Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

1. Lý do chọn đề tài

Công tác bêtông nói chung và bêtông tự lèn nói riêng ở khu vực Đà Nẵng hiện nay là một công việc nặng nhọc, thời gian bảo dưỡng bêtông kéo dài dẫn đến tổng chi phí nhân công tăng cao. Về qui trình kỹ thuật, công tác bảo dưỡng bêtông được qui định tại [14]. Tuy nhiên trên thực tế các nhà thầu ít khi thực hiện đúng theo qui trình này. Vấn đề này xuất phát từ nhiều nguyên nhân: qui trình hướng dẫn chưa cụ thể, áp lực từ tiến độ thi công, nhận thức không đúng tầm quan trọng của bảo dưỡng bêtông đến chất lượng bêtông… Thêm vào đó, đặc thù điều kiện thời tiết ở Đà Nẵng, mà điển hình là sự biến thiên lớn của nhiệt độ, độ ẩm không chỉ trong tháng, mà thậm chí trong ngày ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành cấu trúc của bêtông khi đóng rắn.

Hiện nay, đã có nhiều phương pháp bảo dưỡng bêtông nhưng việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều khó khăn và bất cập, đó là: xác định thời điểm bắt đầu bảo dưỡng, thời gian bảo dưỡng bao lâu, việc đi lại thi công trên bề mặt bêtông diễn ra khi nào. Đặc biệt việc nghiên cứu phương pháp bảo dưỡng bêtông bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon để đưa ra các tiêu chuẩn hướng dẫn cụ thể còn rất ít, đó là: sự mất nước của bê tông dưới ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, thành phần cấp phối, điều kiện bảo dưỡng? Chất lượng bêtông tự lèn và sự phát triển cường độ khi phủ vải ẩm hoặc che nilon dưới ảnh hưởng của thời tiết và điều kiện bảo dưỡng?Xác định thời điểm bắt đầu bảo dưỡng và thời gian bảo dưỡng cần thiết bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon?

Vì vậy, nghiên cứu lựa chọn phương pháp bảo dưỡng bêtông tự lèn thi công theo phương pháp toàn khối bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon là hợp lý trên cơ sở nghiên cứu tổng hợp sự ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu và công nghệ thi công đến chất lượng bêtông là cần thiết và có tính thực tiễn cao.

2. Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là đề xuất phương pháp bảo dưỡng bêtông tự lèn các cấu kiện bêtông cốt thép thi công theo phương pháp toàn khối phù hợp với từng điều kiện thời tiết cụ thể đối với khí hậu ở Đà Nẵng.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

– Phân tích bản chất của bảo dưỡng bêtông, ảnh hưởng của nó đến sự hình thành cấu trúc của bêtông trong thời kỳ đầu đóng rắn.

– Phân tích đặc điểm khí hậu ở Đà Nẵng và ảnh hưởng của nó đến chất lượng bêtông toàn khối.

– Phân tích ảnh hưởng của yếu tố khí hậu môi trường thi công đến quá trình vật lý xảy ra trong bêtông tự lèn trong giai đoạn đầu đóng rắn.

– Phân tích ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn.

– Đề xuất sơ đồ công nghệ và qui trình thực hiện bảo dưỡng bêtông tự lèn, thi công trong điều kiện thời tiết ở Đà Nẵng.

4. Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp phân tích cơ sở khoa học liên quan đến đề tài, kết hợp với thí nghiệm trong điều kiện môi trường tự nhiên để tổng hợp đề xuất kết quả nghiên cứu.

