Triết lý nhân sinh trong ca dao tục ngữ Nghệ Tĩnh
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, khi mà xã hội loài người ngày càng văn minh, sự phát triển của khoa học và kỹ thuật ngày càng lớn mạnh thì thế giới có thiên hướng tập trung nhiều vào trung tâm của vũ trụ, đó chính là “con người”. Những kinh nghiệm, những triết lý xưa nay được nhìn nhận một cách đúng đắn và nghiêm túc bởi hiện thực cuộc sống đã chứng minh rằng đó chính là “túi khôn” của dân gian để lại, nó giống như những lời tiên tri báo trước cho con người về quy luật của cuộc sống và tạo hóa. Triết lý nói chung, trong đó có triết lý nhân sinh được đề cao, coi trọng hơn bao giờ hết. Triết lý nhân sinh đó chính là những quan điểm, quan niệm về sự sống của con người được rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống. Triết lý nhân sinh được xem như là kim chỉ nam định hướng, chỉ dẫn cho cách đối nhân xử thế, cho hành động hay lối sống của con người.
Nghệ Tĩnh là một vùng đất có nền văn hóa lâu đời, có những đặc điểm riêng về vị trí địa lí, tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội đã hình thành nên triết lý nhân sinh mang nét đặc trưng riêng của xứ Nghệ. Triết lý nhân sinh được thể hiện trên nhiều lĩnh vực về: kiến trúc, văn hóa, nghệ thuật… Trong đó ca dao, tục ngữ được xem là thể loại ổn định, độc đáo phản ánh rõ nét những triết lý nhân sinh sâu sắc của con người xứ Nghệ. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và bảo tồn các giá trị về ca dao, tục ngữ nói chung và triết lý nhân sinh nói riêng vẫn còn những hạn chế nhất định. Do đó, nghiên cứu triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là vấn đề thiết yếu và có ý nghĩa quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn quan niệm của cha ông ta về lẽ sống, về đạo làm người, về cách ứng xử của con người với thế giới tự nhiên và giữa con người với con người trong xã hội. Qua đó, làm rõ những giá trị để bảo tồn và phát huy trong giai đoạn hiện nay, góp phần khẳng định giá trị văn hóa dân gian của Nghệ Tĩnh, củng cố niềm tin, lý tưởng sống cho những người con vùng đất Nghệ Tĩnh nói riêng và thế hệ trẻ của Việt Nam nói chung.
Nhận thức được tầm quan trọng đó nên tôi chọn đề tài: “Triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh” làm đề tài luận văn thạc sĩ Triết học của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục tiêu
Trên cơ sở làm rõ những nội dung cơ bản của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh; luận văn đánh giá về giá trị, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm gìn giữ và phát huy giá trị triết lý nhân sinh của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
2.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích đã nêu trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ lý luận chung về triết lý nhân sinh và ca dao, tục ngữ.
Thứ hai, phân tích nội dung triết lý nhân sinh trong cao ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
Thứ ba, làm rõ giá trị, hạn chế và đề xuất giải pháp gìn giữ và phát huy các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung triết lý nhân sinh trong kho tàng ca dao, tục ngữ vùng Nghệ Tĩnh: Quan niệm về bản chất con người và ý nghĩa cuộc sống, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với cộng đồng, con người với con người trong xã hội.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên quan điểm của triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề triết lý nhân sinh.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn kết hợp các phương pháp: phương pháp logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, quy nạp và diễn dịch, thống kê, so sánh và đối chiếu.
5. Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm có 3 chương và 9 tiết.
6. Tổng quan tình hình nghiên cứu
7. Đóng góp mới của đề tài
Luận văn làm rõ được những nội dung cơ bản, những nét độc đáo, góp phần khẳng định giá trị của triết lý nhân sinh trong tục ngữ, ca dao Nghệ Tĩnh; Đồng thời đề xuất một số giải pháp có tính khả thi cho việc gìn giữ và phát huy các giá trị triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh hiện nay.
8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
8.1. Ý nghĩa lý luận
Hệ thống hóa những nội dung triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, đồng thời khẳng định những giá trị nhân văn, tiến bộ trong triết lý nhân sinh của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
– Luận văn có giá trị làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về hình thái ý thức văn hóa, nghệ thuật, triết học.
– Là cơ sở khoa học cho các cơ quan quản lý và bảo tồn nhằm bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vùng Nghệ Tĩnh trong giai đoạn hiện nay.
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH
VÀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.1. TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT LÝ NHÂN SINH
1.1.1. Khái niệm triết lý
Triết lý là cái ý sâu xa, cái lẽ huyền diệu của một học thuyết hay một sinh hoạt, một hiện tượng, một cử chỉ.
Triết lý là những quan điểm, quan niệm được con người rút ra từ thực tiễn cuộc sống của mình. Nó có tác dụng chỉ dẫn, định hướng cho hành động của con người.
Khác với triết học, triết lý mang đậm dấu ấn của cộng đồng người, triết lý được rút ra từ những trải nghiệm trong cuộc sống. Trải nghiệm càng sâu, càng rộng thì tính triết lý càng cao. Triết lý thường được phát biểu ngắn gọn, súc tích. Triết lý có sức mạnh định hướng cho cách đối nhân xử thế, cho hành động hay lối sống của một cá nhân hay một cộng đồng.
Triết lý thường phù hợp với những phạm trù: Chân lý, đạo đức, lẽ phải. Triết lý mang tính giáo dục cao bởi tính đúng đắn và kinh nghiệm từ thực tiễn.
Có thể thấy rằng, rất nhiều quan niệm về triết lý được đưa ra, mỗi quan niệm đều có ý nghĩa đúng đắn của nó. Tuy nhiên, theo chúng tôi các quan niệm đó đúng mà chưa đủ. Trên cơ sở kế thừa những quan điểm về triết lý đã có cộng với quá trình nghiên cứu, tìm hiểu của bản thân, chúng tôi cho rằng: Triết lý trước hết đó là những quan niệm đúng đắn, được con người rút ra, đúc kết từ trong thực tiễn cuộc sống. Khác với triết học, triết lý gần gũi hơn với cuộc sống, là bài học mà cá nhân nào cũng có thể tự đưa ra được triết lý sống cho riêng mình. Trải nghiệm càng nhiều, triết lý càng sâu sắc. Triết lý không ở đâu xa với, mà nằm ngay trong cuộc sống của con người.
Triết lý có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn tới mọi mặt của đời sống con người như: Triết lý sống, triết lý kinh doanh, triết lý giáo dục…Trong giới hạn của đề tài chỉ đề cập đến triết lý nhân sinh được thể hiện trong ca dao, tục ngữ tỉnh Nghệ Tĩnh.

1.1.2. Triết lý nhân sinh
Triết lý nhân sinh theo từ điển Từ và ngữ Việt Nam: “Nhân” là người, “sinh” là cuộc sống, triết lý nhân sinh là triết lý về sự sống con người.
Cũng giống như quan niệm về triết lý, triết lý nhân sinh được hiểu trên những bình diện khác nhau của cuộc sống. Khi nói đến “nhân sinh” đó chính là sự sống của con người, đó là phạm trù vô cùng rộng lớn và phức tạp. Mỗi người có một quan điểm về triết lý nhân sinh riêng, nhưng nhìn chung xoay quanh triết lý về nhân sinh chính là sự sống của con người. Đứng trên qua điểm duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta nhìn nhận triết lý nhân sinh không phải là do thượng đế sinh ra, thượng đế định đoạt. Con người cùng với quá trình tiến hóa, chọn lọc của tự nhiên, làm chủ vũ trụ và cuộc sống. Sự sống của con người do chính con người định đoạt, do con người làm chủ. Và muốn giải thoát được số phận, con người phải tự vùng lên đấu tranh chứ không đổ lỗi cho số phận hay chờ đợi sự giải thoát, ban ơn nào cả.
Chính vì vậy, triết lý nhân sinh cũng chính là những quan điểm, quan niệm, những kinh nghiệm về sự sống được con người rút ra từ trong thực tiễn cuộc sống.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.2.1. Khái niệm, nguồn gốc ra đời của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Khái niệm ca dao theo từ điển Bách Khoa Việt Nam: Ca dao thường là những câu thơ, bài hát dân gian có ý nghĩa khái quát, phản ánh đời sống, phong tục, đạo đức hoặc mang tính chất trữ tình, đặc biệt là tình yêu nam nữ.
Ca dao thường là những câu thơ có thể hát theo những làn điệu dân ca, hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát. Ca dao để lại dấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học.
Theo M.Gorki: “Đó là hình thức cao nhất, hay nhất và thiên tài nhất, bao giờ cũng ngắn nhưng trí tuệ và tình cảm trong đó đáng giá hàng ngàn kho sách”.
Tác giả Ninh Viết Giao cho rằng: “Mỗi câu ca dao là một mảnh tâm hồn trĩu nặng, nhưng cũng là một dải lụa đào duyên dáng như những cô thôn nữ đang kỳ đôi mươi, mười tám, thắt giải lưng xanh, má hồng đỏ thắm, môi trầu cắn chỉ, mắt lay láy hạt huyền” [20, tr.12].
Tục ngữ theo tác giả Vũ Ngọc Phan: đó là một câu tự nó diễn trọn vẹn một ý, một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lý, một công lý, có khi là một sự phê phán [48, tr.6].
Giáo sư Nguyễn Lân cho rằng: Tục ngữ là những câu hoàn chỉnh, có ý nghĩa trọn vẹn nói lên hoặc một nhận xét về tâm lý, hoặc một lời phê phán khen hay chê, hoặc một câu khuyên nhủ, hoặc một kinh nghiệm về nhận thức tự nhiên hay xã hội.
Tục ngữ được cấu tạo trên cơ sở những kinh nghiệm về sinh hoạt, về sản xuất lâu đời, nó là những đúc kết, những lời nhận xét đã được nhiều người thừa nhận, có tác dụng hướng dẫn con người nhìn nhận mọi khía cạnh của cuộc đời.
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là một bộ phận cấu thành trong kho tàng ca dao. Có thể là do những lính thú lưu động, những dân tứ chiếng, những đợt sóng người chuyển cư, những người buôn bán, những ông đồ Nghệ đầu năm đeo cái tay nái đỏ trong đó có cái tráp đen đi khắp bốn phương tìm nơi dạy học mang về. Nhưng qua những câu tục ngữ từ nơi khác du nhập vào đều có ít nhiều “chất Nghệ Tĩnh”.
1.2.2. Những nội dung của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Những bài ca dao được lưu truyền ở Nghệ Tĩnh đều phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, chiến đấu và sáng tạo trên đất Hồng Lam.
Ca dao Nghệ Tĩnh là tấm gương phản chiếu rõ nhất cuộc sống của những con người nơi đây. Đó là một cuộc sống vật lộn gian khổ, bền bỉ giữa con người và thiên nhiên.
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn là tấm gương phản ánh chân thực nhất con người xứ Nghệ. Đó là con người có bản lĩnh vững vàng trong cuộc sống. Dường như luôn đứng đầu song, ngọn gió, luôn phải đương đầu với những khó khăn, thử thách nên con người nơi đây trở nên cứng cỏi và gan thép.
Không chỉ dừng lại ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, xóm làng, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn là bản tình ca thấm đẫm tình yêu thương chan chứa của tình yêu lứa đôi và tình cảm gia đình.
