Nghiên cứu hình thái Đô thị ven biển và đề xuất cơ sở khoa học vào công tác Quy hoạch – Trường hợp đô thị Đà nẵng
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước
- Trong nước
b. Ngoài nước
2. Danh mục các công trình đã công bố thuộc lĩnh vực của đề tài của chủ nhiệm và những thành viên tham gia nghiên cứu (họ và tên tác giả; bài báo; ấn phẩm; các yếu tố về xuất bản):
a. Nghiên cứu trong nước:
b. Nghiên cứu ngoài nước:
– Việt Nam là đất nước có đường bờ biển dài. TP Đà Nẵng trong những năm qua phát triển vượt bậc, đô thị ven biển và hình thái phát triển đô thị ven biển được các nhà Quy hoạch và quản lý quan tâm.
– Việc nghiên cứu phát triển hình thái đô thị ven biển dựa trên cơ sở khoa học đúng đắn để vừa đảm bảo trật tự phát triển trong đô thị vừa đảm bảo sự đa dạng là một trong những yêu cầu căn bản của công tác quy hoạch đô thị đối với các địa phương có ven biển liền kề.
– Để góp phần giải quyết các vấn đề nêu trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu hình thái Đô thị ven biển và đề xuất cơ sở khoa học vào công tác Quy hoạch – Trường hợp đô thị Đà nẵng” là cần thiết.
4.1.Thứ nhất:
+ Khảo sát hiện trạng cấu trúc đô thị ven biển Đà Nẵng
+ Hệ thống các văn bản pháp luật quản lý nhà nước về kiến trúc và quy hoạch trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam và các Nghị quyết về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
4.2. Thứ nhì:
+ Phân tích tổng quan về hình thái đô thị ven biển
+ Phân tích quá trình biến đổi hình thái đô thị ven biển Đà nẵng qua các giai đoạn phát triển
4.3. Thứ ba:
+ Đánh giá, so sánh với các hình thái đô thị ven biển trong và ngoài nước.
4.4. Thứ tư:
+ Đề xuất về phương diện lý thuyết cấu trúc KGĐT thích ứng với HTĐT làm sơ sở khoa học vào công tác quy hoạch đô thị ven biển Đà Nẵng
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng nghiên cứu: Hình thái Đô thị ven biển
5.2. Phạm vi nghiên cứu: Đô thị ven biển Đà Nẵng gồm các Quận: Sơn trà, Ngũ Hành Sơn
5.3. Không gian nghiên cứu: Tính từ mặt nước biển vào đất liền giáp Sông Hàn
Đề tài nghiên cứu này sử dụng cách 2 tiếp cận:
– Tiếp cận từ hiện trạng (thực tiễn) đô thị ven biển Đà nẵng qua khảo sát, thu thập tài liệu các văn bản pháp luật quản lý nhà nước về kiến trúc và quy hoạch đô thị, các thông tư, nghị định chính phủ, các Nghị quyết về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Qua đó đánh giá hình thái đô thị ven biển qua các nghiên cứu trong nước – so sánh các hình thái đô thị ven biển qua các nghiên cứu ngoài nước, rút ra kết luận các ưu nhược điểm, xây dựng cơ sở khoa học vào công tác thiết kế quy hoạch đô thị ven biển trường hợp Đà nẵng.
– Tiếp cận từ lý thuyết – ứng dụng vào thực tiễn – giải pháp tổ chức: Tìm kiếm các phương pháp quy hoạch, thiết kế đô thị để tổ chức, nâng cao hiệu quả cho các Quy hoạch đô thị ven biển Đà nẵng.
7. Các phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp điều tra, khảo sát:
Đó là công tác thu thập số liệu, thông tin trên cơ sở khảo sát thực thế các vùng nghiên cứu, cũng như nghiên cứu tư liệu lịch sử có liên quan đến Hình thái đô thị, Cấu trúc KGĐT, trong quá trình phát triển đô thị Đà Nẵng và các đô thị trên thế giới.
7.2. Phương pháp phân tích Hình thái KGĐT:
Phương pháp phân tích hình thái KGĐT thuộc bộ môn khoa học về hình thái đô thị, dựa trên hệ thống bản đồ thu thập được có cùng tỷ lệ, kết hợp với các tư liệu liên quan cho phép nhận diện khách quan quá trình biến đổi của cấu trúc KGĐT Đà Nẵng qua các giai đoạn phát triển.
7.3. Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh được sử dụng trong thống kê, phân tích các thành phần cấu trúc KGĐT thích ứng với HTĐT, nhằm so sánh đặc điểm HTĐT trong nước và ngoài nước, rút ra các ưu nhược điểm, qua đó có cơ sở đề xuất các giải pháp, cơ sở lý thuyết khoa học trong công tác quy hoạch đô thị ven biển.
8. Những đóng góp mới của Luận văn
– Làm rõ đặc điểm của Hình thái đô thị, Hình thái đô thị ven biển, một dạng mô hình dựa trên sự cộng sinh giữa mô hình hình thái ngoại nhập và mô hình hình thái Việt Nam.
– Đề xuất cấu trúc KGĐT thích ứng với HTĐTVB trong điều kiện phát triển đô thị ven biển ở Đà Nẵng nói riêng và Việt Nam nói chung. Kết quả nghiên cứu góp phần khẳng định: cấu trúc KGĐT là quá trình tái cấu trúc tất yếu, diễn ra liên tục và luôn hướng tới sự thích ứng HTĐT với các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và văn hóa cụ thể, đảm bảo sự phát triển đô thị bền vững và có bản sắc. Như vậy, có nhiều dạng cấu trúc KGĐT khác nhau, phù hợp với HTĐT khác nhau ở từng điều kiện địa phương cụ thể.
– Áp dụng cấu trúc KGĐT thích ứng HTĐT trong quy hoạch đô thị Đà Nẵng
– Đề xuất giải pháp quản lý thực hiện.
TỔNG QUAN VỀ HÌNH THÁI ĐÔ THỊ ĐÀ NẴNG
1.1. Tổng quan về đô thị Đà Nẵng (Thực trạng)
1.2. Sự hình thành, biến đổi và phát triển

Sự biến đổi cấu trúc, hình thái của Đà Nẵng được nghiên cứu dựa trên các bản đồ cổ sưu tầm được và các tài liệu về lịch sử phát triển của Đà Nẵng. Căn cứ vào đó, ta có thể chia 4 giai đoạn phát triển của Đà Nẵng như sau:
- Đà Nẵng thời kỳ Pháp thuộc
Giữa thế kỷ XVI, khi Hội An đã là trung tâm buôn bán sầm uất thì Đà Nẵng chỉ là một cảng trung chuyển hàng hóa, tu sửa tàu thuyền. Từ thế kỷ XVII, người Pháp đến Đà Nẵng với vai trò là các nhà truyền giáo, sau đó đặt quan hệ làm ăn buôn bán. Từ năm 1858, liên tiếp nổ ra các cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975.
Đầu thế kỷ XVIII, Đà Nẵng trở thành thương cảng thay thế cho Hội An, với ưu điểm cho phép các loại tàu thuyền lớn ra vào vịnh Đà Nẵng dễ dàng. Năm 1835, Đà Nẵng trở thành một thương cảng lớn nhất miền trung. Tiểu thủ công nghiệp địa phương phát triển với những ngành sửa chữa tàu thuyền, sơ chế nông lân hải sản, dịch vụ thương mại cũng phát triển.
Từ sau năm 1835, khi vua Minh mạng quyết định Cửa Hàn là nơi duy nhất buôn bán với phương Tây thì Đà Nẵng trở thành một thương cảng bậc nhất miền Trung. Cùng với sự phát triển kinh tế, các khu vực hành chính và dân cư bắt đầu được hình thành . Tuy nhiên do chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn mà đô thị Đà Nẵng cũng phát triển trong giới hạn của nó.
Về chức năng, Đà Nẵng (Hàn Thị) trở thành một thương cảng lớn bậc nhất của miền trung. Chức năng của một thương cảng đã tạo nên một hình thái phân bố dân cư dọc hai bên sông Hàn để tiện giao lưu, buôn bán. Thời kỳ này giao thông đường bộ chưa phát triển, chủ yếu qua đường sông, rạch.
Tuy nhiên, Đà Nẵng không chỉ ưu việt về buôn bán mà còn có lợi thế về mặt quân sự do vị trí chiến lược và khả năng phòng thủ bởi hệ thống thành lũy khá dày đặc kết hợp với địa hình đồi núi, hướng ra phía biển.
