi cao.
Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư. Bộ luật Hồng Đức cũng quyđịnh về hình thức lập di chúc tại Điều 366: “Những người làm chúc thư, văn khế màkhông nhờ quan trưởng trong làng viết thay và chứng kiến, thì phải phạt 80 trượng, phạt tiền theo việc nặng nhẹ. Chúc thư văn khế ấy không có giá trị. Nếu biết chữ mà viết lấy thì được” [11].
Như vậy, người có tài sản có thể tự mình viết chúc thư. Nếu người để lại di sản không biết chữ thì chỉ được phép nhờ quan trưởng viết thay, không được nhờ người khác. Nếu nhờngười khác viết hộ di chúc mà không nhờ quan trưởng thì ngoài việc bị phạt, di chúc không có giá trị, di sản được chia theo pháp luật. Vấn đề hình thức lập di chúc trong thời kỳ này đã được coi trọng.
Bộ luật Gia Long (hay còn gọi là Hoàng Việt luật lệ) là phiên bản của Bộ luật Mãn Thanh (Trung Quốc).Bộ luật không thừa nhận quyền thừa kế của con gái mà chútrọng đến quyền lợi của con trai, thể hiện rõ việc trọng nam khinh nữ. Bộ luật cũng công nhận vai trò của việc thừa kế theo di chúc, thể hiện tại Điều 388 Bộ luật này quy định:
“Nếu có mệnh lệnh của cha mẹ, phải theo đúng. Vi phạm điều này sẽ mất phần” [9].
Bộ Dân luật Bắc kỳ được ban hành bằng một Nghị định của ThốngsứBắc kỳngày 30-3-1931.Bộ luật bao gồm1.464 điều,được chia làm 4 quyển. Quyển thứnhất bao gồm 12 thiên quyđịnh vềgia đình,chế độ hôn sản và thừakế,trong đó có 17điều luật quy định về thừa kế theo di chúc. Nội dung của bộ luật phản ánh được những phong
tục, tập quán của người Việt Nam như: Việc thờ cúng tổ tiên là tín ngưỡng truyền thống
và đặc trưng của người Việt Nam…
Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định người lập di chúc có quyền dành mộtphần di sảnđể thờcúng. Việc chăm sóc nuôi dưỡng nhau giữa những người trong cùng một gia đìnhđược coi là bổn phận củađạo đức.Bộluật quy định con cháu không được phân chia khối tài sản của gia đình khi cha mẹ còn sống nếu khôngđược sựđồng ý của họ.Con cháu của người chết buộc phải nhận di sản của người đó và thay họ thực hiện các nghĩa vụ về tài sản mà họ để lại… Bộ luật còn quy định cha mẹ phải có trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, phải đảmbảo cho cuộc sống lâu dài của con cái nên họ phải để lại tài sảncủa mình cho những người ở thế hệ sau khi họ chết. Điều 321 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định người vợkhông có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản riêng của mình nếu khôngđược người chồngđồngý. Người cha có thể lập chúc thưđể định đoạt tài sảncủa mình tùy theo ý mình, nhưng phải giữquyền lợi cho người vợchính. Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người trong những người được thừa kế.Việc truất quyền thừa kế phải lập thành văn bản do viên quản lý văn khế lập hoặc do lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư. Chúc thư phải làm thành văn bản hoặc do viên quản lý văn khế làm ra hoặc có công chứng thị thực. Chúc thư không có viên chức thị thực phải do người lập chúc thư viết lấy và ký tên. Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng. Người làm chứng thường là lý trưởng tại nơi trú quán của người lập chúc thư, nếu ở xa không về nơi trú quán được thì chúc thư ấy phải cósựchứng kiến của lý trưởng nơi hiện ở của người lập chúc thư (Điều 326 Dân luật Bắc kỳ). Chúc thư phải ghi rõ ngày, tháng năm lập chúc thư; tên, họ, tuổi, nơi trú quán của người làm chứng. Chúc thư khi đã làm xong thì lý trưởngđọc to cho mọi người cùng nghe rồi lý trưởng, người lập chúc thư, người viết hộ (nếu có) và những người làm chứng cùng ký tên vào văn bản. Có bao nhiêu người được thừa kế thì chúc thư được làm thành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người thừa kế một bản.
Khi người lập chúc thư muốn thay đổi một phần hay toàn bộ chúc thư, thì bản chúc thư sau phải tiến hành đúng những thủ tục trên và phải nêu rõ việc người lập chúc
thư thay đổi một phần hay toàn bộ bản chúc thư, nếu không nói rõ thì chỉ nhữngđiều khoản nào không hợp hoặc có trái với bản chúc thư sau mới bị bỏ mà thôi.
Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ quy định: Khi người vợchết trước, người chồng trở thành chủsởhữu duy nhất tấtcả củacải chung trong đó cócả phầncủavợ (tức là tài sản riêng của vợ). Còn nếu chồng chết thì ngườivợchỉ có quyền hưởng dụng tài sản riêngcủachồng khi không còn người thừa kế nào bên nội, bên ngoại của chồng (Điều 346). Nếu người vợ góa tái giá thì tài sản riêng của chồng phải trả lại nhà chồng, tài sản riêng của vợ được mang theo đi, còn tài sản của vợ chồng thì để lại cho con (Điều 360)
[14].
Bộ luật Trungkỳ hay còn gọi là Hoàng Việt TrungKỳ Hộ luật gồm1709 điều,được chia làm 5 quyển. Có thể nói,Bộ luật này hầu như sao chép lại nhiều điều khoản trongBộ luật Bắc kỳ,ví dụ: Điều 341 Bộ luật Trung kỳ giống Điều 346 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 359 Bộ Dân luật Trungkỳ giốngĐiều 360 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 111 BộDân luật Trung kỳ giống Điều 113 Bộ Dân luật Bắc kỳ; Điều 313 Bộ Dân luật Trung kỳgiống Điều 321 Bộ Dân luật Bắc kỳ… [15].
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1990
Với thắng lợi rực rỡcủa Cách mạng tháng Tám, Nhà nước Việt Nam dân chủcộng hòa ra đời, đánh dấu một trang sử mới của cách mạng nước ta. Ngay sau khi thành lập, nhà nước nontrẻ đã phải đối phó với rấtnhiều những khó khăn cả về chính trị, quân
sự,kinh tế,văn hóa xã hội… Để giữvững thành quả cách mạng, Nhà nước ta đãcó những chính sách vừa mềmdẻo, vừa cương quyết để tập trung quyền lực về tay Nhànước.Trong thời kỳ này,những vấn đề lớn đều được điều chỉnh bằngcác Sắc lệnh, còn những vấn đề thuộc về dân sự thì Nhà nước vẫn cho phép áp dụng các văn bản cũ, nếu nókhông trái nguyên tắc vi phạm đến độc lập của Nhà nước Việt Nam và chính thể dân chủcộng hòa (Sắc lệnhsố 90/SL ngày 10-9-1945). Trong quan hệvề thừa kế,Nhà nước ta vẫn cho phép áp dụng các quy định trong các Bộ Dân luật Bắc kỳ, Bộ Dân luật TrungKỳ.
Tuy nhiên, cùng với sựphát triển của xã hộithì nhữngđiều khoản của các Bộdân luật trở nên lạc hậu.Để xóa bỏ sự bấtbình đẳng giữa nam và nữ, nhằm mục đíchbảo
vệ lợi ích của nhân dân lao động… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắclệnh số 97/SL ngày 22-5-1950.Điều5củaSắclệnh quy định: “Chồng và vợcó địa vị bình đẳngtrong giađình”.Về thừa kế cũngđược Sắc lệnh quy định: Con cháu hoặc vợ chồng của người chết cũng không bắt buộc phải nhận thừakế củangười ấy. Khi nhận thừa kế thì các chủ nợ của người chết cũng không có quyền đòi nợ quá số di sản để lại (Điều 10). Trong lúc còn sinh thời người chồng góa hay vợ góa, các con đã thành niên có quyền xin chia phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết, sau khi đã thanh toán tài sản chung (Điều 11) [38].