Có thể thấy rằng, qua những bài ca dao, tục ngữ thấy được rõ con người xứ Nghệ với tinh thần kiên quyết, nghị lực bền bỉ, lòng tin vô bờ, ý thức cao siêu, tâm hồn rộng lớn. Người Nghệ Tĩnh quen với mọi khó khăn, hiểm nghèo đã sớm định hình tính cách gân guốc, rắn rỏi, khô khan. “Đời sống tình cảm với cái đẹp của lý tưởng, tuy không bộc lộ một cách ồn ào hời hợt, nhưng lại có phần suy nghĩ, điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ cảm động đến thiết tha” (trích Văn thơ Phan Bội Châu).
1.2.3. Vài nét nghệ thuật nổi bật trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
a. Tính bộc trực thẳng thắn
Về mặt hình thức của ca dao, tục ngữ xứ Nghệ, nếu so sánh với ca dao, tục ngữ miền Bắc thì không được mượt mà, uyển chuyển. Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh phần nhiều bộc trực, thẳng thắn, có phần cứng rắn. Điều này cũng thật sự dễ hiểu, cuộc sống nơi đây thường xuyên phải vật lộn chống chọi với thiên nhiên khô cằn, khắc nghiệt, chế độ phong kiến kéo dài dai dẳng, tàn nhẫn, xảo quyệt, chiến tranh liên miên với giặc ngoại xâm trường kỳ, gian khổ. Cuộc sống đói nghèo, túng quẫn luôn dày vò, đeo đẳng.
b. Tính trí tuệ bác học
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh mang đặc trưng riêng, đó là tính trí tuệ và bác học. Tính trí tuệ và bác học này không chỉ có tác giả là các nhà nho, khoa bảng mà nó còn xuất hiện trong những bài ca dao, tục ngữ của tầng lớp bình dân. Họ học lỏm, chắp vá và bằng kinh nghiệm từ thực tiễn cuộc sống và lao động , ngày qua tháng lại họ vận dụng để sáng tác. Những cách vận dụng tài tình đã làm nên những bài ca dao, những câu tục ngữ dí dỏm, tinh nghịch nhưng cũng đầy tính trí tuệ và bác học.
c. Tính trạng
Tính Trạng: “Trạng” ở đây không phải là nói phét, nói láo. “Trạng” ở đây thể hiện tính vui vẻ, thông minh nhanh trí song dí dỏm của người xứ Nghệ. Cần thấy rằng, tính trạng ở đây không mâu thuẫn gì với nét trầm lặng, điềm tĩnh của con người xứ Nghệ mà nó là hai mặt thống nhất, bổ sung cho nhau trong tính cách con người xứ Nghệ. “Trạng” có khi là châm biếm, nhưng ít mang tính chất phóng đại, khoa trương những khuyết điểm và tính xấu của những kẻ bị đưa ra chế giễu, lên án. Nó gây ra tiếng cười đầy khoái trá của trí tuệ, cười mà khâm phục tác giả của bài ca dao, tục ngữ ấy. Một số bài còn mang yếu tố “tục’ nhưng vẫn mang lại nụ cười sảng khoái.
Tiếng cười khi sổ sàng, phóng khoáng, thường sử dụng biểu tượng hai mặt để trêu cợt lẳng lơ, song cái nhìn thì bình dị, lạc quan. Những bài ca dao, những câu tục ngữ mang tính ‘Trạng” đã phần nào làm vơi bớt đi cuộc sống ngột ngạt, nghèo khổ nơi đây.
d. Một số nét nghệ thuật khác
Ngoài ra, hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát của ca dao Nghệ Tĩnh cũng là một nét nghệ thuật độc đáo. Không chỉ đối ngẫu mà còn đối câu, đối bài, hiện tượng gieo vần, về ngôn từ, nhất là các từ địa phương, các dạng kết cấu, thời gian và không gian nghệ thuật…cũng rất sáng tạo và độc đáo.
Về tục ngữ, nghệ thuật chủ yếu là kết cấu ngôn từ, câu chữ và cách gieo vần. Kết cấu ngôn từ trong tục ngữ hết sức đa dạng. Với sức mạnh của kết cấu ngôn từ, giúp cho người đọc, người nghe có khả năng ghi nhớ, truyền khẩu và thông tin ngắn gọn. Chính vì lẽ đó, tục ngữ rất dễ thuộc, dễ nhớ và có khả năng lưu truyền rộng rãi trong quần chúng nhân dân.
1.3. NHỮNG ĐIỀU KIỆN, TIỀN ĐỀ RA ĐỜI TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
1.3.1. Điều kiện địa lý, tự nhiên
a. Về vị trí địa lý
Xét về vị trí địa lý, Nghệ An và Hà Tĩnh nằm ở vị trí có tầm quan trọng chiến lược của cả nước về quốc phòng, an ninh, tâm điểm của vùng Trung Bộ.
b. Địa hình sông, núi
Nhìn chung địa hình của cả hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh vô cùng phức tạp, hiểm trở, chủ yếu là núi cao, sông sâu, gây khó khăn cho phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp, công nghiệp. Chính vì vậy, đời sống của nhân dân hai Tỉnh này gặp rất nhiều khó khăn, nghèo nàn và lạc hậu. Điều này được thể hiện rõ trong những bài ca dao nói về những khó khăn khi lên rừng, xuống biển lao động sản xuất.
c. Khí hậu
Khí hậu hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh đều vô cùng khắc nghiệt, mùa hè ảnh hưởng của gió Lào nắng bỏng lửa, mùa đông thì rét cắt da cắt thịt, mưa bão, lũ lụt triền miên. Sống ở miền đất khí hậu khắc nghiệt đã ảnh hưởng rất nhiều đến tư duy, cách sống và tính cách của người dân nơi đây. Tư duy theo kiểu bó hẹp, cục bộ sau lũy tre làng, ít thay đổi hay tự đổi mới; tính cách bộc trực, thẳng thắn, rắn rỏi đầy nội lực mạnh mẽ, có khi nóng nảy, cục cằn và cách sống hay lo xa, tiết kiệm.
d. Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên thiên nhiên cả hai vùng nhìn chung đa dạng, phong phú, có nhiều sản vật quý hiếm. Tuy nhiên do địa hình hiểm trở, núi cao, sông sâu, giao thông đi lại khó khăn nên người dân không thể nào khai thác hết được những thế mạnh này. Cuộc sống vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngư nghiệp.
1.3.2. Điều kiện kinh tế – xã hội
a. Về điều kiện kinh tế
Xét về điều kiện kinh tế, nhìn chung cả hai vùng Nghệ An và Hà Tĩnh chủ yếu vẫn dựa vào nông, lâm, ngư nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Chính vì vậy tốc độ phát triển kinh tế chậm, đời sống của bà con hai Tỉnh còn gặp rất nhiều khó khăn. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến tư duy, quan niệm của người dân xứ Nghệ trong công cuộc chinh phục thiên nhiên, trong lao động sản xuất, trong đời sống tâm tư tình cảm. Lối tư duy cục bộ nông nghiệp chậm chạp, ít đổi mới, chủ yếu dựa vào trời, phụ thuộc tự nhiên, thụ động trong đấu tranh đòi quyền lợi, chậm đổi mới phương thức sản xuất.
b. Điều kiện xã hội
Điều kiện xã hội cả hai vùng còn nhiều mặt hạn chế. Do kinh tế chậm phát triển, đời sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nên điều kiện về an sinh, xã hội còn nghèo nàn, tồn tại nhiều hủ tục xưa chưa được xóa bỏ. Tình trạng mất công bằng, dân chủ còn khá phổ biến. Điều này được bộc bạch rất thẳng thắn trong ca dao, tục ngữ.
1.3.3. Tiền đề văn hóa, tư tưởng
Có thể thấy rằng, Nghệ An và Hà Tĩnh là hai vùng đất có nền văn hóa lâu đời, đậm đà bản sắc địa phương. Có nền tảng tư tưởng vững chắc từ ngàn xưa để lại, được xem là vùng “địa linh nhân kiệt” sinh ra nhiều bậc anh tài. Trong quá trình hình thành và phát triển, vùng Nghệ Tĩnh chịu ảnh hưởng và tiếp biến của những vùng văn hóa khác trong nước làm giàu thêm cho nền văn hóa, tư tưởng của địa phương. Kho tàng văn hóa dân gian nói chung, Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh vì vậy rất phong phú và đa dạng, vừa tiếp thu và ảnh hưởng của những bài ca dao, những câu tục ngữ từ địa phương khác đến vừa tiếp biến chúng thành những bài ca dao, những câu tục ngữ đậm chất xứ Nghệ
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 cho chúng ta cái nhìn khái quát nhất về tiền đề lý luận, về nội dung của triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, những điều kiện, tiền đề về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội đã ít nhiều ảnh hưởng đến việc ra đời và hình thành ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh.
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh rất đa dạng và phong phú, nó là kết tinh của tâm hồn người Xứ Nghệ. Với nghệ thuật tài tình, đặc sắc ca dao tục ngữ Nghệ Tĩnh dễ nhớ, và dễ đi vào lòng người.
Vùng đất xứ Nghệ tuy nghèo, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt nhưng vùng đất này nổi tiếng trọng đạo nghĩa, hiếu học, là vùng “địa linh nhân kiệt”. Tính cách của con người nơi đây tuy thẳng thắn, khô khan nhưng đầy rắn rỏi, chịu thương chịu khó, tinh thần đấu tranh quả quyết, ý chí vươn lên mạnh mẽ. Tất cả đã kết tinh một cách cô đọng và súc tích nhất trong các bài ca dao, những câu tục ngữ và mang đậm tính triết lý nhân sinh sâu sắc.
CHƯƠNG 2
NỘI DUNG TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG
CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
2.1. QUAN NIỆM VỀ BẢN CHẤT CON NGƯỜI, ĐỜI SỐNG NỘI TÂM VÀ Ý NGHĨA CỦA CUỘC SỐNG
2.1.1. Bản chất con người và số phận
Theo quan niệm của triết học Mác – Lênin con người là sản phẩm của sự tiến hoá lâu dài từ giới tự nhiên và giới sinh vật. Luận điểm của Mác coi “Bản chất của con người là tổng hoà các quan hệ xã hội”. Bản chất của con người không phải là cái gì có sẵn, mà có quá trình hình thành, phát triển và hoàn thiện cùng với hoạt động thực tiễn của con người. Bản chất con người sinh ra vốn là lương thiện “Nhân chi sơ tính bản thiện”, nhưng sống trong môi trường xã hội khác nhau đã tác động, làm thay đổi bản chất của con người. Quan niệm của triết học Mác về con người và bản chất của con người có điểm chung với quan niệm của các trường phái triết học khác trước Mác, đó là khẳng định trước hết con người là sản phẩm của tự nhiên, là một bộ phận của giới tự nhiên.
Con người xứ Nghệ với những tính cách, bản chất mang dấu ấn và đặc trưng riêng. Dựa vào quy luật của tự nhiên, người dân xứ Nghệ hiểu được căn cốt của triết lý nhân sinh về bản chất con người. Bản chất của con người không thể che dấu, nó bộc lộ rõ thông qua tính cách, qua lời ăn tiếng nói, cách ứng xử. Bản chất của con người còn được bộc lộ trong phẩm chất đạo đức. Ca dao Nghệ Tĩnh đặc biệt đề cao nhân cách, phẩm chất đạo đức của con người. Cái tình, cái nghĩa được đề cao hơn tất cả mọi thứ, của cải cũng không thể nào so sánh được: Muốn cho tình nghĩa lâu dài/ Đừng coi trọng của hơn ngài (người) mà quên [20, tr.662].
