Ứng dụng Space Syntax và ngôn ngữ kiểu mẫu trong quy hoạch không gian công cộng khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng
1. Lý do chọn đề tài, tính cấp bách của đề tài
Đà Nẵng là một thành phố năng động và được biết đến với những điểm tham quan du lịch đặc sắc, cùng với những tiện ích xã hội và văn hoá. Dựa trên những lợi thế đó cùng với sự nỗ lực trong việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, chính trị, lần đầu tiên khái niệm “Thành phố đáng sống” đã xuất hiện và trở thành mục tiêu, phương hướng phát triển 5 năm 2010 – 2015, tầm nhìn đến năm 2020, trong Nghị quyết Đại hội lần thứ XX Đảng bộ thành phố Đà Nẵng.
Bên cạnh những điểm vui chơi, những khu phố dịch vụ sầm uất, thì hiện nay khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng đang thiếu trầm trọng không gian công cộng (KGCC) do việc quy hoạch, thiết kế và quản lý chưa hiệu quả, thiếu quỹ đất công dành cho vườn hoa, sân chơi trong các khu ở. Các cơ quan quản lí nhà nước về xây dựng chưa thật sự quan tâm tới KGCC. Quy hoạch chung thành phố Đà Nẵng đến năm 2030 thể hiện rất rõ vấn đề này; Trong quy hoạch này cơ cấu đất cây xanh và KGCC rất thấp (không tính đất cây xanh đặc thù) và không đạt chỉ tiêu tối thiểu 7m2/ người (khi đối chiếu với QCVN 01:2014/BXD).
Những KGCC được xây dựng chưa mang lại những hiệu quả như mong đợi, số lượng người sử dụng rất ít, nội dung còn đơn điệu nên không thu hút được sự quan tâm của người dân. Việc bố trí các KGCC chưa phù hợp theo nhu cầu sử dụng của dân cư khu vực cũng là vấn đề khiến các không gian này chưa phát huy được vai trò của mình.
Nhiều không gian sinh hoạt, nhà văn hóa xuống cấp và bị bỏ hoang gây lãng phí quỹ đất công. Cần khai thác, chuyển đổi công năng các không gian cũ thành các KGCC có tính tích hợp cao, vừa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt công cộng, nghỉ ngơi của người dân, vừa tạo không gian hội họp cho các đoàn thể như trước đây.
Đây là những vấn đề cấp thiết cần giải quyết nhằm mang lại tiện nghi sống cho người dân và khách du lịch, đồng thời đảm bảo phát triển đồng bộ giữa kinh tế và xã hội góp phần hoàn thành mục tiêu trở thành thành phố đáng sống nhất Việt Nam.
Đề tài “Ứng dụng Space Syntax và ngôn ngữ kiểu mẫu trong quy hoạch không gian công cộng khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng” đề xuất quy hoạch hệ thống KGCC, cải tạo các KGCC cũ, đồng thời tạo ra những kiểu mẫu mới phù hợp với nhu cầu của người dân dựa trên phương pháp ngôn ngữ kiểu mẫu và phương pháp Space Syntax.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đề tài có 4 mục tiêu chính:
1. Đánh giá thực trạng KGCC khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng.
2. Tạo ra một ngôn ngữ kiểu mẫu để tổ chức KGCC phù hợp với đặc trưng của Đà Nẵng.
3. Đề xuất giải pháp thiết kế KGCC, khai thác các không gian sinh hoạt, nhà văn hóa bị bỏ hoang thành các KGCC cho khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng.
3. Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài.
a. Đối tượng nghiên cứu: KGCC khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng trong mối quan hệ với giao thông toàn bộ thành phố.
b. Giới hạn nghiên cứu:
– Về mặt không gian:
Khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng gồm ½ khu đô thị cũ và một phần khu ven biển Tây Bắc (theo định hướng phân vùng phát triển – Quy hoạch chung Đà Nẵng).