Vào năm 1889, khi xâm chiếm toàn bộ đất nước ta, thực dân Pháp tách Đà Nẵng khỏi Quảng Nam và đổi thành Tourane, chịu sự cai quản trực tiếp của Toàn quyền Đông Dương. Đầu thế kỷ XX, Tourane được Pháp xây dựng trở thành một đô thị theo kiểu Tây phương. Thành phố bắt đầu được hình thành dọc bờ Tây sông Hàn, các chức năng như cảng, nhà ga, sân bay (xây dựng từ năm 1940)..co cụm tập trung vào trung tâm thành phố đã trở thành yếu tố gây cản trở cho sự phát triển của đô thị hiện nay.
Thành phố Tourane (Đà Nẵng) trong thời Pháp thuộc có xu hướng vươn về phía Tây và Tây Bắc. Người Pháp chỉ chú trọng bán đảo Sơn Trà ở phía Đông. Vì vậy họ đã vượt sang bờ Đông sông Hàn để chiếm trọn bán đảo Sơn Trà. Về phân khu chức năng, theo quy hoạch của người Pháp, Đà Nẵng được chia thành hai khu vực rõ rệt: Khu bản xứ (quartaier indigène) bên bờ Đông và Khu người Pháp (quartier Francais) bên bờ Tây sông Hàn. Pháp chỉ chú ý đầu tư xây dựng khu thực dân chiếm đóng. Thời kỳ này, đường bộ và đường sắt bắt đầu hình thành và phát triển. Phía bên kia sông vẫn tồn tại các làng chài cũ.
- Đà Nẵng Thời kỳ trước năm 1975
Thời kỳ Mỹ vào miền nam Việt Nam, Đà Nẵng được xác định là trung tâm chính trị, văn hóa. Mỹ cho xây dựng các căn cứ quân sự và kỷ thuật hạ tầng cũng cố vị thế trung tâm của thành phố.
Với mục tiêu biến Đà Nẵng thành căn cứ quân sự cho toàn khu vực. Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng xây dựng hạ tầng phục vụ mục đích quân sự. Điều đó đã làm biến đổi mạnh hình thái khu đô thị. Các khu vực trọng yếu như sân bay, bến cảng được thiết lập nhanh chóng, song song với việc xây dựng mạng lưới đường phố dày đặc. Chính quyền Mỹ – Diệm biến Đà Nẵng thành đô thị lớn thứ 2 toàn miền Nam sau Sài Gòn. Giai đoạn này đô thị Đà Nẵng phát triển rất nhanh, đặc biệt về phía bờ Đông sông Hàn và xung quanh sân bay Đà Nẵng.
- Đà Nẵng giai đoạn sau 1975 cho đến 1997
Ở giai đoạn này, Đà Nẵng ít thay đổi. Đà Nẵng được xác định là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh với vị trí là thủ phủ của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Chức năng chủ yếu là thành phố cảng, du lịch – nghỉ mát, đầu mối giao thông và an ninh quốc phòng. Trung tâm hành chính – chính trị của Tỉnh, Thành phố chủ yếu tập trung trên đường Trần Phú, Bạch Đằng hiện nay. Trên đường Hùng Vương từ chợ cồn đến chợ Hàn là hệ thống các trung tâm thương mại chính. Các điểm du lịch, nghỉ mát được xác định tại các khu Thanh Bình, Non Nước, bán đảo Sơn Trà, dọc bờ biển Xuân Thiều. Trục cây xanh chủ yếu của toàn thành phố tập trung hai bên bờ sông Hàn.
Ngoài vị trí là thủ phủ của tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng, đây còn giữ vai trò là thành phố công nghiệp tổng hợp, trung tâm kinh tế của khu vực các tỉnh Trung Trung bộ. Đà Nẵng là thành phố có đầu mối giao thông quan trọng về cảng biển, sân bay quốc tế, giao thông quốc lộ xuyên Việt, xuyên Á, giữ vị trí chủ chốt về quốc phòng của khu vực miền Trung Trung Bộ, Tây Nguyên và cả nước. Các trục bố cục chính của đô thị được dựa trên các lợi thế về địa hình cảnh quan, vịnh Đà Nẵng cùng trục với sông Hàn sẽ là các trục bố cục chính của đô thị. Sơn Trà, Phước Tường, Ngũ Hành Sơn là những tấm bình phong của Đà nẵng. Từ cánh cung của vịnh Đà Nẵng hình thành trục trung tâm đô thị mới của quận Liên Chiểu ở phía Bắc. Trục dọc sông Hàn là trục trung tâm cảnh quan của đô thị truyền thống.
- Đà Nẵng giai đoạn 1997 – nay
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, Thành phố Đà Nẵng được chia tách thành Thành phố trực thuộc Trung ương, chú trọng phát triển hạ tầng kỷ thuật và các loại hình giao thông. Ga Đà Nẵng được dịch chuyển, cảng Tiên Sa được cải tạo, mở rộng; nâng cao năng lực vận tải, dịch vụ du lịch đường thủy trên sông Hàn, sông Cu Đê, sông Cổ Cò nối tiếp đến Hội An; sân bay Đà Nẵng được nâng cấp, mở rộng phần hàng không dân dụng. Chú trọng phát triển giao thông đối ngoại với tuyển đường cao tốc Đà Nẵng – Quảng Ngãi trở thành tuyến vành đai phía Tây thành phố; nâng cấp, mở rộng quốc lộ 1A trở thành đường nội thị, Phát triển các trục tuyến hướng biển, các tuyến du lịch ven sông Hàn, ven biển Đông Sơn Trà.
Ngày nay, với các chính sách phát triển và điều kiện vị trí thuận lợi, Đà Nẵng đang trở thành thành phố kiểu mẫu ở Việt Nam, được mệnh danh là “ Thành phố đáng sống nhất”. Thành phố tiếp tục mở rộng các khu vực dân cư, các phố mới được đầu tư xây dựng xuống phía Nam và phía hữu ngạn sông Hàn
1.3. Bốn yếu tố cảnh quan cốt lõi của Đà Nẵng (yếu tố bất biến đổi)
1. Núi
- Dãy trường Sơn
b. Bán đảo Sơn Trà
c. Ngũ Hành Sơn
2. Đất đai
Đà Nẵng vừa có đồng bằng duyên hải, vừa có đồi núi. Vùng núi cao và dốc tập trung ở phía tây và tây bắc, từ đây có nhiều dãy núi chạy dài ra biển, một số đồi thấp xen kẽ vùng đồng bằng ven biển hẹp.
Đồng bằng ven biển là vùng đất thấp chịu ảnh hưởng của biển bị nhiễm mặn, là vùng tập trung nhiều cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, quân sự, đất ở và các khu chức năng của thành phố. Ở khu vực cửa sông Hàn và sông Cu Đê địa hình đáy biển bị phức tạp và tạo ra một số bãi cạn, trũng ngầm (lòng sông). Khu vực cửa vịnh ra ngoài khơi địa hình nhìn chung là nghiêng thoải về phía đông bắc. Khoảng cách các đường đẳng sâu khá đều đặn
3. Sông
a. Sông Hàn
b. Sông Cu Đê
4. Biển
- Biển Đông
- Vị trí địa lý
Là trung tâm của Núi – Sông – Biển và Đồng Bằng
1.4. Bốn khu vực đặc trưng hình thái kiến trúc quy hoạch đô thị Đà Nẵng
Tương ứng với 4 giai đoạn hình thành, biến đổi và phát triển, Ta nhận thấy rằng có 4 khu vực đặc trưng về hình thái kiến trúc quy hoạch đô thị Đà Nẵng như sau:
1. Khu trung tâm đô thị cũ – thời kỳ Pháp thuộc
a. Khu phố Pháp.
Đây là khu phố ảnh hưởng của phong cách kiến trúc quy hoạch Pháp, có nghiên cứu tạo không gian gần gũi con người, có hình thái đặc trưng kiểu đô thị thuộc địa (Châu Âu) với mạng lưới đường mạch lạc, kiểu ô cờ vuông vắn trong các ô phố trung tâm. Cấu trúc kẻ ô kết hợp với câu trúc tuyến được thể hiện ở khu vực ven sông. Dải đô thị giữa hai tuyến đường Bạch Đằng và Phan Chu Trinh có hình thái ô cờ, kiến trúc có độ cao và hình khối vừa phải. Các kết nối ngang hướng ra sông có khả năng trở thành những tuyến phố đi bộ, buôn bán đặc trưng hấp dẫn. Các không gian ngoài trời phù hợp với tỉ lệ con người, ngay cả khi kết nối với sông Hàn.