Dựa vào quy luật của tự nhiên, người dân xứ Nghệ hiểu được căn cốt của triết lý nhân sinh về bản chất con người là do đâu mà có. Đó không phải là bản chất thiên định mà chính là môi trường xã hội quyết định: Đất tốt trồng cây xum xoa (um tùm)/ Những người lịch sự nói ra mĩ miều; Đất xấu trồng cây ngẳng nghiu/ Những người thô tục nói điều phàm phu [20, tr.651].
Mỗi con người sinh ra đều có một số phận riêng, không ai giống ai. Tuy nhiên, số phận con người dù giầu hay nghèo cũng chưa phân định rõ, không phải số phận định đoạt hoàn toàn, mà đó còn do ở chính bản thân con người quyết định: Ai ơi đừng nghĩ đói giàu/ Bạc vàng đang để hai đầu ngón tay [20, tr.637].
Số phận con người không phải là bất biến mà nó sẽ thay đổi theo chiều lên, xuống tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Theo người dân xứ Nghệ, nếu biết sống khôn khéo, biết lẽ sống thì con người có thể khắc phục được hoàn cảnh, số phận, dù số phận có éo le đến đâu: Làm người ai có dại chi/ Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông [20, tr.660]. Rõ ràng đây là một triết lý sống rất tích cực, vận dụng quy luật của tự nhiên, dòng sông bên lở, bên bồi để nói lên cái triết lý sâu xa của cuộc đời. Giống như xưa nay ông cha ta cũng nói “Sông có khúc, người có lúc”.
Số phận con người là vô thường, đó là một cuộc đời trần trụi, ai rồi cũng sẽ già nua và chết đi, thuận theo quy luật của tự nhiên: Trăm năm ai cũng bạc đầu/ Nghìn năm ai cũng nhuộm màu cỏ xanh [20, tr.675].
Triết lý nhân sinh về bản chất con người và số phận con người trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan: Bản chất con người là lương thiện, tuy nhiên do hoàn cảnh xã hội, cuộc đời xô đẩy đã khiến họ có khi bị sa ngã, bản chất bị biến hóa. Số phận con người xét cho cùng là do chính bản thân con người quyết định và do hoàn cảnh xã hội chi phối chứ không phải do tự nhiên sinh ra hay do lực lượng siêu nhiên nào quyết định. Chính vì vậy, muốn thay đổi được số phận, con người phải tự mình vươn lên, thay đổi bản thân, đấu tranh để cải tạo xã hội.
2.1.2. Đời sống tâm tư tình cảm và ý nghĩa cuộc sống
Nói đến con người, đời sống tâm tư tình cảm chính là đời sống nội tâm với những cung bậc cảm xúc, ý chí, niềm tin và khát vọng của con người. Những con người xứ Nghệ với đời sống tình cảm thật phong phú và nhiều cung bậc cảm xúc. Phàm đã là con người thì không ai tránh khỏi những khi mưa, nắng, lúc buồn lúc vui: Khi vui thuyền đậu bến chơi/ Khi buồn nhổ cọc thuyền xuôi đằng thuyền; Khi vui vui cả một bè/ Khi buồn cây nứa, cây tre cũng buồn…
Đời sống tình cảm của con người cũng được đúc kết thành triết lý sâu sắc. Quy luật được đúc kết rằng: hễ gần nhau, chạm mặt nhau, va chạm nhiều thì con người chưa hẳn đã thương yêu nhau hết mực, người xưa hay nói “Thương nhau lắm, cắn nhau đau” là vì vậy. Còn xa cách chưa hẳn đã không còn tình nghĩa với nhau, càng xa lại càng nhớ, càng thương nhiều hơn: Ngọc nhìn lâu sẽ trông thấy vết/ Hoa để gần sẽ hết mùi hương/ Xa nhau ao ước mơ màng/ Gần nhau rồi lại phụ phàng biết đâu; Thoang thoảng mà yêu nhau đời/ Quấn quýt cho lắm dễ rời nhau ra…
Tình cảm của con người xứ Nghệ thương, ghét cũng rất rạch ròi. Thương là thương hết mực, còn ghét thì cũng ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm: Thương nhau cơm giấu, gấu (gạo) cho/ Ghét nhau một mảnh quạt mo cũng đòi; Thương nhau con chí (chấy) cắn đôi/ Ghét nhau con chí bỏ nồi canh rau; Yêu nhau thì ném bã trầu/ Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra…
Cuộc sống dù nghèo đói, thiên nhiên dù nghiệt ngã nhưng cũng không thể quật nổi ý chí, khát vọng của những con người xứ Nghệ. Dường như sức chịu đựng càng dày, càng sâu thì khát vọng càng mạnh mẽ, vươn cao, vươn xa: Cây cao đứng giữa đại ngàn/ Gió rung không sợ, sợ chi tàn lửa rơm. Họ có một niềm tin rực sáng, cháy bỏng vào tương lai: Có khó mới có miếng ăn/ Có nhọc có nhằn mới có phong lưu; Sông kia lúc lở lúc bồi/ Con người khó mãi thì rồi có vinh; Làm người có nghĩ có suy/ Sông còn có khúc huống chi là người…Tục ngữ có câu: Ai giàu ba họ, ai khó ba đời.
Nhận thấy được quy luật cuộc sống là vô thường, người dân Nghệ Tĩnh hướng tới một cuộc sống no đủ về vật chất và cuộc sống tinh thần vui vẻ, an nhàn, tự do, tự tại chốn quê hương. Đó là những buổi chiều quê thanh bình, yên ả với cánh diều no gió chở bao nhiêu khát vọng bay cao, vươn xa: Thú chi bằng thú chiều chiều/ Ra đứng đầu ngõ, ngắm diều làng Nghi [20, tr.183]. Họ sẵn sàng từ bỏ sự giàu sang, phú quý để quay về với thú vui điền viên chốn làng quê. Ở đó, có những món ăn dân dã, tuy giản đơn nhưng thắm đượm tình quê, hương vị thân thuộc của quê hương: Chăn bông gối miến em chê/ Em về em lấy thú quê cày bừa; Chim: gà, cá: lệch, cảnh: cau/ Mùa nào thức nấy giữ màu thú quê… Họ ước mơ về một cuộc sống ấm no rất đỗi giản dị: Còn trời, còn nước, còn đây/ Còn ao rau muống còn đầy chum tương [20, tr.568].
Và cao quý hơn cả, người dân coi trọng việc tu nhân, tích đức, sống trong sạch, nhân hậu để lại phúc đức cho đời sau. Đó là một lối sống cao đẹp, đầy tính nhân văn: Người trồng cây hạnh để chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau [20, tr.665].
Có thể thấy rằng, đời sống tâm tư tình cảm của con người Nghệ Tĩnh đong đầy cảm xúc buồn, vui. Nhưng chúng ta nhận thấy rằng đằng sau những cảm xúc ấy là một nội lực sống đầy mạnh mẽ, ý chí, khát vọng vươn lên khắc phục mọi hoàn cảnh, vươn cao, vươn xa vì một cuộc sống ấm no, hạnh phúc, an nhàn và lý tưởng sống cao đẹp.
2.2. QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI TỰ NHIÊN VÀ VỚI CỘNG ĐỒNG
2.2.1. Mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên
Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng, con người và thế giới tự nhiên có mối quan hệ mật thiết với nhau. Con người sống không thể tách rời với thế giới tự nhiên, tự nhiên chính là “thân thể vô cơ” của con người. Con người sống tuân theo quy luật của tự nhiên và hòa vào tự nhiên. Con người không thể thống trị được tự nhiên nhưng có thể cải tạo được chúng và luôn giữ vai trò chủ động trong mối quan hệ với tự nhiên. Tự nhiên là toàn bộ hiện thực vật chất, là toàn bộ thực tại khách quan gắn bó khăng khít với con người.
Với thiên nhiên khắc nghiệt, mùa hè nóng nực, hạn hán, mùa đông lũ lụt, lạnh giá con người xứ Nghệ luôn phải gồng mình chống chọi với lũ lụt, thiên tai, đói nghèo. Mặc dù cần cù, chịu khó, tiết kiệm người dân nơi đây đã nỗ lực hết sức, song thành bại hay không còn phụ thuộc vào thiên nhiên. Thiên nhiên hay chính xác đó chính là thế lực huyền bí, siêu nhiên – Trời quyết định. Mọi việc trông mong vào Trời: Làng ta phong cảnh hữu tình/ Khéo trời khéo đẻ ra mình ra ta; Quê em trước biển sau sông/ Trông trời đổi gió mà mong ngày về; Ai lên ta nhắn ông trời/ Thu ngày bớt tháng cho rồi mùa đông… Người dân không chỉ trông mong vào “trời” mà còn chờ vào “thời”: Có thời gối phượng chăn loan/ Không thời gối gỗ cho nhàn cái thân; Thuận trời ngày nắng đêm mưa/ Cha con sắm sửa cày bừa làm ăn… Khi trời thương thì trời cho làm ăn, nhưng khi trời không cho thì dù có cố gắng như thế nào cũng chịu: Công anh chèo ngược chống xuôi/ Nằm trên đống cá mà trời chẳng cho.
Vì vậy, con người phải sống hợp lẽ với trời, trời sẽ phù trì cho được an khang. Thế gian thiên địa mù mù, con người tưởng chừng như quá bé nhỏ, số phận quá đỗi mong manh. Thiên nhiên bao la, sức con người có hạn. Tuy nhiên, nếu con người biết sống đạo nghĩa, có lòng tôn kính thần phật, cái tâm hướng thiện, ăn ở biết lễ nghĩa, phải trái, trước sau thì sẽ được phù hộ. Triết lý về đạo làm người mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc và thấm nhuần triết lý nhân sinh của người dân xứ Nghệ: Ở ăn phải cho có nghì/ Mênh mông thiên địa phù trì an khang.
Tất cả mọi việc do trời định đoạt vì vậy người dân luôn phải “nhờ trời”, “lạy trời”, “trông trời”, “chờ trời” và “xin trời” cho mưa thận, gió hòa: Lạy trời trời nổi gió đông/ Thuận buồm xuôi gió bỏ công đi về; Nhờ trời hòa cốc phong đăng/ Cây lúa cũng tốt, con tằm cũng tươi; Được thua là sự bởi trời/ Chớ thấy sóng cả mà dời tay ra…; Trông trời cho chóng gió đông/ Cho thuyền được gió cho nhông tôi về; Chờ trời mưa xuống có ngày phong lưu; Xin trời hãy nắng khoan mưa/ Cho dâu xanh bãi cho, cho vưa (vừa) lòng tằm…
Chính vì thiên nhiên khắc nghiệt, đất đai khô cằn sỏi đá mà con người cũng phải tìm kiếm mảnh đất phù hợp để sinh sống, lao động. Họ lo xa, tiết kiệm để có thể lo cho cuộc sống được ấm no, hạnh phúc hơn: Kiếm nghề mà bỏ vào tay/ Biết khi mô đói, biết ngày nào no; Được mùa chớ phụ ngô khoai/ Đến khi thất bát lấy ai bạn cùng… Tinh thần luôn lạc quan, mặc trời đất: Trời lụt thì lút cả làng/ Hai Quai có lở, Văn Tràng mới trôi; Có khó mới có miếng ăn/ Có nhọc có nhằn mới có phong lưu…
Sống gắn bó với tự nhiên, dần dần con người nơi đây đúc rút ra những kinh nghiệm, tìm ra được những quy luật của tự nhiên, vận dụng vào đời sống sản xuất , phòng rủi ro, hạn chế các tác động xấu và phát huy lợi thế của nó: Tháng Năm cho nhẫn tháng Mười/ Đại can đội mũ thì trời động mưa; Bao giờ rú Bể mang tơi/ Rú Bơng đội mũ thì trời mới mưa; Chanh chua thì khế cũng chua/ Nhuần hai tháng Bảy trông mưa làm gì…Bằng kinh nghiệm được đúc rút trong cuộc sống, người dân nơi đây đoán biết được thời tiết như thế nào để có kế hoạch làm ăn. Khi mà thời bấy giờ khoa học chưa phát triển thì những kinh nghiệm này thật sự quý giá đối với bà con nông dân. Họ biết vận dụng quy luật của tự nhiên vào sản xuất mùa màng, mang lại kết quả tốt: Chim: gà, cá: lệch, cảnh: cau/ Mùa nào thức nấy giữ màu thú quê [20, tr.572].