Với những quy định này, tuy còn ởmức độ nhất định nhưng nó đã thể hiện sựtiến bộ vượt bậc của pháp luật nói chung và về thừa kế nói riêng so với Bộ dân luật Bắc kỳ và Bộ dân luật Trungkỳ.
Sự ra đời của Hiến pháp năm 1959 đã đánh dấu bước trưởng thành lớn của công tác lập pháp nước ta. Quyền thừa kế được Hiến pháp ghi nhận tại Điều 19: “Nhà nước chiểu theo pháp luật để bảo hộ quyền thừa kế về tài sản của công dân” [24]. Đây là một nguyên tắc Hiếnđịnh,là cơsởđểcác cơ quan nhà nước có thẩm quyền bảovệ quyền thừa kế cho công dân.
Ngày 29-12-1959 Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Luật Hôn nhân và gia đình, có hiệu lực thi hành từ 13-1-1960 (gọi là Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959). Với Luật hôn nhân và gia đình đầu tiên này đã phá bỏ chế độ gia đình phụ quyền của chế độ cũ,đảm bảo chế độ hôn nhân tựnguyện, tiến bộ,một vợ,một chồng.Vợchồng có quyền bình đẳng trong mọi quyền lợi, trong đó có quyền thừa kế tài sản của nhau; con cái trong và ngoài giá thú cũngđược đối xửbình đẳng… [31].
Để thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Tòa án nhân dân tối cao đãthường xuyên tổngkếtcông tác xét xử, ban hành nhiều thông tư,hướngdẫncho Tòa án các địa phương trong việc áp dụng thống nhất pháp luật.
Tại Hội nghị tổng kết công tác năm 1964 của ngành Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn việc xétxửcủa Tòa án cấp dưới trong việc xét xử các vụ án tranh chấp di sản thừa kế. Theo tổng kết này thì có ba hàng thừa kế sau:
– Hàng thừa kế thứ nhất: Vợ góa hay chồng góa; các con đẻ và con nuôi của người chết; bố mẹ mất sức lao động được người để lại di sản nuôi dưỡng.
– Hàng thừa kế thứ hai: Bố mẹ còn sức lao động.
– Hàng thừa kế thứ ba: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi.
Ngày 27-8-1968, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tưsố 594/NCPL hướngdẫn đường lối xét xửcác việc tranh chấp thừa kế. Thông tư đã nêu rõ các đặc điểm cơ bản (thực chất là các nguyên tắc) của chế độ thừa kế của nhà nước ta: Namnữbìnhđẳngvề quyền thừa kế,người thừa kế được hưởngcác quyền tài sản của người chết để lại và phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ tài sản do người chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản nhận được,tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản,đồng thời bảovệ thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật. Thông tư nói rõ: Di sảnthừakế bao gồm không những quyền sởhữucá nhânvề những tài sảnmàngười chết để lạimà còn gồm cả những quyền tài sảnvà nghĩa vụtài sản phát sinh do quan hệ hợp đồng hoặc do việc gây thiệt hại mà người chết để lại. Về thừa kế theo pháp luật, Thông tư đưa ra khái niệm diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật,thứtựhưởngdi sản căn cứ vào hàng thừa kế. Diện những người thừa kế theo pháp luật gồm: Vợgóa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, con đẻ và con nuôi,bố mẹ đẻ hoặc bố mẹnuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh chị em ruột. Như vậy, trong diện những người thừa kế theo pháp luật có thêm ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Những người trongdiện thừa kế được xếp làmhai hàng thừa kế:
Hàngthừa kế thứnhất: Vợ góa (vợ cả góa và vợ lẽ góa) hoặc chồng góa, các conđẻ và con nuôi,bố mẹ đẻ hoặc bố mẹ nuôi.
Hàngthừa kế thứhai: Anh chị em ruột và anh chị em nuôi, ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
Thông tư đã ghi nhận: Anh chị em cùng mẹ khác cha hoặc cùng cha khác mẹ cóquan hệ huyết thống với nhau không hoàn toàn nhưng trong nhiều gia đình họ đối xử với nhau thân mật không khác gì anh chị em cùng cha, cùngmẹ.Do đó,cầnxác định họ cóquyền thừa kế di sản của nhau.
Về thừa kế theo di chúc: Thông tư 594 xác nhận quyền tựdo định đoạt theo di chúc nhưng khôngđược trái với chính sách và pháp luật hiện hành, không trái với tinh thần đoàn kết, tương trợ trong gia đình và phải bảo đảm đời sống cho vợ hoặc chồng, con vị thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất sức lao độngvà cha mẹ già yếu, túng thiếu. Do đó, người lập di chúc khi định đoạt tài sản của mình phải giữ một phần tài sản cho những người nói trên. Phần di sản bắt buộc phải dành lại cho những người này nên tính tùy theo tình hình di sản và số người thừa kế cần được bảo vệ quyền lợi, nó không nên quá thấp so với phần di sản mà họ đáng lẽ được hưởng nếu không có di chúc. Trường hợp di chúc không dành phần bắt buộc thích đáng cho những người nói trên thì cần phảiđiều chỉnh lại. Phần di sản dư ra sau khi đã dành những phần bắt buộc, Tòa án vẫn chiếu theo di chúc để chia cho người thừa kế được chỉ định trong di chúc.
Thông tưsố 594 ngày 27-8-1968 của Tòa án nhân dân tối caođã xóabỏ quanđiểm của Dân luật cũ thời Pháp thuộc (Điều 321 Dân luật Bắc kỳ, Điều 313 Hoàng Việt Trungkỳ Hộ luật) về quyền tựdo tuyệt đối khi lập di chúc. Đây là vấn đề mới từ thực tiễn xét xử nênở thời điểmđóTòa án nhân dân tối cao chưa thể ấn định cụ thể phần di sản bắt buộc này là bao nhiêu [41].
Với thắng lợi to lớn của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử,đất nước ta đãhoàn toàn thống nhất năm 1975. Thắng lợi của cuộc tổng tuyển cửtựdo trong cả nước tháng 7- 1976, Nhà nước ta lấy tên là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngày 25-3-1977 HộiđồngChính phủ đã ban hành Nghị quyết số 76/CP quy định về việc thực hiện thống nhất
pháp luật trên cả nước. Kể từ
thời điểmnày, pháp luật đã được áp dụng thống nhất trong toàn quốc. Tuy nhiên, ở giai đoạn này vẫn chưa có một văn bản pháp luật nào quy định riêngvề thừa kế.
Trước sựthay đổi lớn của đất nước, tạikỳ họp thứ7 Quốc hội khóa VI đã thông qua bản Hiến pháp (gọi là Hiến pháp 1980) – Hiến pháp đầu tiên trong thời kỳ thống nhấtđất nước – là cơsởnềntảng cho việc phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung vàpháp luật về thừa kế theo di chúc nói riêng. Hiến pháp năm 1980 là đạo luật gốc,đạoluật cơ bản của Nhà nước. Hiến pháp đã quy định về chế độ chính trị, chế độ kinh tế, văn hóa
xã hội, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân… tạo tiền đề, cơ sở pháp lý cho việc ban hành các văn bản pháp luật về thừa kế sau này.