5. Bố cục đề tài

Luận văn được trình bày thành 3 chương:

Chương 1:Tổng quan về biện pháp bảo dưỡng bêtôngtự lèn, thi công theo phương pháp toàn khối

Chương 2: Cơ sở khoa học về bảo dưỡng bêtông tự lèn, thi công theo phương pháp toàn khối

Chương 3:Phương pháp bảo dưỡng bêtông tự lèn bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon trong điều kiện khí hậu Đà Nẵng

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN VỀ BIỆN PHÁP BẢO DƯỠNG BÊTÔNG

TỰ LÈN, THI CÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP TOÀN KHỐI

1.1.TÌNH HÌNH SỬ DỤNG BÊTÔNG TỰ LÈN THI CÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP TOÀN KHỐI TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH Ở KHU VỰC ĐÀ NẴNG HIỆN NAY

1.1.1. Tình hình sử dụng bêtông tự lèn thi công theo phương pháp toàn khối trong xây dựng trên thế giới

Từ những năm đầu thập kỷ 80, vấn đề về độ bền của kết cấu bêtông đã giành được sự quan tâm lớn của giới khoa học chuyên ngành xây dựng tại Nhật Bản và các nước tiên tiến trên Thế giới.Năm 1986, giáo sư Okamura (Trường đại học công nghệ Koichi) đề xuất sử dụng bêtông tự lèn.

Tại Nhật Bản, bêtông tự lèn đã được ứng dụng để xây dựng những công trình lớn, trong đó có cầu treo Akashi Kaikyo dài nhất thế giới (với nhịp giữa 1.991m và hai nhịp biên mỗi nhịp dài 960m). Hai mố neo của cầu có chiều cao 298m được ứng dụng hoàn toàn bê tông tự lèn.

Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn
Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

Tại LB Nga, công nghệ thi công bêtông tự lèn cũng được triển khai. Gần 20.000m3 bêtông tự lèn đã được sử dụng để xây dựng trụ neo cáp của cầu treo trên đảo Russki (Saint Peterburg).

Bêtông tự lèn được ứng dụng trong nhiều kết cấu khác đạt hiệu quả cao cả về chất lượng cũng như hiệu quả kinh tế:

– Ứng dụng bêtông tự lèn trong thi công các kết cấu đúc sẵn.

– Ứng dụng bêtông tự lèn trong thi công bêtông khối lớn.

– Ứng dụng bêtông tự lèn để thi công các kết cấu tường mỏng.

– Ứng dụng bêtông tự lèn để thi công ống thép nhồi bêtông.

– Sử dụng bêtông tự lèn để sửa chữa kết cấu bêtông cũ, bị khuyết tật.

– Sử dụng bêtông tự lèn để thi công kè bêtông – đá hộc đổ đống.

1.1.2. Tình hình sử dụng bêtông tự lèn thi công theo phương pháp toàn khối trong xây dựng ở Việt Nam và khu vực Đà Nẵng

Từ năm 1999-2001, trường Đại học Bách Khoa thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu thành công bêtông tự lèn có sử dụng bột đá vôi.Nhưng, kết quả nghiên cứu chưa được áp dụng vào thực tế xây dựng các công trình.

Năm 2008, khoa Xây dựng Cầu đường trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đã nghiên cứu ứng dụng bêtông tự lèn dùng cho đường sân bay. Kết quả nghiên cứu đã được áp dụng vào công trình xây dựng cảng Cái Mép Thị Vải.

Hiện nay, tại Đà Nẵng đã và đang triển khai rất nhiều dự án xây dựng công trình Thủy lợi – thủy điện lớn, nhà cao tầng, các công trình cầu lớn có dạng kết cấu phức tạp. Việc ứng dụng bêtông tự lèn đã đem lại lợi ích đáng kể về mặt kinh tế và kỹ thuật.

Bảng 1.1. Một số công trình điển hình sử dụng bêtông tự lèn

STTCông trìnhĐịa điểm
Trên thế giới
1Cầu treo Akashi KaikyoNhật Bản
2Cầu treo trên đảo Russki (Saint Peterburg)Nga
3Hầm Sodra LankenThụy Điển
Ở Việt Nam
4Tòa nhà Keangnam, Phú Mỹ HưngTP. Hồ Chí Minh
5Cầu Mỹ ThuậnBắc qua sông Tiền
6Đập dâng Văn PhongBình Định
7Các tòa nhà thuộc dự án Trung HòaHà Nội
8Cầu BínhHải Phòng
9Cầu Bãi CháyQuảng Ninh
10TT hành chính ĐNĐà Nẵng