Cuộc sống của người dân xứ Nghệ chủ yếu là nông nghiệp, quanh năm quen với ruộng đồng. Chính vì vậy, trải qua nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, người dân đã đúc rút những kinh nghiệm quý báu như: Lúa về lẫm trước kho sau/ Đầu cày nắm chặt đuôi trâu giữ bền; Lúa mùa thì cấy cho sâu/ Lúa chiêm thì gãy cành dâu mới vừa; Mạ úa cấy lúa chóng xanh/ Gái dòng chóng đẻ sao anh hững hờ; Ra đi mẹ có dặn dò/ Ruộng sâu cấy sớm, ruộng gò cấy trưa; Tháng Năm mà cấy mạ non/ Thà rằng không cấy ẵm con ở nhà/ Tháng Mười mà cấy mạ già/ Thà rằng không cấy ở nhà ẵm con… Tục ngữ có câu: Ăn kỹ no lâu, cày sâu tốt lúa; Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống…
Nghề đi biển cũng là một nghề chính của bà con nơi đây. Trong tất cả các nghề thì nghề đi biển có thể nói là nguy hiểm nhất và cực khổ nhất. Biển cả đầy sóng gió, người dân vật lộn với nắng mưa, bão bùng. Chính vì vậy, việc đúc kết kinh nghiệm cho con cháu đời sau trong nghề đi biển cũng được người xứ Nghệ quan tâm. Đó là những kinh nghiệm quý báu, có khi phải đánh đổi cả tính mạng mới đúc rút ra được: Sông sâu thì biển cũng sâu/ Muốn ăn cá lớn phải dong câu dài [20, tr.616].
2.2.2. Mối quan hệ giữa con người với cộng đồng
Bên cạnh mối quan hệ với tự nhiên, con người còn là tổng hòa các mối quan hệ với cộng đồng, xã hội. Cộng đồng đó chính là các mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ về tình cảm, cảm xúc của những cá nhân và tập thể. Cộng đồng được hình thành trên cơ sở các mối liên hệ giữa cá nhân và tập thể dựa trên cơ sở tình cảm là chủ yếu. Ngoài ra còn có các mối liên hệ tình cảm khác. Trong đó, tinh thần đoàn kết được xem là một nội dung quan trọng trong việc gắn kết những cá nhân trong cộng đồng với nhau.
Trong quan hệ với xóm làng, cộng đồng người dân xứ Nghệ cũng có những triết lý sống rất chân thực. Làng xóm cũng là nơi họ chia sẻ với nhau những công việc nặng nhọc, hiểm nguy, ngày trái gió trở trời, những khi vui, khi buồn, khi thành công hay thất bại: Khi mô chiêm ngã màu vàng/ Tin cho nhau biết ta sang gặt giùm; Ai đi đường rậm xa xa/ Chờ em đi với hai ta đi cùng; Rủ nhau lên núi Đông Hồi/ Mỗi ngày một gánh cuộc đời thỏa thuê; .. Tục ngữ có câu: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”. Sống nơi miền đất khô cằn, nhiều hiểm nguy rình rập đã hình thành nên tư duy làm việc theo tập thể, làm bất cứ việc gì bà con cũng “rủ nhau” cùng làm. Sức mạnh đoàn kết đã giúp cho người dân xứ Nghệ luôn mạnh mẽ, vượt qua những khó khăn, trở ngại cùng nhau chinh phục thiên nhiên, sản xuất, đói no có nhau: Đến đây tạm bữa cơm cà/ Tạm con mắm mặn, kẻo nhà ngái ngôi (xa xôi); Nhớ ngày cháo đậu một lung/ Nguồn cơn khi ấy ai đừng quên ai.
Họ vui thú với ruộng vườn, sông nước gái trai đua nhau làm ăn, không khí vui vẻ, nhộn nhịp: Đua nhau ta cấy ta cày/ Cho cao cốt thóc cho đầy bồ khoai [20, tr.584]. Dẫu rằng cuộc sống nhà nông quanh năm đói kém, vất vả đủ đường nhưng với tình yêu làng xóm, quê hương tha thiết, những người nông dân xứ Nghệ vẫn cứ vui vẻ, sống gắn bó trên chính mảnh đất quê hương mà không chịu rời xa. Cuộc sống dù nghèo đói nhưng đầy cảm vợ chồng, cha mẹ, con cái, tình làng, nghĩa xóm gắn bó keo sơn: Sáng chiều nghe tiếng nói cười/ Công ai việc nấy chớ nặng lời với nhau. Khi mùa màng bội thu, người dân cùng nhau hưởng chung thành quả lao động mà mọi người đã cùng nhau góp sức. Lợi ích cá nhân và lợi ích cộng đồng được gắn kết: Đua nhau chăm việc cấy cày/ Mùa màng phong nẫm ta rày hưởng chung [20, tr.584].
Không chỉ trong làng, trong xóm người dân sống thân thiết, gắn bó chan hòa với nhau mà giữa làng này, làng khác mối quan hệ cộng đồng được gắn kết: Cưỡi trâu mà lội qua sông/ Trâu sang bên đó chung đồng với nhau/ Hai làng xa cách gì đâu/ Dẫu cho không có nhịp cầu bắc ngang [20, tr.575]. Dẫu rằng cách trở đò ngang, không một cây cầu kết nối hai làng nhưng tình cảm gắn bó, đoàn kết của người dân vẫn rất cao, rút ngắn khoảng cách về địa lý để xích lại gần với nhau. Họ đã phá vỡ quan niệm xưa nay cho rằng: “Trâu ta ăn cỏ làng ta” hay “Ta về ta tắm ao ta” là tốt hơn để đi đến một bước ngoặt mới trong quan hệ xóm làng, cộng đồng nói chung “chung đồng với nhau”. Khi mà thời bấy giờ cuộc sống của người dân chủ yếu phụ thuộc vào thiên nhiên, phương thức sản xuất thô sơ, lạc hậu, đối mặt với nhiều khó khăn, thậm chí là hiểm họa như thiên tai, lũ lụt, thú dữ… đòi hỏi con người sống với nhau phải đoàn kết, gắn bó. Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng càng cao càng tạo ra sức mạnh giúp người dân sống sót.
Phải chăng lớn lên trong cảnh đói nghèo nên bản chất của người dân không tránh khỏi những thói hư, tật xấu. Của mình thì giữ bo bo, của làng, của nước thì tiêu xài thoải mái: “Một miếng giữa làng, hơn một sàng xó bếp”. Đây là một trong những tật xấu bị người dân chê cười. Sống cùng làng, cùng xóm với nhau của nhà mình thì keo kiệt, không muốn sẻ chia cho ai, còn của người thì tận dụng, dùng thoải mái: Của mình thì giữ bo bo/ Của người thì muốn một mo cho đầy/ Của chung thiên hạ đồng lần/ Canh lâu rồi lại trao dần cho nhau; Của mình thì gác trên tran/ Của người thì trải chiếu ngang ra ngồi…
Rộng hơn nữa trong quan hệ với cộng đồng, đó là tình yêu quê hương, đất nước của người dân xứ Nghệ. Với quê hương, người xứ Nghệ tự hào một cách tha thiết về vẻ đẹp của quê hương: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ; Non Hồng ai đắp mà cao/ Sông Lam ai bới ai đào mà sâu… Xứ Nghệ đẹp như một bức tranh sơn thủy hữu tình, cảnh đẹp như tranh vẽ khiến ai cũng mê mẩn lòng. Dù có đi xa muôn phương, người Nghệ Tĩnh vẫn luôn nhớ về quê hương với một tình cảm chân thành và sâu sắc: Thuyền ngược hay là thuyền xuôi/ Thuyền ai về Nghệ cho tôi về cùng [20, tr.151].
Yêu quê hương bao nhiêu người Nghệ yêu đất nước bấy nhiêu. Tình yêu đất nước được thể hiện rõ khi đất nước bị xâm lăng, người dân Nghệ Tĩnh sục sôi ý chí căm thù quân giặc sâu sắc và quyết tâm đấu tranh để dành lại độc lập, tự do cho đất nước: Bao giờ Hồng Lĩnh nên (thành) cồn/ Sông Lam hết nước mới hết nguồn đấu tranh [20, tr.743].
2.3. QUAN NIỆM VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CON NGƯỜI VỚI CON NGƯỜI
2.3.1. Tình yêu đôi lứa
Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở trong ca dao, tục ngữ. Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng không ngoại lệ. Tình yêu của trai gái xứ Nghệ cũng mãnh liệt, tha thiết và chân thực lắm. Tình yêu được bắt nguồn từ tình thương giữa con người với con người: Thương em anh mãi đời đời thương em; Thấy em đứng đó lỡ chiều anh thương; Anh thương em biết nói mần răng/ Chỉ thương với nhớ quản chi ăn làm…
Tình yêu của trai gái xứ Nghệ cũng trải qua nhiều cung bậc cảm xúc: thương, nhớ, giận hờn đến đa sầu, đa cảm: Nhớ mình sớm ngẩn chiều ngơ; Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi; Nhớ bạn lòng những u sầu.
Tình yêu đến với nhau bởi chữ “Duyên”, xa nhau cũng do “Duyên số”: Duyên ta chính thực duyên trời; Duyên ta hội ngộ tình cờ; Trước ơn cha mẹ, sau nhờ phận duyên; Dù xa nhau đi nữa cũng tại ông trời mới xa; …
Nhìn chung, tình yêu của người con trai, con gái xứ Nghệ không vượt qua được ý thức hệ đã trở thành cố hữu trong quan niệm sống của người dân Việt Nam nói chung. Đó chính là tin vào “Duyên số’, “Số phận” và chịu sự chi phối của một thế giới siêu nhiên, đó chính là “Trời”. “Trời” trở thành một thế lực siêu nhiên bên trên và bên ngoài định đoạt tình yêu của con người.
Bên cạnh những cung bậc cảm xúc giống như những tình yêu của trai gái khác, tình yêu của người con trai, con gái xứ Nghệ có nét đẹp riêng đặc biệt. Đó cũng chính là cái làm nên bản sắc riêng trong tình yêu của con người nơi đây – tình yêu thuận theo quy luật của tự nhiên. Tình yêu không phải lúc nào cũng mù quáng đến điên rồ, mà tình yêu gắn với chân lý, triết lý rất sâu sắc: “Yêu không thể đói no”. Triết lý đó ở vào thời điểm hiện tại, khi mà phần lớn cho rằng chỉ cần: “Một mái nhà tranh, hai trái tim vàng” là có thể hạnh phúc, thì người dân xứ Nghệ lại nhận thức được hiện thực hoàn toàn ngược lại: Trăng khi mờ khi tỏ/ Nước khi nhỏ khi to/ Anh yêu không thể đói no/ Thu đông xuân hạ biết chừng mô mà lường [20, tr.456].