- Khu dân cư tự phát
Đặc điểm chung của các đô thị ven biển có một nét chung là, những làng chài – quần cư đầu tiên của đô thị biển đều gắn liền với một khu vực biển thuận lợi cho sinh sống và làm ăn. Khu vực này là các vũng (âu), sóng nhỏ, tiện cho thuyền bè neo đậu. Hai khu phố cũ của người Việt được hình thành từ những làng chài truyền thống nằm ở mũi phía Bắc bờ tây sông Hàn và ở ven biển khu vực tiếp nối với bán đảo Sơn Trà.
Cấu trúc giao thông ở khu vực này chủ yếu là tự phát, không theo quy tắc do tồn tại từ lâu đời. Từ đó hình thành nên các ô thửa với hình dạng bất kỳ, kích thước khác nhau. Có những tuyến đường lớn chạy dọc theo bờ biển và chạy cắt qua khu vực dân cư. Nhà cửa được bố trí dày đặc, ít có không gian trống.
Các ô phố ở đây có hình dạng bất kì, không theo trật tự. Đường phố tự do luồn lách trong các khu dân dự đông đúc tạo nên các hình khối ô phố khác nhau, sinh động. Lô nhà được bố trí thuôn dài hình ống.
2. Khu đô thị mới – Thời kỳ trước 1975
Là 1 vùng chiến thuật, đô thị tập trung phát triển phục vụ chiến tranh – nhiều công trình nhà ở phát triển. Khu số 1 tập trung ở khuc vực gần sân bay, bên bờ Tây sông Hàn. Khu số 2 nằm ở bờ Đông sông Hàn. Đặc điểm chung về cấu trúc của cả 2 khu vực đều có nét tương đồng là: có cấu trúc ô cờ với những ô phố vuông vức, dài thửa lớn, với những tuyến đường lớn chạy qua.
Khu vực bờ Tây sông Hàn (gần sân bay) được hình thành bởi các tuyến giao thông lớn tạo nên các nút giao thông đặc trưng có chức năng phân luồng của khu phố, đồng thời tạo nên các thửa đất hình tam giác.
Trong khi đó, ở khu vực bờ Đông sông Hàn, việc quy hoạch định hình các tuyến giao thông tạo nên các ô thửa theo kiểu ô cờ. Các tuyến đường lớn chạy ngoài rìa đã tạo nên những ô thửa hình chữ nhật ngay ngắn. Hệ thống giao thông phân cấp rõ ràng.
- Khu đô thị hình thành sau 1975 đến 1997
Khu nhà phố
Khu phố Việt Nam mới sau 1975 chiếm diện tích chủ yếu ở khu vực hai bên bờ sông Hàn và khu tiếp giáp bãi biển. Giao thông quy hoạch theo kiểu ô cờ với các tuyến đường phân cấp rõ ràng, các ô thửa vuông hoặc gần vuông, nhiều ô phố hình chữ nhật.
Các tuyến giao thông quan trọng tạo trục cảnh quan song song, hướng đến các công trình trọng điểm: tuyến Tiểu La hướng đến Quảng Trường, tuyến 30 tháng 4 hướng đến tượng đài, tuyến Phan Đăng Lưu hướng đến Cung thể thao, tuyến Xô Viết Nghệ Tĩnh hướng đến cầu Tuyên Sơn. Các công trình cảnh quan chạy dọc tuyến đường 2 tháng 9.
b. Khu ở biệt thự, cao tầng dọc bờ Sông Hàn
Khu vực này được phân chia thành các lô đất với hình dạng và kích cỡ khác nhau, phát triển theo tuyến dọc sông. Các lô đất vuông vắn được quy hoạch có tổ chức phần lớn tập trung gần phía bờ sông Hàn là khu vực trung tâm hành chính và lịch sử của Đà Nẵng. Phía gần khu vực sân bay có cấu trúc ô thửa lớn hơn và không tuân theo các nguyên tắc nghiêm ngặt về cấu trúc ô cờ. Đường cảnh quan ven sông Hàn – Bạch Đằng Tây hoàn thành cuối năm 2004 là trục đường có kiến trúc cảnh quan đẹp. Kiến trúc công trình được xây dựng với thiết kế hiện đại như chợ Hàn, nhà cao tầng Indochina…Đặc điểm quan trọng nhất của khu phố Pháp ở Đà Nẵng là có 2 cặp tuyến chạy song song định hình nên cấu trúc khu phố. Đồng thời có các tuyến chạy thẳng ra sông Hàn. Do chịu sự chi phối của mạng lưới giao thông ô cờ nên các ô phố ở khu vực này khá vuông vắn, diện tích tương đối lớn. Các công trình đều có sân trong.
Từ khi Đà Nẵng chia tách địa giới hành chính từ Quảng Nam – Đà Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc trung ương, và bộ máy hành chính hoạt động từ ngày 1.1.1997 đến nay. Với nhiều quyết sách quyết đoán của Trung ương dành cho Đà Nẵng cùng với sự quyết tâm của chính quyền và nhân dân thành phố, đã phát triển xây dựng thành phố mở rộng về hướng biển bằng những cây cầu hiện đại như cầu Sông Hàn, Cầu Thuận Phước, Cầu Trần Thị Lý, Cầu Tuyên Sơn…
Với Quy hoạch mang tính tổng thể, kế thừa những giá trị sẵn có. Đà Nẵng đã quy hoạch các khu đô thị mới biệt thự, nhà phố ở dọc bờ Đông Sông Hàn liên kết với khu dân cư hiện hữu chỉnh trang hướng ra biển. Dọc tuyến đường biển ở địa phận Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn quy hoạch các công trình cao tầng hiện đại.
Qua quá trình phân tích hình thái đô thị thành phố Đà Nẵng, có thể nhận thấy quá trình phát triển thành phố được chia thành 4 giai đoạn, tương ứng với 4 khu vực có những nét riêng biệt về cấu trúc mạng lưới giao thông, hình dạng ô phố, các chức năng đô thị. Sự biến đổi hình thái qua các thời kỳ có sự liên quan chặc chẽ tới bối cảnh lịch sử thành phố.
Thời nhà Pháp thuộc, Đà nẵng là một thương cảng với các lớp dân cư phân bố dọc bên bờ sông Hàn, hướng ra biển.
Đà Nẵng được xây dựng trở thành trung tâm thương mại, hành chính, với cấu trúc giao thông dạng ô cờ tạo điều kiện tốt cho tổ chức giao thông nội bộ và cảnh quan khu vực.
Thời kỳ trước năm 1975, Mỹ đã đổ quân vào Đà Nẵng xây dựng hạ tầng phục vụ mục đích quân sự. Điều đó đã làm biến đổi mạnh hình thái khu đô thị. Các khu vực trọng yếu như sân bay, bến cảng được thiết lập nhanh chóng, song song với việc xây dựng mạng lưới đường phố dày đặc. Chính quyền đã biến Đà Nẵng thành căn cứ quân sự trọng yếu toàn khu vực, do đó đã xuất hiện các ô mảnh lớn và cấu trúc hướng tâm giúp kết nối các địa điểm quan trọng như nhà kho, bến cảng, sân bay thành một mạng lưới giao thông chung của thành phố. Trong khi đó, tại các khu người Việt (cũ) cấu trúc giao thông khá lộn xộn và ở dạng tự do tự phát.
Thời kỳ sau 1975 – 1997. Ở giai đoạn này, Đà Nẵng ít thay đổi. Đà Nẵng được xác định là một trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh với vị trí là thủ phủ của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Chức năng chủ yếu là thành phố cảng, du lịch – nghỉ mát, đầu mối giao thông và an ninh quốc phòng. Trung tâm hành chính – chính trị của Tỉnh, Thành phố chủ yếu tập trung trên đường Trần Phú, Bạch Đằng hiện nay. Trên đường Hùng Vương từ chợ cồn đến chợ Hàn là hệ thống các trung tâm thương mại chính. Các điểm du lịch, nghỉ mát được xác định tại các khu Thanh Bình, Non Nước, bán đảo Sơn Trà, dọc bờ biển Xuân Thiều. Trục cây xanh chủ yếu của toàn thành phố tập trung hai bên bờ sông Hàn.