Hình 1. Bản đồ phạm vi nghiên cứu đề tài (biên tập lại từ bản đồ định hướng phân vùng phát triển – Quyết định số 2357/QĐ-TTg ngày 04/12/2013 của TP ĐN)
Theo đơn vị hành chính hiện hành gồm: 13 phường (Thanh Bình, Thuận Phước, Thạch Thang, Hải Châu 1 và 2, Phước Ninh, Hoà Thuận Đông, Nam Dương, Bình Hiên, Bình Thuận, Hoà Cường Bắc, Hoà Cường Nam, 1/6 Hoà Thuận Tây) của quận Hải Châu và 3 phường Vĩnh Trung, Tân Chính, Thạc Gián của quận Thanh Khê.
Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích 17,86 km2. Phía bắc giáp Vịnh Đà Nẵng, phía Đông giáp sông Hàn, phía Nam giáp sông Cẩm Lệ và phía Tây giáp Sân Bay, công viên 29/3 và khu dân cư.
– Về mặt thời gian:
+ Thu thập dữ liệu từ năm 2000 đến năm 2018 (Đà Nẵng đã hoàn thành cơ bản việc sắp xếp lại đô thị và tổng kết nhiệm kì đầu tiên sau khi chia tách từ tỉnh Quảng Nam)
+ Giai đoạn đề xuất và tổ chức thí điểm 2018 – 2030
4. Phương pháp nghiên cứu
a. Phương pháp định tính:
– Tác giả quan sát thói quen sử dụng KGCC trong ngày của người dân, đặc biệt vào sáng sớm và chiều, tối tại các KGCC khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng. Phỏng vấn lấy ý kiến của người dân về mức độ hài lòng đối với không gian sinh hoạt nhằm đánh giá những thực trạng trong việc tổ chức KGCC.
– Đề xuất các kiểu mẫu để hình thành một ngôn ngữ kiểu mẫu phù hợp với đặc trưng văn hoá khu vực và tính chất của không gian công cộng cho thành phố Đà Nẵng. Ngôn ngữ kiểu mẫu này được gọi là “KGCC khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng”
b. Phương pháp định lượng:
– Thống kê số lượng người sử dụng một KGCC trong 1 đơn vị thời gian và so sánh, đánh giá mức độ hiệu quả của không gian.
– Sử dụng phương pháp Space Syntax nhằm đánh giá mạng lưới giao thông tiếp cận các không gian hiện có, dựa vào kết quả đó để bố trí lại vị trí các không gian công cộng cho phù hợp và có hiệu quả.
– Đánh giá chỉ số CI qua các thuộc tính để biết được hiệu quả của các KGCC hiện có.
– Từ các kiểu mẫu được đề xuất, trưng cầu ý kiến của người dân và thống kê những kiểu mẫu nào được lựa chọn nhiều nhất nhằm sửa đổi, tổng hợp thành một ngôn ngữ kiểu mẫu hoàn chỉnh.
5. Tình hình nghiên cứu liên quan đến KGCC và kinh nghiệm tổ chức KGCC.
5.1. Nghiên cứu tổ chức KGCC quốc tế.
5.2. Nghiên cứu tổ chức KGCC trong nước.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Christopher Alexander là một nhân vật kiệt xuất trong lĩnh vực kiến trúc, quy hoạch đô thị và khoa học máy tính trong thời đại chúng ta. Không chỉ nổi tiếng trong lĩnh vực nghiên cứu ông còn là tác giả của hơn 200 công trình kiến trúc trên các châu lục, với quy mô từ nhà ở đến những khu đại học hay các cộng đồng rộng lớn.
Phương pháp generative của ông chú trọng đến sự phát triển từng bước của cấu trúc đô thị, coi trọng sự phát triển của cái toàn thể trong đó số lượng và chất lượng của các trường trung tâm có tính quyết định. Hai khái niệm cơ bản và quan trọng nhất của quá trình generative là ngôn ngữ kiểu mẫu và tính toàn thể:
1. Ngôn ngữ kiểu mẫu.
Christopher Alexander và đồng sự (1977) cho rằng kiến trúc và các thành phần đô thị được tạo nên bởi các kiểu mẫu. Đó chính là các giải pháp không gian và xã hội cho những vấn đề kiến trúc và quy hoạch. Các kiểu mẫu được tổ chức trong một hệ thống kết nối với nhau và mang tính tầng bậc, hệ thống này cho phép tạo nên một số lượng vô hạn các cách phối hợp. Một tập hợp các thực thể với kiểu trật tự như vậy gọi là ngôn ngữ kiểu mẫu.