Vâng, “Tình yêu không thể đói no” là một triết lý mang quan điểm nhân sinh sâu sắc, “yêu” không thể “không ăn”, “không có ăn” làm sao có thể tồn tại được mà “yêu”. Quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng về vật chất, về tồn tại đã được hình thành trong triết lý nhân sinh của con người xứ Nghệ ngay từ thuở xa xưa này. Triết lý này cũng được người dân nhận thức được, đúc rút được từ quy luật trong tự nhiên: Trăng có khi mờ khi tỏ và Nước có khi nhỏ khi to. Ý nói rằng trong cuộc sống có lúc no, lúc đói, lúc thế này, lúc thế khác. Nếu như tình yêu chỉ biết “yêu” mà không biết đến ngày mai sẽ như thế nào liệu có thể tồn tại mãi được hay không? Triết lý về tình yêu thắm được quan niệm nhân sinh này còn có giá trị và ý nghĩa đến tận ngày hôm nay.
Còn trong tình yêu, biết rằng “chờ đợi” là hạnh phúc, nhưng trong tình yêu, con người nơi đây cũng tỉnh táo lắm, khôn ngoan lắm. Dựa vào quy luật của tự nhiên mà họ biết cách để ứng biến trong tình yêu: Trăng lên khỏi núi trăng mờ/ Biết anh bao tuổi mà chờ đợi anh [20, tr.457]. Theo quy luật của tự nhiên “Trăng” càng lên cao khỏi “núi” thì trăng cũng đã “mờ”, cũng giống như con gái có “thì”, có “lứa”, quá “lứa” thì cũng sẽ “lỡ thì”. Cho nên, nếu cứ chờ và đợi anh thì tuổi xuân cũng sẽ qua đi, đến khi đó còn ai ngó ngàng đến nữa: Mặt trời đứng bóng thì trưa/ Còn em đứng bóng mà chưa lấy chồng. Nói như vậy không có nghĩa là người con gái không còn biết “chờ đợi” mà họ sẽ quyết “chờ đợi” người yêu một khi họ nắm chắc được quy luật và có cơ sở để tin vào người yêu, người yêu đó xứng đáng được chờ đợi: Trăng trên trời có khi tròn khi méo/ Cây trên rừng có khi héo khi tươi/ Em thấy anh ít nói nhiều cười/ Em cầm duyên lại đợi một người như anh.
Người con gái xứ Nghệ trong tình yêu sáng suốt là vậy, nhưng người con trai xứ này cũng đáo để không kém, kênh kiệu không kém: Trăng tắt đã có mặt trời/ Em không thương anh nữa đã có người khác thương [20, tr.458]. Tưởng rằng không lấy được em thì anh về “tự tử sông Lường”, anh về “cài rèm đi tu”. Chắc đó chỉ là lời “đe dọa” cho em tin, em yêu chứ người con trai khi yêu cũng tỉnh táo lắm. Chàng trai cũng đã nắm bắt được quy luật của tự nhiên để tìm ra triết lý tình yêu cho riêng mình. Nếu ban ngày “trăng tắt” thì có “mặt trời” rọi sáng, ngụ ý nói rằng nếu em hết thương, hết yêu rồi thì anh vẫn còn có người con gái khác yêu và thương anh. Lời nói khi nghe qua tưởng chừng như phũ phàng, lạnh lùng đến tê tái nhưng đó là lại một triết lý đúng đắn trong tình yêu. Đã có rất nhiều đôi trai gái yêu nhau, vì một lý do nào đó không lấy được nhau đã đau khổ đến cùng cực và thậm chí tìm đến cái chết, để lại nỗi đau dai dẳng cho người ở lại, trong đó có công ơn sinh thành của bố mẹ chưa một ngày đền đáp. Đó chính là sự mù quáng, thái độ tiêu cực trong tình yêu.
Còn người con trai xứ Nghệ đã vượt qua được cái tôi cá nhân ích kỷ, nhu nhược, có lối sống tích cực và tìm cách ứng xử khác hẳn bởi họ đã hiểu được quy luật của đất trời, của tạo hóa và quy luật của cuộc sống. Họ nhận thức được rằng, gặp gỡ rồi lại chia lìa, âu đó cũng là bởi duyên số, bởi quy luật của cuộc đời, nếu rằng vì một lý do nào đó em không còn yêu anh nữa thì rồi một ngày nào đó sẽ có người con gái khác đến và yêu anh. Thật là một cách ứng xử tài tình, một triết lý nhân sinh sâu sắc và thấm đượm.
2.3.2. Tình cảm vợ chồng
Tình cảm vợ chồng hay đó chính là đạo nghĩa phu thê là một trong những tình cảm cao quý, đáng trân trọng và không thể thiếu trong cuộc sống của người dân xứ Nghệ: Đạo chồng vợ nghĩa là đức cù lao; Dặn rằng một chữ vuông tròn phu thê; Vợ chồng là nghĩa tao khang,… Sau tình yêu trai gái, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh dày công vun đắp ca ngợi mối quan hệ này. Ngay từ khi lấy vợ, gả chồng ông bà xưa đã rất quan tâm đến việc chọn dâu, chọn rể: Chọn lợn thì chọn thịt mông/ Lấy vợ thì chọn con ông cháu bà; Lấy vợ thì cưới liền tay/ Chớ để lâu ngày lắm kẻ dèm pha…
Tình cảm vợ chồng không phải lúc nào cũng “Trong ấm ngoài êm”, lấy nhau về nhưng chưa hẳn đã sống hợp với nhau, thương yêu nhau. Giống như đất xấu thì dù có vắt, nặn đủ kiểu thì cũng không nên nồi được. Đó cũng là lẽ thường tình, người dân xứ Nghệ nhận ra được quy luật này nên tìm ra giải pháp nên giải thoát cho nhau là hơn. Đây là một quan điểm sống hoàn toàn tiến bộ khi mà vào xã hội thời bấy giờ việc vợ chồng bỏ nhau là một điều kinh khủng, bị gia đình, xã hội khinh bỉ, mạt sát. Chồng hoặc vợ dù có bạc tình, bạc nghĩa, vũ phu, cờ bạc, gái trai… thì cũng phải đành chấp nhận số phận chứ không được kêu than, không được phép bỏ nhau. Định kiến xã hội thời bấy giờ hết sức khắc nghiệt, nhưng với người dân xứ Nghệ thì không có gì là không thể. Tư tưởng giải phóng, tư tưởng cất cánh đã được hình thành từ xa xưa, họ chịu khổ, chịu khó thì không ai bằng, đã yêu thương thì không ai sánh được, nhưng khi đã đến bước đường cùng họ sẽ không cam chịu: Xấu đất vắt chẳng nên nồi/ Cho anh lấy vợ, cho tôi lấy chồng.
Tuy nhiên, dù có cố tình “chọn lựa” thì việc vợ chồng lấy được nhau cũng là do duyên phận, do ông trời sắp đặt: Ông trời kia đã định em phải kêu anh bằng chồng/ Đói no là phận, lạnh lùng có đôi; Thuyền tình cũng mạnh gió đông/ Phải duyên chồng vợ chẳng lo thuyền chìm… Duyên vợ chồng do trời sắp đặt, nên nếu chưa tới duyên thì cũng đừng chê bai, có khi duyên muộn lại còn tốt đẹp hơn duyên sớm. Điều này đã được dự báo: Chớ thấy xuân muộn mà cười/ Lỗ (trổ) sau chín trước hơn người sớm xuân. Dự báo này có cơ sở từ thực tiễn trong quá trình lao động sản xuất nông nghiệp của người dân xứ Nghệ. Lúa trổ trước nếu không gặp mưa thuận gió hòa thì có thể không chín, hoặc chín mà gặp đợt mưa lũ, hạn hạn thì cũng không được mùa bằng lúa trổ sau mà gặp thời tiết tốt lại được mùa. Người con trai, con gái cũng vậy, sớm xuân nhưng gặp phải đám không ra gì thì cũng không bằng người xuân muộn mà được đám tốt, hạnh phúc.
Khi đã nên vợ nên chồng thì làm vợ phải theo chồng, chiều chồng. Ông cha xưa có câu: “Thuyền theo lái, gái theo chồng”. Với người dân xứ Nghệ, chiều chồng, theo chồng được xem như là đạo nghĩa bắt buộc của người vợ “thì phải”, “cũng cứ phải”. Dù trước đó, người vợ là con cháu ông này bà nọ, được nuông chiều thì khi lấy chồng cũng phải nghe lời chồng, đi theo chồng: Lấy chồng thì phải chiều chồng/ Buôn bán thì phải chiều lòng người mua; Dù em con ông chi bà chi/ Lấy chồng cũng cứ phải đi theo chồng… Lời dạy phải chiều chồng, đi theo chồng đó đã được gia đình chồng và người chồng dạy ngay từ khi mới cưới vợ về nhà: Dạy con từ thuở còn thơ/ Dạy vợ từ thuở bơ vơ mới về. Kinh nghiệm cho thấy rằng, khi con còn nhỏ thì dễ dạy bảo, cũng giống như người vợ mới về làm dâu, chưa quen nền nếp nhà chồng, đang còn dè dặt, nghe lời thì nên dạy bảo ngay từ đầu. Nếu không dạy bảo vợ ngay từ đầu, sau này vợ theo nếp cũ mà sống, dạy không còn có tác dụng gì nữa.
Và khi nói đến tình nghĩa vợ chồng phải nói đến sự đồng thuận, chung sức chung lòng, cùng nhau san sẻ để gánh vác công việc gia đình. Vợ chồng đến với nhau bằng tình yêu, nhưng sống được cả đời với nhau còn là cái nghĩa: Chồng cày thì vợ gánh phân/ Chồng buôn vợ bán kiếm ăn luân hồi; Ra về dặn nước thề non/ Đồng tâm đồng chí ta còn dài lâu…Vợ chồng sống phải yêu thương nhau, chia sẻ ngọt bùi với nhau, đồng sức, chung lòng “tát cạn biển đông”. Người dân nơi đây luôn coi trọng tình nghĩa vợ chồng, khi nghèo thì cùng nhau gánh vác, còn khi giàu thì cũng phải hiểu rằng “Của chồng công vợ”: Nước lên con cá lên theo/ Chồng giàu có của, vợ nghèo có công [20, tr.537]. Theo tự nhiên, nước lên thì con cá lên theo dòng nước, nước cạn thì con cá cũng theo đó mà mắc cạn. Quy luật đó ai ai cũng rõ, giống như chồng làm ra của cải thì phải nhớ đến công của người vợ. Có vợ giúp sức thì chồng mới có ngày hôm nay. Câu ca dao đầy tính triết lý nhân sinh sâu sắc, là bài học đáng giá nghìn vàng cho thế hệ mai sau.
Bên cạnh ca ngợi tình vợ chồng son sắt, gắn bó, ca dao tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng mỉa mai, lên án những kẻ ham chồng, vợ người, làm trái đạo nghĩa: Ngọt ngào chi chuối mùa đông/ Khôn ngoan chi gái lộn chồng mà khen [20, tr.535].