Thời kỳ 1997 đến nay, Sau khi thành phố Đà Nẵng được chia tách thành Thành phố trực thuộc Trung ương, và đặt biệt trong những năm gần đây, với mục tiêu phát triển kinh tế, biến Đà Nẵng thành thành phố du lịch, kinh tế biển, Đà Nẵng đã phát triển nhanh chóng. Hình thái đô thị có những biến đổi tích cực. Mạng lưới giao thông dày đặc, các khu phố mới xây dựng dạng ô cờ, các tuyến đường chính chạy song song và hướng ra sông Hàn. Hai bờ sông Hàn được kết nối bởi sáu cây cầu lớn từ Tây sang Đông hướng ra Biển đông, phục vụ giao thông thuận tiện, tạo hình ảnh một đô thị năng động, phát triển.
Trong tương lai, thành phố cũng có nhiều thách thức từ sự gia tăng dân số nhanh chóng do dân nhập cư tới làm ăn, sinh sống đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ của chính quyền và sự phát triển có định hướng. Những vấn đề về việc làm, chỗ ở, giao thông trong quỹ đất thành phố ngày càng chật chội. Do đó thành phố cần quy hoạch lại mạng lưới giao thông khu vực người Việt (cũ), hạn chế tình trạng nhập cư và mở rộng thành phố phát triển sang phía Tây, Tây Bắc và phía Đông Nam để tận dụng quỹ đất phát triển thành phố, tạo thành các khu đô thị vệ tinh để phát triển kinh tế xã hội thành phố.
CHƯƠNG 2
CÁC CƠ SỞ KHOA HỌC ĐỂ PHỤC VỤ CHO CÔNG TÁC QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VEN BIỂN
2.1. Tổng quan về hệ thống văn bản pháp luật quản lý nhà nước về kiến trúc và quy hoạch trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam
Hệ thống các văn bản luật này đã phân cấp việc quản lý từ trung ương đến địa phương nhằm đảm bảo mọi quan hệ xã hội này đảm bảo theo định hướng chung. Trong lĩnh vực kiến trúc quy hoạch một số luật sau có sự liên quan nhất định, định hướng hoạt động xây dựng đô thị.
- Luật xây dựng 2014 (ban hành lần đầu vào năm 2003 với tên Luật về Xây dựng)
- Luật quy hoạch đô thị 2009
Ngoài ra còn có một số luật khác cũng liên quan đến vấn đề quy hoạch đô thị như sau:
- Luật di sản văn hóa 2001, sửa đổi bổ sung 2009
- Luật phòng cháy chữa cháy 2001, sửa đổi bổ sung 2013
- Luật đất đai 2013
- Luật bảo vệ môi trường 2014
- Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015
2.2. Nội dung quản lý nhà nước về kiến trúc và quy hoạch trong hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến hình thái đô thị ven biển
2.2.1 Các nội dung có ảnh hưởng tích cực đến hình thái đô thị ven biển.
2.2.2 Các nội dung có ảnh hưởng tiêu cực đến hình thái đô thị ven biển
Nghị định 38/2010/NĐ-CP về quản lý không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị:
Thông tư 19/2010/TT-BXD về hướng dẫn lập Quy chế quản lý quy hoạch kiến trúc đô thị
2.2.3. Một số Quyết định (QĐ), Thông tư (TT) tiến bộ
1. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24-1-2019 về xây dựng và phát triển thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045
2. Quyết định số 47 /2012/QĐ-UBND của UBND thành phố Đà Nẵng về ban hành Quy định quản lý công trình kiến trúc trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
- Quyết định số 393/QĐ-TTg ngày 18/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội thành phố Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn 2030;
Ngoài ra còn có các thông tư tiến bộ như:
– Thông tư số 12/2016/TT-BXD ngày 29/6/2016 của Bộ Xây dựng Quy định về hồ sơ của nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng, quy hoạch đô thị và quy hoạch khu chức năng đặc thù;
– Thông tư số 06/2013/TT-BXD ngày 13/5/2013 của Bộ xây dựng hướng dẫn nội dung thiết kế đô thị; Thông tư số 16/2013/TT-BXD ngày 16/10/2013 về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2013/TT-BXD ngày 13/5/2013 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng hướng dẫn về nội dung Thiết kế đô thị;
2.3. Tổng quan về hình thái đô thị
2.3.1 Khái niệm hình thái đô thị
“ Hình thái đô thị là sự định dạng về hình thể cấu trúc đô thị cùng với các mối liên kết về không gian và tổ chức công năng giữa kiến trúc – quy hoạch – cảnh quan đô thị. Nội dung trọng tâm trong nghiên cứu hình thái đô thị là sự phân tích về hình dạng trên bình đồ và hình khối so sánh trong quán trình hình thành và phát triển của đô thị.”
Theo từ điển Bách khoa Toàn thư Việt nam thì “ Hình thái không gian đô thị là sự biểu hiện của tổ chức không gian đô thị trên mặt đất, do điều kiện địa hình, do hậu quả của sự phát triển lịch sử hoặc do quan niệm của nhà đô thị về mô hình tổ chức không gian. Có thể những hình thái không gian đô thị tùy theo cách tổ chức quy hoạch như: thành phố chuỗi, thành phố cụm, thành phố dãi, thành phố tập trung, thành phố tuyến..”
2.3.2. Những đặc điểm về hình thái và cấu trúc không gian đô thị
2.3.2.1. Các dạng hình thái cấu trúc cơ bản
- Hình thái cấu trúc hướng tâm, dạng hạt nhân
- Hình thái cấu trúc đô thị tuyến tính
- Hình thái cấu trúc kẻ ô (cấu trúc ô cờ)
2.3.2.2. Bốn kiểu hình thái cấu trúc các tuyến phố
2.3.3. Hình thái đô thị ven biển
2.3.3.1. Khái niệm hình thái đô thị ven biển
“ Hình thái đô thị ven biển là sự định dạng về hình thể cấu trúc đô thị cùng với các mối liên kết về không gian và tổ chức công năng giữa kiến trúc – quy hoạch – cảnh quan kết nối giữa đô thị và biển.
Điểm khác biệt dễ nhận thấy nhất trong cấu trúc không gian đô thị biển so với các loại đô thị khác là mảng màu nổi bật của không gian chứa đựng các yếu tố tài nguyên du lịch biển (bãi tắm, đảo, hang động, các hệ sinh thái biển và các di tích, thắng cảnh ven biển,…) các không gian mở hướng biển như Quảng trường, công viên biển, và các không gian dịch vụ du lịch, là không gian phục vụ cho các hoạt động khai thác tài nguyên đó (không gian khách sạn, nhà hàng, khu vui chơi giải trí…)
2.3.3.2. Các yếu tố tác động tới sự biến đổi hình thái đô thị ven biển
Các yếu tố quan trọng tác động tới sự biến đổi hình thái phải kể tới: Cấu trúc thiên nhiên, sự biến đổi kinh tế xã hội và chính trị theo hai trục: Không gian và thời gian
2.3.3.3. Đặc trưng thiên nhiên mà đô thị ven biển được sở hữu
- Mặt nước
- Địa hình
- Cây xanh
2.3.4. Đặc điểm của đô thị ven biển ở Việt Nam
a. Phân loại các đô thị và cấu trúc đô thị ven biển
Sự phân bố đô thị và các cấu trúc dạng đô thị trên bờ biển thể hiện rõ 3 đặc điểm sau:
– Sự phân tán;
– Mật độ thấp;
– Thiếu liên kết.
- Nhận định về hiện trạng
Các đô thị và các cấu trúc đô thị ven biển có những đặc điểm sau:
– Hầu hết các đô thị cũ và mới, to và nhỏ, đều có quy hoạch ở dạng phôi thai kéo dài hoặc chưa hoàn chỉnh; quỹ kiến trúc đô thị không lớn và nghèo nàn, trong tình trạng xuống cấp, đặc biệt yếu kém về hạ tầng kỹ thuật.
– Nằm ngay trên bờ biển hoặc sát kề bờ biển, các đô thị chưa định hướng và trực diện ra biển; quy hoạch chưa phản ánh sự tác động chủ đạo của nhân tố biển. Ngoại trừ các công trình du lịch nghỉ mát, diện mạo kiến trúc nói chung ít thể hiện tính chất đô thị biển, mà mang nặng dấu ấn của những thị xã hàng tỉnh
– Ngoài Nha Trang và Vũng Tàu ra, các đô thị trên biển vẫn chưa tạo dựng cho mình diện mạo đặc trưng, chúng chưa có được hình ảnh đô thị biển đặc trưng và của riêng mình.
2.3.5. Một số đô thị ven biển Việt Nam – Thế giới
2.3.5.1. Các đô thị ven biển ở Việt Nam
2.3.5.2. Các đô thị ven biển trên thế giới
2.4. Các nghiên cứu hình thái đô thị ven biển trên thế giới
2.4.1. Hình thái Đô thị ven biển Fortaleza – Bra-xin
2.4.2. Hình thái đô thị ven biển thành phố New York – Mỹ
2.4.3. Hình thái đô thị ven biển Barcelona – Tây Ban Nha
2.4.4. Hình thái đô thị ven biển Dubai, Các tiểu vương quốc Ả rập thống nhất
2.5. Đô thị ven biển Đà Nẵng tổng quan
Đối với đô thị ven biển Đà Nẵng, việc nhận dạng cấu trúc hình thái đô thị tập trung vào :
- Nhận dạng đặc trưng thiên nhiên, đó là các yếu tố: biển, núi (bán đảo) cây xanh
- Phân khu chức năng.
- Nhận dạng cấu trúc giao thông, hình thái kiến trúc.
- Các yếu tố này tác động rất mạnh vào hình thái đô thị ven biển.
Biển tác động trực tiếp vào bờ biển khu vực Sơn Trà – Ngũ Hành Sơn ở 3 khu vực chính: Bãi trước (Hướng Đông), Bãi trên (Hướng Nam – Đông Nam), Bãi sau – Vùng Vịnh (Hướng Tây – Tây Bắc)
b. Núi – Cây xanh
Về Núi – Cây xanh, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có Núi Sơn Trà, Hệ thống các ngọn núi đá Ngũ Hành Sơn . Hai khu vực Núi này rất có ý nghĩa đối với thành phố về các mặt:
+ Tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp
+ Cải thiện điều kiện khí hậu.
+ Núi Sơn Trà Tạo nên hành lang gió đi sâu vào đất liền, nhưng lại ngăn gió chướng, bão vào khu vực dân cư. Núi Ngũ Hành Sơn không chỉ là yếu tố cảnh quan thiên nhiên, mà còn là di tích lịch sử có đặc trưng văn hóa tâm linh phật giáo.
+ Cây xanh trên bán đảo Sơn Trà không chỉ bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên đa dạng mà còn có ý nghĩa như một lá phổi xanh của thành phố.
+ Ngoài cây xanh khu vực trên bán đảo Sơn Trà, còn có hệ thống cây xanh, bãi biển, có ý nghĩa tạo cảnh quan thiên nhiên, góp phần giảm nền nhiệt vùng ven biển, chống sói mòn bờ biển.
2.5.2. Hình thái giao thông và cấu trúc ô thửa của khu vực ven biển Đà Nẵng
2.5.3. Mối quan hệ giữa các yếu tố thiên nhiên và kiến trúc – giao thông
2.5.4 Phân khu chức năng theo khu vực
2.6. Các bài học kinh nghiệm quốc tế trong tạo lập cấu trúc không gian đô thị
2.6.1. Bài học kinh nghiệm từ đô thị Fortaleza –Bra-xin
2.6.2. Bài học kinh nghiệm từ đô thị ven biển Thành phố New York
2.6.3. Bài học kinh nghiệm từ đô thị ven biển Singapor
2.6.4. Bài học kinh nghiệm từ Quy hoạch đô thị ở Úc
2.6.5. Bài học kinh nghiệm từ Quy hoạch đô thị ở Nhật Bản
2.7. Tám định hướng phát triển đô thị ven biển Đà Nẵng
Việc định hướng phát triển đô thị cần phải gắn liền với sự hiểu biết đặc trưng cấu trúc hình thái đô thị. Nếu logic phát triển của thành phố dựa vào các phân tích hình thái để tận dụng và khai thác các yếu tố có lợi thì thành phố sẽ phát triển một cách hài hòa, hợp quy luật. Có thể gọi là phát triển bền vững.
Ngược lại nếu thành phố được định hướng phát triển không cần căn cứ vào các đặc trưng hình thái đô thị, các yếu tố quỹ thiên nhiên và kiến trúc đô thị thì đó chỉ là định hướng duy ý chí, và sẽ phải trả giá nặng nề trong trương lai. Dựa trên tổng hợp nhiều yếu tố nghiên cứu về cơ sở lý thuyết, các văn bản pháp luật có ảnh hưởng đến đô thị Đà Nẵng, cũng như những đặc điểm về hình thái, cũng như so sánh với các đô thị trên thế giới. Tác giả đề xuất tám định hướng phát triển đô thị ven biển Đà Nẵng như sau:
1. Mở rộng kết nối công cộng – Mở rộng kết nối không gian công cộng ra bờ biển, bờ sông, tại các khu đất công và đất tư trong thành phố, để phục vụ cho người dân và khách du lịch
2. Kích thích phát triển khu vực ven bờ – Tạo ra các không gian sinh động ven biển và ven sông hấp dẫn, liên kết với không gian trung tâm của các cộng đồng dân cư lân cận.
Các dự án xây dựng, phát triển, và quản lý hoạt động những không gian hấp dẫn này sẽ tạo nên những điểm thu hút khách du lịch và người dân đến sinh hoạt, tạo nguồn thu cho doanh nghiệp địa phương và cho ngân sách công,
3. Hỗ trợ cho việc tổ chức các hoạt động đa dạng ven bờ – Hỗ trợ cho các hoạt động kinh tế đa dạng khu vực ven biển và ven sông
Việc tổ chức các không gian kinh tế xã hội đa dạng dọc theo các khu vực ven biển và ven sông là điều mà TP Đà Nẵng cần quan tâm khuyến khích trong thời gian tới. Chẳng hạn, Khu vực ven biển không chỉ có khu đô thị du lịch biển, mà còn có Khu Đô thị Công nghiệp kết hợp Cảng biển, Khu Đô thị Vịnh Đà Nẵng, Khu Đô thị Sinh thái, Khu Đô thị Công nghệ cao, Khu Đô thị Quốc tế, Khu Đô thị Đại học, Khu Đô thị Núi Ngũ Hành Sơn; Khu vực ven sông không chỉ có Khu Đô thị Ven sông, mà còn có Khu Trung tâm hiện hữu, Khu Trung tâm mới, Khu Đô thị Công nghệ cao, Khu Đô thị Khởi nghiệp & Sáng tạo,…
4. Cải thiện chất lượng môi trường – Cải thiện chất lượng môi trường nước và không gian nước, thông qua các biện pháp bảo vệ môi trường sống tự nhiên, tạo điều kiện cho các hoạt động vui chơi giải trí công cộng, và tăng chất lượng sống cho các cộng đồng khu vực ven biển, ven sông, và khu vực lân cận trong đất liền
Cho đến nay, không gian ven bờ sông và bờ biển tại Đà Nẵng, thường chỉ được xem là cơ hội để phát triển các dự án địa ốc. Đã đến lúc các không gian đáng giá này cần được quy hoạch tốt hơn với một tầm nhìn mới, ưu tiên bảo vệ và nâng cấp giá trị môi trường xanh của không gian ven sông và ven biển, trong mối tương quan phục vụ lợi ích công cộng, lợi ích của người dân, hài hòa với lợi ích của nhà đầu tư.
5. Phục hồi giá trị thiên nhiên ven bờ – Khôi phục các khu vực sinh thái ven biển và ven sông bị xuống cấp; bảo vệ các khu vực túi nước tự nhiên và môi trường sống ven bờ.
Đây là vấn đề rất cấp bách mà hiện nay chưa được coi trọng tương xứng, và thể hiện đầy đủ trong đó các báo cáo tác động môi trường, trước khi phê duyệt các dự án quy hoạch địa ốc tại Đà Nẵng. Đã đến lúc TP Đà Nẵng nên làm như TP New York, thay vì chỉ dựa trên các bản báo cáo tác động môi trường mang nhiều ý kiến chủ quan, dưới tác động của nhà đầu tư – cũng là người thuê thực hiện, thì lập hẳn một Quy hoạch Bảo vệ môi trường trong đó khoanh vùng, nhấn mạnh các khu vực cần bảo vệ môi trường tự nhiên, đi kèm với các quy định và hướng dẫn cụ thể.
6. Nâng cấp hệ thống giao thông công cộng – Nâng cao hiệu quả phục vụ công cộng của các tuyến đường bộ, đường thủy bao quanh đô thị biển
Đà Nẵng vẫn còn có thể tiếp tục phát huy giá trị giao thông công công đường bộ và đường thủy các loại, phối hợp với việc phát triển các khu đô thị ven bờ.
7. Nâng cao vai trò quản lý của chính quyền – Cải thiện các chính sách và quy định của chính phủ, trong cơ cấu phối hợp đa ngành về quản lý và phát triển khu vực ven bờ và giao thông đường thủy
Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu hiện nay, với thuận lợi lớn khi Đà Nẵng phát triển theo hướng quản lý số và đô thị thông minh trong thời gian tới.
8. Gia tăng sự thích ứng với biến đổi khi hậu – Xác định nguy cơ và đưa ra các giải pháp ứng phó nhằm tăng khả năng phục hồi của thành phố trước nguy cơ biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Việc xác định các khu vực có nguy cơ lớn do ảnh hưởng của thiên tai như bão và ngập lụt (hình dưới), và xác định các vùng đất có thể bị tác động do nước biển dâng, tương ứng với kịch bản biến đổi khí hậu là điều rất quan trọng cho việc quy hoạch các khu đô thị chỉnh trang và khu đô thị mới ven biển và ven sông.
Đây là điều mà cho đến hiện nay, Đà Nẵng chỉ mới đưa ra định hướng chung, chứ vẫn chưa đưa vào ứng dụng thực tế từ quy hoạch tổng thể cho đến quy hoạch chi tiết của TP Đà Nẵng. Do đó, đây là yêu cầu quan trọng, cần phải đưa vào chương trình điều chỉnh quy hoạch chung sắp tới của TP.
2.8.1. Phần cơ sở lý thuyết về các hệ thống văn bản pháp luật có liên quan:
Ngoài các văn bản quy định hình thức đô thị là Thông tư 19 và Nghị định 38 ra thì tại các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng còn ban hành các văn bản riêng quy định hình thức đô thị. Tại Hà Nội văn bản quy định hình thức đô thị là Quyết định 70/2018/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định 70). Tại Thành phố Hồ Chí Minh là Quyết định 08/2018/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định 08) ban hành quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc tại Khu đô thị mới Thủ Thiêm, quận 2. Tại thành phố Đà Nẵng là quyết định 47/2012/QĐ-UBND (gọi tắt là Quyết định 47) . Tuy Quyết định 47 đã hết hiệu lực, nhưng vì tính chất quan trọng của nó trong việc quản lý hình thức đô thị giai đoạn 2012-2018 nên tác giả vẫn khảo sát các đặc điểm của quyết định này trong đề tài.
Từ các nghiên cứu về hai văn bản của Trung ương là Thông tư 19 và Nghị định 38 và so sánh với các quy chế của các địa phương: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, tác giả có nhận xét như sau:
– Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 70 về quản lý kiến trúc, quy hoạch của thành phố Hà Nội là quy chế bám sát nhất các nghị định và thông tư của chính phủ. Quy chế này bao gồm các hoạt động quy hoạch và kiến trúc, thiết kế cảnh quan. Trong quy chế chó sự phân vùng rõ ràng trên địa bàn, tại mỗi vùng có yêu cầu riêng về các chỉ tiêu quy hoạch.
– Quy chế ban hành kèm theo Quyết định 08 tại thành phố Hồ Chí Minh mang màu sắc hiện đại nhất khi đưa thêm các yếu tố như hình ảnh, sơ đồ vào trong. Chẳng hạn quy chế có các yếu tố mới với việc quy định tại Việt Nam như hành lang mái che, hay hoạt động thương mại tầng một, nơi ở tầng hai (ở các Quy chế của ở Mỹ được gọi là live-work unit như sẽ được nêu ra ở Chương 2). Mặc dù vậy, sự sắp xếp khá tùy tiện xen lẫn giữa các quy định của cấp trung ương với các quy định về quản lý đô thị của các nước phát triển. Hệ quả là một quy chế có phần vừa chung chung có phần lại quá chi tiết. Một số quy định lại quá chi tiết và không theo các quy chuẩn quy hoạch Việt Nam.
– Quy chế ban hành theo Quyết định 47 của thành phố Đà Nẵng chú trọng nhiều hơn về công trình hơn là quản lý quy hoạch. Quy chế này phân loại và quy định công trình chi tiết theo công năng công trình, quy chế quản lý chi tiết về chiều cao, khoảng lùi v.v…Tuy nhiên nhiều quy định còn trái quy chuẩn. Theo tác giả nghiên cứu ,việc chỉ tập trung vào công trình đã không phát huy hết hiệu quả ở một thành phố có điều kiện tự nhiên, cảnh quan đa dạng như thành phố Đà Nẵng.
Trên đây là các nhận định của tác giả về các văn bản có tác động đến hình thức đô thị Việt Nam. Trong đó có thành phố Đà Nẵng.
2.8.2. Phần cơ sở tạo lập hình thái đô thị.
Từ những khái niệm về HTĐT – HTĐTVB, những đặc điểm về hình thái và cấu trúc KGĐT, nghiên cứu hướng đến việc xác lập các cơ sở để nhận dạng hình thái đô thị ven biển Đà Nẵng thông qua cấu trúc KGĐT.
Trong chương 2 này, luận văn nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu và cơ sở khoa học để luận giải các vấn đề về hình thái đô thị, và hình thái đô thị ven biển.
- Để hoàn thành mục tiêu 1: Luận văn xác định yếu tố tạo nên Hình thái đô thị dựa trên các cơ sở lý thuyết như:
+ Các khái niệm về HTĐT, hình thái đô thị ven biển
+ Các yếu tố cấu thành hình thái đô thị
+ Các đặc điểm về cấu trúc và không gian đô thị
+ Kiểu dáng và hình dạng các tuyến phố.
+ Phân tích các đặc điểm hình thái đô thị biển đà nẵng
+ Tìm hiểu và phân tích các đặc điểm về hình thái đô thị các nước trên thế giới
Để tìm ra các ưu nhược điểm.
- Tiếp theo, để hoàn thành mục tiêu 2: Dựa trên cơ sở khoa học về nhận dạng hình thái và cấu trúc không gian đô thị, các đặc trưng, luận văn đã phân tích, so sánh để xác lập các vùng đặc trưng về hình thái đô ven biển Đà Nẵng trong hạm vị nghiên cứu của đề tài.
- Cuối cùng, để hoàn thành mục tiêu 3: Việc nghiên cứu các bài học kinh nghiệm từ các nước có các đô thị phát triển theo tiến trình lịch sử giúp xác lập các ưu nhược điểm của việc phát triển đô thị ven biển, xây dựng cơ sở khoa học cho việc thiết kế quy hoạch các đô thị ven biển. Kết hợp những bài học, cùng cơ sở khoa học về bối cảnh lịch sử phát triển của đô thị Đà Nẵng và kết quả của mục tiêu nghiên cứu của đề tài, không những để xây dựng hình thái đô thị ven biển có bản sắc riêng mà còn đánh giá, đề xuất các giải pháp tối ưu cho phát triển các đô thị ven biển.
ĐỀ XUẤT CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀO THIẾT KẾ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ VEN BIỂN ĐÀ NẴNG
3.1. Quan điểm tạo lập cấu trúc KGĐT thích ứng với hình thái đô thị ven biển Đà Nẵng
– Hình thái đô thị ven biển cần phù hợp với các cơ sở khoa học về cấu trúc KGĐT
– Hình thái đô thị ven biển là sự kế thừa có chọn lọc các mô hình đô thị hiện đại, phù hợp với bản sắc đô thị biển Việt nam và thân thiện với môi trường. Cấu trúc KGĐT đô thị ven biển phải thích ứng với điều kiện đặc điểm của mỗi địa phương và điệu kiện hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa.
– Hình thái đô thị đáp ứng yêu cầu đô thị hóa nhanh trong 20-30 năm tới và cần phải phù hợp với quan điểm chủ yếu trong “ Quy hoạch chung cho Thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 ” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2357/2013/QĐ-TTG ngày 04/12/2013.
3.2. Đề xuất nguyên tắc tạo lập cấu trúc không gian đô thị thích ứng với hình thái đô thị làm cơ sở khoa học cho thiết kế quy hoạch đô thị ven biển Đà nẵng
- Quy mô dân số:
- Tính năng động về không gian với nguyên tắc cấu trúc không gian linh hoạt (mềm):
- Phân bố hợp lí và hỗn hợp về chức năng:
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật có khả năng chuyển đổi:
- Yếu tố cân bằng động về môi trường:
- Đảm bảo khả năng chuyển hóa không gian liên tục:
- Mô hình quản lý đô thị:
3.3. Đề xuất cấu trúc không gian đô thị ven biển thích ứng với hình thái đô thị ven biển
Xét về mặt hình thái học đô thị, bao gồm: Mạng đường (Hạ tầng kỹ thuật đô thị); Cách phân lô đất xây dựng; Kiến trúc công trình (Phần đặc); Không gian mở, không gian công cộng và cảnh quan tự nhiên (Phần rỗng).
Trong quá trình chuyển hóa, cấu trúc KGĐT vừa phản ánh và vừa bị chi phối bởi các yếu tố: Tự nhiên; Chính trị; Kinh tế- Xã hội; Văn hóa-lịch sử và Khoa học công nghệ, Biến đổi khí hậu và toàn cầu hóa.
Và cách tổ chức các thành phần của cấu trúc hài hòa với cảnh quan tự nhiên, đáp ứng nhu cầu hoạt động của con người và phù hợp với đặc điểm văn hóa địa phương, cuối cùng tạo nên cấu trúc KGĐT có đặc trưng và đảm bảo sự phát triển bền vững của cấu trúc. Đó cũng chính là bản chất của cấu trúc KGĐT thích ứng với Hình thái đô thị.
Đối với đô thị ven biển Đà Nẵng, đây là một dạng mô hình mới có đặc trưng riêng dựa trên sự cộng sinh có chọn lọc giữa mô hình cấu trúc KGĐT ngoại nhập với mô hình cấu trúc KGĐT Việt Nam truyền thống, trong đó mối quan hệ đô thị – nông thôn là thường trực và có ý nghĩa quan trọng.
3.4. Đề xuất các giải pháp tạo lập cấu trúc Không gian đô thị thích ứng hình thái đô thị cho đô thị ven biển Đà Nẵng
Đề xuất các giải pháp tạo lập cấu trúc KGĐT thích ứng với hình thái đô thị, chính là việc cụ thể hóa 7 nguyên tắc chính đã được đề xuất ở tiểu mục 3.2 chương 3. Đó là:
Quy mô dân số và khả năng dung nạp của quĩ đất tương thích với thời gian sử dụng lâu dài.
3.4.2. Tính năng động về không gian với nguyên tắc cấu trúc không gian linh hoạt
Tính năng động của đô thị và khả năng chuyển đổi chức năng của không gian để đáp ứng xu thế phát triển của từng thời kì là thuộc tính cơ bản của cấu trúc KGĐT, cho phép đáp ứng nhu cầu phát triển mà không phá vỡ khung cấu trúc chính.
Sự sáng tạo của con người trong thiết kế đô thị là góp phần tạo ra những không gian đô thị mới.
Phương pháp tư duy quy hoạch và quản lý đô thị cần được cập nhật tính năng động và linh hoạt. Nói cụ thể, là cần thiết đề xuất khung cấu trúc KGĐT (dựa trên khung giao thông) với các kịch bản đa dạng khác nhau, có khả năng thích nghi với các biến đổi xuất hiện trong quá trình phát triển không ngừng của đô thị.
3.4.3. Phân bố hợp lí và hỗn hợp về chức năng:
Phân bố hợp lý các khu chức năng đô thị chủ yếu không chỉ cho thế hệ hiện tại mà còn cho tương lai. Các khu chức năng được tính toán theo nhu cầu và xác định ngưỡng phát triển hợp lý.
Tính toán chỉ tiêu hay chức năng sử dụng đất trong nguyên tắc này đóng vai trò quan trọng không chỉ trước mắt mà còn lâu dài vì chức năng sử dụng đất cũng sẽ chuyển đổi theo nhu cầu phát triển đô thị.
Nguyên tắc sử dụng đất hợp lý và hỗn hợp sẽ tạo cho quy hoạch có thể thích ứng khi đô thị có nhu cầu chuyển đổi và mở rộng.
Trên thực tế, hiên nay xu hướng tạo lập cấu trúc KGĐT dựa trên nguyên tắc hỗn hợp chức năng là phổ biến. Có các dạng hỗn hợp chức năng thường gặp như: Nhà ở kết hợp dịch vụ, Nhà ở kết hợp dịch vụ và làm việc (sản xuất) hay các tổ hợp trung tâm dịch vụ thương mại (CBD),… Ưu điểm chính của mô hình hỗn hợp chức năng trong cấu trúc KGĐT là rút ngắn bán kính phục vụ, thuận tiện trong tiếp cận các dịch vụ, có cuộc sống đô thị nhộn nhịp cần thiết và tiết kiệm đất đai,…
3.4.4. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật có khả năng chuyển đổi
Đó là khả năng có thể nâng công suất, thay thế thiết bị, hoặc dễ dàng mở rộng khả năng phục vụ trong tương lai của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đặc biệt là hệ giao thông với nhiều loại hình phương tiện giao thông cùng tồn tại theo xu hướng phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ.
Đối với cơ sở hạ tầng kĩ thuật đô thị, chuẩn bị cho tương lai phát triển lâu dài đảm bảo tiện lợi cho người sử dụng dịch vụ hạ tầng, chắc chắn cơ sở hạ tầng cũng cần có cách nhìn chiến lược và linh hoạt hơn. Không thể tính toán với khả năng hiện tại, vì khi hạ tầng không phục vụ đủ khả năng dung nạp, đô thị sẽ nảy sinh những bất lợi và nguy hiểm cho cộng đồng dân cư.
3.4.5. Yếu tố cân bằng động về môi trường
Đây là nguyên tắc được xem là quan trọng nhất để luôn đảm bảo tính ổn định của đô thị trong quá trình phát triển hướng tới sự duy trì hệ sinh thái đặc trưng của khu vực. Hơn nữa, việc tạo được yếu tố cân bằng động về môi trường còn góp phần nâng cao chất lượng môi trường đô thị bằng việc cải tạo phù hợp quy luật phát triển của hệ sinh thái thiên nhiên và nhân văn (văn hóa) của địa phương.
Khai thác sử dụng tài nguyên luôn quan tâm đến việc tác động của nó trong tương lai không ảnh hưởng đến thế hệ sau. Cân bằng động – đảm bảo phát triển mà vẫn giữ cho hệ môi trường sinh thái đô thị bền vững.
Giải pháp thay thế, tái sử dụng thông qua quỹ phục hồi môi trường là một ví dụ về cân bằng động trong mô hình phát triển đô thị bền vững.
3.4.6. Đảm bảo khả năng chuyển hóa không gian liên tục
Cấu trúc KGĐT luôn phát triển để thích ứng với những biến đổi trong tương lai, nhưng không làm mất đi đặc trưng của cấu trúc không gian đó.
Cấu trúc KGĐT phản ánh hình thái kinh tế xã hội của từng thời kì phát triển đồng thời cũng phản ánh trình độ và mô hình quản lý đô thị tương ứng.
Một chính quyền đô thị năng động, có tầm nhìn xa, dự báo được những biến động về các nhu cầu của đô thị trong quá trình phát triển để đáp ứng sẽ thành công hơn một chính quyền đô thị bảo thủ trong quản lý đô thị.
Vấn đề quản lí và chính quyền đô thị có vai trò quyết định, vì sự phát triển đô thị luôn luôn dựa trên chính sách, thể chế quản lí và khuyến khích cũng như kiểm soát phát triển để có sự thích hợp với hoàn cảnh xã hội của từng thời kì khác nhau. Không thể đem mô hình quản lí lạc hậu để quản lí một đô thị hiện đại với các cơ sở công nghiệp hiện đại, hệ thống hạ tầng tiên tiến. Đồng thời, như kinh nghiệm của các nước phát triển, vai trò của các nhà quản lí trong nhận thức về đô thị như thế nào đều thể hiện kết quả trong hình ảnh của đô thị. Sự đồng nhất hoá trên phạm vi toàn quốc các chính sách quản lí đô thị sẽ không phù hợp với thực tiễn phát triển của từng địa phương.
Trong chương 3 này, Luận văn đã đúc kết thành những kết quả nghiên cứu chính như sau:
- Tập hợp các cơ sở lý luận về cấu trúc KGĐT – Hình thái đô thị theo hướng thích ứng trong điều kiện phát triển đô thị ở Việt Nam.
Đây là kết quả khảo sát thực trạng, nghiên cứu về các dạng cấu trúc Hình thái đô thị tiêu biểu và phân tích quá trình chuyển hóa cấu trúc không gian đô thị Đà Nẵng. Qua đó cho thấy trong phát triển đô thị, chuyển hóa để thích ứng là quy luật tất yếu, là quá trình tái cấu trúc hay quá trình biến – tạo diễn ra liên tục và luôn hướng tới sự thích ứng với các điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội cụ thể, đảm bảo sự phát triển đô thị bền vững và có bản sắc.
- Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc Hình thái đô thị, luận văn đã: Xác định tính thích ứng của cấu trúc HTĐT đối với 6 yếu tố, như:
- Yếu tố tự nhiên (Khí hậu, địa hình, cảnh quan, môi trường),
- Yếu tố chính trị (Thể chế chính trị, hành chinh),
- Yếu tố kinh tế – xã hội – môi trường,
- Yếu tố khoa học, công nghệ,
- Yếu tố văn hóa – lịch sử,
- Yếu tố biến đổi khí hậu, toàn cầu hóa.
Và 7 nguyên tắc chính tạo lập cấu trúc không gian đô thị Thích ứng hình thái đô thị gồm:
- Quy mô dân số,
- Tính năng động về không gian với nguyên tắc cấu trúc linh hoạt (mềm),
- Phân bố hợp lý và hỗn hợp chức năng.
- Hệ thống hạ tầng kỹ thuật có khả năng chuyển đổi,
- Yếu tố cân bằng động về môi trường,
- Đảm bảo khả năng chuyển hóa không gian liên tục,
- Mô hình quản lý đô thị.
- Đề xuất cấu trúc KGĐT và các giải pháp tạo lập cấu trúc KGĐT thích ứng đô thị ven biển Đà Nẵng theo hướng phát triển bền vững và có bản sắc trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nghiên cứu về hình thái đô thị ven biển theo hướng cấu trúc không gian đô thị luôn biến động thường xuyên, liên tục về nhiều mặt của đô thị trong quá trình phát triển là vấn đề cần thiết, đặc biệt đối với sự phát triển nhanh của các đô thị Việt Nam trong giai đoạn hội nhập khu vực và quốc tế theo xu hướng toàn cầu hóa hiện nay. Nhưng đây thực sự là vấn đề khó. Khó bởi đô thị là một thực thể phức tạp, vừa là biểu hiện không gian, vừa là quá trình xã hội lại không ngừng biến đổi để tồn tại và phát triển.
- Nghiên cứu hình thái đô thị ven biển giúp cho học viên mở rộng sự hiểu biết phải bắt đầu từ những yếu tố cơ bản và cốt lõi. Nhận diện được yếu tố cốt lõi của đô thị ven biển đã là một thành công đối với người nghiên cứu.
- Hai là, hình thức của đô thị phát triển và biến đổi không ngừng. Nó giống như một bài văn viết mãi không kết thúc. Điều quan trọng là, phát triển câu từ phải tuân theo ngữ pháp. Nghiên cứu hình thái đô thị ven biển phải phải nắm được chìa khóa để mở cánh cửa và lấp đầy các khoảng trống của không gian đô thị ven biển bằng các thủ pháp nhận diện các yếu tố đặc trưng, thiết lập mối quan hệ giữa chúng theo một cấu trúc phù hợp để tạo nên một tổng thể thống nhất.
- Ba là, phân tích Hình thái đô thị ven biển cần phải nhận dạng cả 2 yếu tố: Hiển thị và phi hiển thị. Những yếu tố hiển thị có thể có thể nhận biết qua khảo sát điều tra không khó, nhưng những yếu tố phi hiển thị lại rất khó nhận biết. Trong không gian nó nằm ở rất xa và rất sâu, đòi hỏi phải có tầm nhìn vĩ mô và bao quát. Trong khung thời gian nó ẩn từ trong quá khứ, mà chỉ có tra cứu lý lịch đô thị mới có thể hiểu được.
- Nghiên cứu hình thái đô thị ven biển có một ý nghĩa rất lớn trong sự kết nối giữa cấu trúc đô thị truyền thống và hiện đại trong quá trình phát triển đô thị.
- Hình thái đô thị ven biển luôn đi cùng với cảnh quan đô thị và tổ chức thẩm mỹ, nhằm nâng cao chất lượng không gian đô thị. Bản thân mỗi đô thị đều được sở hữu những yếu tố đặc trưng của mình và đang được bổ sung thêm những yếu tố mới. Vì vậy, có 2 nguyên tắc phát triển đô thị dưới góc độ hình thái học đô thị. Một là cần duy trì, và bảo tồn những yếu tố bản sắc hiện thị trong đô thị, hai là cần tái phục hồi những giá trị bị hoang phế hoặc không còn hiển thị.
- Những giai đoạn phát triển kế tiếp của đô thị sẽ có những lý thuyết mới trong phát triển. Từ đó sẽ tiếp tục có những cách tiếp cận mới và phương pháp nghiên cứu hiện đại hơn. Tác giả hy vọng sẽ tiếp tục làm giàu hơn những nghiên cứu về hình thái đô thị trong tương lai, đặc biệt đối với các đô thị ven biển của Việt Nam.
Từ lý luận cho đến thực tiễn là một khoảng cách, nhưng nếu không bắt đầu từ những đề xuất ban đầu về cơ sở thiết lập và nhận dạng Hình thái đô thị ven biển thì khoảng cách này sẽ tiếp tục xa hơn. Vì vậy, Học viên cũng đưa ra những kiến nghị vừa mang tính Kiến nghị khoa học và Kiến nghị tổ chức thực hiện nhằm tiếp tục đưa kết quả nghiên cứu và đề xuất trong luận văn vào thực tiễn cuộc sống. Kiến nghị về:
Về nghiên cứu khoa học và đào tạo chuyên ngành Quy hoạch đô thị và Thiết kế đô thị:
- Đề cập về Hình thái đô thị ven biển là một hướng nghiên cứu quan trọng, cả về lý luận và thực tiễn cần được khuyến khích và tập trung nghiên cứu.
- Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quy hoạch, Thiết kế đô thị, đồng thời góp phần xây dựng cơ sở khoa học cho công tác quy hoạch các đô thị ven biển ở Việt Nam hiện đại và có bản sắc.
- Kết quả nghiên cứu có thể biên soạn lại cho phù hợp và nên được làm tài liệu tham khảo trong công tác đào tạo chuyên ngành quy hoạch đô thị.
Về công tác quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị:
- Cùng với các đề tài nghiên cứu khác, nghiên cứu về Hình thái đô thị ven biển hướng tới cấu trúc KGĐT phát triển bền vững, thích ứng với vị trí địa lý mà kết quả nghiên cứu góp thêm các cơ sở khoa học để đổi mới phương thức và quy trình thiết kế quy hoạch đô thị theo hướng hiện đại quốc tế và có bản sắc riêng.
- Đề xuất các cơ quan Nhà nước như Bộ KHCN, Bộ Xây dựng và các cơ quan thuộc Chính phủ, từ Trung ương đến địa phương, Ban Giám Hiệu nhà trường, Lãnh đạo khoa Kiến trúc sẽ tiếp tục hỗ trợ nghiên cứu khoa học cùng với sự nỗ lực của bản thân và các nhà khoa học có cùng xu hướng cần tiếp tục hỗ trợ cho các nghiên cứu tiếp theo. Đặc biệt trong điều chỉnh và bổ sung các văn bản pháp quy có liên quan đến lĩnh vực quy hoạch đô thị ở nước ta, đặc biệt là các đô thị biển, cụ thể như quy chuẩn quy hoạch đô thị tránh tình trạng ban hành các Quy chuẩn cứng nhắc, hạn chế phát triển thiếu tầm nhìn lâu dài như hiện nay.
- Các tổ chức tư vấn lập quy hoạch tại Việt Nam có thể ứng dụng các cơ sở lý luận để làm tiêu chí, phương pháp nghiên cứu, để ứng dụng trong các đồ án quy hoạch thiết kế đô thị ven biển từ cấp độ Vùng – Đô thị đến các thiết kế đô thị và các quy định quản lý phát triển. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham khảo khi tính toán, dự báo trong thiết kế quy hoạch.
- Luận văn rất mong những kiến nghị trên sẽ được các cơ quan và tổ chức liên quan cùng hỗ trợ tiếp tục sử dụng một số đề xuất trong thực tế trong quá trình quy hoạch và quản lý các đô thị ven biển Đà Nẵng nói riêng và các đô thị khác ở Việt Nam nói chung.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\KIEN TRUC\TAM\SAU BAO VE TAM