1.2. ĐẶC THÙ CỦA KHÍ HẬU Ở ĐÀ NẴNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÊTÔNG TỰ LÈN THI CÔNG THEO PHƯƠNG PHÁP TOÀN KHỐI

1.2.1. Khái quát về đặc điểm khí hậu khu vực Đà Nẵng

Khí hậu khu vực Đà Nẵng chịu ảnh hưởng của khí hậu 2 miền Bắc và Nam, khí hậu nghiêng về đặc điểm miền Nam. Nhìn chung Đà Nẵngnằm trong vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm với các đặc trưng cơ bản: giá trị trung bình của nhiệt độ và độ ẩm không khí trong năm cao, thời gian nắng, mưa theo chu kỳ và kéo dài. Về cơ bản, nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí cao là điều kiện thuận lợi cho quá trình đóng rắn của bêtông. Tuy nhiên, cần đặc biệt chú ý thời gian mà khu vực miền trung có gió khô nóng (gió Lào) với các thông số khí hậu ảnh hưởng xấu đến quá trình đông cứng của bêtông toàn khối, để không bị nứt mặt do gió nóng làm bêtông mất nước quá nhanh.

Mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 8 đến tháng 12 và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 7. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 25,90C; cao nhất vào các tháng 6, 7, 8, trung bình từ 35-370C; thấp nhất vào các tháng 12, 1, 2, trung bình từ 18-230C. Cường độ bức xạ trung bình 4,89 kWh/m2/ngày. Độ ẩm không khí trung bình là 83,4%; cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 85,67-87,67%; thấp nhất vào các tháng 6,7, trung bình từ 76,67-77,33%. Lượng mưa trung bình hàng năm là 2.504,57 mm/năm; lượng mưa cao nhất vào các tháng 10, 11, trung bình từ 550-1.000 mm/tháng; thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4, trung bình từ 23-40 mm/tháng. Số giờ nắng bình quân trong năm là 2.156,2 giờ; nhiều nhất là vào tháng 5, 6, trung bình từ 234 đến 277 giờ/tháng; ít nhất là vào tháng 11, 12, trung bình từ 69 đến 165 giờ/tháng.

Với biến thiên nhiệt độ, độ ẩm trong ngày 12 tháng 8 năm 2014 (thời tiết khô) tại khu vực Đà Nẵng. Sử dụng nhiệt kế để đo nhiệt độ, ẩm kế để đo độ ẩm không khí. Cứ sau 1giờ đồng hồ đo lấy số liệu (bảng 1.2). Nhận thấy vào thời gian từ 12giờ đến 15giờ, thời tiết nắng nóng, nhiệt độ cao từ 39-400C, độ ẩm thấp 39-43%, sự biến thiên trong ngày của nhiệt độ và độ ẩm rất lớn: ΔT = 6÷120C; ΔW = 17÷35%.

Bảng 1.2. Nhiệt độ và độ ẩm không khí trong một ngày (thời tiết khô)

Thời gian0123456789101112
Nhiệt độ313029.52928.52930313234363839
Độ ẩm60636971747165615753494643
Thời gian131415161718192021222324
Nhiệt độ4039.539383736.5363534333231
Độ ẩm394042454749505355576061

Hình 1.1. Biến thiên nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí mùa khô:

1 – nhiệt độ, 0C; 2 – độ ẩm, %

Sự biến thiên nhiệt độ, độ ẩm trong ngày 14 tháng 10 năm 2014 (thời tiết ẩm) tại khu vực Đà Nẵng. Sử dụng nhiệt kế để đo nhiệt độ, ẩm kế để đo độ ẩm không khí tương tự như trên để lấy số liệu (bảng 1.3). Ta thấy nhiệt độ cao nhất vào thời gian từ 10giờ đến 14giờ, nhiệt độ cao nhất từ 28-290C, độ ẩm thấp nhất 75-79%,sự biến thiên trong ngày của nhiệt độ và độ ẩm nhỏ: ΔT = 3÷60C; ΔW = 9÷20%.