2.3.3. Tình cảm cha mẹ và con cái
Tình phụ tử, đó là một thứ tình cảm thiêng liêng và cao quý. Có thể sống không có tình yêu, không có vợ chồng nhưng không thể sống nếu thiếu vắng đi tình yêu thương của cha mẹ. Công sinh thành và dưỡng dục không thể nào đền đáp được. Tình cảm của cha mẹ với con cái của người dân xứ Nghệ cũng thật đặc biệt, mang nét riêng độc đáo đậm chất Nghệ Tĩnh. Họ thương con nhưng không phải ủy mị, chiều chuộng con cái, mà dùng tình yêu cứng cỏi, mạnh mẽ để nuôi dạy con nên người, có chí khí, có khát vọng.
Như tất cả các bà mẹ Việt Nam, bà mẹ đất Nghệ Tĩnh thương yêu con bằng tất cả tình yêu thương: Nuôi con chẳng quản đến thân/ Chiếu rách mẹ chịu, áo khăn con nằm; Có khi trời rét căm căm/Mệt chẳng được nằm, đói chẳng được ăn; Chim trời ai nỡ đếm lông/Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày; Cha mẹ sinh con được chữ vuông tròn/ Lơ phơ tóc bạc sương mòn răng long… Công ơn của cha mẹ ví như trời biển, như ngọn núi Thái Sơn hùng vĩ, như biển cả lồng lộng.
Cũng dùng âm điệu ngọt ngào thiết tha của câu lục bát quen thuộc để hát nuôi phần hồn cho những đứa con yêu, lời ru của những ông bố bà mẹ Nghệ Tĩnh là tình phụ mẫu, là ước mơ mong mỏi về con. Cha mẹ gửi gắm ước mơ trong những bài học đầu đời: Ru con con ngủ à ơi/ Trông cho con lớn nên người khôn ngoan/ Làm trai gánh vác giang san/ Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào; Ru con con ngủ đi nào/ Cù lao dưỡng dục biết bao cho cùng/ Làm trai quyết chí anh hùng/ Ra tay đánh dẹp, vẫy vùng nước non… Ta dễ dàng nhận ra ở lời ru trên cái khí chất gân guốc, mạnh mẽ, trang trọng hòa trong âm điệu tâm tình, thiết tha quen thuộc. Vì sao vậy? Qua lời ru, người xứ Nghệ không chỉ truyền cho con trẻ lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ mà còn dưỡng dục con về chí khí làm người. Cùng với tình cảm gia đình, sống cho tròn chữ hiếu, người Nghệ Tĩnh nêu cao tình cảm cộng đồng và trách nhiệm xã hội. Những người con đất này coi công danh thành đạt là để báo hiếu mẹ cha đồng thời cũng là đền nợ nước non, là chứng tỏ trách nhiệm với thế gian. Trong lời ru và trong lời dạy con, người Nghệ đều nhất quán tư tưởng ấy: Con ơi mẹ dặn câu này/ Chăm lo đèn sách cho tày áo cơm; Làm người đói sạch rách thơm/ Công danh là nợ nước non phải đền. Bởi thế mà nhà thơ Huy Cận khái quát: Đất này mẹ dạy con/ Yêu anh hùng nghĩa khí ! Chính vì được thụ hưởng bầu sữa dân gian dồi dào, những con người như Nguyễn Công Trứ mới nuôi chí quyết trả nợ cầm thư bởi cái lẽ: Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi sông (Đi Thi Tự Vịnh). Những kỳ vọng của các thế hệ sinh thành đã nhào nặn nên cho mảnh đất này những người con tràn trề khát vọng và nhiệt huyết cống hiến.
Không chỉ dạy con bằng những lời khuyên bảo ân cần, nhỏ nhẹ, những người cha, người mẹ vùng đất Nghệ Tĩnh có cách nuôi dạy con chữ hiếu, chữ đức theo một phương pháp rất riêng và độc đáo mang tính triết lý nhân sinh sâu sắc. Phương pháp đó không gì khác chính là phương pháp tư duy biện chứng, đi sâu vào bản chất để làm thay đổi hiện tượng. Chỉ khi những người con đứng vào vị trí của bố mẹ, làm cha, làm mẹ thật sự thì mới thấu hiểu được những nỗi lòng, những công lao mà cha mẹ mình gánh chịu: Thức lâu mới biết đêm trường/ Nuôi con, ta mới biết thương mẹ già; Soi gương mới biết mặt mình/ Nuôi con mới biết công trình mẹ cha… Lấy quy luật của thời gian, tạo hóa để đúc rút ra kinh nghiệm, triết lý cho cuộc đời, có thức lâu mới biết được đêm dài bao nhiêu canh, soi gương với thấy được khuôn mặt thật của mình trong đó, cũng giống như có nuôi con mới biết thương bố mẹ đẻ ra mình, thấu hiểu được bao nỗi gian truân, vất vả, công ơn của cha mẹ lớn lao như thế nào. Triết lý giáo dục con cái chỉ gói gọn trong một vài câu ca dao nhưng đã nói lên được tất cả ý nghĩa sâu xa của nó, mang đậm tính nhân sinh sâu sắc.
Chính những lời dạy bảo, phương pháp nuôi dạy con tài tình đến như vậy mà biết bao ông bố bà mẹ xứ Nghệ đã nuôi dưỡng nên những người con anh tài, có hiếu, có đức với cha mẹ và với non sông, tiêu biểu chính là người con ưu tú nhất của nước nhà, danh nhân văn hóa của nhân loại và thế giới – Chủ tịch Hồ chí Minh vĩ đại. Ngược lại, những người con của xứ Nghệ cũng đã đền đáp lại công ơn sinh thành, giáo dưỡng của mẹ cha xứng đáng: Cha mẹ nuôi con từ trứng nước ngây thơ/ Công cha đức mẹ biết bao giờ cho quên/ Con lấy chi công báo nghĩa đền/ Cho thỏa lòng mẹ đừng phiền lòng cha [20, tr.499].
Bên cạnh tình cảm cha mẹ dành cho con ruột, ca dao tục ngữ Nghệ Tĩnh cũng đã nhắc đến các tình cảm xoay quanh tình cảm của cha mẹ như tình cảm mẹ chồng – nàng dâu, mẹ vợ – con rể, dì ghẻ – con chồng…Đó là những mối quan hệ tình cảm rất phức tạp: Có phúc được dâu hiền rể thảo/ Vô phúc phải dâu cáo, rể chồn; Con bà có thương bà đâu/ Để cho con rể con dâu học đòi; Con đẻ như trứng trên bông/ Đối với con chồng như sắt trên đe; Khoai nưa chẳng ngứa cũng nồng/ Ba đồ dì ghẻ, con chồng khó thương…Người xứ Nghệ cũng không tránh khỏi những mối quan hệ được xem là khó hòa hợp này trong cuộc sống. Họ cũng theo lối suy nghĩ có phần hạn chế, đó đều là do chữ “Phúc” mang lại. Gặp phải dâu hiền, rể thảo hay rể chồn, dâu cáo là do sống “có phúc” hay “vô phúc”.
Tuy nhiên, người dân Nghệ Tĩnh không phải hoàn toàn suy nghĩ đổ lỗi cho phúc phận, mà họ nhận ra được các mối quan hệ tình cảm đó là do một phần ở con người. Người dân xứ Nghệ tin rằng con người có thể thay đổi được, dung hòa được các mối quan hệ. Nắm được nguyên nhân, quy luật của mâu thuẫn mà người dân Nghệ Tĩnh đã tìm ra được phương pháp để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn trong cuộc sống theo họ đó là quy luật của tự nhiên, mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn cả bên ngoài, vấn đề quan trọng là tìm ra được quy luật và giải quyết nó. Lấy quy luật trong tự nhiên, trong đời sống sản xuất, người xứ Nghệ đúc kết được những kinh nghiệm và triết lý sống rất chân thực, tìm ra được quy luật, nguyên nhân của mâu thuẫn: Khoai nưa chẳng ngứa cũng nồng/ Ba đồ dì ghẻ, con chồng khó thương. Khoai đã ngâm nước thì không ngứa, cũng hư giống như tình cảm của dì ghẻ, con chồng khó dung hòa. Và cũng bắt nguồn từ quy luật của tự nhiên, người dân xứ Nghệ tìm ra được cách giải quyết mâu thuẫn: Năng mưa thì giếng năng đầy/ Anh năng đi lại, mẹ thầy năng thương [20, tr.533]. Theo quy luật của tự nhiên, mưa nhiều thì giếng năng đầy nước, cũng giống như tình cảm con người cũng vậy, năng đi lại, thăm hỏi nhau thì tình cảm cũng sẽ được cải thiện, gắn kết hơn. Như nhà văn Lỗ Tấn đã từng nói: “Thực ra trên đời này không có đường, người ta đi mãi rồi cũng thành đường thôi”. Mấu chốt của vấn đề nằm ở con người, con người có thể thay đổi được, giải quyết được mâu thuẫn nội tại, chính con người chứ không phải một ai khác có thể thay đổi được điều này. Sống trên đời, yêu hay ghét là do ở con người đối xử với nhau mà ra. Triết lý sống mang đầy tính nhân sinh sâu sắc của người dân xứ Nghệ để lại những bài học, kinh nghiệm quý báu trong việc giải quyết các mối quan hệ bất đồng tưởng chừng như không bao giờ thay đổi được trong lịch sử đời sống của con người.
2.3.4. Một số mối quan hệ tình cảm khác
Tình cảm anh em có nhiều bài ca dao, những câu tục ngữ hết sức xúc động, triết lý: Anh em như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc, như sông một nguồn; Anh em như nước một dòng/ Như cây một cuội, như sông một nguồn; Anh em trai như khoai chấm mật,… Tình cảm anh em với người Nghệ Tĩnh đó là một thứ tình cảm vừa thiêng liêng, cao quý vừa rất đỗi giản dị và đơn sơ như củ khoai lang trong những ngày tháng đói nghèo vậy. Nhưng nó thật đáng quý và đáng trân trọng biết bao.
Bên cạnh tình cảm anh em nói chung, tình cảm anh em trai, còn có tình cảm của chị em gái cũng thật sâu sắc: Chị em gái như trái cau non. Nếu tình cảm anh em trai được ví như “khoai lang chấm mật” thì tình cảm chị em gái được ví như “trái cau non”. Lấy những hình ảnh giản dị, đơn sơ, mộc mạc có trong đời sống hàng ngày, người dân xứ Nghệ đã làm đẹp thêm cho tình cảm anh chị em thêm ấm nồng, thắm thiết. Với người dân xứ Nghệ, trong tình cảm chị em, yêu thương nhau vẫn là chưa đủ mà còn phải nâng đỡ lẫn nhau, cùng nhau tiến bước, đó mới là tình yêu thương đích thực: Chị em một ruột cắt ra/ Chị có em có mới là thân nhau/ Chị em một ruột cắt ra/ Chị không em có, ắt là người dưng.
Ngoài tình cảm anh chị em ruột thịt, còn có tình cảm chị em dâu cũng được ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh đề cập đến, tuy có thể đó là cách nhìn phiến diện: Chị em dâu như bầu nước lạnh; Em chồng ở với chị dâu/ Coi chừng chúng nó giết nhau có ngày…
Tình bạn bè cũng là một tình cảm đáng quý và được người dân xứ Nghệ coi trọng và có những bài học kinh nghiệm sâu sắc về tình cảm bạn bè: Dẫu mà chức trọng quyền cao/ Cũng phải hạ võng mà chào bạn quen; Ai ơi thương lấy bạn nghèo/ Buồm rách, lái gãy cũng chèo bạn sang…
Tình yêu, tình vợ chồng, tình cảm cha mẹ và con cái, anh chị em ruột thịt, tình bạn hữu,… Đó là tất cả những mối quan hệ tình cảm không thể thiếu và tách rời được trong đời sống của mỗi con người xứ Nghệ. Dù những mối quan hệ đó không phải lúc nào cũng hoàn hảo, trọn vẹn, dung hòa được nhưng đó là những tình cảm đáng quý và đáng trân trọng và lưu giữ.