2. Tính toàn thể.
Các thành phần cụ thể, mang tính cục bộ tồn tại chủ yếu trong mối quan hệ với toàn thể, hành vi, cũng như tính chất và cấu trúc của chúng được xác định bởi cấu trúc toàn thể bao trùm.
Alexander cho rằng cái toàn thể là tính chất của một cấu trúc sở hữu những liên hệ toàn cục giữa các thành phần của cấu trúc và các thực thể khác trong khi duy trì mức độ trật tự và cố kêt (coherence) cao bên trong bản thân cấu trúc.
Cấu trúc điển hình của một kiểu mẫu:
– Tên: tên của kiểu mẫu thường mang tính chất mô tả, nêu rõ bản chất của giải pháp không gian mà kiểu mẫu mang đến.
– Hình minh hoạ kiểu mẫu.
– Liệt kê các kiểu mẫu trước. Các kiểu mẫu này là các kiểu mẫu lớn mà kiểu mẫu đang xét có nhiệm vụ hỗ trợ.
– Vấn đề gặp phải: Nêu lên vấn đề gặp phải và nhiệm vụ mà kiểu mẫu phải giải quyết.
– Phân tích: phân tích vấn đề dựa trên quan sát hoặc các bằng chứng khoa học. Việc phân tích này nhằm đưa ra giải pháp không gian.
– Giải pháp: là phần tiếp nối của phân tích và thường bắt đầu bằng cụm từ “vì thế”. Phần này đưa ra giải pháp không gian cho vấn đề dựa trên phân tích trước và thường kèm theo hình minh hoạ giải pháp.
– Các kiểu mẫu theo sau: nêu lên các kiểu mẫu theo sau.
Space Syntax là một công cụ phân tích. Các lý thuyết về không gian được đưa vào phần mềm máy tính, sự liên kết giữa “cú pháp không gian – Space Syntax” với các mô phỏng đồ họa cùng với những thuật toán sẽ đưa ra các dữ liệu đầu ra cho các nhà nghiên cứu và thiết kế, nhằm hiện thực hoá lý thuyết mới về sự logic giữa không gian đô thị và cuộc sống xã hội. Giúp nghiên cứu sâu rộng về bản chất cốt lõi của không gian và sự vận hành của các công trình và đô thị, nhằm mở rộng phạm vi ứng dụng trong thiết kế kiến trúc và thiết kế đô thị.
Phương pháp Space Syntax phân tích mối quan hệ không gian và tất cả các thành phần khác trong mạng lưới thông qua các thuật toán. Giao thông trong đô thị được xem như mạch máu của thành phố và tạo ra các kiểu thức giao tiếp của con người. Có 2 thuộc tính chủ chốt của không gian là di chuyển tới và di chuyển qua.
– Sự lựa chọn một điểm đến từ một nơi đi (origin). Quyết định sẽ đi đến đâu, ta gọi đó là thành tố “di chuyển tới” của chuyến đi.
– Sự lựa chọn không gian để đi qua trong quá trình di chuyển đến đích: lựa chọn tuyến. Các nhà nghiên cứu gọi đó là thành phần “di chuyển qua” của chuyến đi.
Địa điểm nào có khả năng tiếp cận càng cao càng nhận được nhiều sự di chuyển. Chính vì vậy cần nghiên cứu kỹ bố cục không gian đó là yếu tố quan trọng trong thiết kế tác động đến hành vi của con người nhằm có định hướng tốt và khai thác hiệu quả các thuộc tính xã hội, kinh tế và môi trường tạo động lực cho sự phát triển toàn diện của đô thị.