Bảng 1.3. Nhiệt độ và độ ẩm không khí trong một ngày (thời tiết ẩm)

Thời gian0123456789101112
Nhiệt độ232323.5242525.52626.527272828.529
Độ ẩm95939290878583828180797775
Thời gian131415161718192021222324
Nhiệt độ292827.527.52726.5262625.5252423.5
Độ ẩm767879808283848587889092

Hình 1.2. Biến thiên nhiệt độ và độ ẩm tương đối của không khí mùa mưa:

1 – nhiệt độ, 0C; 2 – độ ẩm, %

1.2.2. Ảnh hưởng của điều kiện khí hậu đến công tác thi công bêtông toàn khối

Bêtông toàn khối chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện khí hậu và môi trường xung quanh, đó là: nhiệt độ không khí, độ ẩm không khí, tốc độ gió, bức xạ mặt trời, lượng mưa và lượng bốc hơi nước. Về mặt thuận lợi khí hậu nóng ẩm thúc đẩy quá trình ninh kết và đóng rắn của vữa bêtông, tăng nhanh tốc độ phát triển cường độ, rút ngắn thời gian tháo dỡ ván khuôn. Tuy nhiên khí hậu nắng gắt, gió nhiều cũng làm tăng nhanh quá trình bốc hơi nước của bêtông ở giai đoạn ban đầu vì vậy làm ảnh hưởng đến chế độ bảo dưỡng bêtông, ảnh hưởng đến sự phát triển cường độ bêtông, thời điểm tiến hành đổ bêtông.

a. Ảnh hưởng đến công tác cốt thép, ván khuôn

Đối với ván khuôn, nhiệt độ cao kéo dài làm cho ván khuôn gỗ dễ bị giòn dẫn đến khả năng chịu lực của ván khuôn giảm, ván khuôn dễ bị cong vênh khó cho việc lắp dựng trong quá trình thi công. Khí hậu nóng ẩm làm cho ván khuôn thép dễ bị hoen gỉ làm giảm tuổi thọ ván khuôn đồng thời gia tăng chi phí bảo dưỡng ván khuôn. Đối với cốt thép, độ ẩm không khí cao làm cho cốt thép bị hoen gỉ, do đó trước khi đổ bêtông cốt thép phải được vệ sinh sạch sẽ để đảm bảo sự dính kết giữa bêtông và cốt thép.

b. Ảnh hưởng đến công nghệ chế tạo, vận chuyển vữa bêtông

Ở Đà Nẵng, về mùa hè nhiệt độ môi trường cao, độ ẩm thấp ảnh hưởng rất lớn đến công nghệ chế tạo và vận chuyển vữa bêtông.Bêtông vận chuyển đến công trình cần có các biện pháp che chắn để bêtông không bị nung nóng bởi bức xạ mặt trời.Thời gian chờ bêtông không nên quá 1,5giờ là dựa trên kinh nghiệm thi công bêtông trong điều kiện khí hậu nóng ẩm. Thông thường sau khoảng 1-1,5giờ, tùy theo tình hình thời tiết lúc thi công, độ sụt bêtông đã giảm đáng kể nên khó thi công san gạt. Theo [24] hỗn hợp bêtông có độ sụt ban đầu 16cm, sau 1,5giờ chờ ngoài trời nắng vào mùa hè tại Hà Nội độ sụt giảm xuống chỉ còn 2cm. Khi có dùng phụ gia dẻo hóa cao cũng chỉ còn 5cm. Mặc dù độ sụt bêtông giảm nhanh như vậy, nhưng do bêtông được chứa trong thùng xe và có sự quay trộn lại hỗn hợp bêtông trước khi đổ, nên sau thời gian chờ 1,5giờ độ sụt bêtông vẫn được hoàn lại và mức tổn thất là không nhiều. Đối với bêtông khối lớn, do được để trong xe kín và được quay trộn lại trước khi đổ, thời gian chờ bêtông có thể kéo dài hơn. Khi thi công vào mùa đông thì thời gian chờ bêtông có thể kéo dài hơn mùa hè.

Giới hạn chờ tối đa có thể lên đến 4giờ là xét trên khía cạnh tổn thất độ sụt bêtông sau 4giờ chưa đến mức sẽ không thi công được đối với bêtông vận chuyển bằng xe bêtông và được quay trộn lại trước khi đổ vào công trình. Với thời gian kết thúc ninh kết của xi măng không quá 10giờ thì thời gian chờ bêtông 4giờ sẽ không làm ảnh hưởng đến quá trình đóng rắn của bêtông.

c. Ảnh hưởng đến công tác đổ bêtông

Trong công nghệ đổ bêtông toàn khối quá trình mất nước nhiều hay ít, nhanh hay chậm còn phụ thuộc vào thời điểm đổ bêtông trong ngày. Trong khoảng thời gian 2-3giờ đầu tiên sau khi tạo hình tốc độ mất nước là như nhau, tuy nhiên khoảng thời gian tiếp theo tùy thuộc vào thời điểm đổ bêtông mà tốc độ mất nước có khác nhau. Đổ bêtông vào buổi trưa có độ mất nước ít hơn vào buổi sáng vì về chiều khí hậu dịu hơn, đặc biệt nếu đổ bêtông vào buổi chiều và buổi tối thì độ mất nước giảm rõ rệt [7].

d. Ảnh hưởng đến phương pháp bảo dưỡng bêtông

Đối với bêtông nói chung và bêtông đổ tại chỗ nói riêng, các điều kiện và đặc điểm khí hậu là yếu tố quyết định những yêu cầu và chế độ bảo dưỡng phù hợp. Quá trình bảo dưỡng được phân chia tương đối ra 2 giai đoạn: giai đoạn bảo dưỡng ban đầu và giai đoạn bảo dưỡng cơ bản tiếp theo.

Bêtông đổ tại chỗ chịu ảnh hưởng trực tiếp của môi trường và điều kiện khí hậu xung quanh. Khi thi công nếu không đáp ứng đầy đủ các yêu cầu bảo dưỡng ban đầu sẽ ảnh hưởng lớn đến chất lượng của bêtông sau này. Quá trình hình thành cấu trúc ban đầu của bêtông đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến chất lượng của bêtông về sau. Nếu bêtông có cấu trúc tốt sẽ cho cường độ theo yêu cầu, giảm thiểu lỗ rỗng, hạn chế tối đa việc hình thành các khe nứt.

Khi đánh giá về chế độ bảo dưỡng cần phải đồng thời xem xét hai thông số kỹ thuật sau: cường độ bảo dưỡng tới hạn RthBD, thời gian bảo dưỡng cần thiết TctBD. Ở khu vực Đà Nẵng: cường độ bảo dưỡng tới hạn RthBD vào mùa khô và mùa mưa lần lượt là 50-60%R28 và 35-40%R28, thời gian bảo dưỡng cần thiết TctBD vào mùa khô và mùa mưa lần lượt là 4 ngày và 2 ngày.

Trên hình 1.3 thể hiện hiện tượng bêtông bị mất nước quá nhanh sau khi đổ do không áp dụng phương pháp bảo dưỡng đúng cách, dẫn đến việc bêtông bị trắng mặt và nứt, các vết nứt không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng bề mặt mà có khả năng ảnh hưởng đến cấu trúc và chất lượng bêtông.

Hình 1.3. Bêtông bị mất nước với cường độ lớn

1.3. CÁC PHƯƠNG PHÁP BẢO DƯỠNG BÊTÔNG HIỆN NAY

Bảo dưỡng bêtông hiện nay được thực hiện theo [14]. Tiêu chuẩn qui định bảo dưỡng ẩm tự nhiên cần được tiến hành liên tục ngay sau khi hoàn thiện bề mặt bêtông cho tới khi ngừng quá trình bảo dưỡng. Về cơ bản, có thể chia thành 2 phương pháp bảo dưỡng bêtông: phương pháp bảo dưỡng ẩm và phương pháp bảo dưỡng khô.

1.3.1. Bảo dưỡng ẩm bêtông

a. Để nguyên cốp pha tại chỗ

Cốp pha làm khuôn đúc kết cấu bêtông được để nguyên không tháo dỡ, nhằm giảm lượng bốc hơi nước, duy trì độ ẩm, thường áp dụng cho kết cấu cột, dầm. Nhược điểm của phương pháp này là lâu tháo dỡ ván khuôn, nếu đổ bêtông vào những thời điểm khô nóng ván khuôn dược sử dụng bằng gỗ sẽ khô đi khi đó bắt buộc lại phải phun nước để giữ ẩm. Trong thực tế ván khuôn cột, thành dầm là ván khuôn không chịu lực do đó bêtông đạt cường độ khoảng 20% cường độ thiết kế (sau 24giờ) người ta đã tháo dỡ ván khuôn. Vì vậy cần phải bảo vệ bề mặt bêtông đã lộ ra để tránh mất hơi nước quá sớm khi cường độ bêtông còn nhỏ.

b. Phun nước bề mặt bêtông có phủ vật liệu giữ ẩm

Đây là phương pháp đang được áp dụng phổ biến vì thi công đơn giản, hiệu quả đạt được khá tốt. Vật liệu giữ ẩm rẻ tiền, dễ kiếm: bao tải, rơm rạ, mùn cưa,… Được phủ toàn bộ bề mặt, sau đó bơm nước giữ ẩm thường xuyên. Phương pháp này được áp dụng cho tất cả các kết cấu bêtông đổ tại chỗ cũng như bêtông đúc sẵn ngay sau khi hoàn thiện bề mặt xong. Nhìn chung nếu yêu cầu bảo dưỡng ẩm dài thì phương pháp này phần nào cản trở đến các thao tác thi công bên trên.

c. Phun nước tạo ẩm bề mặt

Phun nước lên bề mặt bêtông đã có cường độ nhất định (≥ 5 KG/cm2) nhằm tạo ẩm cho bề mặt bêtông. Phương pháp này hiện cũng được sử dụng rộng rãi cho tất cả các kết cấu bêtông đổ tại chỗ và bêtông đúc sẵn. Chỉ được tưới nước lên bề mặt bêtông khi bêtông đã đạt được cường độ nhất định để không làm hỏng bề mặt của bêtông. Tuyệt nhiên không được thay đổi chu kỳ tưới nước vì như vậy sẽ làm xuất hiện các vết nứt chân chim và khe nứt trên bề mặt bêtông.

d. Ngâm nước

Người ta tạo nên các “bể nước” trên bề mặt bêtông mới đổ nhưng đã có một cường độ cho phép bơm nước. Phương pháp này thường áp dụng cho các kết cấu có diện rộng và thuận tiện cho việc ngâm nước như: sàn bêtông, mặt đường bêtông… Người ta xây gạch theo chu vi của bề mặt bêtông cần ngâm nước, sau đó bơm nước vào ngập trên bề mặt bêtông từ 2÷3cm, thời gian ngâm từ 3÷5 ngày. Phương pháp này thích hợp với những vùng có khí hậu khô nóng vì nó có tính thường xuyên hơn là phun nước. Tuy nhiên phương pháp này chỉ áp dụng cho các kết cấu có bề mặt rộng, nằm ngang còn các kết cấu có bề mặt hẹp, thẳng đứng như cột, dầm không hoặc khó áp dụng.

1.3.2. Bảo dưỡng khô bêtông

Sử dụng các tấm mỏng, mềm, không thấm nước như giấy nến, giấy dầu hay các tấm nilon trong suốt phủ lên toàn bộ bề mặt bêtông ngay sau khi tạo hình xong nhằm cản trở sự bay hơi nước. Đặc biệt nếu sử dụng nilon trong suốt vào thời điểm có nắng vừa có tác dụng không cho bay hơi nước đồng thời nhận năng lượng mặt trời, nâng nhiệt độ bên trong bêtông, thúc đẩy nhanh quá trình đóng rắn của vữa bêtông, rút ngắn thời gian chờ tháo ván khuôn. Ngoài ra người ta còn có thể phun lên bề mặt bêtông mới đổ các hợp chất hóa học, hợp chất này có tính chất là không tác dụng với bêtông, không ảnh hưởng đến chất lượng của bêtông. Các hợp chất bơm phủ này sẽ tạo nên một màng giữ cho nước không thể bay hơi.

1.4. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC BẢO DƯỠNG BÊTÔNG TỰ LÈN Ở KHU VỰC ĐÀ NẴNG

1.4.1. Thực trạng công tác bảo dưỡng bêtông ở khu vực Đà Nẵng

Các phương pháp chính thường được dùng để bảo dưỡng bêtông ở khu vực Đà Nẵng là phương pháp bảo dưỡng ẩm: phun nước bề mặt bêtông có vật liệu giữ ẩm, phun nước tạo ẩm bề mặt, ngâm nước (thường được áp dụng khi thi công các tầng mái). Tuy nhiên thời điểm bắt đầu công tác bảo dưỡng thường dựa theo kinh nghiệm không theo một tiêu chuẩn, quy phạm nào cả dẫn đến ảnh hưởng đến chất lượng bêtông sau này. Phương pháp bảo dưỡng khô thường ít được áp dụng, một phần do chi phí cao, một phần biện pháp triển khai phức tạp.

Thực tế thi công hiện nay ở khu vực Đà Nẵng cho thấy, các đơn vị thi công thường không thực hiện đúng theo [14] hoặc bỏ qua giai đoạn bảo dưỡng ban đầu và hầu như không thực hiện bảo dưỡng bêtông ngay từ khi mới tạo hình xong. Tuy nhiên đây là giai đoạn rất quan trọng, đặc biệt khi trời nắng (lượng bức xạ mặt trời lớn), nhiệt độ môi trường cao, tốc độ gió lớn, độ ẩm không khí thấp, sự mất nước và biến dạng mềm xảy ra rất nhanh và mạnh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành cấu trúc ban đầu có lợi cho bêtông.

Mặt khác việc thi công các kết cấu phía trên (lắp đặt ván khuôn, cốt thép, xây tường,…) thường được tiến hành chỉ sau khi bêtông mới đổ được một đến hai ngày (ngày hôm trước đổ bêtông sàn, ngày hôm sau đã bắt đầu triển khai thi công tiếp tầng trên), đây là thói quen xấu coi thường các nguyên tắc cơ bản, va đập mạnh trong quá trình thi công lên bề mặt bêtông mới đổ chưa đủ cường độ chính là nguyên nhân làm giảm khả năng bám dính của bêtông với cốt thép, làm giảm cường độ của bêtông, làm giảm khả năng chịu lực của kết cấu. Theo [14] thì thời gian bảo dưỡng cần thiết để bêtông đạt được cường độ bảo dưỡng tới hạn ở khu vực Đà Nẵng là 4 ngày vào mùa khô và 2 ngày vào mùa mưa.

Việc thực hiện bảo dưỡng theo [14] về cường độ bảo dưỡng tới hạn RBDth và thời gian bảo dưỡng cần thiết TBDct thường không được các nhà thầu thực hiện đúng. Có thể xuất phát từ các nguyên nhân: yêu cầu về mặt tiến độ, biện pháp tổ chức thi công không tốt, việc giám sát của đơn vị tư vấn không chặt chẽ, nhận thức không đúng của nhà thầu về công tác bảo dưỡng, …

1.4.2. Những khó khăn bất cập của công tác bảo dưỡng bêtông

Tiêu chuẩn qui định bảo dưỡng ẩm tự nhiên cần được tiến hành liên tục ngay sau khi hoàn thiện bề mặt bêtông cho tới khi ngừng quá trình bảo dưỡng. Bêtông sau khi tạo hình xong cần phủ ngay bề mặt hở bằng các vật liệu đã được làm ẩm (là các vật liệu địa phương hoặc các vật thích hợp sẵn có). Lúc này không tác động lực cơ học và không tưới nước trực tiếp lên mặt bê tông để tránh cho bê tông bị hư hại bề mặt. Tuy nhiên việc áp dụng trong thực tế gặp một số khó khăn:

– Ngay sau khi đổ bêtông, trên bề mặt bêtông của cấu kiện là một lớp nước xi măng, sự đi lại trên bề mặt bêtông sau khi đổ là hạn chế vì sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng hoàn thiện bề mặt. Như vậy việc che ngay bề mặt bêtông sau khi đổ bằng các vật liệu làm ẩm là không thể thực hiện được.