Chương 2 là một bức tranh toàn cảnh và chân thực khái quát lên toàn bộ nội dung chủ yếu về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh. Bên cạnh những quan niệm về triết lý nhân sinh quen thuộc trong tục ngữ, ca dao Việt Nam nói chung, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh đã điểm tô thêm những nét độc đáo, mới mẻ về những quan niệm về triết lý nhân sinh sâu sắc, đậm dấu ấn địa phương và đậm chất của người xứ Nghệ. Có thể xem quan niệm về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là một bản nhạc đa cung bậc, có những nốt rất trầm lắng, sâu đậm, thấm sâu trong tâm hồn nhưng cũng có những nốt cao đầy mạnh mẽ, cứng cỏi, đầy nội lực của một ý chí kiên cường, vươn cao, cất cánh không dễ bị khuất phục trước mọi hoàn cảnh.
Những bài học kinh nghiệm, những quan niệm về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là những bài học kinh nghiệm đáng giá ngàn vàng, được đúc kết từ thực tiễn cuộc sống gian nan, có cả máu và nước mắt của người dân Nghệ Tĩnh. Nó được lưu giữ qua mọi thời đại, giúp cho thế hệ mai sau vững vàng với lý tưởng sống cao đẹp.
CHƯƠNG 3
NHỮNG GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ CỦA TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH
3.1. VỀ MẶT GIÁ TRỊ
3.1.1. Giá trị thực tiễn
Đặc sắc của thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh là ở chỗ thể hiện rất rõ chất người Nghệ Tĩnh. Người xứ Nghệ không chỉ truyền cho con trẻ lòng biết ơn công cha nghĩa mẹ mà còn dưỡng dục con về chí khí làm người. Cùng với tình cảm gia đình, sống cho tròn chữ hiếu, người Nghệ Tĩnh nêu cao tình cảm cộng đồng và trách nhiệm xã hội. Những người con đất này coi công danh thành đạt là để báo hiếu mẹ cha đồng thời cũng là đền nợ nước non, là chứng tỏ trách nhiệm với thế gian.
Đối mặt với điều kiện tự nhiên không thuận lợi là điều quen thuộc với người dân Nghệ Tĩnh ngàn đời nay. Trước thiên nhiên khắc nghiệt, họ thể hiện ý chí phi thường: Trèo truông những ước truông cao/ Đã đi đò dọc ước ao sông dài [20, tr.676].
Ý chí, nghị lực, bản lĩnh, tình cảm của con người càng trải qua khó khăn thử thách càng được tôi luyện và khẳng định. Để nên người, phải rèn luyện. Muốn thành công, phải có ý chí bền bỉ, tinh thần chấp nhận và vượt qua thử thách. Không chỉ biết vượt lên hoàn cảnh, mà những người dân xứ Nghệ còn biết vượt lên chinh phục hoàn cảnh sống với niềm tin mãnh liệt và tư tưởng lạc quan. Đó là niềm tin, hy vọng vào ngày mai tươi sáng, luôn lạc quan, kiên trì và nhẫn nại để thành công: “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”; “Còn nước còn tát”; “Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ”; “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời”…Sống giữ trong sạch, để đức cho con cháu mai sau: “Đói cho sạch, rách cho thơm”.
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là chân dung tinh thần của con người vùng văn hóa Hồng Lam: bản lĩnh cứng cỏi, bền bỉ gân guốc, trọng nghĩa khinh tài, điềm tĩnh sâu sắc, giàu khát vọng và nhiều lúc thiết tha tinh tế… Tất cả những đặc điểm ấy được thể hiện qua những hình tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa, giàu sức sống.
Với cộng đồng, ca dao, tục ngữ xứ Nghệ đề cao tinh thần đoàn kết, gắn bó, yêu thương lẫn nhau: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”; “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”… Tình cảm gia đình với những giá trị đáng được trân trọng, giữ gìn và phát huy như: “Chị ngã, em nâng”; “Anh em chín bỏ làm mười”; “Sảy cha còn chú, sảy mẹ bú gì”; “Chồng giận thì vợ bớt lời, cơm khê nhỏ lửa một đời không khê”; “Xấu chàng, hổ ai”…Trong quan hệ ứng xử, có nhiều lời khuyên bổ ích: “Bớt mồm, bớt miệng”; “Liệu cơm, gắp mắm”; “Ăn chắc, mặc bền”; “Cởi áo cho người xem lưng”; “Khôn chết, dại chết, biết thì sống”; “Khi đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ”; …
Trong mối quan hệ với thiên nhiên, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý báu về thời tiết, mùa màng cho người đời sau: “Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”; “Chuồn chuồn bay thấp thì mưa, bay cao thì nắng, bay vừa thì râm”; “Đầu năm sương muối, cuối năm gió nồm”; “Ráng vàng thì gió, ráng đỏ thì mưa”; …
3.1.2. Giá trị thời đại
Quan niệm về triết lý nhân sinh từ những ý tưởng mộc mạc trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh đã dần được các học giả ở nước ta ở các thời điểm lịch sử khái quát và vận dụng vào thực tiễn dân tộc và nâng lên thành triết lý hành động. Họ chủ trương hành động chứ không phải dựa vào mệnh trời mà căn cứ vào thời, dựa vào thời. Triết lý đó được các nhà tư tưởng Việt Nam áp dụng vào trong thực tiễn trong cuộc đấu tranh giữ nước dành độc lập của dân tộc. Con người không thể bị động ngồi chờ thời mà phải luôn luôn vận động, hội tụ các điều kiện cần và đủ để tạo ra thời thế, biết chớp thời cơ đúng lúc thì sẽ thành công: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”, như Hồ Chí Minh từng nói:
Lạc nước hai xe đành bỏ phí
Gặp thời một tốt cũng thành công
Thông qua các quan niệm về triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh chúng ta thấy được vai trò của nhân tố con người trong mối quan hệ với nhân tố khách quan, nhưng không nên nôn nóng, đốt cháy giai đoạn hoặc chần chừ làm mất đi cơ hội thành công.
3.2. MẶT HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA NHỮNG HẠN CHẾ
3.2.1. Những hạn chế
Người xứ Nghệ nhiều lúc khô khan đến cứng nhắc, thẳng thắn đến nóng nảy, tính cách át đi lý trí, không khôn khéo trong ứng xử nên nhiều lúc không được việc. Bản tính bộc trực, thẳng thắn, có chút nóng nảy khiến nhiều khi làm việc lớn không thành, không được lòng cấp trên, cấp dưới.
Người dân xứ Nghệ vẫn không thoát ra được rào cản, tư tưởng cố hữu đó là đặt niềm tin vào thế lực siêu nhiên “Ông Trời”: “Trời sinh voi, trời sinh cỏ”. Quan điểm này đã làm hạn chế tinh thần đấu tranh trong quá trình cải tạo thiên nhiên, đấu tranh chống các thế lực thù địch dẫn đến những thất bại đau thương trong lịch sử. Khi đánh giá bản chất của một con người, không đặt trong tương quan với các điều kiện khác nên có lúc đưa ra những nhận định phiếm diện, sai lầm về bản chất của con người. Đâu đó vẫn còn tư tưởng phân biệt giàu – nghèo, sang – hèn, ham giàu, chê kẻ nghèo hèn, “Thấy người sang bắt quàng làm họ”: Đứng thấp thì chẳng ai nhìn/ Trèo lên cây quế ba nghìn người trông.
Trong mối quan hệ với cộng đồng, vẫn còn tư tưởng đặt lợi ích cá nhân lên trên hết: “Ăn cây nào rào cây nấy”; “Ai lo phận nấy”. Đâu đó vẫn có sự ganh đua, đố kỵ nhau không lành mạnh giữa những người cùng láng giềng với nhau, không muốn ai hơn ai theo kiểu: “Con gà tức nhau tiếng gáy”, mạnh ai người ấy được, cậy quyền, cậy thế “Cá lớn nuốt cá bé” hoặc a dua, bênh vực nhau theo kiểu “Cá mè một lứa” mà không có chính kiến riêng của cá nhân.
Trong quan hệ dòng tộc, họ hàng còn nhiều mối quan hệ chồng chéo, rườm rà “Dây mơ, rể má”. Coi trọng máu mủ, ruột thịt nên có sự phân biệt trong đối xử “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Người dân còn mang tư tưởng cục bộ, địa phương, phân biệt trong đối xử với làng này, làng khác, người làng này, người làng khác cũng là một trong những điểm hạn chế trong suy nghĩ, tư duy của người dân xứ Nghệ: “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Ở đâu cũng có người này, người nọ, người tốt, người xấu, nhưng tư tưởng và cách nghĩ của người dân xứ Nghệ nhiều khi theo kiểu “Vơ đũa cả nắm” mặc định là người vùng đó xấu hết, hoặc nếu tốt là tốt hết. Những lối suy nghĩ phiếm diện, tư duy hạn hẹp này đã ảnh hưởng ít nhiều đến người dân các vùng có liên quan. Các thế hệ con cháu sau này của các địa phương này cũng bị họa lây. Khi đi học hay đi đến các địa phương khác làm ăn ít nhiều bị coi khinh, khó xin việc làm, ít được tin tưởng…là một thiệt thòi không đáng có.
Bản tính cứng rắn, mạnh mẽ đến sắt đá là vậy nhưng nhiều khi lý trí của người dân Nghệ Tĩnh vẫn bị chi phối bởi tình cảm, để tình cảm điều khiển lý trí đến mức mê muội. Ví dụ: khi yêu đương, sẵn sàng từ cha mẹ để bỏ đi theo tình nhân: Dầu mà cha mẹ không thương/ Đôi ta chung vốn ngược Lường đi buôn; Yêu nhau đem quách nhau đi/ Công cha nghĩa mẹ sau này hãy hay… Trong tình yêu, tình cảm chi phối lý trí, yêu đương một cách tiêu cực, tư tưởng cực đoan: Dao vàng chọc huyết khấn trời ta uống chung; Đến đây trước giếng sau chùa/ Không yêu ta cũng bỏ bùa cho yêu; … Một số quan điểm không còn phù hợp với ngày nay như: Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy; Con gái mà lấy chồng xa/ Chẳng bằng lòng lợi khái tha lên rừng; Con gái mà lấy trai dòng/ Như nước mắm cốt chấm lòng lợn thiu…
Quan hệ tình cảm vợ chồng vẫn còn nhiều hạn chế. Người phụ nữ một khi đã lấy chồng chịu nhiều ràng buộc, mất tự do: “Lấy chồng phải ghánh vác giang sơn nhà chồng”; “Thuyền theo lái, gái theo chồng”…Vợ chồng một khi không còn đồng thuận, thương yêu nhau thì cả hai phản bội nhau: “Ông ăn chả, bà ăn nem”. Trong mối quan hệ tình cảm cha mẹ và con cái, vẫn tồn đọng nhiều suy nghĩ lạc hậu, gia trưởng như: “Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà”, “Cha mẹ sinh con trời sinh tính”…
3.2.2. Nguyên nhân
Nguyên nhân hình thành nên một số hạn chế trong tư duy, lối sống ở trên của con người xứ Nghệ có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Xét về nguyên nhân khách quan: Một phần do xã hội phong kiến thời bấy giờ với những tư tưởng cổ hũ, lạc hậu đã ăn sâu vào trong tâm trí của mọi người dân khiến họ có cách nghĩ tiêu cực. Sống ở đâu người dân phải theo ở đó, văn hóa địa phương, vùng miền chi phối rất rõ trong cuộc sống của người dân nơi đây.
Bên cạnh đó, chính tác động của hoàn cảnh sống, địa lý tự nhiên khắc nghiệt, hiểm trở cộng với phương thức sản xuất canh tác thô sơ, lạc hậu, chậm đổi mới và chậm phát triển đã ảnh hưởng rất lớn đến lối tư duy và suy nghĩ, tư tưởng của người dân nơi đây. Suốt cuộc đời người dân chỉ sống quanh quẩn trong lũy tre làng, “Con trâu đi trước, cái cày theo sau” nên phần lớn mang tư tưởng cục bộ, địa phương, rập khuôn cứng nhắc, không nghĩ thoáng và làm thoáng được.
Về nguyên nhân chủ quan: Cuộc sống quanh quẩn trong đói nghèo, người dân luôn phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để sinh tồn nên họ thường suy nghĩ cẩn thận, đi và làm theo những kinh nghiệm có sẵn từ người xưa để lại chứ không dám làm khác nên nhiều khi tư tưởng mang tính chất tiêu cực nhưng nếu có lợi cho họ thì họ sẵn sàng làm theo “Ăn cổ đi trước, lội nước theo sau”.
Giáo dục thời bấy giờ cũng hạn chế, người dân chủ yếu không biết chữ nên nhận thức còn hạn hẹp dẫn đến những lối suy nghĩ còn ngây thơ, mộc mạc, chất phác theo bản năng, bản tính chủ quan chứ chưa tư duy sâu sắc, logic theo kiểu lý trí.
Hạn chế trong lối tư duy, cách nghĩ, cách làm trong đời sống của người dân xứ Nghệ hay đó cũng chính là hạn chế của thời đại. Không phải ngày một, ngày hai hay một cá nhân, tổ chức có thể khắc phục được ngay mà nó phải trải qua một quá trình lâu dài, đấu tranh trường kỳ, một cuộc cách mạng mang đến một thời kỳ mới độc lập, tự do, hạnh phúc mới có thể thay đổi được.
3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY CÁC GIÁ TRỊ TRIẾT LÝ NHÂN SINH TRONG CA DAO, TỤC NGỮ NGHỆ TĨNH HIỆN NAY
3.3.1. Thực trạng công tác bảo tồn ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Cùng với sự chuyển mình mạnh mẽ trên lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa vật thể, những năm qua ngành văn hóa hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có nhiều nỗ lực nhằm tăng cường công tác bảo tồn văn hóa phi vật thể, trong đó có ca dao và tục ngữ. Nhằm giúp mọi người có khả năng nhận diện các loại di sản văn hóa phi vật thể, từ đó có ý thức và giải pháp bảo tồn. Ngành văn hóa đã triển khai đợt tổng kiểm kê di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn toàn tỉnh mà đối tượng ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn…
Bên cạnh đó những ưu điểm ở trên, để bảo tồn và phát huy giá trị ca dao, tục ngữ trong đời sống đương đại gặp không ít khó khăn, trở ngại.
3.3.2. Một số giải pháp, kiến nghị
Trước hết, cần xác định đúng, tìm ra không gian thể hiện phù hợp cho ca dao, tục ngữ. Bên cạnh việc duy trì, bảo vệ những môi trường truyền thống, cần mở rộng không gian sinh hoạt cho ca dao, tục ngữ để ca dao, tục ngữ thực sự đi vào cuộc sống, thích ứng với những điều kiện kinh tế, xã hội mới. Cần chú trọng kết hợp giữa “bảo tồn tĩnh” với “bảo tồn động”, đem lại sức sống mới ca dao, tục ngữ.
Nhà nước, nhất là chính quyền địa phương, cần có cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ về tài chính để duy trì các hoạt động, sinh hoạt của các nhóm, câu lạc bộ ca dao, tục ngữ. Bên cạnh đó, cần huy động sự đóng góp, tài trợ về kinh phí và công sức của các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước. Tìm cách khai thác giá trị của ca dao, tục ngữ gắn với phát triển du lịch.
Có chính sách khuyến khích, đãi ngộ, tôn vinh các tác giả có công lưu giữ và trao truyền ca dao, tục ngữ. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các tác giả yên tâm, tích cực truyền dạy trong gia đình, nhà trường và cộng đồng. Đẩy mạnh công tác đào tạo và bồi dưỡng các thế hệ kế cận.
Tiếp tục đẩy mạnh công tác kiểm kê, nhận diện, nghiên cứu, tư liệu hóa kho tàng ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh. Điều tra, sưu tầm vốn ca dao, tục ngữ còn tản mát trong dân gian. Phục hồi một số bài ca dao, tục ngữ truyền thống đã bị mai một.
Tăng cường công tác tuyên truyền, quảng bá, nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của ca dao, tục ngữ; Tăng cường sự hỗ trợ về chuyên môn từ phía các cơ quan quản lý nhà nước; Tổ chức định kỳ các cuộc thi về ca dao, tục ngữ theo các quy mô khác nhau.
Tiểu kết Chương 3
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh thấm đẫm triết lý nhân sinh sâu sắc. Đó chính là giá trị tinh thần quý báu mà dân gian đã để lại cho con cháu. Việc bảo tồn, gìn giữ và phát huy những giá trị triết lý nhân sinh gắn liền với việc bảo tồn và phát huy kho tàng ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh. Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh có tồn tại và phát triển thì những giá trị của triết lý nhân sinh mới được giữ lại trọn vẹn và lan tỏa sâu rộng.
Với những nỗ lực trong thời gian qua, hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đã có những biện pháp, những bước đi và cách làm mới nhằm nỗ lực giữ gìn và phát huy vai trò của văn hóa dân gian nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng trong đời sống của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, du lịch của địa phương. Mặc dù vậy, để cho văn hóa dân gian xứ Nghệ nói chung, ca dao, tục ngữ nói riêng trong đó có giá trị về triết lý nhân sinh thực sự đi vào đời sống hiện đại và có sức lan tỏa mạnh mẽ đến mọi người dân và du khách trên thế giới đến tham quan, du lịch vẫn còn đó những hạn chế, trở ngại. Cần những bước đi táo bạo hơn, cụ thể hơn và khác biệt hơn nữa mới hy vọng có sự đột phá.
Hy vọng rằng với những giải pháp, kiến nghị chúng tôi đề xuất ở trên có thể đóng góp phần nhỏ bé vào việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh nói chung, trong đó có giá trị của triết lý nhân sinh.
KẾT LUẬN
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh là bức tranh toàn cảnh phản ánh điều kiện tự nhiên, văn hóa, lịch sử, tư tưởng của vùng đất Bắc Trung bộ. Những đặc điểm riêng biệt của vùng đất này đã làm nên những triết lý nhân sinh mang nét đặc trưng riêng của vùng đất Nghệ Tĩnh. Vùng đất được xem là “địa linh nhân kiệt”, cuộc sống còn nhiều khó khăn, nhọc nhằn nhưng thấm được tình quê hương xứ sở, sống trong sạch, trọng đạo nghĩa. Chúng ta cảm nhận được rằng chốn làng quê xứ Nghệ thật yên bình, tươi đẹp với những cảnh vật làng quê gần gũi thân thương. Ở đó, tình người được gắn kết chặt chẽ, tình làng nghĩa xóm ân tình, gắn bó, tình cảm dòng họ, gia đình thấm đượm tạo thành nếp nhà vững chắc, kiên cố.
Có thể thấy rằng, ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh chứa đựng nhiều triết lý nhân sinh sâu sắc. Hầu như đọc một câu ca dao, tục ngữ nào chúng ta cũng tìm thấy tính triết lý nhân sinh ẩn chứa trong đó. Qua việc đi sâu tìm hiểu Triết lý nhân sinh của ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh cho chúng ta cái nhìn khái quát và chân thực nhất đời sống, tính cách, tâm tư tình cảm của những con người nơi đây. Đó là những mảnh đời với cuộc sống đầy rẫy những khó khăn thử thách, sống trên mảnh đất khô cằn sỏi đá, bị nhiều thế lực đàn áp bóc lột. Nhưng với khí chất chất phác, đôn hậu, một bản lĩnh kiên cường đầy nội lực, con người nơi đây luôn đấu tranh cho khát vọng và lẽ sống cao đẹp, ý chí cất cánh, bay xa, bay cao hơn nữa. Họ dành niềm tin yêu vào cuộc đời, vào một ngày mai tươi sáng hơn. Bởi chính vì lẽ đó, vùng đất Nghệ Tĩnh đã sinh ra những người con anh kiệt, tài ba sẵn sàng vì nước, vì dân. Đúng như lời nhận xét của nhà nghiên cứu Bùi Dương Lịch: “Xứ này tuy đất xấu dân nghèo, nhưng dân đều vui vẻ công việc, sẵn sàng vì nước, có lòng tôn quân thân thượng và biết lễ nghĩa liêm sỉ, phong tục thuần hậu chưa từng bị gián đoạn bao giờ”.
Tiềm năng của những con người xứ Nghệ còn ẩn chứa cần phải được khai thác. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc một lần khi đến thăm Nghệ An đã có câu nói nổi tiếng: “Cầm vàng có thể vàng rơi, lấy con trai Nghệ Tĩnh cả đời ấm no”. Nếu biết phát huy tối đa, người xứ Nghệ có thể làm nên những kỳ tích tích lớn lao hơn nữa.
Những quan điểm triết lý nhân sinh sâu sắc trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh, đó cũng chính là những bài học vô giá mà cha ông đã để lại cho thế hệ ngày hôm nay. Từ những bài học đáng quý này, chúng ta có thêm niềm tin, lạc quan vào cuộc sống, có tác dụng chỉ dẫn và định hướng cho chúng ta về một lối sống lành mạnh, tích cực đồng thời củng cố thêm lý tưởng sống cao đẹp, nhân văn: “Tình xứ Nghệ không mau nhưng bén rồi mà sâu lắng/ Quen xứ Nghệ quen lâu càng tình sâu nghĩa nặng”.
Tuy rằng triết lý nhân sinh trong ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh còn có những hạn chế nhất định, cần có cách nhìn đúng đắn hơn, toàn diện hơn nhưng đó cũng chính là những giá trị cho người đời sau lấy đó làm bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hơn nữa. Nhiệm vụ của thế hệ trẻ chúng ta ngày hôm nay là biết kế thừa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, nét đẹp văn hóa dân gian của quê hương và góp phần xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp, văn minh, hội nhập.
Ca dao, tục ngữ Nghệ Tĩnh đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của mỗi người dân xứ Nghệ. Nó đã thành một sức mạnh nội lực mạnh mẽ, một mạch nước ngầm luôn âm ĩ và tuôn trào trong lòng đất làm cho hào khí của vùng đất địa linh luôn tỏa ánh sáng hào quang, soi rọi cho quê hương. Dù đi đâu, về đâu những người con xứ Nghệ vẫn luôn cảm nhận được tình quê hương đậm đà, sâu lắng, dạt dào tình yêu thương. Trong mọi hoàn cảnh khó khăn, họ luôn có một sức mạnh nội lực mạnh mẽ để vượt lên chính mình, làm chủ cuộc sống.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\DAI HOC DA NANG\TRIET HOC\NGUYEN THI HUYEN TRANG