KGCC chưa có một quy chuẩn hay khái niệm cụ thể trong hệ thống quy hoạch và thiết kế chính thống của Việt Nam. Chính vì vậy, việc đầu tiên là tạo ra các kiểu mẫu dựa trên điều kiện tự nhiên, văn hoá, xã hội và nhu cầu của người dân, sau đó xây dựng mội liên hệ giữa các kiểu mẫu, thông qua các phép thử và sai, liên tục tiến hoá để hoàn thiện. Từ đó, đề xuất một hệ thống kiểu mẫu phù hợp nhất với địa phương, thay vì kế thừa các quy chuẩn thiết kế của các địa phương khác một cách máy móc.
Với điều kiện về quy mô, tài chính và đa dạng về đặc điểm của KGCC khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng, việc thiết kế theo ngôn ngữ kiểu mẫu có tính khả thi cao vì mỗi kiểu mẫu có mối quan hệ nửa tầng bậc với các kiểu mẫu khác, người thiết kế có thể linh hoạt thêm, bớt, liên kết các kiểu mẫu phù hợp với từng không gian, từng điều kiện cụ thể.
Dựa vào kết quả đánh giá Space Syntax thực trạng giao thông trong đô thị được phản ánh tương đồng với thực tiễn, việc sử dụng phương pháp này nhằm rút ngắn thời gian khảo sát, phát hiện nhanh những điểm bất cập. Giai đoạn đề xuất phương án sẽ có tính khả thi cao nhờ việc giả định phương án, chạy kiểm tra tính hiệu quả của phương án, lặp lại liên tục cho đến khi cho kết quả tối ưu nhất. Với công việc như vậy nếu kiểm chứng bằng thực nghiệm sẽ mất rất nhiều kinh phí và kéo dài nhiều năm để có thể cho ra kết quả tương tự.

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ GIAO THÔNG VÀ KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG KHU VỰC TRUNG TÂM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Hội nghị Liên Hợp Quốc Habitat III thông qua chiến lược của Pietro Garau là người đứng đầu nghiên cứu của UN-Habitat, đồng thời là đại biểu của UCLG (Liên minh các thành phố và chính quyền địa phương) “Không gian công cộng: một chiển lược để đạt được thành phố công bằng” là một trong những mục tiêu phát triển bền vững đô thị toàn cầu. Định nghĩa của Pietro Garau về không gian công cộng như sau:
Không gian công cộng (KGCC) là nơi tất cả mọi người có thể dễ dàng tiếp cận và ở đó mọi người có quyền bình đẳng được sử dụng tất cả các không gian và được chia sẻ với chính quyền về lợi ích của mình một cách tự nguyện và miễn phí.
Bản thân thành phố là một KGCC, đây là một định nghĩa cơ bản nhất.
Không gian mở và không gian xanh là các thành phần quan trọng bổ trợ cho KGCC.
Có hai thể loại KGCC chính:
– Không gian “vật thể” ví dụ như quảng trường, đường phố, công viên.
– Không gian “phi vật thể” ví dụ như các diễn đàn trên internet, hay các cuộc đối thoại tranh luận trên báo chí, tivi.
Đề tài của tôi đề cập đến quy hoạch không gian vật thể. Sự hình thành, phát triển và thay đổi của KGCC phụ thuộc vào sự phát triển và đặc điểm của đời sống công cộng, vốn không giống nhau giữa các nền văn hóa khác nhau.
Trong các cơ sở pháp lý về quy hoạch, thiết kế và quản lí đô thị ở Việt Nam KGCC chưa được chính thức định nghĩa, đề cập hay quy định cụ thể gì trong pháp luật nói chung và các quy chuẩn quy phạm kỹ thuật về quy hoạch kiến trúc nói riêng.
Theo tiêu chuẩn thiết kế TCVN 9257:2012 và quy chuẩn Quy hoạch 2008 thì các không gian vui chơi giải trí, công viên đang được tổ chức và phân chia theo phân cấp hành chính Việt Nam (Điều 110 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương).

Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức không gian vui chơi, giải trí, công viên, vườn dạo tại Việt Nam (biên tập dựa trên các tiêu chuẩn và mối liên hệ giữa các văn bản pháp luật)
Sơ đồ tổ chức này còn nhiều điểm bất cập như việc tiếp cận các KGCC thiếu linh động và quá khuôn mẫu; quỹ đất dành cho KGCC lớn gây lãng phí; chỉ phù hợp để tổ chức quy hoạch các khu đô thị mới còn đối với những đô thị cũ, không gian khu ở chật hẹp việc giải toả và tổ chức mỗi đơn vị ở (bán kính 500m) một công viên, vườn dạo là không khả thi. Ngay cả với đô thị mới cũng cần phải cân nhắc cẩn thận khi áp dụng mô hình máy móc này. Đây chính là điều mà Christopher Alexander phê phán: Cây phả hệ.
Giao thông thành phố Đà Nẵng được quy hoạch theo dạng “bàn cờ”, có ưu điểm là phân chia đất thành các khu vực đơn giản hình vuông hay chữ nhật. Nhưng dạng quy hoạch này không có sự phân chia đường phố một cách rõ ràng (đường chính, đường khu vực, đường khu nhà ở…) chỉ có thể phân biệt được khi nhìn vào bản đồ quy hoạch chi tiết.

Hình 2.2. Đánh giá giao thông đô thị Đà Nẵng bán kính R=n
Dựa vào kết quả đánh giá bằng phương pháp Space Syntax, các tuyến giao thông quan trọng ở cấp độ toàn thể đô thị là:
– Tuyến quốc lộ 1A – Trường Chinh (đoạn Cầu vượt Ngã Ba Huế – Cách Mạng Tháng 8 có mật độ cao nhất), đặc biệt đây là giao thông huyết mạch của cả nước, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động đối ngoại, đối nội và phát triển kinh tế của khu vực.
– Tuyến đường Ngô Quyền – Ngũ Hành Sơn – Lê Văn Hiến (đoạn từ Ngã Tư cầu Rồng đến Bệnh Viên Phụ Sản Nhi Tp. ĐN có mật độ cao nhất), nối liền các khu kinh tế, văn hoá, du lịch trọng điểm của Đà Nẵng và Quảng Nam.
– Các tuyến giao thông khu trung tâm có mật độ cao là Điện Biên Phủ – Lê Duẩn – Hùng Vương – Nguyễn Văn Linh – Bạch Đằng – 2/9, cầu Rồng và cầu Sông Hàn.
– Tuyến Nguyễn Văn Linh – Võ Văn Kiệt là tuyến giao thông đặc biệt nối cảng hàng không Quốc tế đi qua trung tâm đô thị đến khu vực đô thị phía Đông ra biển Đông.
– Tuyến Võ Chí Công – Phạm Hùng ra QL1A là giao thông vành đai phía Nam của đô thị.
Thực tế cho thấy, các tuyến đường có lưu lượng giao thông lớn thường là những tuyến phố diễn ra các hoạt động giao thương sầm uất, có tính tích hợp cao, đóng vai trò là giao thông liên kết các khu chức năng lớn trong đô thị và không thể thay thế.
Ứng dụng phương pháp đánh giá Space Syntax để có cái nhìn khách quan về tình hình giao thông khu trung tâm thành phố Đà Nẵng hiện nay.

Hình 2.5. Đánh giá giao thông đô thị Đà Nẵng bán kính R=500
Kết quả đánh giá phản ánh chính xác thực trạng của giao thông thành phố Đà Nẵng. Khu vực màu đỏ là khu vực trung tâm thành phố, có độ nông lớn nhất do tính tích hợp cao, tiếp cận thuận tiện, được đầu tư kỹ lưỡng, là nơi tập trung các chức năng chính về chính trị, văn hoá, xã hội, du lịch, dịch vụ v.v…
Trong hệ thống quy hoạch của Việt Nam chưa có khái niệm và quy định cụ thể về KGCC. Chính vì vậy, các KGCC được hiểu như là các không gian sinh hoạt văn hóa – xã hội và được tổ chức chủ yếu là nhà văn hoá, nhà SHCĐ với diện tích nhỏ, chỉ phục vụ những buổi hội họp của khu dân cư, không có nơi tổ chức các hoạt động giải trí, văn hoá thể thao. Ngoài ra, các KGCC cũng được triển khai thành công viên cây xanh, vườn dạo.
Trong khái niệm về KGCC được thông qua tại Hội nghị Liên Hợp Quốc Habitat III, KGCC cần có 5 nội dung sau:
1. Thành phần chính: không gian mở và không gian xanh.
2. Trao đổi thông tin, sinh hoạt văn hóa – xã hội.
3. Đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, vui chơi giải trí.
4. Dễ tiếp cận.
5. Bình đẳng.
Trong khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng chỉ có 17 KGCC với tổng diện tích trên 370.320m2. Ngoài ra, tuyến đi bộ bờ Tây sông Hàn là một KGCC đặc biệt của TP Đà Nẵng với diện tích gần 87.600m2.

Hình 2.6. Bản đồ vị trí các KGCC khu vực trung tâm
thành phố Đà Nẵng.
- Quá trình hình thành, phát triển các KGCC và những vấn đề bất cập.
- Phường Thuận Phước
- Phường Thạch Thang
- Phường Hải Châu I
- Phường Phước Ninh
- Phường Hòa Thuận Tây
- Phường Hòa Thuận Đông
- Phường Hòa Cường Bắc
- Phường Hòa Cường Nam
- Phường Vĩnh Trung
- Phường Thạc Gián
- Giao thông tiếp cận các KGCC trong trung tâm thành phố.
- Đánh giá mức độ toàn thể của các KGCC trong trung tâm thành phố.
- Quá trình hình thành, phát triển các KGCC và những vấn đề bất cập.
Chỉ số Coherent Index (CI) của TS.KTS Nguyễn Hồng Ngọc đo lường mức độ toàn thể của cấu trúc thông qua các thành phần ngôn ngữ kiểu mẫu và ngôn ngữ hình thức. Chỉ số bằng tích của các kiểu mẫu và các thuộc tính của các kiểu mẫu đó tại một ngưỡng.
Đề tài thông qua chỉ số CI để biết được không gian nào có tổ chức hiệu quả, không gian nào cần được cải tạo hay làm mới.
Giá trị CI lớn nhất của các KGCC khi so sánh với giá trị tối đa của chỉ số CI là 15 ta thấy mức độ toàn thể của các KGCC ở mức thấp chỉ từ 2.5 đến 4.0.
Việc tổ chức các KGCC chưa đạt hiệu quả cao vì các thủ pháp kiến trúc, hình thức và nội dung của các hạng mục công trình chưa được thiết kế kĩ lưỡng. Các kiểu mẫu chỉ đạt từ 2-7 thuộc tính, ở mức trung bình. Điều này thể hiện rõ ở bảng đánh giá thuộc tính các kiểu mẫu từng KGCC.
– Cơ sở hạ tầng và giao thông khu trung tâm khá đồng bộ, được chú trọng đầu tư nâng cấp và xây mới nhằm tăng hiệu quả lưu thông và tạo động lực cho sự phát triển mọi mặt của đô thị.
– Căn cứ vào kết quả khảo sát tổng diện tích các KGCC trong trung tâm thành phố là 457.920m2, dân số 16 phường trong khu vực nghiên cứu là 260.355 người, bình quân đất cây xanh, KGCC là 1,75m2/người. Đối chiếu với QCVN 01:2014/BXD (đất cây xanh, KGCC tối thiểu 7m2/người) khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng thiếu trầm trọng các KGCC. Ngoài ra tại các điểm sinh hoạt văn hoá – xã hội trên địa bàn chưa thu hút được người dân tham gia, cơ sở vật chất xuống cấp nên các không gian này gần như bị lãng quên.
– Quá trình hình thành và phát triển các khu dân cư và các KGCC trong trung tâm thành phố có nhiều bất cập, không được khắc phục hoặc chưa có giải pháp tối ưu. Điều đó đã mang lại những hệ quả xấu cho đô thị, làm giảm chất lượng sống của dân cư trong khu vực.
– Các KGCC hiện có thường nằm trong khu dân cư của khu đô thị cũ với giao thông kiệt hẻm nên việc tiếp cận còn hạn chế và cục bộ.
– Việc tổ chức các KGCC mới chưa hợp lý, do chưa có tiêu chuẩn thiết kế cụ thể cho từng hạng mục nhỏ, các KGCC chủ yếu được triển khai thành các không gian xanh không tiếp cận được, không mang lại hiệu quả sử dụng mà còn gây lãng phí.
– Thành phố Đà Nẵng đang đứng trước những thách thức do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội, văn hoá và du lịch. Những vấn đề nổi cộm được chú ý đến là sự gia tăng dân số nhanh, quỹ đất trong trung tâm đô thị còn hạn chế, nhu cầu an sinh xã hội, nhà ở tăng cao, nếp sống, văn hoá tập tục bị lai tạp làm mất đi đặc trưng riêng v.v… Điều này đòi hỏi các KGCC trong khu vực trung tâm cần có tính tích hợp cao, vừa tiết kiệm không gian vừa đáp ứng được mọi nhu cầu sinh hoạt của người dân và nội dung văn hoá – xã hội phải đa dạng.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUY HOẠCH KHÔNG GIAN CÔNG CỘNG KHU VỰC TRUNG TÂM THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
3.1. Đề xuất hệ thống KGCC khu vực trung tâm thành phố.
Cơ sở đề xuất các điểm KGCC mới dựa trên nhu cầu, nguyện vọng của người dân và chính quyền địa phương. Đồng thời, kết hợp với việc đánh giá hiện trạng cũng như kết quả phân tích khả năng tiếp cận khu vực của phương pháp Space Synatax nhằm xác định những điểm SHCĐ, nhà văn hoá đã xuống cấp, cần cải tạo và có khả năng chuyển đổi chức năng thành KGCC. Giúp làm dày thêm mạng lưới các điểm KGCC phù hợp với nhu cầu của người dân mà còn giảm nhẹ việc chia quỹ đất công cộng cho thành phố.

Hình 3.1. Bản đồ đề xuất các điểm KGCC mới khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng
3.2. Xây dựng một ngôn ngữ kiểu mẫu cho KGCC.
3.2.1. Đề xuất các kiểu mẫu trong quy hoạch KGCC.
3.2.1.2. Đề xuất các kiểu mẫu phù hợp với đặc trưng văn hoá – xã hội khu vực và tính chất của KGCC.
3.2.2. Trưng cầu ý kiến người dân, tổng hợp và xây dựng một ngôn ngữ kiểu mẫu cho không gian công cộng khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng.
Dựa trên kết quả khảo sát, chúng tôi đề xuất xây dựng ngôn ngữ kiểu mẫu KGCC cho khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng như sau:

Hình 3.6. Ngôn ngữ kiểu mẫu “KGCC khu vực trung tâm
thành phố Đà Nẵng”
3.3. Đề xuất thiết kế KGCC mới, cải tạo KGCC hiện có dựa trên ngôn ngữ kiểu mẫu và Space Syntax.
3.3.1. Đề xuất chuyển đổi chức năng các nhà văn hoá, sinh hoạt cộng đồng (đã xuống cấp) thành KGCC.
Hầu hết các nhà VH, nhà SHCĐ ở trong khu dân cư chủ yếu chỉ họp tổ dân phố, thường xuyên đóng kín. Hình thức không gian giống nhà ở, với diện tích phổ biến là 80m2 – 100m2, tường gạch bao quanh và lợp tôn. Giải pháp đề xuất là chuyển đổi chức năng từ hội trường thành KGCC, lấy quy mô nhà lô phố 5mx20m làm cơ sở để thiết kế, các thủ pháp, kiểu mẫu và vật lệu dễ kết hợp, linh động trên mọi hình dáng khu đất.

Hình 3.7. Bản đồ vị trí các điểm đề xuất chuyển đổi chức năng

Hình 3.8. Công năng chính trong KGCC xen giữa khu ở

Hình 3.9. Các kiểu mẫu chính trong KGCC xen giữa khu ở
Không gian vui chơi của trẻ có thể kết hợp sử dụng bàn ghế thấp phục vụ giải khát, ăn vặt, khoản thu từ việc cho thuê mặt bằng của những quày hàng này sẽ giúp chi trả được tiền điện, nước, vệ sinh cho KGCC này.
Khu vực phòng họp ngoài trời có mái che, có sân khấu nhỏ, kho chứa vừa đủ bàn ghế, phông màn phục vụ cho các buổi sinh hoạt, biểu diễn với khán giả lên đến 100 người (chỉ tính khu vực có mái che). Ngoài ra, khi không hội họp thì không gian có thể phục vụ cho mọi người chơi cầu lông, erobic, tập dưỡng sinh, v.v…
3.3.2. Đề xuất cải tạo các khuôn viên cây xanh thành KGCC.

Hình 3.11. Bản đồ vị trí các điểm đề xuất cải tạo
Cả ba điểm đề xuất cải tạo đều có một bất lợi chung là không gian cây xanh không tiếp cận được do công ty cây xanh Đà Nẵng đặt biển cấm tiếp cận khu vực cây xanh, thảm cỏ. Chính vì vậy, dù có không gian xanh rộng lớn nhưng người dân chỉ được sinh hoạt trên vỉa hè, các em nhỏ phải xuống lòng đường để đá bóng.
Phương án cải tạo sử dụng các kiểu mẫu sau:
1. Lối đi lát đá có khe hở
2. Nơi trồng cây kết hợp chỗ ngồi ngoài trời.
3. Ánh sáng trong KGCC.
4. Các trang thiết bị trong KGCC
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
– Đề tài đã đánh giá thực trạng tổ chức KGCC và thói quen, nhu cầu sử dụng của người dân trong khu vực trung tâm thành phố Đà Nẵng để tìm ra những vấn đề bất cập cần khắc phục.
– Đề xuất giải pháp thiết kế KGCC, tạo ra một ngôn ngữ kiểu mẫu phù hợp với đặc trưng của thành phố Đà Nẵng.
– Đề xuất khai thác, cải tạo các điểm sinh hoạt, nhà văn hoá đã xuống cấp, bị bỏ hoang đang chỉ là lí thuyết, đề tài sẽ tiếp tục nghiên cứu và xin ý kiến của thành phố Đà Nẵng để hiện thực hoá, tổ chức thí điểm nhằm đánh giá mức độ hiệu quả của đề tài.
2. Kiến nghị
– Về phía các cơ quan quản lí:
Trong hệ thống quy hoạch của Việt Nam chưa có khái niệm và quy định cụ thể về KGCC. Các cơ quan chuyên trách đầu ngành cần tham khảo các định nghĩa, khái niệm và quy chuẩn thiết kế KGCC trên thế giới (nhất là các khái niệm được thông qua tại hội nghị Habitat III) để dự thảo và ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết kế KGCC phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá – xã hội của Việt Nam nhằm giải quyết những bất cập hiện có trong việc tổ chức quy hoạch và thiết kế KGCC.
– Về phía thành phố Đà Nẵng:
Thành phố Đà Nẵng đang đứng trước những thách thức do sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, xã hội, văn hoá và du lịch. Những vấn đề nổi cộm được chú ý đến là sự gia tăng dân số nhanh; quỹ đất trong trung tâm đô thị còn hạn chế; nhu cầu an sinh xã hội, văn hoá tập tục bị lai tạp làm mất đi đặc trưng riêng v.v… UBND thành phố cần có biện pháp khai thác tối đa quỹ đất công, nhất là những khu đất lớn hiện chỉ đang là khuôn viên cây xanh không tiếp cận được. Cần đưa vào phục vụ các hoạt động công cộng của người dân vừa tiết kiệm vừa nâng cao tiện ích xã hội cho người dân.
Ngoài ra, UBND thành phố cần tiếp tục phát triển các hoạt động hợp tác với các nhóm dự án về phát triển KGCC, hỗ trợ xã hội, tiếp xúc đối thoại với người dân, có biện pháp huy động vốn đầu tư phục vụ cho việc nâng cao chất lượng xã hội người dân, chú trọng đến những người có thu nhập thấp, người già và trẻ em.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\KIEN TRUC\HO THU THANH THU