Điều 27 Hiến pháp năm 1980 quy định: “Nhà nước bảo hộ quyền sở hữu của công dân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở,tư liệu sinh hoạt, những công cụ sản xuất dùng trong những trường hợp được phép lao động riêng lẻ. Pháp luật bảo hộ quyền thừa kếtài sảncủacông dân”. Hiến pháp năm 1980 cũng quy định mọi công dân đều bình đẳng trướcpháp luật,sựbìnhđẳnggiữa nam và nữ,Nhà nước và xã hội không thừa nhận sựphân biệt,đối xửgiữa các con…
Hiến pháp năm 1980 đã quy định đất đai thuộcsởhữu nhà nước. Nhà nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch chung, nhằmbảo đảm đất đai được sửdụng hợp lý vàtiết kiệm. Những tập thể và cá nhân đang sử dụngđất đai được tiếp tục sửdụng và hưởng kết quả lao động của mình theo quy định của pháp luật [25].
Để đảmbảo thống nhất đườnglối xét xử,trên cơsởtổng kết công tác xétxử,đồngthời bổsungmột sốvấn đề cho phùhợpvớicác quy định của Hiến pháp năm 1980, Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Thông tư số 81-TANDTC ngày 24-7-1981 hướng dẫn giải quyết tranh chấp về thừa kế.Ngay từ Phần nguyên tắc chung (Phần I), Thông tư đãquy định về quyền lập di chúc của công dân để định đoạt tài sản của mình sau khi chết. Nếu không có di chúc thì mới chia thừa kế theo pháp luật, tôn trọng quyền định đoạt bằng di chúc của người có di sản,đồngthời bảo hộ thích đáng quyền lợi của một số người thừa kế theo luật (người thừa kế bắt buộc không phụ thuộc vào nội dung di chúc),phụ nữvànam giới bìnhđẳng về quyềnlập di chúc, người thừa kế có quyền nhận hay không nhận di sản thừa kế,người nhận thừa kế được hưởngcác tài sản và các quyền về tài sản của người chết để lại,đồngthời phải chịu trách nhiệm thi hành các nghĩa vụ về tài sản màngười chết để lại trong phạm vi giá trị tài sản đã nhận được. Thông tư số 81 đã hướng dẫn về việc xác định di sản thừa kế, diện và hàng thừa kế, việc phân chia di sản thừa kế… Đặc biệt, Thông tưđã dành chương IV để hướngdẫn về thừa kế theo di chúc, trongđó quyđịnh rõ về hình thức của di chúc, quyền định đoạt tài sản của người lập di chúc, nghĩa vụphải dành lại một phần tài sản cho những người thừa kế bắt buộc của người lập di chúc
(hạn chế quyền của người lậpdi chúc)… Những người thừa kế bắtbuộc gồm:Vợgóa
hoặc chồng góa, con chưa thành niên hoặc tuy đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bố mẹ già yếu và túng thiếu. Phần di sản phải dành cho mỗi người thừa kế bắt buộc ít nhất là 2/3 suất của thừa kế theo pháp luật [44].
Ngày 29-12-1986 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 được ban hành và cóhiệu lực thi hành từ 3-1-1987 đã đánh dấu một bước phát triển của pháp luật hôn nhân giađình nước ta, thay thế cho Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959. Luật hôn nhân và giađình 1986 có những điều khoản quan trọng đối với những quy định của pháp luật thừa kế. Ví dụ: Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 xác địnhnghĩa vụnuôidưỡnggiữa các thành viên trong gia đình là cơ sở cho pháp luật thừa kế xác định ai là người thừa kế được hưởngdi sản không phụ thuộc vào nội dung di chúc [32].
Thắnglợi của Đại hội Đảng toànquốc lần thứ VI (năm 1986) đã tạo bước ngoặt mới trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Cơ chế kinh tế tập trung quan liêu baocấpđã bị xóa bỏ,nền kinh tế nhiều thành phần (trongđó có kinh tế tư nhân) đãđược pháp luật thừa nhận và khuyến khích phát triển.
Ngày 29-12-1987 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Đất đai (gọi là LuậtĐất đainăm 1987). Luật Đất đai đã quy định chếđộ sởhữu toàn dân đối với đấtđai và đấtđai do Nhà nước thống nhất quản lý. Nhà nước giao đất cho người sửdụng đất để sửdụng ổn định,lâu dài hoặc tạm thời, có thời hạn. Điều 5 của Luật Đất đai năm 1987 quy định: “Nghiêmcấmviệc mua, bán, lấn, chiếmđất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức, nhận đất được giao mà khôngsửdụng,sửdụngđất không đúng mục đích,tự tiện sửdụng đất nông nghiệp,đất có rừngvào mục đích khác, làm hủy hoại đất đai”. Nhànước bảo đảm cho người sửdụng đất được hưởngnhững quyền lợi hợp pháp trênđất được giao,kể cả quyền chuyển, nhượng, bán thành quả laođộng,kết quảđầu tư trên đất được giao khi không còn sửdụng đất và đất đó được giao cho người khác sử dụng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định [28].
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1990 đến 1 tháng 7 năm 1996
Để đáp ứngvới sựbiến động,phát triển không ngừng của xã hội, ngày 30-8- 1990 Hội đồng Nhà nước nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Pháp
lệnh Thừa kế, có hiệu lực từ ngày 10-9-1990. Đây là văn bản pháp luật có hệ thốngvà ởtầmvăn bản pháp lý cao nhất về thừa kế nói chung và thừa kế theo di chúc nói riêngkể từngày thành lập nước. Pháp lệnh Thừa kế gồm 38 điều, được chia làm 6 chương, trong đóđã xác địnhđược những nguyên tắc cơbảnvề thừa kế,về quyền bìnhđẳngvềthừakếcủa công dân. Pháp lệnh Thừa kế đưa ra những khái niệm về: Thời điểm mở thừa kế,địa
điểmmở thừa kế,di sản, người thừa kế… Thừa kế theo di chúc được Pháp lệnh quy định tạichương II từ Điều 10 đến Điều 23. Pháp lệnh đã quy định về quyền của người lập di chúc. Theo quyđịnh tạiĐiều10 củaPháp lệnh thì công dân có quyền lậpdi chúcđểchuyển quyềnsởhữu một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho một hoặc nhiều người trong hoặc ngoài các hàng thừa kế theo pháp luật, cũng như cho Nhànước,cơ quan nhànước,tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế. Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, phân định tài sản cho người thừa kế, giao nghĩa vụ cho người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của một hoặc nhiều người thừa kế theo pháp luật mà không nhất thiết phải nêu lýdo. Người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung di chúc đã lập, thay thế di chúc đã lập bằng di chúc khác, hủy bỏ di chúc.
Pháp lệnh Thừa kế cũng quy định về di chúc hợp pháp là di chúc do người từđủmười tám tuổitrởlên tự nguyện lập trong khi minh mẫn, không bị lừa dối và không trái với quy định của pháp luật. Di chúc cũng được coi là hợp pháp nếu do người từđủ mười sáu tuổi trở lên nhưng chưa đủ mười tám tuổi tự nguyện lập trong khi minh mẫn và phảiđược sựđồngý của cha mẹ hoặc người đỡđầu,khôngbị lừa dối và không trái với quyđịnh của pháp luật. Di chúc do công dân Việt Nam lập ở nước ngoài theo pháp luật của nước ngoài, nếu có nội dung không trái với pháp luật Việt Nam cũng được coi là di chúc hợp pháp.
Về nội dung của di chúc được Pháp lệnh quy định tại Điều 13: Trong bản di chúc phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc,họ,tên và nơi thường trúcủa người lậpdi chúc,
họ,tên người được hưởngdi sản, tên cơ quan tổ chức được hưởng di sản… Đặcbiệt, Pháp lệnh quy định rõ về việc phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Pháp lệnh quy định về hiệu lực của di chúc viết được cơ quan công chứng hoặcủy ban nhân dân chứng thực, di chúc viết được cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự
của Việt Nam ở nước ngoài chứng thực, di chúc viết không có chứng thực, xác nhận và di
chúc miệng…
Pháp lệnh Thừa kế đã quyđịnh cụthể về những người được hưởng di sản không phụ thuộc vào nội dung của di chúc tại Điều 20. Theo quy định này thì trong trường hợp khôngđược người lập di chúc cho hưởngdi sản hoặc chỉ cho hưởngphần di sản ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu như di sản được chia theo pháp luật, thì con chưa thành niên, cha,mẹ,vợ, chồng, con đã thành niên không đủ khảnăng lao độngvà túng thiếu của người lập di chúc vẫn được hưởngphần di sản bằng ít nhất là hai phần ba suất đó, trừ trường hợp họ là người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1Điều 7 của Pháp lệnh. Đây là sựkế thừa và pháp điển hóa so với quy định về người thừakế bắt buộc tại Thông tưsố 81-TANDTC ngày 24-7-1981 của Tòa án nhân dân tối cao.
Pháp lệnh cũng quy định về việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc, hiệu lực của di chúc, di sản dùng vào việc thờ cúng [35].
Để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới do sự đổi mới toàn diện củađất nước kể từĐại hội lần thứ VI của Đảng, Quốc hội nước ta đã sửa đổi Hiến pháp năm 1980. Hồi 11 giờ 45 phút ngày 15-4-1992 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp thứ 11 đã nhất trí thông qua Hiến pháp năm 1992. Hiến pháp năm 1992 đã khẳng địnhvề việctiếp tục đưa đất nước ta đi theo con đường chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với tư tưởng chủ đạo này, trong chương II về chế độ kinh tế, Hiến pháp đã quy định việcđảmbảo tính thống nhất của sự phát triển kinh tế sao cho nền kinh tế được phát triển theo cơ chế thị trường với nhiều thành phần kinh tế khác nhau theo định hướng xã hội chủ nghĩa…
Hiến pháp năm 1992 đã quy định về quyền bình đẳngcủa công dân trước pháp luật, quyền bình đẳnggiữa nam và nữ,Nhà nước và xã hội không thừa nhận việc phân biệt,đối xửgiữa các con. Điều 58 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền sởhữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất,vốn
và tài sản khác trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác… Nhà nước bảo hộ quyền sởhữu hợp pháp và quyền thừa kế của công dân”.
Hiến pháp năm 1992 quy định về việc Nhà nước bảo hộ quyền lợi chính đáng của người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tạo điều kiện cho người Việt Nam địnhcư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương đất nước.
Để thi hành Hiến pháp năm 1992,tại kỳ họp thứba, Quốc hội nước Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX đã thông qua Luật Đất đai năm 1993,có hiệu lực kể từ15-10-1993.Kể từđây, việc “được chuyển quyền sửdụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” của tổ chức và cá nhân theo quyđịnh tạiĐiều 18 Hiến pháp năm 1992 đã được thể chế hóa. Khoản 2 Điều 3 Luật Đất đai năm 1993 quy định:
Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyểnđổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụngđất.
Các quyền nói trên chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mụcđích sửdụngcủađất được giao theo quy định củaLuật này và các quyđịnh khác của pháp luật.
Điều 76 Luật Đất đai năm 1993 quyđịnh:
1. Cá nhân được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, sau khi chết thì quyền sử dụngđất của họ được để
lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế.
2. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, nếu tronghộ có thành viên chết thì các thành viên khác trong hộ được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất mà Nhà nước đã giao cho hộ. Trường hợp trong hộ gia đình không còn thành viên nào thì Nhà nước thu hồi đất.
3. Cá nhân, thành viên của hộ gia đình được giao đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất ở, sau khi chết, quyền sử
dụng đất của họ được để lại cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật thừa kế [29].
Với những quy định trên, quyền sử dụng đất đã được coi là di sản thừa kế. 1.3.4. Giai đoạn từ 1-7-1996 đến nay
Với đườnglối chính trị, kinh tế đúngđắn được Đảngvà Nhà nước ta thể hiện trong Hiến pháp năm 1992, tất cả mọi mặt trongđời sống xã hội từkinh tế, chính trị, văn hóa,xã hội đềuthay đổi trên mọi bình diện. Vì vậy, trong đời sống dânsựcũng phát sinh nhiều vấn đề mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa đầy đủ. Các văn bản pháp luật dưới nhiều hình thức như: Nghị định, Pháp lệnh, Thông tư, Nghị quyết… chưađủ bao quátđể điều chỉnhmộtcách rộng khắp các quanhệ dân sựnói chung và vấn đềcác điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng.
Chính từ thực tiễn đòi hỏi, ngày 28-10-1995, Quốc hội khóa IX,kỳ họp thứ8 đãthông qua Bộ luật dânsự đầu tiêncủa nước Cộng hòa xãhội chủnghĩa Việt Nam (gọi làBộ luật dân sự năm 1995).
Bộ luật dân sự năm 1995 tương đối đồ sộ với 7 phần, 838 điều. Trong mỗi phầnđược chia làm nhiều chương, mục. Bộ luật có hiệu lực kể từ ngày 1-7-1996 (riêng những quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 về chuyển quyềnsửdụng đất có hiệu lực áp dụngkể từngày Luật Đất đai 1993 có hiệu lực 15-10-1993).
Bộ luật dân sựnăm 1995 là côngcụ pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự,tạo môi trường thuận lợi cho sựphát triển kinh tế – xã hội của đất nước.Bộ luật góp phần bảođảmcuộc sống cộng đồng ổn định, lành mạnh,giữgìn và phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân.
Bộ luật đã dành hẳn Phầnthứtư và Chương VI Phần thứnămđể quy định vềthừa kế với tổng số 63 điều luật (nếu tính cả 9 điều thuộc chương những quy định chung về chuyển quyền sử dụng đất mà thừa kế quyền sửdụng đấtphải áp dụng thì tổng số lênđến 72 điều).
Bộ luật đã đưa ra những khái niệm về thời điểm,địa điểm mởthừa kế,người
thừa kế, người quản lý di sản, di chúc… Đặc biệt, Bộ luật có quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người quản lý di sản, người thừa kế,việc từchối nhận di sản,về những
người không được hưởng di sản…
Do sự phát triển đất nước, các tranh chấp dân sự diễn ra ngày càng phức tạp,Bộluật dân sự năm 1995 đã bộc lộ những khiếm khuyết của nó.Tại kỳ họp thứ7, Quốc hội khóa XI,từngày 5-5-2005 đến ngày 14-6-2005 Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật dân sự năm 2005. Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2006.
Với 7 phần, 777 điều,Bộ luật dân sựnăm 2005 không “đồ sộ” được nhưBộluật dân sựnăm 1995, nhưng những quy định về thừa kế có nhiều tiến bộhơn Bộ luật dân sựnăm 1995,đặc biệt về thừa kế quyền sửdụng đất.Về các điều kiện có hiệu lực củadi chúc thì những quy định của Bộluật dânsựnăm 1995về cơbảnvẫnđượcBộluật dân sự năm 2005 giữ lại và có sự phát triển.
Kết luận chương 1
Thừa kế theo di chúc là một trong hai hình thức thừa kế được pháp luật quy định. Thừa kế theo di chúc là việc dịch chuyển di sản của một người đã chết cho người khác theo sự định đoạt ý chí của người để lại di sản khi còn sống. Trong những trường hợp cụthể, quyền định đoạt của người lậpdi chúc được pháp luật thừa nhận toàn bộ,nhưng trong một số trường hợp khác thì quyền tự định đoạt của người lập di chúc lại bị hạn chế. Di chúc là giao dịch dân sựmột bên, do vậydi chúc cũng cần phải thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực của di chúc.
Theo tiến trình phát triển của pháp luật thừa kế, các điều kiện có hiệu lực của di chúc trong mỗi thời kỳ cũng được quy định khác nhau. Nhưng nhìn chung, pháp luật của Nhà nước ta luôn nhằm bảo vệ những quyền dân sựhợp pháp của cá nhân, trongđó có quyền lập di chúc và quyền này ngày càng được pháp luật quy định cụ thể hơn.
Với sựrađời của Bộ luật dân sựnăm 1995, các quy định pháp luật về điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng và pháp luật về thừa kế nói chung đã được quy định một cách hệ thống. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện,Bộ luật dân sựnăm 1995 đãphát
sinh những hạn chếnhất định,đòi hỏiphải có sựkhắc phục kịp thời. Tại kỳhọp thứ7 Quốc hội khóa VI, từ ngày 5-5-2005 đến ngày 14-6-2005, Quốc hội nước ta đã thông qua Bộ luật dân sựnăm 2005. Bộ luật dân sự năm 2005 đã có những tiến bộ hơn so với Bộluật dân sự năm 1995 trong việc quy định về thừa kế nói chung và các điều kiện có hiệu lực của di chúc nói riêng.
Các điều kiện có hiệu lực của di chúc
2.1.Người lậpdi chúc
Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 thì người lậpdi chúc phải đáp ứngđược nhữngđiều kiện nhất định thì di chúc mớicó hiệu lực. Người lập di chúc phải đảmbảođược nhữngđiềukiện sau đây:
Điều 650 Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 647 Bộ luật dânsựnăm 2005) quy định về người lập di chúc:
1- Người đã thành niên có quyền lập di chúc,trừtrườnghợp người đóbị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủđược hành vi của mình.
2- Người từđủ mười lăm tuổiđến chưa đủ mười támtuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Như vậy, pháp luật dân sự đã quy định cụ thể về người được lập di chúc.
Theo quy định tại cácđiều luậttrên có thể nhận thấy hai yêu cầu về người lập di chúc, đó là:
– Yêu cầu về độ tuổi của người lập di chúc.
– Yêu cầu về nhận thức của người lập di chúc.
2.1.1. Yêucầuvề độ tuổi của người lậpdi chúc
Pháp luật dân sựquy định chỉ người thành niên mới có quyền lập di chúc, còn người từđủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi muốn lập di chúc phải được sựđồngý của cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó.
Có quy định trên bởi vì chỉ khi đạt đến một độ tuổi nhất định thì con người mới có đủ nhận thức để điều chỉnh hành vi của mình.
Đối với những người đã thành niên, nhưng bị mắc bệnh tâm thần hoặc mắccác bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì những ngườiđó không có quyền lập di chúc. Trong trường hợp những người này lập di chúc, thì di chúc đó không phát sinh hiệu lực pháp luật.
Bộ luật dânsựnăm 1995 quyđịnh về người thành niên: Người từđủ mười tám tuổi trở lên là người thành niên (Điều 20). Người thành niên có năng lực hành vi dân sựđầy đủ,trừtrường hợp người thành niên đó bị mất năng lực hành vi dân sựvà hạn chếnăng lực hành vi dân sự.
Như vậy, những người thành niên bị mất quyền lập di chúc khi họ là người:
– Mắc bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác. – Không thể nhận thức được hành vi của mình.
– Không thể điều chỉnh được hành vi của mình [6].
Pháp luật dân sự của Nhà nước ta cũng quy định người từđủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
Người mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi mặc dù là người chưa thành niên, nhưng họ có những nhận thức nhất định.Về mặt thực tếthì có người trong số họđãcó tài sản riêng do được thừa kế hoặc được tặng cho, thậm chí có người đã tích lũy từ laođộngphù hợp với sức lao động của mình.Để đảmbảo phần nào quyền định đoạt tài sản của họ,pháp luật đã cho phép họ lập di chúc nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ của họ đồngý. Bàn về quy định này còn có những ý kiến khác nhau do chưa có sự hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
– Cha,mẹ hoặc người giámhộ đồngý là đồngý về việc cho phép người từđủmười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi lập di chúc hay là đồng ý về nội dung di chúc?
– Sự đồng ý của cha hoặc mẹ hay là cả cha và mẹ. Trường hợp nàothì cần đếnsựđồngý của người giám hộ?
Về vấn đề thứnhất, chúng tôi cho rằng chỉ là việc đồng ý cho phép người từđủmười lăm tuổi đếnchưa đủ mười tám tuổi lập di chúc vì nếu hiểu là đồng ý với nội dung
di chúc thì vô hình chung pháp luật đãcan thiệp đến quyền tựđịnhđoạt,đếný chítựnguyện của người lập di chúc, trong khi ý chí tự nguyện là một trong những điều kiện đểdi chúc được coi là hợp pháp. Với tư cách là người thừa kế hàng thứ nhất theo pháp luật của người con, người cha,người mẹ cóthể can thiệp vào nội dung của di chúc, can thiệp vàosự định đoạt củangười con nếuđược hiểutheo cách việc lập di chúccủa người từđủmười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được sựđồng ý của cha, mẹ về nội dung di chúc. Và một điều đương nhiên, nếu hiểu cha mẹ phải đồng ý về nội dung di chúc thìđã bao hàm cả việc đồng ý cho lập di chúc.
Về vấn đề thứ hai, căn cứ vào cách hành văn của điều luật thì chỉ cần một trong hai người là cha hoặcmẹ đồng ý là đủ,mà không cần thiếtphải được sựđồng ý củahai người. Pháp luật dân sự cũng đã quy định rõ ràng về việc giám hộ tại Mục 5 Chương II, Phần thứnhất Bộluật dânsựnăm 1995. Giám hộ là việc cá nhân,tổchức hoặc cơ quan nhà nước (gọi là người giám hộ) được pháp luật quy địnhhoặc được cửđể thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làmchủđược hành vi của mình (gọi là người được giám hộ). Trong quan hệ pháp luật thừa kế theo di chúc, thì người từđủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười támtuổi chỉ có quyền lập di chúc khi được sựđồngý của người giámhộ trong trường hợp người chưa thành niên này không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ hoặc cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự,bị hạn chế năng lực hành vi dân sự,bị Tòa án hạn chế quyền của cha,mẹ hoặc còn cha, mẹ nhưng cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đóvà nếu cha, mẹ có yêu cầu.
Một vấn đề cần đặt ra khi nghiên cứu về sựđồngý của cha, mẹ hoặc người giám hộ đối với hành vi lập di chúccủa người từđủ mười lăm tuổi đếnchưa đủ mười tám tuổi,đó là: Sựđồngý này phải được thể hiện dướihình thức như thế nào? Có bắt buộc việcđồngý phải được thể hiện bằng văn bản riêng hay chỉ cần xác nhận vào di chúc, hay chỉ cần bằng miệng? Sự đồng ý đó có cần phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận hay không? Sự đồng ý được thể hiện trước hay sau khi người chưa thành niên lập di chúc?…
Đây là một câu hỏi vì vấnđề nàychưa được sự hướng dẫn,giải đáp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
2.1.2. Yêucầuvề nhận thức
Kết quả nghiên cứu về y học cho thấy độ tuổi và nhận thức có quan hệ mật thiết với nhau. Con người chỉ khiđạt đến mộtđộtuổi nhất định thì mới có đủnhận thức đểđiều chỉnh được hành vi dân sựcủa mình (trongđó có hành vi lậpdi chúc),trừtrường hợp người đó bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủđược hành vi của mình. Pháp luật dân sự nước ta quy định người từđủ mười tám tuổi trởlên là người thành niên. Người thành niên có năng lực hành vi dân sựđầy đủ,trừtrường hợp họ mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Vì vậy,độtuổi và khả năng nhận thức là hai tiêu chí để xác định năng lực hành vi dân sự của cá nhân.
Tại khoản 1 Điều 655 Bộ luật dân sự năm 1995 và điểm a, khoản 1 Điều 652 Bộluật dân sự năm 2005 có quy định như nhau về nhận thức của người lập di chúc: “Người lập
di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc…”.
Tuy nhiên, người lập di chúc phải minh mẫn, sángsuốt đến mức độ nào?Người lập di chúc có phải giám định sức khỏe trước khi lập di chúc hay không? Nếu người lập di chúc phải giámđịnhsức khỏe trước khi lập di chúc thì cơ quan nào có thẩm quyền giám định? Có cần hay không cần kết quả giám định sức khỏe thì cơ quan nhànước cóthẩm quyền mới được chứng thực vào di chúc ?…
Hiện nay, pháp luật dân sự của nước ta chưa có quy định nào về việc người lập di chúc phải giámđịnh sức khỏe trước khi lập di chúc. Vì vậy, người lập di chúc có thểkhám sức khỏe hoặc không khám sức khỏe trước khi lập di chúc. Có một số trường hợp khám sức khỏe thì cơ quan khám sức khỏe cũng không thống nhất: Có trường hợp khám tại trung tâm y tế cấp huyện, tỉnh; nhưng cũng có trường hợp lại đi khám ở các bệnh viện về tâm thần.
Trên thực tế người lập di chúc ít khi đi giám định sức khỏe, khám sức khỏe trước khi lập di chúc. Vì vậy, tình trạng sức khỏe của người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc khôngđược thể hiện. Khi có tranh chấp xảy ra, bên đươngsựnào cho rằngngười
lập di chúc không đủ sức khỏe,ảnhhưởng đến sựminh mẫncủa người lậpdi chúc trong khi lập di chúc thì họ phải có nghĩa vụ chứng minh. Thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân cho thấy tình trạng này diễn ra tươngđối phổ biến.Bên yêu cầu chia thừa kế theo di chúc có nghĩa vụ xuất trình trước Tòa án các chứngcứliên quan đến việc người lập di chúc hoàn toàn minh mẫn, sáng suốt khi lập di chúc. Ngược lại, bên yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật có nghĩa vụ xuất trình các chứng cứ để chứng minh người
lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt để bác bỏ yêu cầu chia thừa kế theo di chúc.
Về nguyên tắc, tất cả các di chúc đều được coi là do người để lại di sản lập trong lúc minh mẫn, sáng suốt. Vì vậy,đươngsựnào cho rằng khi lập di chúc người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt phải có nghĩa vụ chứng minh trước Tòa án có thẩm quyền. Chỉ khicó đầyđủ cơ sở khẳng định người lập di chúc không minh mẫn, sáng suốt
như: Kết luận của cơ quan y tế, bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án… thì Tòa án cóthẩm quyền tuyên bố di chúc vô hiệu. Thông thường, những di chúc được chứng nhận, chứng thực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền ít khi xảy ra tranh chấp về việc người lập di chúc có minh mẫn, sáng suốt hay không. Tranh chấp về việc minh mẫn, sáng suốt của người lập di chúc lại thường xảy ra đốivới những di chúc không có chứng nhận, chứng thực. Vì vậy, để hạn chế tranh chấp thì việc lập di chúc có chứng thực, chứng nhận cần được khuyến khích.
Quy định về vấn đề này, pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp chỉ yêu cầu người lập di chúc có tinh thần minh mẫn (Điều 901 Bộ luật dân sự Cộng hòa Pháp). Còn Điều 963 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định: “Người lập di chúc tại thời điểm lập di chúc phải có đủ nănglực để làmviệc này” [5].
Năng lực hành vi dânsựcủa cá nhân chính là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình để xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Nếu như năng lực pháp luật của cá nhân phát sinh ngay từkhi cá nhânđược sinh ra thì năng lực hành vi dân sựcủa cánhân chỉ phát sinh đầy đủ khi người đó đạt đến độ tuổi nhất định (đủ18 tuổi); nếu nhưnăng lực pháp luật của cá nhân chỉ chấm dứt khi người đó chết thì năng lực hành vi dân sự của cá nhân chấm dứt khi người đó bị mất năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, một người được coi là có năng lực hành vi dân sự (trong đó có năng lực hành vi viết di chúc), khingười đóbằng khả năng của mình thực hiện hành vi, mà bằng hành vi đó, người đó đã xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự. Trong quan hệ pháp luật thừa kế, người lập di chúc bằng hành vi định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình thông qua việc lập di chúc, người lập di chúc đã xác lập quyền hưởng di sản cho người được thừa kế theo di chúc. Cũngđồngthời với việc xác lập quyền hưởng di sản cho người thừa kế theo di chúc, người
lập di chúc đương nhiên đã xác lập nghĩa vụ cho người quản lý di sản. Bằng hành vi lập di chúc, người lập di chúc đã thực hiện quyền định đoạtđối với nhữngtài sản của mình cho người thừa kế được chỉđịnh trong di chúc. Việc thực hiện quyền của người lập di chúc thể hiện ởchỗ: Người lập di chúc có quyền định đoạt cho ai, cho ai cho bao nhiêu, chỉ
cho sử dụng tài sản hay cho sở hữu tàisản…
Pháp luật dânsựkhông quy định về việc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bị mất quyền lập di chúc. Chỉ trong những trường hợp nhất định: Một người bị nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn tới phá tán tài sản của gia đình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan hoặc tổ chức hữu quan, Tòa án cóthểra quyết định tuyênbố là người bị hạnchế nănglựchành vi dân sự.Đồngthời với quyết định tuyên bố một người hạn chế năng lực hành vi dân sự, Tòa án quyết định ngườiđại diện theo pháp luật của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự và phạm vi đại diện. Như vậy, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không phải là người bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình theo quy định của Điều650 Bộ luật dân sựnăm 1995 nên họ vẫncó quyền lậpdi chúc màkhông phải được sựđồng ý của người đại diện.
Đối với nhữngngười đã thành niên nhưng bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì không có quyền lập di chúc. Nếu họ lập di chúc, thì di chúc đó khôngđược côngnhận.
2.2. ý chí của người lập di chúc
2.2.1.Người lậpdi chúc hoàn toàn tự nguyện
Nguyên tắc tựnguyện trong việc tham gia các giao dịch dân sựlà một nguyên tắc cơ bản được ghi nhận tại Bộluật dân sựnăm 1995 vàBộ luật dân sựnăm 2005. Trong giao lưu dân sự,các bên đều phải hoàn toàn tựnguyện, không bên nào được ápđặt,cấmđoán,cưỡngép, đe dọa, ngăn cản bên nào.
Lập di chúc là giao dịch dân sự, là hành vi pháp lý đơn phương của người lập di chúc. Vì vậy, cũng như các giao dịch dân sự khác, việc lập di chúc cũng phải thể hiện ýchí tự nguyện của người lập di chúc.Tựnguyện được hiểu theo nghĩa khái quát chính làviệc thực hiện một việc gì đó hoàn toàn theo ý mình, do mình nghĩ ra và thực hiện.Về mặtbản chất, tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Vì vậy, khi đánh giáý chí của một người vềmột vấnđề nàođó có phải tựnguyện hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất biện chứng giữa hai phạm trù: ý chí và sự bày tỏ ý chí.
ý chí là cái bên trong, là cái mà người khác khó có thể nhận biết được,nếuý chíđó chưa được thểhiện ra ngoài bằng hành động thực tiễn. Để người khác nhận biếtđược mong muốn của mình, con người phải thể hiện ý chí bằng những hành vi cụ thể. ý chí vàsựbày tỏ ý chí là hai mặt của một vấn đề,có quanhệ mật thiết, gắn bó khăng khít với nhau.
Trong việc lập di chúc, người lập di chúc thể hiện ý chí của mình thông qua hành
vi lập di chúc. Thông qua việc cho người này nhiều, người kia ít… người lập di chúc thể
hiện tâm tư, tình cảm… với người thừa kế. Vì vậy, muốn xác định một di chúc có phải là ý chí tự nguyện của người lập di chúc hay không, cần phải dựa vào sự thống nhất giữa ý chí của người lập di chúc và sự thể hiện ý chí đó trong nội dung của di chúc. Chỉ khi nào di chúc phản ánh một cách trung thực, khách quan những mong muốn của người lập di chúc thì sự định đoạt đó mới được coilà tựnguyện.
Thực tiễn xét xử cácvụ ántranh chấp về thừa kế theo di chúc cho thấy, việc xácđịnh di chúc có được lập mộtcách tựnguyện hay không là mộtvấn đềgây nhiều khókhăn cho Toà án.Mộtbênđương sự xuấttrình di chúc và yêucầuđược chia thừa kế theo di chúc và họ cho rằng di chúc hoàn toàn do người để lại di sản tự nguyện lập.Đương sựphía bên kia thì lại cho rằng, nguyên nhâncủa sựphân chia di sản không công bằng (đa
số các di chúc đềucó sựphân chia di sảnkhác nhau, dẫn đến tình trạng người được nhiều, người được ít) là do người lập di chúc không tự nguyện.Để giải quyết các vụ án này, trước tiên người Thẩm phán buộc phải yêu cầu cả hai bên đương sự xuất trình những chứngcứđể chứng minh cho những lời khai của mình. Bên cạnhđó,việc lấy lời khai
nhân chứng, xác minh chính quyền địa phương, đối chất… cũng là những biện pháp cần thiết để tìm ra sựthật của vụ án: Người lập di chúc có tựnguyện lập di chúc hay không?…
2.2.2.Người lậpdi chúc không bị đe dọa
Đe dọa trong giao dịch dânsựlà hành vi cố ý của mộtbên làm cho bên kia sợhãi mà phải thực hiện giao dịch dân sự nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của những người thân thích.
Cũng như các loại giao dịch dân sự khác, đe dọa trong việc lập di chúc trước hết phải được thực hiện bằng hành vi cốý. Hành vi cố ý này phải cósựtoan tínhtừphía người đe dọa về việc đe dọa người lập di chúc như thế nào, hình thức,địa điểmđe dọa,
phương tiện đểthực hiện việc đedọa… Hậuquả củaviệc thực hiện hành vi đe dọa làngười lập di chúc phải sợhãiđến mức phải lập di chúc theo ý muốn của người đe dọa. Việc phải lập di chúcđó cóthể không gây thiệt hại cho người lập di chúc về tính mạng, sức khỏe, tài sản vì việc đe dọa mới ở mức độ nhẹ.Thực tế cho thấy, người lập di chúc không bao giờ bị thiệt hại về tàisản cả,vì khi chết, họ không thể mang theo được tài sản mà họ đang có và chỉ khi người để lại di sản chết thì di chúc mới phát sinh hiệu lực. Vìvậy,đốivới đe dọa trong việc lập di chúc thìngười lậpdi chúc luôn luôn không bị thiệt hạivề tài sản. Người bị thiệt hại về tàisản sẽlà những người thân thích của người lập di chúc vì khối tài sản của người lập di chúc có hạn, nên cho người này hưởng rồi thì đương nhiên những người khác không còn để hưởng. Tuy nhiên, do bị đe dọa nên người lập di chúc phải viết di chúc theo ý kiến của người đe dọa, nên sẽ có ảnh hưởng đến danh dự, uy tín củangười lậpdi chúc. Vídụ: Người lậpdi chúc tên là Nguyễn Văn A, có 4 con làNguyễn Văn B, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn D, Nguyễn Văn E. Ông Ađược C chăm
sóc, nuôi dưỡng…, còn B, D,E đối xửngược đãi với ông A. Vì vậy, ông A tuyên bốvới
mọingười là sau nàysẽ để lại toànbộ tài sản cho C và ông A đã lập di chúc cho C được hưởngtoàn bộ tài sản của mình.Biết được sựviệc trên, B, D và E đã bàn bạc với nhau đe dọa buộc ông A phải lập di chúc khác có nội dung cho B, D, E cùng được hưởng di sản của ông A. Như vậy, việc ông A phải lập di chúc sau đã ảnh hưởng đến quyền lợi về tài sản của C, nhưnglại ảnh hưởngđến uy tín, danh dự của người lập di chúc là ông A.
Như đã phân tích, khibị đe dọathì người lập di chúc không thể hiệnđược ý chítự nguyện, mà lại thể hiện ý chí của người đe dọa. Vì vậy, trong trường hợp người lập di chúc bị đe dọa thì di chúc đó bị vô hiệu, không phát sinh hiệu lực pháp luật.
Trong thựctế đã xảy ra không ít những trường hợp mà các đươngsựkhai làngười lập di chúc bị đe dọa. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xác minh, lấy lời khai nhân chứng, thậm chí kiểm tra cảnhững vật chứng (nếu có)… Tuy nhiên, việc xác định người khác đã can thiệp vào việc lập di chúc đến mức độ nào có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét hiệu lực pháp luật của di chúc.Vấn đề đặt ra là sựcan thiệp đó đã đến mức làm cho người lập di chúc sợ hãi và phải lập di chúc theo ý muốn của người can thiệp hay chưa? Còn khi đã lập di chúc theo ý chí của người khác thì đương nhiên đã gây thiệt hại cho người lập di chúc như đã phân tích ở phần trên. Để xem xét về việc người lập di chúcđã đến mức sợhãi hay chưa là một vấn đề rất khó, đòi hỏi Tòa án phải cân nhắckỹ lưỡng toàn bộ các chứng cứ của vụ án. Trường hợp người can thiệp đã bị bản án của Tòa án xửlý về hành vi đe dọa rồi thì sẽ có nhiều thuận lợi cho việc xem xét. Ví dụ: Một người cóhành vi đe dọa người lập di chúc để buộc người lập di chúc phải viết di chúc không đúng với ý chí của người lập di chúc. Để thực hiện hành vi đe dọa của mình, anh ta đã dùng vũ
lực và gây ra thương tích nặng cho người lậpdi chúc đến mức bịtruy cứu trách nhiệm hình sự.Bằng bản án hình sự,Tòa án đãxácđịnh có hành vi đe dọa trong việc lậpdi chúc và có hành vi cố ý gây thương tích, đồng thời Tòa ánđã xử lý vềmặt hìnhsựđối với hành vi cố ý gây thương tích. Sau đó do người lập di chúc chết,người được thừa kếtheo di chúc khởi kiện yêu cầu được thừa kế theo di chúc. Trong trường hợp này, Tòa án dễ dàng trong việc tuyên bố về việc di chúc trên không có hiệu lực pháp luật do người lập di chúc bị đe dọa.
Đối với trường hợp các bên có ý kiến khác nhau về việc người lập di chúc có bịđe dọa trong khi lập di chúc hay không, thì cả hai bên đươngsựđềuphải có nghĩa vụchứng minh theo quy địnhtại Điều79 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 (cóhiệu lực từngày 1-1-2005). Bên đương sự cho rằng, người lập di chúc bị đe dọa trong khi lập di chúc phải có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh. Nếu các chứng cứ do bên khai rằng cóviệc đe dọa không đủ hoặc không có cơ sở tin cậy, thì Tòa án công nhận di chúc.
Đã có không ít những trường hợp xảy ra trong thựctế,mặc dù có sựcan thiệp của người khác, nhưng chưa đến mức làm cho người lập di chúc sợ hãi phải viết di chúc trái với ý muốn củamình. Người lập di chúc vẫn lậpdi chúcmộtcách tựnguyện,thểhiện ý chí của mình. Do vậy, di chúc vẫn có hiệu lực.
2.2.3.Người lậpdi chúc không bị lừa dối
Lừa dối trong giao dịch dân sự là hành vi cố ý của một bên nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch nên đã xác
lập giao dịch đó (Điều 142 Bộ luật dân sựnăm 1995). Lừa dối là thủ đoạn có tính toán trước của người này (người lừa dối) đối với người khác (người bị lừa dối) nhằm làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề, dẫn đến quyết định một việc gì đó theo mục đích đã định sẵn của người lừa dối. Thủ đoạn của người lừa dối có thể bằng lời nói, có thể bằng hànhđộng.Mục đích của người lừa dối là làm cho người bị lừa dối hiểu sai vấn đề,dẫn đến những quyết định không đúng, có lợi cho người lừa dối.
Trong việc lập di chúc, người lừa dối làm cho người lập di chúc hiểu sai lệch vềnhững người thừa kế,dẫn đếnquyết địnhphân chia di sản theo ý muốn của người lừa dối.
Di chúc là giao dịch dân sựđơn phương, nó chỉ thể hiện ý chí của ngườilập di chúc. ý chí của người lập di chúc phải hoàn toàn tự do, tự nguyện,tựđịnh đoạt trong khi
minh mẫn và sáng suốt. Mọi hành vi lừa dối, đe dọa,cưỡngép… người lập di chúc đều bị coi là trái pháp luật.
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp về thừa kế theo di chúc, hầu như không cóviệc các đươngsựtranh chấp về di chúc có bị lừa dối hay không. Trường hợp nếu có
tranh chấp, thì việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng là vấn đề khó vìviệc chứng minh rằng người lập di chúc bị lừa dối là việc không đơn giản.
2.2.4.Chỉ địnhngười thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế, phân định di sản cho từng người thừa kế
Đây là quyền của người lập di chúc được quy định tại khoản 1 Điều 651Bộ luậtdân sự năm 1995 (khoản 1 Điều 648 Bộ luật dân sự năm 2005) [6], [7].
Chỉđịnhngườithừa kếlà hành vicủangườilậpdi chúc cho phépngườinào đóđược hưởngphần tài sản thuộc sởhữu của mình, thông qua việc lập di chúc. Một nội dung không thể thiếu đượccủa di chúc đó là: Ai là người được hưởng di sảnvà được hưởng những tài sản nào,sốlượng,đặcđiểm,chủng loại tài sản. Người lập di chúc cóquyền chỉ định người thừa kế là người bất kỳ,mà không bó buộc trong số những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc. Người lập di chúc cũng có quyền chia cho người này nhiều hơn người kia, chia cho người này động sản,ngườikia bấtđộng sản, người khác quyền tài sản mà không buộc phải chia đều cho những người đã được chỉđịnh.Việc chỉ định người thừa kế và phân định di sản cho người thừa kế là một nội dung không thể thiếu của di chúc.
Người bị truất quyền hưởng di sản phải là người được thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc. Người lập di chúc có thể chỉ rõ trong di chúc những ngườithừa kếtheo pháp luật nào của người lập di chúc bị truất quyền hưởngthừa kế.Tuy nhiên, cónhiều di chúc, người lập di chúc chỉ chỉ định người được hưởng thừa kế theo di chúc, vậy những người thừa kế theo pháp luật của người lập di chúc có bị coi là người bị truất quyền quyền hưởng di sản hay không. Bàn vềvấn đề này,hiện nay trong khoa học pháp lý còn có hai quan điểm khác nhau:
– Quan điểm thứ nhất cho rằng, khi người lập di chúc có di chúc chỉđịnh một sốngười thừa kế theo pháp luật hoặc những người khácđược hưởng thừa kế theo di chúc, thì những người thừa kế theo pháp luật còn lại là người bị truất quyền hưởngdi sản. Những người theo quan điểmnày cho rằng, đây là hình thức truất quyền hưởngdi sản gián tiếp. Nếu như người đểlại di sản không có di chúc thì đương nhiên nhữngngười
thừa kế theo pháp luật được hưởng di sản, cho nên nếu như di chúc đã định đoạt toàn bộtài sản thì đươngnhiên những người thừa kế theo pháp luật còn lại (nếu người được hưởngthừa kế theo di chúc là một hoặc một vài người thừa kế theo pháp luật) đã bị truất toàn bộ quyền hưởng di sản. Nếu di chúc chỉ định đoạt phần lớn di sản, phần di sản còn lại được chia theo pháp luật thì cũng chính là việc người lập di chúcđã truất một phần quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật.
– Quan điểm thứ hai cho rằng, những người thừa kế theo pháp luật không phải là người bị truất quyền hưởng di sản trong trường hợp di chúc đã định đoạt di sản cho những ngườikhác, màhọchỉlà nhữngngườikhôngđượchưởngthừakếtheo di chúc mà thôi. Những người thừa kế theo pháp luật khôngđược hưởngdi sản thừa kế vì người lập di chúc đã địnhđoạt toàn bộ di sản chongườithừakếtheo di chúc, nên không còn di sản để chia. Nhữngngườitheo quanđiểmnàylậpluận rằng, nhữngngườibịngườilậpdi chúc truất quyền hưởng di sản thường là những người làm cho người lập di chúc phải buồn phiền, đau
lòng… khi còn sống. Còn những người không được chỉ định thừa kế theo di chúc chỉ là những người không được người lập di chúc yêu quý. Mặt khác, trong trường hợp di chúc chưa định đoạt toàn bộ di sản thì phần di sản còn lại sẽ được chia cho những người thừa kế theo pháp luật, mà người bị truất quyền hưởng di sản thì không được chia. Như vậy, rõràng người không được hưởng thừa kế theo di chúc và người bị truất quyền hưởng thừa kế hoàn toàn khác nhau.
Chúng tôi thấy rằng, quan điểm thứ hai là có cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề này cũng cần có ý kiến chính thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, để tránh những cách hiểu khác nhau.
Trên thế giới không phải chỉ riêng Bộ luật dân sự Việt Nam quy định quyền này cho người lập di chúc. Điều 893 Bộ luật dân sự Nhật Bản quy định:
Trong trường hợp người để lại thừa kế đã tuyên bố bằng di chúc loại bỏ một người thừa kế giả định nào đó, thì người thực hiện di chúc phải yêu cầu Tòa hôn nhân giađình quyết định ngay lập tức sau khi di chúc đã có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp này việc hủy bỏ quyền thừa kế hồi tố trởlại thời điểmngười để lại di chúc chết [8].
Như vậy, Bộ luật dân sự Nhật Bản cũng quy định quyền truất quyền hưởng di sản của những người thừa kế.Tuy nhiên, thủ tục yêu cầu thực hiện việc truất quyền có chặt chẽ hơn so với pháp luật dânsựViệt Nam.
2.2.5. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế trong phạm vi di sản
D:\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT\TÀI LIỆU NGÀNH LUẬT 2\CÁC ĐIỀU KIỆN CÓ HIỆU LỰC CỦA DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự Các điều kiện có hiệu lực của di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự


