Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt
Bình đẳng giới là lĩnh vực rộng và có liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực. Bình đẳng giới hiện nay là vấn đề quan trọng được nhiều nước, nhiều quốc gia quan tâm. Như vậy, bình đẳng giới không là vấn đề riêng của giới nữ, của quốc gia mà là mục tiêu phấn đấu thúc đẩy thực hiện của nhiều quốc gia.
Ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất đối với con người. Ngôn ngữ không chỉ có chức năng củng cố và duy trì tồn tại xã hội. Với cách nhìn này, từ góc độ giới có thể nhận thấy, ngôn ngữ phán ánh quan niệm, cách nhìn nhận của con người về giới mà còn có thể tác động, góp phần vào việc thay đổi nhận thức của con người về giới.
Trong những năm gần đây, ngôn ngữ học xã hội – một ngành mới phát triển rất quan tâm đến vấn đề ngôn ngữ và giới tính. Một trong những mối quan tâm của ngôn ngữ xã hội học là vấn đề giới và giới tính trong ngôn ngữ. Có thể nói, ngôn ngữ về giới là những vấn đề luôn hấp dẫn và luôn được coi là mới, phát triển mạnh của ngôn ngữ xã hội học. Vấn đề về giới là chủ đề rất lớn liên quan đến nhiều mặt của đời sống con người như nhận thức, thói quen, văn hóa, xã hội…Về mặt lí luận, giới không chỉ trong quan hệ xã hội, luật pháp, thể chế giáo dục mà còn tác động đến giao tiếp xã hội, phát triển xã hội và nhận thức. Về mặt thực tiễn, vấn đề giới liên quan mật thiết đến sự thay đổi quan niệm về đời sống, vị thế ở gia đình cũng như ngoài xã hội giữa nam và nữ. Giới thể hiện qua ca dao như thế nào thì cần có sự giải đáp cụ thể qua điều tra, khảo sát, phân tích tư liệu.
Trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam, ca dao là một thể loại chiếm số lượng khá lớn. Ngay từ thuở xa xưa, lúc chưa có ngành khoa học về ngôn ngữ, các dân tộc đã đúc kết những kinh nghiệm vào lời ăn tiếng nói của mình và cho đến nay, những kinh nghiệm này vẫn còn nguyên giá trị. Cho dù chỉ mới là kinh nghiệm, nhưng tính triết lí dân gian đó vẫn giàu sức thuyết phục và có thể sẽ sống mãi với thời gian. Bởi vì ca dao Việt Nam là sự đúc kết vốn sống, kinh nghiệm thực tế được khái quát hóa thành triết lí một cách hình tượng, hàm súc, Ở ca dao, ta có thể thấy cả một kho tài liệu hết sức phong phú, đa dạng về phong tục tập quán của nhân dân lao động. Nó phản ánh trung thực nhất hiện thực xã hội và cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của con người. Và dường như qua ca dao đời sống nội tâm của con người được diễn đạt vô cùng giản dị, mộc mạc nhưng rất phong phú, sâu sắc. Đó là một gia tài vô cùng quý giá đang hiện hữu và nuôi dưỡng mọi thế hệ con người trên đất nước Việt Nam thân yêu. Vì vậy, mà bất cứ thế hệ nào cũng đều yêu quý, trân trọng ca dao Việt Nam.
Chính vị trí đặc biệt quan trọng của ca dao trong kho tàng văn học dân gian cũng như trong lòng độc giả thưởng thức mà việc tìm hiểu ca dao ở bất kỳ phương diện nào cũng được xem là một bước khám phá rất có ý nghĩa. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về ca dao trên nhiều bình diện, góc độ. Và chúng ta không thể bỏ qua một mảng đề tài phản ánh nhận thức, tình cảm của xã hội thể hiện trong ca dao khá đậm nét là từ ngữ chỉ giới .Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu “Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt”.
Đề tài góp phần tìm hiểu một lĩnh vực còn khá mới mẻ và thú vị trong nghiên cứu ngôn ngữ từ góc độ ngôn ngữ học xã hội. Với phạm vi nghiên cứu là ca dao, chúng tôi mong muốn đưa ra những quan niệm mới, cách nhìn khái quát hơn về giới trong các sáng tác dân gian phong phú này, nhằm góp phần xây dựng được hệ thống đặc điểm từ ngữ chỉ giới trong ca dao dưới góc nhìn ngôn ngữ học trên hai bình diện từ vựng và ngữ nghĩa. Nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn tìm hiểu thêm những biểu hiện phong phú về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng quan niệm của dân gian về từ ngữ chỉ giới qua ca dao người Việt, đồng thời nâng cao nhận thức về sự ảnh hưởng, giá trị, ý nghĩa của ca dao đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu là khảo sát Kho tàng ca dao người Việt (tập 1,2,3) của Nguyễn Xuân Kính và Phan Đăng Nhật chủ biên, năm 1995, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội. Ngoài ra chúng tôi có tham khảo các công trình về ca dao như “Tổng tập ca dao người Việt” của Nguyễn Xuân Kính chủ biên, Tục ngữ ca dao dân ca của Vũ Ngọc Phan.
– Phương pháp, thủ pháp nghiên cứu khoa học chung,
– Phương pháp miêu tả – phân loại và phân tích ngôn ngữ học
Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng thêm một số thủ pháp, đó là: thủ pháp thống kê ngôn ngữ học; thủ pháp phân tích vị từ tham tố và phân tích ngữ cảnh; thủ pháp phân tích đối chiếu để tìm ra nét giống và khác biệt về từ chỉ giới và tính cách giới.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo; phần nội dung luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Khái quát chung
Chương 2: Đặc điểm từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt
Chương 3: Giá trị biểu đạt của từ ngữ chỉ giới trong ca dao người Việt
CHƯƠNG 1
1.1. KHÁI QUÁT VỀ GIỚI VÀ GIỚI TÍNH
1.1.1. Giới thiệu thuật ngữ về giới và giới tính
Quan điểm giới mới được du nhập vào Việt Nam nhưng đã có tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Vấn đề về giới và giới tính không phải là vấn đề mới nhưng chưa có quan điểm nào luận bàn đầy đủ về giới, giới tính; giữa giới và giới tính cũng không có sự tách biệt rõ rệt. Vì thế, trên cơ sở tiếp thu những thành quả đi trước, chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu và đưa ra quan niệm của mình.
Qua nghiên cứu và tìm hiểu, chúng tôi đã thu thập được một vài số liệu sau: Tỷ lệ phụ nữ chiếm 50,8% dân số, nam chiếm 49,2% dân số. Lao động nữ chiếm 48 %, lao động nam chiếm 52 %. Số giờ làm việc nhà trong ngày của phụ nữ nhiều hơn nam giới từ 3-5 giờ. Thu nhập của phụ nữ làm công ăn lương bằng 75% thu nhập của nam giới. Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý lãnh đạo dưới 15%. Qua nghiên cứu, bước đầu chúng ta thấy có sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới. Phụ nữ chiếm hơn nửa dân số, là lực lượng lớn, có những đóng góp to lớn quan trọng vào sự phát triển của đất nước nhưng sự tham gia hoạt động và hưởng lợi của phụ nữ và nam giới khác nhau. Vậy xã hội quan niệm, nhìn nhận về vai trò, trách nhiệm trong gia đình, ngoài xã hội, tính cách, hành vi ứng xử của phụ nữ và nam giới có những khác biệt, cụ thể:
| Phụ nữ | Nam giới |
| Làm việc nhà Phục vụ gia đình Dịu dàng Kiên nhẫn Điềm đạm Làm công việc giản đơn Thừa hành | Lao động, kiếm thu nhập Trụ cột gia đình Mạnh mẽ Quyết đoán Nóng nảy Làm công việc kĩ thuật Lãnh đạo |
Những đặc điểm nêu trên cho thấy, nam giới có thể thực hiện thì phụ nữ cũng có thể thực hiện. Như vậy, chúng ta nhận ra rằng, xã hội quan niệm có sự khác biệt rõ rệt giữa nữ giới và nam giới về vai trò, trách nhiệm, quyền hạn và hành vi ứng xử và những quan niệm này có thể thay đổi được. Vậy, sự khác biệt xã hội giữa nữ giới và nam giới do xã hội và con người tạo nên gọi là giới.
Theo luật bình đẳng giới năm 2006 tại điều 2, khoản 5, giới là thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới về vị trí, vai trò, quyền hạn và hành vi ứng xử trong bối cảnh cụ thể, trong tất cả các mối quan hệ xã hội. Về cơ bản, giới cấu thành từ 3 góc nhìn: giới tính sinh học, mong đợi xã hội (như văn hóa, truyền thống…), bản dạng giới (cảm nhận của mỗi cá nhân về giới tính của mình). Giới tính: là chỉ sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa năm 2012, giới là lớp người trong xã hội phân theo một đặc điểm rất chung nào đó, về nghề nghiệp, địa vị xã hội. Giới tính là những đặc điểm chung để phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái. [51, tr.526]
Như vậy, chúng ta thấy rất rõ sự khác biệt giữa giới và giới tính. Khái niệm giới được nhìn không chỉ ở góc độ sinh học mà còn ở nhiều góc độ khác: xã hội học, tâm lí học, lịch sử, địa lí,… Còn giới tính chỉ thuần ở góc độ sinh học, chỉ những đặc điểm để phân biệt nam, nữ, giống đực, giống cái. Rõ ràng, giới là sự khác biệt mang tính xã hội (không phải sự khác biệt về sinh học), chỉ sự tương quan về vai trò xã hội, vị trí và giá trị xã hội giữa phụ nữ và nam giới.
1.1.2. Khái lược về đặc điểm giới và giới tính
Giới có đặc trưng xã hội, do xã hội và con người tạo nên. Không mang tính di truyền, mà mang tính tập nhiễm, đa dạng theo vùng miền, dân tộc, tập quán của cộng đồng xã hội đó tạo nên. Giới có tính biến thiên, có thể thay đổi được bởi nhiều tác động. Vì vậy, xã hội và con người cần thúc đẩy để tạo nên quan hệ giới tiến bộ.
Giới tính có đặc trưng sinh học, tự nhiên, có yếu tố bẩm sinh, vì vậy không thay đổi được. Giới tính giống nhau ở mọi nơi, không phụ thuộc thời gian, không gian cụ thể nào, ở bất cứ nơi nào trên thế giới, vào bất kì giai đoạn lịch sử nào cũng đều giống nhau. Giới tính biến đổi theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào ý muốn của con người. Giới tính thể hiện ở cấu tạo cơ thể con người, trong đó có cấu tạo của bộ máy phát âm. Chẳng hạn: Giọng nam thì “ồm ồm”, giọng nữ thì “the thé”. Nghe giọng nói, người ta cũng có thể phân biệt được nam hay nữ. Hay nhìn bên ngoài người nam thì có râu còn nữ thì không có râu.
Phân biệt giới và giới tính:
| Giới | Giới tính |
| – Sự khác biệt về mặt xã hội – Do dạy và học mà có; do mong đợi của xã hội – Mang tính đa dạng – Có thể thay đổi được | – Sự khác biệt về sinh học – Bẩm sinh – Mang tính đồng – Không thay đổi được |
Tóm lại, những đặc điểm nào có ở nam giới và cũng có thể có ở nữ giới được gọi là giới. Những đặc điểm nào chỉ có ở nam giới, hoặc chỉ có ở nữ giới gọi là giới tính.

Với chức năng phản ánh thực tại xã hội mà cụ thể ở đây là phản ánh nhìn nhận về giới của con người, mối quan hệ giữa giới với ngôn ngữ không chỉ cần được xem xét ở các bình diện ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng của ngôn ngữ mà nó còn liên quan đến hàng loạt vấn đề khác như sinh học, địa vị, vai trò trong gia đình cũng như trong xã hội của mỗi giới. Có thể thấy ba vấn đề nổi lên như sau:
Thứ nhất, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới là do cơ thể người như vị trí của phần ngôn ngữ ở trong não, đặc điểm sinh lí cấu âm của mỗi giới dẫn đến sự khác biệt âm thanh ngôn ngữ, âm thanh ngôn ngữ của nữ giới thường trong và cao, âm thanh của nam giới thường trầm và đục.
Thứ hai, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ngôn ngữ để nói về giới. Hay nói một cách cụ thể hơn, dường như trong mỗi ngôn ngữ đều có những từ ngữ chỉ dùng cho giới này mà không dùng cho giới khác.
Thứ ba, sự khác nhau về ngôn ngữ giữa mỗi giới thể hiện ở ngôn ngữ được mỗi giới sử dụng.
Những kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ và giới từ góc độ ngôn ngữ xã hội đã chỉ ra rằng: Ngôn ngữ giới thể hiện qua ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách tức là qua các phương diện ngôn ngữ được tạo lập trong giao tiếp. Có thể nói, yếu tố giới là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ và yếu tố giới còn do quan niệm của xã hội tạo nên. Quan niệm ấy có từ lâu đời, chúng kết thành “định kiến giới” và điều đó cũng thể hiện qua ngôn từ như: Những từ thường chỉ nam giới: phái mạnh, táo bạo, cứng rắn…Những từ thường chỉ nữ giới: phái yếu, yểu điệu, nhẹ nhàng…
Như vậy, giới là vấn đề liên quan nhiều mặt trong xã hội, đấy chính là quan niệm xã hội, do con người tạo nên.
1.3. KHÁI QUÁT VỀ TỪ, NGỮ CHỈ GIỚI TRONG TIẾNG VIỆT
Cho đến nay, trong ngôn ngữ học, các định nghĩa về từ đã được đưa ra không ít. Các định nghĩa ấy, ở mặt này hay mặt kia đều đúng, nhưng đều không đủ và không bao gồm hết được tất cả các sự kiện được coi là từ trong ngôn ngữ và ngay cả trong một ngôn ngữ cũng vậy. Vô số các định nghĩa khác nhau về từ đã ra đời nhưng chưa có định nghĩa nào được đánh giá là đầy đủ. Do đó, một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ đã cực đoan cho rằng không có khái niệm về từ.
Trên cơ sở các quan niệm về từ của các nhà ngôn ngữ, chúng tôi mạnh dạn lựa chọn quan điểm riêng cho mình và dùng làm cơ sở để nghiên cứu, khảo sát chương 2. Theo chúng tôi, từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, dùng để cấu tạo những đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản.
Theo một số sách nghiên cứu về ngôn ngữ, ngữ (hay cụm từ) là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định.
Như vậy, ngữ là đơn vị ngữ pháp ở bậc trung gian giữa từ và câu. Loại ngữ do danh từ làm chính tố gọi là ngữ danh từ, loại ngữ do động từ, tính từ làm chính tố gọi là ngữ động từ, ngữ tính từ.
1.4. KHÁI QUÁT VỀ CA DAO NGƯỜI VIỆT
Thuật ngữ ca dao được dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác nhau. Cùng với thời gian và quá trình nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian thì thuật ngữ ca dao mới dần hình thành. Mỗi nhà nghiên cứu đều có quan niệm khác nhau về ca dao.
Tác giả Lê Đức Luận trong cuốn sách “Cấu trúc ca dao trữ tình người Việt (2011) đã phân biệt rõ giữa ca dao, dân ca và đi đến kết luận “ Ca dao không còn thuật ngữ dùng để chỉ những sáng tác dân gian truyền miệng mà còn là những sáng tác bác học hòa vào dòng chảy dân gian và không đơn thuần chỉ là lời thơ của dân ca…ca dao được tạo ra từ hai nguồn. Nguồn chủ yếu từ lời của các câu hát dân gian và nguồn thứ hai từ các sáng tác ngâm vịnh trong dân chúng được hòa vào dòng chảy dân gian”[45, tr.25]
1.4.2. Đặc trưng ngôn ngữ ca dao
Ngôn ngữ ca dao có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường. Ca dao đã vận dụng linh hoạt tài tình ngôn ngữ thơ mang tính khẩu ngữ. Ngôn ngữ trong ca dao phần lớn là ngôn ngữ thuần Việt, rất ít yếu tố Hán-Việt. Bởi vậy ngôn ngữ ca dao rất đậm tính dân tộc. Nhiều tiếng địa phương của các vùng miền đều được đưa vào ca dao. Có thể nói ca dao chính là nơi lưu giữ một số lượng lớn những lớp từ cổ, từ địa phương, địa danh, sản vật địa phương. Đó chính là nét đặc trưng ngôn ngữ ca dao ít tìm thấy ở các thể loại khác.
1.4.3. Giới tính thể hiện trong ca dao
Thực tế trong lịch sử loài người đã từng đặt vị trí người phụ nữ lên hàng đầu. Đó là thời kì “mẫu hệ” và thời kì này rất ngắn ngủi, còn cơ bản ở thời kì lịch sử nào, người phụ nữ cũng luôn chịu nhiều thiệt thòi. Tác giả dân gian đã diễn tả rất tài tình tâm trạng của phụ nữ lúc xuân thời bằng thứ ngôn ngữ đặc thù của giới nữ.
Xuất phát từ đặc điểm giới tính và điều kiện địa lí, xã hội, lịch sử đã tạo nên sự khác biệt trong ngôn ngữ hai giới. Qua đó, ta thấy không chỉ trong thực tế đời sống xã hội mà trong ca dao cũng có những biểu hiện khác biệt giữa nam giới và giới nữ. Và như một lẽ tự nhiên, ngôn ngữ ca dao cũng có sự thay đổi để phù hợp với mỗi giới.
Trong ngôn ngữ ca dao không nhất thiết phải sử dụng những điểm phân biệt nam hay nữ rõ ràng, có những trường hợp cùng một ngôn ngữ thể hiện vẫn có thể hiện là nam hay nữ, ví dụ “Đó buồn Đây nỏ vui chi”, “đó” “đây” vẫn có thể hiểu là nam hay nữ cũng được.
Ngôn ngữ chỉ giới tính ca dao phong phú và rất đa dạng, nó tạo nên đường nét riêng biệt. Sự kết hợp nhuần nhuyễn các từ ngữ chỉ giới tính trong việc biểu đạt nội dung và hoạt động giao tiếp là nét đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ ca dao.
2.1. ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP VỀ TỪ NGỮ CHỈ GIỚI TRONG CA DAO NGƯỜI VIỆT
a. Từ chỉ giới nam
Trong ca dao, ta bắt gặp một lượng khá lớn từ ngữ chỉ giới tính nói chung, giới nam nói riêng. Chúng tôi khảo có 1.218 từ chỉ giới nam, trong đó số lượng từ đơn xuất hiện nhiều hơn số lượng từ ghép nhiều lần.
Với tần số 1.183 lần xuất hiện, từ “anh” đứng ở vị trí thứ nhất với 471 lần xuất hiện (38,7%), từ “chàng” ở vị trí thứ hai với 229 lần xuất hiện (18,8%), từ “chồng” ở vị trí thứ 3 với 139 lần xuất hiện (11,4%).
Những từ chỉ giới tính nam như: anh, cha, chồng, chàng, quân tử, anh hùng, thuyền,…xuất hiện thường xuyên trong đối đáp nam nữ. Ngoài ra còn những từ chỉ giới tính nam còn xuất hiện trong các từ như: phượng, phụng, khách, qua…
Từ “cha” trong bài ca dao chỉ vị thế của giới nam với tư cách là người bố trong quan hệ với gia đình khi xưng với con như “chàng rễ”. Từ “qua” là từ nhân xưng của nam khi xưng với nữ là “em”. Từ “khách” biểu thị chàng trai khi xưng với cô gái xinh đẹp hiếu khách “vườn đào”. Giới nam được biểu thị là “cá, rồng” trong tương quan với nữ là “nước, mây”. Từ ghép “quân tử”, “trượng phu” có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bài ca dao, nó làm cho bài ca dao thay đổi hoàn toàn sắc thái nghĩa. Hình ảnh cặp đôi “trăng”- “gió”; “loan”-“phụng” biểu trưng cho cô gái và chàng trai, thể hiện tình yêu của đôi nam nữ.
b. Ngữ chỉ giới tính nam
Bên cạnh số lượng từ chỉ giới nam, qua khảo sát, chúng tôi đã tìm được 296 ngữ chỉ giới nam. Với tần số 166 lần xuất hiện, từ “thân anh” đứng ở vị trí thứ nhất với 39 lần xuất hiện (13,18%), từ “làm trai” ở vị trí thứ hai với 37 lần xuất hiện (12,50%), từ “con trai” ở vị trí thứ 3 với 28 lần xuất hiện (9,46%)
Cụm từ “trai anh hùng” tương hợp với “gái thuyền quyên” thể hiện đôi trai tài, gái sắc; “trai tơ” mà lấy “gái nạ dòng” thể hiện người trai tân mà lấy gái đã có chồng; “trai ba mươi tuổi” thể hiện trẻ trung, khỏe khoắn của người đàn ông so với phụ nữ cùng độ tuổi.
Như vậy, có thể thấy, từ ngữ chỉ giới nam xuất hiện dày đặc trong ca dao thể hiện rõ quan niệm về giới từ ngàn xưa của ông cha ta
a. Từ chỉ giới tính nữ
Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm được 1.352 từ chỉ giới tính nữ, trong đó số lượng từ đơn xuất hiện nhiều hơn số lượng từ ghép nhiều lần. Với tần số 1.223 lần xuất hiện, đối với từ đơn, trong đó từ “em” đứng ở vị trí thứ nhất với 312 lần xuất hiện (23,1%), từ “ thiếp” ở vị trí thứ hai với 153 lần xuất hiện (11,3%), từ “ nàng” ở vị trí thứ 3 với 132 lần xuất hiện (9,8%); đối với từ ghép từ “ đàn bà” ở vị trí thứ 1 với 57 lần xuất hiện (4,2%), từ hoa đào, hoa lan, hoa bí..xuất hiện với số lượng ít từ 5-7 lần
Khi nhắc đến từ chỉ giới nữ trong ca dao, chúng ta không thể bỏ qua “cô”, “bà”, “chị”, “em”, “nàng”, “thiếp”….Sự xuất hiện lặp đi lặp lại những từ ngữ chỉ giới nữ như trên mang nhiều ý nghĩa, không đơn giản để chỉ giới nữ, mà trong nhiều bài ca dao để chỉ người vợ trong mối quan hệ với chồng, người yêu, người tình đã ước hẹn, thề nguyền.
b. Ngữ chỉ giới tính nữ
Qua khảo sát chúng tôi tìm được 753 ngữ chỉ giới nữ, trong các ngữ đó, chúng tôi chú ý nhiều đến cụm từ “thân em” với 85 lần xuất hiện. Kết cấu “thân em” là tiếng tơ lòng đồng điệu của bao tâm hồn phụ nữ. Cụm từ “thân em” kết hợp với phép so sánh làm cho lời ca dao giàu hình ảnh, khơi gợi cảm xúc. Cách cấu tạo ngữ chỉ giới nữ cũng khá đặc biệt, ví như: “cô thỉ”, “cô thi”, “cô kia”, “bà cốt”… Đi kèm một đại từ chỉ giới trực tiếp như: “nàng”, “em”, “bà”, cô” là chỉ từ “kia”, “này”, “ấy” hoặc tính từ, danh từ “thỉ”, “thi”, “cốt”, “tú”, “cai”. Hình ảnh người phụ nữ xuất hiện luôn trong tình trạng mập mờ, một cách chung chung, không rõ ràng, luôn là “cô ấy”, “cô kia”, “cô này”,…hoặc hình ảnh họ luôn đi kèm với chức vụ, công việc, vị trí, vị thứ,… của người chồng. Họ bị lu mờ, khuất sau cái bóng của người chồng, luôn trong danh nghĩa “bà tú”, “bà cai”, “bà cốt”. Ngoài ra, còn xuất hiện một số cụm từ chỉ giới khác mang ý nghĩa gián tiếp như : “bánh rán”, “mâm hồng”
2.1.3. Từ ngữ chưa xác định được giới
a. Từ chưa xác định giới
Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm được 242 từ mang chưa xác định rõ thuộc về giới nào, chúng tôi cũng đã lọc ra những thành tố xuất hiện nhiều lần để biểu thị. Với tần số xuất hiện, từ “ai” đứng ở vị trí thứ nhất với 79 lần xuất hiện (32,6%), từ “ người” ở vị trí thứ hai với 34 lần xuất hiện (14,05%).
Trong những bài ca dao có lối xưng hô đại từ phiếm chỉ “ai”, đại từ chỉ định “đây, đó, đấy” khó xác định giới tính. Hoặc từ “ bậu”, “qua” xuất hiện trong một số bài ca dao cũng khó phân biệt là nam hay nữ
b. Ngữ chưa xác định giới
Qua khảo sát, chúng tôi đã tìm ra 40 ngữ chưa xác định được giới, trong đó, một số ngữ thường xuyên lặp lại với tần số cao.
Trong những bài ca dao với cụm từ “ thuyền ai”, “thân ai”… không xác định được giới tính là của nam hay của nữ:
2.2. ĐẶC ĐIỂM NGỮ NGHĨA VỀ TỪ NGỮ CHỈ GIỚI TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGƯỜI VIỆT
2.2.1. Những từ ngữ trực tiếp biểu thị về giới
Nghĩa trực tiếp ở đây được hiểu là cách dùng từ ngữ với các nét nghĩa xuất hiện trong từ điển, không có sự tham gia của các phép chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Qua khảo sát, chúng tôi tìm được 3.253 số lượng từ ngữ mang ý nghĩa trực tiếp
a. Từ ngữ trực tiếp chỉ giới nam
Qua khảo sát ba tập ca dao, chúng tôi tìm được 1.419 từ ngữ chỉ giới nam theo nghĩa trực tiếp. Trong đó, nhiều từ xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần, như: anh, chồng, chàng, ông, cha, quân tử, anh hùng, …
b. Những từ ngữ trực tiếp biểu thị về giới nữ
Chúng tôi tìm được 1.834 từ ngữ trực tiếp về giới nữ. Trong đó, nhiều từ ngữ xuất hiện lặp đi lặp lại nhiều lần như: cô, nàng, em, vợ, thiếp.
2.2.2. Những từ ngữ gián tiếp chỉ giới
Nếu những từ ngữ trực tiếp chỉ giới mang ý nghĩa lâu dài thì ngược lại, những từ ngữ gián tiếp chỉ giới mang ý nghĩa tạm thời, chỉ xuất hiện trong ngữ cảnh bài ca dao hoặc là những tín hiệu thẩm mĩ gốc được cấu tạo theo hiện tượng chuyển nghĩa ẩn dụ, hoán dụ. Chúng tôi khảo sát được 366 từ ngữ gián tiếp biểu thị giới
a. Những từ ngữ gián tiếp biểu thị về giới nam
Qua khảo sát, chúng tôi tìm được 93 từ ngữ gián tiếp chỉ giới nam xuất hiện nhiều lần trong ca dao, ví như: bướm, chim, đò, mây,…
b. Những từ ngữ gián tiếp biểu thị về giới nữ
Qua khảo sát, tìm được 271 từ ngữ, chúng tôi nhận ra nhiều từ xuất hiện nhiều lần trong ca dao, ví như: cúc, đào, bến, đào tơ, hoa thơm mất nhị…
2.2.3. Phương thức tu từ biểu thị về giới
Trong công trình này, chúng tôi muốn luận bàn sâu về cách cấu tạo các từ ngữ chỉ giới gián tiếp thông qua các biện pháp tu từ ẩn dụ, hóa dụ. Qua khảo sát chúng tôi tìm thấy hầu hết các từ được cấu tạo để biểu thị ý nghĩa gián tiếp đều sử dụng thủ pháp ẩn dụ, cụ thể như: thuyền, mai, trúc, đào, mận,…Có khi là ẩn dụ từ, ngữ nhưng có khi là cả bài ca dao. Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, hầu hết các từ chỉ giới do chuyển nghĩa đều theo cơ chế ẩn dụ, ví như: đào, mận, thuyền, bến, bướm, đò, mây, rồng,… Phương thức so sánh sử dụng khá phổ biến trong ca dao, chủ yếu là so sánh “thân em” với các sự vật bé nhỏ bị giam hãm, bủa vây, bị xô đẩy như hạt mưa, cá rô thia, quả bồng, cánh bèo, con hạc…
GIÁ TRỊ BIỂU ĐẠT CỦA TỪ NGỮ CHỈ GIỚI TRONG
3.1.1. Biểu hiện phẩm chất giới nam
Bởi ca dao xuất phát từ sâu thẳm của lòng người và của cuộc sống chính những người dân lao động. Một giá trị biểu đạt của ca dao chính là quan hệ nam nữ trong xã hội. Ở giá trị biểu đạt này, chúng ta thấy được chí hướng và thân phận của nam và nữ trong xã hội xưa.
Người đàn ông luôn được đặt công danh sự nghiệp lên hàng đầu, phải có chí hướng lập than làm rạng rỡ cho gia đình và xã hội… được thể hiện trong những câu ca dao như “làm trai”, nhưng nếu không xứng đáng với những gì xã hội mong đợi thì người đàn ông sẽ bị thiên hạ chế giễu, chỉ là “anh hùng rơm”.
3.1.2. Biểu hiện phẩm chất giới nữ
Có thể thấy, lớp từ ngữ chỉ giới trong ca dao đã góp phần thể hiện rõ nét đặc trưng về giới. Trong bài ca dao nếu chủ thể trữ tình hay nhân vật trữ tình là người nữ thì đặc trưng ngôn ngữ chỉ giới sẽ được thể hiện khá rõ qua lớp từ xưng hô, từ chỉ đặc điểm, tính cách. Có thể thấy thân phận, phẩm chất của người phụ nữ xưa qua những câu ca dao như “ thân em”. Thân phận họ chỉ được ví với “mưa sa”, “giếng giữa đường”….Tuy xã hội phong kiến luôn coi nhẹ họ, nhưng họ luôn thể hiện phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam đôn hậu, cao thượng. Họ vẫn luôn hết mực với chồng con, tôn trọng cha mẹ chồng, điều hòa các mối quan hệ trong gia đình, họ còn biết bảo vệ gia đình của mình.
3.2. BIỂU ĐẠT MỐI QUAN HỆ NAM NỮ
3.2.1. Mối quan hệ mâu thuẫn tương khắc
Giữa nam và nữ trong xã hội cũng có những đối chọi. Theo nhận xét của Lê Đức Luận: “Sự đối chọi giữa nam và nữ là sự đối chọi giới tính, là sự phản ứng giới tính chứ không phải sự phản ứng cá nhân, cá thể. Sự đối trọng về nữ quyền và nam quyền đã gây nên sự đối chọi ý thức về giá trị giới tính [45, tr.301]
Trong ca dao thể hiện được sự tương khắc giữa hai giới, trong xã hội phong kiến người đàn ông luôn được coi trọng, người phụ nữ luôn bị xem nhẹ, chỉ là cái bóng của chồng. Mặc dù có những trường hợp người phụ nữ lấy phải một ông chồng vô dụng, bất tài nhưng họ đành phải chịu. Cặp từ “Chồng người”-“Chồng em” như một cặp đối xứng chứa đựng ý nghĩa so sánh hơn thua
3.2.2. Mối quan hệ gắn bó tương hợp
Trong xã hội nam nữ không phải chỉ đối kháng với nhau, phân biệt cao thấp mà bản thân hai giới này chủ yếu tương hợp. Mặc dù họ không tương khắc âm dương, tương khắc vị thế xã hội nhưng hai giới này cũng cần có nhau. Họ trở thành những cặp đẹp đôi. Từ ngữ chỉ giới trong ca dao cũng được biểu đạt sự tương hợp, hòa hợp lẫn nhau, để thể hiện điều này, các cặp từ chỉ giới thường đi kèm với từ “đôi ta”. Khi nhắc đến “đôi ta”, bao giờ người ta cũng chỉ nghĩ đến hai người, là hai đối tượng trong tình yêu lứa đôi, là tiếng nói chung. Ngoài ra, trong ca dao còn thể hiện sự đồng cam cộng khổ, thuận vợ, thuận chồng của cả hai giới.
3.3. BIỂU HIỆN SỰ BÌNH ĐẲNG GIỚI VÀ VẤN ĐỀ NỮ QUYỀN
Nếu trong xã hội phong kiến, người nam luôn được đề cao, kính trọng; người phụ nữ luôn phải gắn cuộc đời với chữ “tòng”, phụ thuộc, đau khổ thì trong thế giới ca dao, bạn đọc lại tìm thấy một góc nhìn khác, một cách nhìn nhận mới của người lao động, được họ gửi gắm vào những câu ca dao mà ở đó tư tưởng phân biệt giới thể hiện một cách rõ nét
Từ những câu ca dao xưa đã cho ta thấy phụ nữ xưa ít được coi trọng dù ngoài xã hội hay trong gia đình. Mặc dầu người phụ nữ có thông minh, giỏi giang hơn người đàn ông đi chăng nữa thì xã hội phong kiến cho đó cũng chỉ là đàn bà. Người đàn ông mà miệng rộng thì cho là đẹp mà người phụ nữ mà miệng rộng thì cho là xấu. Hay đàn ông có quyền “năm thê, bảy thiếp nhưng người phụ nữ thì chỉ có một chồng, chồng chết thì ở vậy suốt đời. Hay cũng là con trong gia đình thì người con trai được học hành tử tế, còn con gái thì ít được học hơn. Một khi người phụ nữ đã có chồng rồi thì phải lo cho gia đình, không được tham gia công tác xã hội hay giải trí, vui chơi cùng bạn bè. Chính những điều đó đã tạo nên sự bất bình đẳng giới ngay từ trong gia đình và đã ăn sâu vào trong tìm thức của bao nhiêu thế hệ.
Qua ca dao, ta không chỉ thấy được những khoảng tối trong cuộc đời của phận đàn bà mà dường như còn thấy được tiếng nói phản kháng, đấu tranh của nhân dân được cất lên bằng một niềm tin, niềm hi vọng về một tương lai hạnh phúc. Họ đã ý thức được giá trị của mình nên đã gửi gắm tâm sự, tiếng nói của mình qua bài ca dao
3.3. VĂN HÓA GIAO TIẾP CỦA NGƯỜI VIỆT QUA TỪ NGỮ CHỈ GIỚI
3.3.1. Uyển chuyển trong cách xưng hô
Bằng những tín hiệu ngôn ngữ, ca dao đã thể hiện phong phú và linh hoạt những hình tượng thẩm mĩ văn học, những điểm nghệ thuật độc đáo, phản ánh mọi mặt của cuộc sống sinh hoạt, những suy tư và diễn biến tình cảm của con người, trong đó không thể không nhắc đến tác dụng của từ chỉ giới đối với cách xưng hô, gọi đáp.
Chính vì mang tính diễn xướng mà ca dao rất cần sự uyển chuyển trong lối xưng hô, gọi đáp. Cách vận dụng từ ngữ chỉ giới, cách nói gián tiếp góp phần quan trọng thể hiện sự uyển chuyển trong xưng hô, văn hóa “xưng khiêm hô tôn” của người Việt và cả quan niệm về giới trong xã hội Việt Nam.
3.3.2. Thể hiện giọng điệu riêng của chủ ngôn trong ca dao
Đặc trưng cái tôi trữ tình trong ca dao, tính tập thể trong sáng tác và tính truyền miệng trong lưu hành, giao tiếp khiến cái tôi trữ tình của ca dao không có dấu vết cá nhân, cá thể.
Ca dao là loại thơ trữ tình dân gian, là tiếng nói của tư tưởng, tình cảm và mơ ước, khát vọng của người bình dân. Vì lẽ đó, khi những câu ca dao được ra đời và truyền đi trong cộng đồng, nó đã bị phai dần cái tôi trữ tình… Sáng tác của một cá nhân mà được sửa đổi đôi chút và trở thành của cả cộng đồng, của cả những con người có cùng tình thế, ước mơ, tình cảm như câu ca dao. Và có lẽ vậy mà qua ca dao ta cảm nhận được sâu sắc nhịp trái tim yêu thương của người bình dân với tất cả sự ấm áp, ngọt ngào cùng tình yêu thương, lòng lạc quan, nghị lực ý chí phi thường vượt lên mọi khổ cực của cuộc sống. Vì thế nhân vật trữ tình trong ca dao là người bình dân, người thi sĩ, những người sáng tác, n gười diễn xướng,… thống nhất với nhau.
Chủ thể trữ tình thường được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với đối tượng trữ tình, biểu hiện trực tiếp (cô chú, anh, chị, ông, bà, cha, mẹ, anh, em,…) hoặc bằng con đường gián tiếp thông qua biểu tượng, con người bộc lộ tâm tư cảm xúc với nhau, đó là những biểu tượng gần gũi với con người Việt Nam (đò, thuyền, bến, bướm, hoa, má đào,…).
Trong ca dao có việc sử dụng những từ ngữ chỉ giới về chủ thể trữ tình là nói về công ơn cha mẹ “ơn cha”, “ nghĩa mẹ”, có khi nói về tình cảm máu mủ trong gia đinh “ anh em”, có khi chủ thể không rõ là nam hay nữ qua từ phiếm chỉ “ai”…
Ca dao là khúc hát tâm tình của người dân quê Việt Nam được lưu truyền qua bao năm tháng. Nó gần gũi, quen thuộc như luỹ tre bao bọc xóm làng, như cánh cò bay lả trên ruộng đồng. Nó bồi đắp tâm hồn ta từ những ngày thơ bé qua lời ru của bà của mẹ, giúp ta cảm nhận sâu sắc về vẻ đẹp bình yên nơi thôn quê, nỗi nhọc nhằn, vất vả của người lao động nhưng thấm đẫm tình làng nghĩa xóm, tình cảm gia đình thắm thiết, keo sơn.
Từ ngữ chỉ giới trong ca dao là một đề tài quen mà lạ. Sở dĩ, chúng tôi khẳng định như vậy là bởi vì mảnh đất màu mỡ ca dao đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhà phê bình, lí luận,… Tuy nhiên, đến với thế giới đầy những điều mới lạ, ý vị như ca dao từ góc độ từ ngữ chỉ giới, chúng tôi nhận ra vẫn còn nhiều điều độc đáo, thú vị. Với đề tài từ ngữ chỉ giới trong ca dao, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu, khảo sát và rút ra một số kết luận như sau:
Trước hết, chúng tôi thống nhất với những quan niệm về giới mà các nhà xã hội học đưa ra. Bên cạnh đó, chúng tôi còn tập trung làm rõ, khai thác kĩ hơn về phạm trù giới từ góc nhìn sinh học, tâm lí học và sâu hơn là ngôn ngữ học. Dưới góc nhìn ngôn ngữ học, chúng tôi không chỉ tìm thấy vấn đề về giới được nhắc đến, bàn luận trong ca dao mà còn ở khá nhiều thể loại và các mảng đề tài khác nhau, có thể kể đến thơ Trung đại, văn xuôi hiện thực giai đoạn 1930-1945, văn xuôi hậu hiện đại với các cây bút nữ,… Góc nhìn ngôn ngữ giúp chúng tôi soi chiếu cụ thể hơn từng khía cạnh trong ngôn từ, hiểu rõ hơn về nội dung, ý nghĩa mà từng giới thể hiện. Trên cơ sở lí luận của các nhà ngôn ngữ học, xã hội học, chúng tôi đưa ra quan niệm riêng về giới và con đường đi vào tìm hiểu đề tài. Giới, theo chúng tôi là sự khác biệt mang tính xã hội, chỉ sự tương quan về vai trò xã hội, vị trí và giá trị xã hội giữa phụ nữ và nam giới. Ngôn ngữ giới thể hiện qua ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, phong cách tức là qua các phương diện ngôn ngữ được tạo lập trong giao tiếp. Và có thể nói, yếu tố giới là sự tồn tại có thực trong giao tiếp ngôn ngữ và yếu tố giới còn do quan niệm của xã hội tạo nên. Bên cạnh đưa ra quan niệm về giới, chúng tôi còn đưa ra quan niệm về từ ngữ: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, dùng để cấu tạo những đơn vị lớn hơn là cụm từ, câu, văn bản, còn ngữ hay cụm từ là sự tổ hợp của nhiều từ, do từ cấu tạo mà thành. Cùng với những quan niệm về từ và ngữ mà chúng tôi lựa chọn để làm cơ sở lí luận nghiên cứu chương 2 là quan niệm về từ ngữ chỉ giới trong ngôn ngữ nói chung. Từ ngữ là cách thể hiện, là hình thức phơi bày mọi đặc điểm về suy nghĩ, cảm xúc, tình cảm, tâm sinh lí,… của giới. Do đó, khi tìm hiểu từ ngữ chỉ giới nói chung, chúng tôi nhận thấy đề tài này không chỉ có ý nghĩa về phương diện ngôn ngữ mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội, văn hóa. Và như một điều tất yếu, không chỉ trong thế giới tự nhiên mà trong ca dao cũng có những biểu hiện khác biệt giữa nam giới và giới nữ.
Qua khảo sát ở chương 2, chúng tôi tìm được 3.619 từ ngữ chỉ giới, trong đó có 2.570 từ và 1.049 ngữ, về phương diện ngữ nghĩa có 3.619 từ ngữ, trong đó thể hiện ý nghĩa trực tiếp là 3.253 từ ngữ và 366 từ mang ý nghĩa gián tiếp. Số lượng từ ngữ chỉ nam ít hơn từ ngữ chỉ giới nữ, số lượng từ mang ý nghĩa trực tiếp nhiều hơn từ mang ý nghĩa gián tiếp. So với từ, ngữ chiếm một số lượng khá lớn. Cách cấu tạo cũng rất đặc biệt, tập trung vào những từ ngữ chỉ giới nữ. Ta có thể thấy, điển hình cách cấu tạo ngữ chỉ giới nữ trực tiếp là lấy vị thứ, chức vụ, địa vị, nghề nghiệp của chồng để gọi tên cho người vợ. Cách cấu tạo ngữ chỉ nam thì đơn giản hơn, chủ yếu là danh từ/ đại từ +tính từ. Bên cạnh từ ngữ chỉ giới nam, nữ còn có một lượng từ ngữ chưa xác định được giới (…) vì những từ ngữ này chỉ chung cho cả hai giới, không phân định rạch ròi.
Ca dao là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của nhân dân trong trường kỳ lịch sử dân tộc. Từ chỉ giới trong ca dao là một chìa khóa đa năng không chỉ giúp người đọc khai thác tối đa các lớp từ chỉ giới (nam, nữ, chưa xác định giới) mà còn hiểu sâu hơn về thế giới xã hội của từng giới, quan niệm xã hội về từng giới, sự bất công, ý thức nữ quyền và sâu sắc hơn là về thế giới nghệ thuật qua từ xưng hô, giọng điệu chủ ngôn,…Qua lớp từ chỉ giới, ta hiểu được đặc trưng tính cách của mỗi giới và cả số phận cuộc đời, phẩm chất gắn với giới ấy. Từ sự phản ánh chân thực ấy của tác giả dân gian mà chúng tôi thấy rõ sự bất bình đẳng nam-nữ trong xã hội phong kiến Việt Nam và còn tồn tại mãi về sau này, dù trong xã hội hiện đại. Chính vì cuộc sống quá bất công với những người phụ nữ mà ý thức nữ quyền cũng được xác định. Họ ý thức sâu sắc về số phận, cuộc đời, thân phận và những oan trái của cuộc đời mình khi sinh ra là phận nữ nhi. Và ca dao trở thành nơi gửi gắm mọi tâm tư, tình cảm, ước nguyện về cuộc đời của người phụ nữ. Họ gửi lòng mình qua tiếng hát ru con ầu ơ, qua những lời ai oán lúc xế tà, lúc đêm khuya … và gửi cả những bất hạnh khi đối thoại.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\NGON NGU HOC\DO THI PHUONG DUNG\New folder