– Việc tưới nước định kỳ lên bề mặt bêtông trong điều kiện thời tiết nắng nóng thường được các nhà thầu thực hiện không đúng phương pháp. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy dưới tác dụng của sự tưới nước định kỳ, trong khi nhiệt độ của nước khi tưới nhỏ hơn nhiều so với nhiệt độ bề mặt bêtông dưới tác dụng của nhiệt độ không khí và bức xạ mặt trời sẽ dẫn đến sự xung nhiệt liên tục của bề mặt bêtông, ảnh hưởng xấu đến cấu trúc và các tính chất cơ – lý của bêtông [2],[23].

Theo khảo sát của tác giả ngoài công trường thi công các nhà thầu thực hiện việc bảo dưỡng bêtông một cách hình thức mang tính đối phó, hoặc là thực hiện không đúng, không hiệu quả. Công tác bảo dưỡng chủ yếu được thực hiện bằng cách tưới nước định kỳ, ngày 2-3 lần không phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Thời gian bắt đầu tưới nước hoặc che bạt phần lớn theo quan sát của chúng tôi là sau 7-10giờ tính từ thời điểm kết thúc đổ bêtông, và thường là sang ngày hôm sau.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Hiện nay công nghệ thi công đổ bêtông toàn khối được ứng dụng rộng rãi trong xây dựng và chiếm tỉ trọng lớn. Bêtông tự lèn cũng đã được sử dụng rất nhiều cho các công trình xây dựng trong nước. Từ kết quả nghiên cứu của chương 1, ta thấy bêtông nói chung và bêtông tự lèn nói riêng chịu ảnh hưởng trực tiếp của các điều kiện khí hậu xung quanh: nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, lượng bức xạ mặt trời, bốc hơi nước. Chính những yếu tố khí hậu này là một trong nhiều nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của bêtông. Ngoài ra còn có nhiều yếu tố khác cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng bêtông đó là: mức độ khô hay ướt của vữa bêtông, công tác đầm bêtông, các phương pháp bảo dưỡng bêtông ngay sau khi tạo hình xong.

Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn
Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

Đã có nhiều phương pháp bảo dưỡng khác nhau được ứng dụng ở cả trong và ngoài nước được đề cập, phương pháp bảo dưỡng ẩm bêtông, phương pháp bảo dưỡng khô bêtông, sử dụng năng lượng mặt trời, phun màng mỏng bảo dưỡng. Nhưng việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều bất cập: bắt đầu bảo dưỡng khi nào, thời gian bảo dưỡng bao lâu, việc đi lại thi công trên bề mặt bêtông diễn ra khi nào?

Trong giới hạn đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu phương pháp bảo dưỡng bêtông bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon. Trong đó nghiên cứu sự mất nước của bêtông dưới ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, thành phần cấp phối, điều kiện bảo dưỡng? Chất lượng bêtông và sự phát triển cường độ khi phủ bằng vải ẩm hoặc che nilon dưới ảnh hưởng của thời tiết và điều kiện bảo dưỡng? Xác định thời điểm bắt đầu bảo dưỡng và thời gian bảo dưỡng cần thiết bằng cách phủ vải ẩm hoặc che nilon? Ảnh hưởng của phương pháp bảo dưỡng đến sự phát triển cường độ của bêtông tự lèn

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\LUAN VAN 2014\LUAN VAN KY THUAT\LUAN VAN LOP K26 XDDD\NGUYEN DUY VAN

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *