Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay

Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay

Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay

1. Lý do chọn đề tài

Từ sau Chiến tranh Lạnh, tình hình thế giới có những thay đổi hết sức nhanh chóng, trật tự thế giới đa cực đang hình thành rõ rệt, trong đó Philippines đang nỗ lực phục hồi và duy trì vị thế trên tất cả các lĩnh vực trên trường quốc tế. Bên cạnh đó, Philippines cũng tích cực mở rộng quan hệ ngoại giao với các nước, các khu vực trên thế giới nhằm khẳng định vị trí, vai trò tại khu vực và củng cố quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ. Cùng với đó là việc Trung Quốc trỗi dậy trong thế kỷ 21 đã tái lập trật tự khu vực ở Đông Á và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Chính vì thế các quốc gia như Philippines thấy mình phải vật lộn để điều hướng trước những thay đổi trong sự hình thành một trật tự thế giới mới, trong đó thể hiện một cuộc cạnh tranh toàn cầu giữa một Trung Quốc mới nổi và một nước Mỹ tương đối suy tàn.

Hiện nay, Trung Quốc là nước có nền kinh tế lớn thế giới, đứng thứ hai sau Mỹ và ngày càng có ảnh hưởng quan trọng trong đời sống chính trị thế giới và quan hệ quốc tế. Kể từ khi tiến hành cải cách, mở cửa đất nước (1978), nhất là trong hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, Trung Quốc luôn coi trọng và không ngừng thúc đẩy quan hệ với các nước trên thế giới, mà trước hết là các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việc Trung Quốc tăng cường quan hệ với các nước trong khu vực Đông Nam Á là nhằm hướng tới một số mục tiêu chiến lược như: duy trì ổn định để phát triển kinh tế, xây dựng trật tự thế giới “đa cực”, xóa bỏ thuyết“Mối đe dọa của Trung Quốc”, mở rộng ảnh hưởng quốc tế, kiềm chế Đài Loan, xây dựng hình ảnh nước lớn.v.v… Đây là những mục tiêu nằm trong chính sách mở rộng thế lực và phạm vi ảnh hưởng ở châu Á của Trung Quốc mà điểm đột phá đầu tiên là khu vực Đông Nam Á. Trong khu vực Đông Nam Á, Philippines là đồng minh của Mỹ kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Hiện nay, Philippines được xem là một quốc gia công nghiệp mới, nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ nông nghiệp sang các ngành dịch vụ và chế tạo. Cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa, Philippines đã và đang tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong và ngoài khu vực, trong đó có các nước lớn như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ,… Việc thực hiện đường lối đối ngoại, hợp tác phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia dân tộc, đã giúp Philippines gặt hái được nhiều thành tựu trong quan hệ đối ngoại với các nước, các khu vực.

Trong toàn bộ chính sách đối ngoại của Philippines hiện nay đối với các nước, trong đó có Trung Quốc, nổi lên một điểm đó là đường lối, lập trường, đấu tranh bảo vệ lợi ích dân tộc. Nằm trong khu vực châu Á, là láng giềng của nhau hai nước Trung Quốc và Philippines đã sớm thiết lập quan hệ song phương. Bước sang thập niên đầu tiên của thế kỷ XXI cho đến nay, quan hệ giữa hai nước đã không ngừng phát triển và đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực: chính trị – ngoại giao, an ninh – quốc phòng, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực hợp tác khác…. Nếu Trung Quốc là một trong những đối tác thương mại lớn của Philippines (cùng với Mỹ, Nhật Bản, Singapore…), thì Philippines lại là thị trường tiêu thụ hàng hóa và xuất khẩu nguyên, nhiên liệu chủ yếu sang Trung Quốc.

Sau khi nhậm chức Tổng thống Philippines vào năm 2016, Tổng thống Duterte đã từng bước triển khai hàng loạt chính sách, biện pháp nhằm giúp quốc gia này phát triển một cách mạnh mẽ, những dấu ấn của Tổng thống Duterte ngày càng được thể hiện một cách rõ nét. Đặc biệt kể từ khi Tổng thống Duterte thực hiện chuyến công du Trung Quốc vào tháng 10/2016, sự kiện này đã đánh dấu một bước chuyển biển mới trong quan hệ giữa Manila với Bắc Kinh và Washington. Từ những thực tế đã và đang diễn ra tại Philippines cho thấy quốc gia này đang thực hiện một chính sách ngoại giao cân bằng giữa hai cường quốc theo hướng gia tăng kinh tế với Trung Quốc, trong khi đó vẫn giữ quan hệ đồng minh với Mỹ. Kể từ khi bắt đầu chính quyền của mình, Tổng thống Rodrigo Roa Duterte đã theo đuổi một chính sách đối ngoại trái ngược với chính sách của chính quyền Aquino đối với Trung Quốc. Chính quyền Rodrigo Roa Duterte rõ ràng đã chọn xoay trục mối quan hệ giữa Philippines và Trung Quốc bị sứt mẻ trước đó, bằng cách sử dụng một chính sách đối ngoại được coi là thân thiện và cởi mở.

Vậy, xuất phát từ những vẫn đề nêu trên chúng tôi chọn đề tài “Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Quan hệ quốc tế.

2. Lịch sử nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tập trung làm sáng tỏ Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay

Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu những điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Philippines đối với Trung Quốc dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay nhằm:

– Làm rõ sự tiến triển và bản chất trong hợp tác giữa hai nước giai đoạn trên.

– Chỉ ra tác động của sự hợp tác giữa Philippines và Trung Quốc tới an ninh, ổn định của khu vực Đông Nam Á và của Việt Nam.

– Dự báo triển vọng hợp tác giữa Philippines và Trung Quốc trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định đối tượng nghiên cứu là Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung

Nghiên cứu Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay. (Các nhân tố tác động, mục tiêu, nội dung, quá trình, kết quả hợp tác và tác động).

Về thời gian

Luận văn lựa chọn giai đoạn từ từ 2016 tới nay – giai đoạn có nhiều thay đổi trong môi trường chiến lược quốc tế và khu vực.

5. Phương pháp nghiên cứu

5.1. Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu cấp 1 (tài liệu gốc)

– Các văn kiện chính thức của Philippines và Trung Quốc.

– Phát biểu của các lãnh đạo nhà nước, chính giới, nhân vật hoạt động chính trị.

– Các báo cáo của chính phủ, chính quyền các cấp, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và thống kê hàng năm.

Nguồn tài liệu thứ cấp

– Các công trình nghiên cứu khoa học liên quan tới đề tài luận án đã được công bố trên các tập san, tạp chí chuyên ngành.

– Các thông tin liên quan tới luận án hoặc các vấn đề của luận án thu thập trên báo chí, trên các trang mạng chính thức của Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng… của hai nước

5.2. Phương pháp nghiên cứu

– Luận văn vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lenin, đường lối đổi ngoại của Đảng và nhà nước ta để tiếp cận và giải quyết các vấn đề khoa học của đề tài.

– Các phương pháp nghiên cứu chính sách đối ngoại, quan hệ quốc tế theo cấp độ liên quốc gia/khu vực, toàn cầu/ hệ thống, phương pháp phân tích hệ thống – cấu trúc và phương pháp phân tích văn bản… sẽ được sử dụng trong quá trình chuẩn bị luận văn.

– Luận văn sẽ sử dụng một số lý thuyết về quan hệ quốc tế, đặc biệt là chủ nghĩa hiện thực để tiếp cận và giải quyết các vấn đề khoa học của đề tài

– Ngoài ra, luận văn kết hợp sử dụng một số phương pháp của các ngành khoa học khác như nghiên cứu văn bản, phân tích vấn đề theo lịch đại, và đồng đại, thống kê, tổng hợp , so sánh, khi cần thiết và thích hợp.

6. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được chìa làm 3 chương:

Chương 1. Cơ sở cho sự điểu chỉnh chính sách đối ngoại của Philippines đối với trung quốc dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte

Chương 2. Các hướng triển khai chính sách đối ngoại của Philippines đối với Trung Quốc dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte

Chương 3. Một số nhận xét về sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của Philippines đối với trung quốc dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ CHO SỰ ĐIỂU CHỈNH CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI CỦA PHILIPPINES ĐỐI VỚI TRUNG QUỐC DƯỚI THỜI

RODRIGO DUTERTE

Chính sách đối ngoại của Philippines không những tác động đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở Philippines mà còn tác động đến toàn bộ các lĩnh vực ở khu vực Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung. Khoa học thực tiễn đặt ra, chính sách đối ngoại của Philippines được đặt trên cơ sở nào, nhân tố nào tác động đến việc hoạt định chính sách ngoại giao của quốc gia này. Chương I sẽ tập trung luận giải những nhân tố tác động đến điều chỉnh chính sách đối ngoại dưới thời Tổng thống Rodrigo Duterte qua những biến đổi của khu vực và thế giới, đồng thơi phân tích rõ đặc điểm nhân tố Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại gia để mở ra những hoạt động chính sách ngoại giao mới.

1.1. Sự chuyển biến của tình hình quốc tế và khu vực đầu thế kỷ XXI

1.1.1. Những chuyển biến trong môi trường an ninh và kinh tế thế giới

Sự trỗi dậy của Trung Quốc

Trong giai đoạn hiện nay, sự trỗi dậy của Trung Quốc là một từ khóa được nhắc đến khá nhiều trong mối quan hệ chằng chéo, phức tạp của quan hệ quốc tế. Không những thế, quá trình trỗi dậy của Trung Quốc đang trở thành một thách thức không nhỏ đối với các quốc gia khu vực, nhất là Đông Nam Á – một khu vực cận kề với nước láng giềng khổng lồ như Trung Quốc. Theo Robert Sutter, khi nước Mỹ ngày càng sa lầy trong cuộc chiến Iraq và có vẻ như đã nhấn mạnh thái quá tới cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” thì Trung Quốc sử dụng chiến lược ngoại giao hiệu quả và đã nhanh chóng mở rộng thương mại và đầu tư dựa trên một nền kinh tế tăng trưởng hai chữ số, từ đó mở rộng tầm ảnh hưởng trong khu vực và triển khai vững chắc, thúc đẩy nhanh chóng tiềm năng quân sự.[1]

Sau hơn 20 năm thực hiện công cuộc cải cách mở cửa, đến đầu thế kỷ 21, Trung Quốc đã trỗi dậy mạnh mẽ về mọi phương diện, nhất là kinh tế và quân sự.

Về kinh tế, thế giới đang được chứng kiến sự tăng trưởng kinh tế vượt bậc của Trung Quốc, một phép lạ chưa từng thấy ở một nền kinh tế mới nổi khi đưa ra so sánh với nhiều quốc gia cùng khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc… Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), kinh tế Trung Quốc đã có mức tăng trưởng trung bình 9,6% trong vòng liên tục 10 năm (1990 – 2010) và từng bước vượt mặt các quốc gia phát triển Tây Âu là Pháp, Anh, Đức. Năm 2010, Trung Quốc chính thức thay thế Nhật Bản để trở thành quốc gia đứng thứ hai thế giới về kinh tế, chỉ sau Mỹ. Năm 2011, Trung Quốc đã vượt mặt Mỹ trở thành quốc gia có đóng góp cho tăng trưởng toàn cầu với 30% so với 17% (2010) nếu xét từ sản lượng toàn cầu. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới, Trung Quốc là nước có GDP cao nhất khu vực kể từ năm 2002 và duy trì vị trí này cho tới hiện nay với tổng sản lượng khu vực là 38% (2010) và 39,4% (2011). Với mức tăng kim ngạch xuất nhập khẩu trung bình mỗi năm là 21,7%, Trung Quốc đã duy trì được nền kinh tế thương mại khổng lồ, là quốc gia được xếp thứ hai thế giới về nhập khẩu và đứng thứ nhất về xuất khẩu hàng hóa [2]. Cho đến nay, Trung Quốc vẫn là nước sở hữu 5 trong số 20 cảng hàng đầu thế giới. Đặc biệt, Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc đã công bố số liệu tài chính của nước này, trong đó tổng dự trữ ngoại tệ tính đến cuối tháng 3/2012 đã vượt con số 3.305 tỷ USD, đứng thứ nhất trên thế giới.[3] Theo các chuyên gia kinh tế, nền kinh tế của Trung Quốc sẽ tăng trưởng ở mức trung bình là 5,6%-8% mỗi năm cho đến hết 2050 (theo chuyên gia kinh tế Uri Dadush& Bennett Stancil và Robert Fogel). Sự tăng trưởng của Trung Quốc đã khiến nhiều người nhận định rằng nền kinh tế khổng lồ này sẽ áp đảo trong một thế giới rộng lớn và “giờ đây, Trung Quốc có một nền kinh tế rất lớn và những quyết định mà Trung Quốc đưa ra có tác động trên toàn thế giới”.

Song song với sự phát triển kinh tế, Trung Quốc luôn quan tâm tới việc hiện đại hóa quân đội để nâng cao sức mạnh quân sự. Ngân sách quốc phòng của Trung Quốc vào năm 1990 mới là 6,06 tỷ USD , đến năm 2009 đã lên tới 70,30 tỷ USD[4]. Như vậy, chỉ trong vòng 20 năm, ngân sách quốc phòng của nước này đã tăng gấp 11,6 lần. Theo Bộ Quốc phòng Mỹ, năm 2015, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc là 144 tỷ USD, khoảng 40% chi tiêu quân sự của Trung Quốc dùng cho phát triển vũ khí công nghệ cao, hải quân và không quân.[5] Còn theo tạp chí quốc phòng Jane, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc, tăng hàng năm 7%, dự kiến năm 2020 sẽ là 260 tỷ USD[6]. Nguồn nhân sách quốc phòng khổng lồ đó được tập trung vào hiện đại hóa quân đội với mục tiêu: xây dựng một đội quân lớn mạnh của Đảng trong tình hình mới; tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội; từ bỏ hoàn toàn mô hình quân đội hiện nay (vốn theo mô hình của Liên Xô cũ); nâng cao năng lực tác chiến, xây dựng một quân đội tinh nhuệ, có thể giành chiến thắng trong chiến tranh hiện đại, tương xứng với vị thế quốc tế, bảo vệ lợi ích an ninh và phát triển của Trung Quốc.

Về lĩnh vực chính trị, Trung Quốc chủ động tích cực tham gia vào nhiều diễn đàn, tổ chức khu vực và quốc tế như đồng sáng lập Tổ chức Hợp tác Thượng Hải – SCO (2001), lập ra Diễn đàn châu Á Bác Ngao (Boao Forum for Asia – BFA) thu hút sự tham gia ngày càng nhiều của các quốc gia ở châu lục này. Trung Quốc cũng đã đưa ra khái niệm An ninh mới (New Concept of Security – NCS 1998) chủ trương xây dựng một trật tự thế giới đa cực và đề cao vai trò của Liên Hợp Quốc trong việc giải quyết các tranh chấp thông qua đàm phán. Trong quan hệ với các nước đang phát triển, Trung Quốc nêu ra nguyên tắc hợp tác “cùng thắng”, theo đó các quốc gia tham dự đều có thể hưởng lợi từ kết quả hợp tác và điều này đã nhận được sự phản ứng tích cực từ các nước, kể cả các nước ASEAN.

  • Vấn đề Biển Đông và tầm quan trọng của yếu tố biển

Ngay từ xa xưa, Biển Đông là nơi qua lại của các luồng giao thông từ Thái Bình Dương sang Ấn Độ Dương. Trong bối cảnh hiện nay, Biển Đông được xem như “van điều tiết” các dòng chảy thương mại và được ví như là “ Địa Trung Hải của Châu Á”. Bên canh đó, Biển Đông còn chứa nhiều tài nguyên thiên nhiên phong phú, là cơ sở phát triển kinh tế cho các quốc gia tiếp giáp với Biển. Có thể nói rằng, Thế kỷ XXI là thế kỷ của biển, đây là thời kỳ hoàng kim để khai thác và sử dụng yếu tố biển nhằm mục đích phát triển kinh tế, thể hiện sức mạnh quốc gia. Cùng với sự bùng nổ dân số nhanh chóng và nhu cầu bức thiết về tài nguyên thiên nhiên, con người ngày nay sẽ tiến ra biển theo đa chiều khác nhau: “chiều rộng”. “chiều cao”, “ chiều sâu”. Chính những lợi ích đó làm cho yếu tố biển sẽ tiếp tục trở nên quan trọng hơn trong các thập kỷ tới, khi Đông Nam Á và Đông Á tiếp tục phục hồi sau khủng hoảng tài chính toàn cầu và tăng trưởng kinh tế. Điều này sẽ nhấn mạnh tầm quan trọng địa chiến lược của yếu tố biển, trong đó Biển Đông trở thành cầu nối từ Vịnh Arập và Ấn Độ Dương tới Tây Thái Bình Dương[7].

Xu hướng này có cả những mặt tích cực và tiêu cực. Một mặt, tất cả các nước châu Á – Thái Bình Dương sẽ có lợi ích chung lớn trong việc duy trì an ninh cho các tuyến đường thương mại mà sự thịnh vượng kinh tế cũng như an ninh quốc gia của họ phụ thuộc vào. Đây cũng sẽ là trường hợp đặc biệt đối với các nền kinh tế Đông Á, vốn phụ thuộc vào các đường giao thông trên biển đi qua Đông Nam Á để giao thương và nhập khẩu các nguồn năng lượng sống còn. Tầm quan trọng ngày càng lớn của yếu tố biển làm nổi lên khả năng tăng cường hợp tác đa phương để đảm bảo an ninh biển.

Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay
Trung Quốc trong sự điều chỉnh chính sách ngoại giao của Philippines dưới thời Rodrigo Duterte từ 2016 tới nay

Mặt khác, các tuyến đường giao thông trên biển đi qua Biển Đông, nơi đang diễn ra tranh chấp giữa Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei. Rõ ràng các chương trình hiện đại hóa và chuyển hóa quân sự hiện nay có những đặc điểm của một cuộc chạy đua vũ trang hải quân mang tính cạnh tranh hơn là các chiến lược hợp tác trên biển.

Chính tầm quan trọng của yếu tố biển, kết hợp với vị trí quan trọng của Biển Đông đã biến khu vực này trở thành điểm nóng có nguy cơ bùng phát bất cứ lúc nào. Năm 2009, Trung Quốc chính thức đệ trình Ủy Ban Liên Hiệp Quốc về giới hạn thềm lục địa bản đồ 9 đoạn của mình nhằm phản đối việc đệ trình của Việt Nam và Malaysia[8]. Bản đồ 9 đoạn do Trung Quốc tự vẽ chiếm 8% diện tích Biển Đông. Kể từ lúc đó, Trung Quốc coi tất cả các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên trong vùng bản đồ 9 đoạn của mình là vi phạm luật pháp Trung Quốc. Các vụ việc nghiêm trọng trên Biển Đông liên tiếp xẩy ra, thậm chí có nguy cơ bùng nổ xung đột vũ trang, như vụ cắt cáp tàu Việt Nam 2009, Vụ bế tắc Scarborough 2012, vụ giàn khoan HD981 năm 2014, các vụ tôn tạo đảo, đá trái phép của Trung Quốc trên Biển Đông, điển hình năm 2015. Vấn đề Biển Đông đã trở thành điểm nóng tại các hội nghị khu vực và quốc tế, thậm chí còn là nguyên nhân gây mâu thuẫn trong nội bộ ASEAN.

Tóm lại, môi trường an ninh tại Đông Nam Á đang bị quyết định bởi các xu hướng trong từng nước, rộng hơn là ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và toàn cầu. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã đẩy nhanh sự nổi lên của Trung Quốc cũng như quá trình hiện đại hóa quân sự và tầm ảnh hưởng của nước này trong các vấn đề khu vực.

1.1.2. Những biến đổi trong khu vực đầu thế kỷ XXI

Ở khu vực Đông Nam Á, dù chưa trở thành trung tâm quyền lực của khu vực CA-TBD, song các nước trong Hiệp hội ASEAN cũng có một vai trò nhất định trong việc tạo dựng nên cục diện chính trị ở đây. Đối với khối nước này, việc duy trì sự ổn định mà trước hết là ổn định chính trị được ưu tiên hàng đầu. Trong lĩnh vực an ninh chính trị, các nước ASEAN đã tăng cường hợp tác chống khủng bố. Mỹ đã ký kết với ASEAN Hiệp ước đấu tranh chống khủng bố. Hiệp ước này được đánh giá là bước đi hướng tới sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia trong khu vực. Hiện tại, nhóm các nước Đông Nam Á ngày càng được chú trọng hơn bởi vai trò và vị thế ngày càng tăng trong khu vực CA-TBD.

Qua quá trình hình thành và phát triển, tổ chức ASEAN hiện có 10 thành viên đã trở thành một nhân tố vô cùng quan trọng đối với hòa bình, ổn định và hợp tác trong nội khối và ngoại khối. Với những lợi thế có được, các nước trong khu vực đứng trước vận hội mới của tiến trình hợp tác, liên kết vì mục tiêu phát triển. Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 12 (ASEAN-12), diễn ra từ ngày 12 đến ngày 15/1/2007 tại Philippines, mang chủ đề “Một cộng đồng đùm bọc và chia sẻ”, đã tạo một động lực mới quan trọng trong tiến trình hình thành một cộng đồng ASEAN liên kết chặt chẽ, năng động, hiệu quả và rộng mở. Quyết định của ASEAN đẩy nhanh việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN vào năm 2015, mở rộng nội dung, triển khai và tiếp tục phát triển các thỏa thuận về kinh tế với các đối tác quan trọng ngoài ASEAN sẽ tạo ra một thế đứng và hình ảnh mới của ASEAN trong con mắt của cộng đồng quốc tế. [10, tr.10-15]

Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của cục diện chính trị Đông Nam Á là sự phát triển tích cực của các nỗ lực hợp tác và liên kết khu vực, trong đó tiến trình hợp tác Đông Á đang có những bước phát triển mới. Đó là việc nhất trí xây dựng Cộng đồng kinh tế Đông Á (EAEC) với việc hiện thực hóa trước tiên bằng Khu vực thương mại tự do Đông Á (EAFTA) tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN+3 tháng 11/2001. Bước ngoặt lớn trong tiến trình hợp tác Đông Á là ý kiến thống nhất về mục tiêu lâu dài thiết lập “Cộng đồng Đông Á” và việc tổ chức Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á lần thứ nhất (ESA-1) tại Malaysia năm 2005 và lần thứ hai (ESA-2) tại Philippines tháng 1/2007. EAS là một diễn đàn với sự đa dạng về kích cỡ, mức độ của sự phát triển chính trị và hệ thống chính trị của các nước thành viên tham gia. Nhưng yếu tố kinh tế sẽ giữ vai trò chi phối chứ không phải yếu tố chính trị. Song, chính sự hợp tác có hiệu quả về kinh tế giữa ASEAN với các bên đối tác sẽ góp phần tạo dựng hòa bình, ổn định vững chắc cho khu vực. Nhờ vậy, các nước ở đây đạt được nhiều thành tựu khả quan về phát triển kinh tế – xã hội cũng như giữ vững an ninh chính trị. Bằng nỗ lực tập thể, ASEAN đã khởi tiến những bước đi đầu tiên trong việc lập lòng tin và thực thi chính sách ngoại giao phòng ngừa, góp phần củng cố an ninh Đông Nam Á, CA-TBD. Tuy vậy, cục diện an ninh – chính trị khu vực Đông Nam Á vừa chứa đựng những thời cơ thuận lợi, vừa tiềm ẩn những khó khăn, thách thức. Ngoài những vấn đề toàn cầu như thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia…, ASEAN còn phải đối mặt với sự bất ổn xã hội và sức ép từ bên ngoài đối với một số nước thành viên, sự cạnh tranh gay gắt về thương mại và đầu tư trong quá trình toàn cầu hóa và khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng, miền trong cùng một quốc gia cũng như giữa các nước thành viên. Cùng với đó là sự tranh giành ảnh hưởng và thiết lập vai trò của các nước lớn ở khu vực này; sự tranh chấp về đảo, biển trong khu vực biển Đông; những hoạt động khủng bố ở Indonesia, Philippines, Thái Lan…; một số quốc gia trong khu vực vẫn còn tranh chấp về biên giới, lãnh thổ; các nước trong khu vực vẫn tiếp tục tăng cường sức mạnh quân sự để bảo vệ độc lập chủ quyền… Mặt khác, xung đột tôn giáo, sắc tộc, tình trạng ly khai dân tộc đang có nguy cơ gia tăng là một trong những vấn đề nhạy cảm về an ninh – chính trị. Cơ chế hợp tác an ninh – chính trị trong Hiệp hội ASEAN đang đặt ra nhiều thách thức mới.

1.1.3. Nhân tố Mỹ và ASEAN trong quan hệ Philippines – Trung Quốc

  • Nhân Tố Mỹ

Kể từ năm 1898, lịch sử Philippines luôn có sự hiện diện của Mỹ. Sau khi Mỹ tiếp quản Philippines từ Tây Ban Nha, năm 1935, Philippines đã được trao quyền tự trị với Thủ tướng là Manuel Quezon.

Trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, Philippines là tiền đồn quan trọng và là đồng minh thân cận của Mỹ tại khu vực. Năm 1947, Philippines và Mỹ đã ký Hiệp định căn cứ quân sự, theo đó đã cho phép Mỹ đưa các cơ sở quân sự của mình tới Philippines, tăng thời gian máy bay và tàu chiến của Mỹ có mặt tại Philippines, đồng thời giúp Mỹ nhanh chóng triển khai sức mạnh của mình tới các khu vực chiến sự. Bên cạnh đó, Philippines cũng gửi lính tham gia cuộc chiến tại Bắc Triểu Tiên, Việt Nam, do Mỹ phát động. Bước vào thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, quan hệ an ninh, quân sự giữa Philippines – Mỹ có sự “thả lỏng” hơn, do hai nước ít phải đối diện với mối đe dọa chung như thời kỳ trước. Cùng với sự suy yếu của nền kinh tế Mỹ, viện trợ của Mỹ cho nước ngoài giảm, kéo theo viện trợ Mỹ dành cho Philippines cũng giảm mạnh. Năm 1992, quan hệ Philippines – Mỹ đã bị gián đoạn, khi Mỹ rút quân khỏi Philippines[9]. Sự kiện này đánh dấu sự thay đổi lớn trong quan hệ hai nước. Thậm chí theo một số nhà nghiên cứu, việc Thượng viện Philippines từ chối Hiệp ước Hữu nghị, Hợp tác và An ninh với Mỹ là một đòn gây tổn thương cho những di sản mà mối quan hệ Mỹ-Philippines để lại. Trong một bài phát biểu tại New York năm 1993, cựu Đại sứ Mỹ tại Philippines Frank G. Wisner cho rằng: những vấn đề của quan hệ Mỹ – Philippines trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX chính là “sự điều chỉnh từ những thay đổi định mệnh của thế giới”, rằng “quan hệ viện trợ đã chấm dứt, tôi tin rằng chúng ta có thể phát triển quan hệ đối tác dựa trên sự bình đẳng… tạo thành từ thương mại và đầu tư… Đó sẽ là mối quan hệ bền vững”[10].

Tháng 6/1992, Tổng thống Fidel Ramos nhậm chức và nhanh chóng điều chỉnh chính sách đối ngoại của Philippines theo hướng đa phương hóa. Chính quyền Ramos nhận thấy rằng các chính sách đơn phương như tự chủ quân sự là không đủ để đối phó với những mối đe dọa tới an ninh quốc gia. Philippines tăng cường tìm kiếm hợp tác quốc phòng với Mỹ, Pháp và Tây Ban Nha, chủ yếu nhằm tìm kiếm nguồn cung cấp vũ khí[11]. Tuy nhiên, hợp tác quốc phòng giữa Mỹ và Philippines gặp nhiều trở ngại bởi chủ nghĩa dân tộc tại Philippines đang thắng thế tại Thượng viện – cơ quan được Hiến pháp Philippines trao quyền quyết định đối với các hiệp định quốc tế.

Tại Mỹ, tháng 1/1993, Tổng thống Bill Clinton tiếp quản Nhà trắng, xây dựng chiến lược “Cam kết và mở rộng”. Tổng thống Bill Clinton coi chủ nghĩa song phương và đa phương là chiến lược song song đối với châu Á-TBD. Nếu như George Bush coi việc tăng cường các liên minh với Thái Lan và Philippines (trong đó có việc duy trì các căn cứ không quân Clark và hải quân Subic) là một trong những chính sách an ninh quan trọng, thì chính quyền Bill Clinton coi trọng việc tăng cường quan hệ với ASEAN theo hướng đa phương, ủng hộ các đối thoại an ninh khu vực và đặc biệt đề cao việc cải thiện quan hệ với Trung Quốc[12]. Theo đánh giá của tiến sỹ Ian Storey tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á ( ISEAS) ở Singapore, mặc dù Mỹ chỉ đóng cửa các căn cứ quân sự và rút quân khỏi Philippines chứ không chấm dứt những chương trình hợp tác giữa hai nước theo khuôn khổ MDT 1951 và các chương trình không liên quan tới căn cứ quân sự như hoạt động của MDB, tập trận chung Balikatan, hỗ trợ khắc phục thiên tai, Chương trình Hỗ trợ Quân sự…, quan hệ hai nước vẫn không có nhiều tiến triển[13].

Năm 1993, Mỹ và Philippines nối lại các cuộc tập trận chung, Tổng thống Ramos đã đích thân đến tham dự. Chưa từng có Tổng thống nào dự các cuộc tập trận trong quá khứ. Hành động của Ramos đã gửi đến Mỹ một thông điệp về sự cam kết của Philippines với quan hệ đồng minh. Năm 1994, Washington cung cấp 8 tàu tuần tra thông qua MAP và các trang thiết bị trị giá khoảng 148 triệu USD cho quân đội Philippines.[14]

Đầu năm 1995, vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn giữa Trung Quốc và Philippines nổ ra. Đây là một trong những vụ va chạm căng thẳng nhất trong khu vực sau Chiến tranh Lạnh. Đây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Trung Quốc- Philippines xảy ra đối đầu về quân sự. Tuy sự kiện này diễn ra giữa Philippines và Trung Quốc nhưng lại có tác động gián tiếp tới quan hệ Philippines và Mỹ. Khi đó, tất cả những gì Philippines nhận được từ người đồng minh Mỹ chỉ là những phản ứng thận trọng từ chính quyền Bill Clinton thông qua một tuyên bố vào tháng 5/1995 gồm 5 điểm: (i) Giải quyết hòa bình các tranh chấp; (ii) Hòa bình và ổn định; (iii) Tự do hàng hải; (iv) Trung lập đối với các yêu sách chủ quyền; (v) Tôn trọng các quy định hàng hải, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS)[15] Như vậy, Mỹ vẫn duy trì thái độ trung lập trong vấn đề Biển Đông, thậm chí tuyên bố của Mỹ không có từ ngữ nào nhắc đến hoặc ám chỉ Trung Quốc. Điều này cho thấy Mỹ không muốn vụ đá Vành Khăn trở thành vấn đề trong quan hệ Mỹ -Trung. Đương nhiên, Mỹ cũng không có bất kỳ động thái can thiệp nào theo tinh thần Hiệp ước MTD 1951 như Philippines mong đợi. Theo Ian Storey, Manila cảm thấy bị bỏ rơi đúng vào lúc cần đến người Mỹ nhất.[16]

Vụ tranh chấp tại bãi đá Vành Khăn cùng những mối đe dọa về an ninh quốc gia đã thúc đẩy Philippines ưu tiên hơn cho quốc phòng, trong đó có việc thắt chặt hơn nữa quan hệ với Mỹ. Về phía mình, Mỹ cũng nhận thấy sự thiếu vắng hợp tác quốc phòng giữa hai nước trong bối cảnh Trung Quốc tích cực khai thác “khoảng chống quyền lực” tại khu vực. Năm 1996, Mỹ và Philippines bắt đầu các cuộc đàm phán về một hiệp định nhằm cung cấp sự đảm bảo hợp pháp cho Mỹ triển khai quân tại Philippines trong những cuộc tập trận và thăm viếng quân sự. Cùng năm, Philippines lần đầu tiên tham gia cuộc tập trận thường niên mang tên “Hợp tác Huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu trên biển” (CARAT) với Mỹ cùng một số nước khác ở Đông Nam Á là Brunei, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore.

Vào năm 1996, Tổng thống Mỹ Bill Clinton đã có chuyến thăm đến 5 nước đồng minh tại châu Á-TBD gồm Philippines, Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia. Trong các chuyến thăm đó, Tổng thống Bill Clinton đã tái khẳng định những cam kết của Mỹ trong mối quan hệ song phương.

Những động thái trên của Mỹ đã tạo lực đẩy mạnh hơn cho sự phát triển quan hệ của Philippines với Mỹ. Ngày 04/7/1996, Tổng thống Philippines Ramos đã tuyên bố Ngày Hữu nghị Philippines-Mỹ nhằm kỷ niệm 50 năm ngày độc lập của Philippines và nhấn mạnh mối quan hệ sâu sắc và lâu năm giữa hai nước.

Tháng 2/1998, Mỹ và Philippines kết thúc đàm phán và nhất trí về một khuôn khổ hợp pháp cho những cuộc tập trận chung và song phương tại Philippines. VFA chính thức có hiệu lực vào tháng 6/1999, sau khi được Thượng viện Philippines – vốn từng là trở ngại cho các hiệp định với Mỹ – thông qua với số phiếu áp đảo. Sự ủng hộ của Thượng viện Philippines thể hiện sự thay đổi thái độ của Manila, chấp nhận vai trò lãnh đạo và đối tác của Mỹ tại khu vực; đồng thời là sự điều chỉnh cần thiết đối với cả hai nước trong việc hiện đại hóa mối quan hệ[17]. Hiệp định mở đường cho tăng cường hợp tác quân sự dưới khuôn khổ MDT 1951.

Chính quyền Philippines tin rằng VFA sẽ tăng cường an ninh quốc gia vì các cuộc tập trận chung sẽ giúp AFP trau dồi các kỹ năng chiến đấu cũng như làm quen với các vũ khí công nghệ cao. Tổng thống Estrada, người đã từng bỏ phiếu ủng hộ đóng cửa các căn cứ quân sự Mỹ năm 1991, nay lại ủng hộ sự quay trở lại của quân đội Mỹ với lập luận rằng “Cho tới khi việc hiện đại hóa quân đội Philippines có hiệu quả, nền an ninh quốc gia có thể được bảo đảm bằng sự hỗ trợ của Mỹ và VFA sẽ đưa quan hệ đồng minh trở lại quỹ đạo.”[18] Ông cũng mong rằng VFA sẽ mang đến một sự răn đe nhất định đối với các quốc gia đang có ý định tuyên bố chủ quyền và hiện diện quân sự tại các vùng lãnh thổ tranh chấp với Philippines. Bộ trưởng Ngoại giao Philippines Domingo Saizon nhấn mạnh VFA là “sự hồi sinh của một mối quan hệ mạnh mẽ và năng động”. Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Orlando Mercado hy vọng sự hiện diện của Mỹ sẽ là đối trọng với Trung Quốc[19].

Như vậy, mối quan hệ truyền thống, lâu năm Philippines – Mỹ đã khiến Philippines không thể bỏ được Mỹ. Gián đoạn trong quan hệ này chỉ là tạm thời. Với sự phát triển cả về kinh tế và quân sự đều phụ thuộc vào Mỹ, thì phát triển quan hệ an ninh, quân sự Philippines – Mỹ là điều không thể tránh khỏi. Bên cạnh đó, mối quan hệ truyền thống này sẽ tác động tới chính sách của Philippines khi phải đương đầu với những thách thức nhằm tăng cường quan hệ Philippines – Mỹ nói chung và quan hệ an ninh, quân sự Philippines – Mỹ nói riêng.

Nhân tố ASEAN

Bước vào thế kỷ XXI, ASEAN đứng trước những cơ hội phát triển mới. Xu thế hoà bình và hợp tác vẫn là xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế. Các tiến trình hợp tác khu vực ở các châu lục khác đang phát triển ngày càng mạnh mẽ và đi vào chiều sâu. Ở châu Mỹ, sau thành công của NAFTA, các nhà lãnh đạo Hoa kỳ đã đề xuất xây dựng Khu mậu dịch tự do châu Mỹ vào năm 2005. Tại châu Âu, EU được mở rộng để đưa các nước Đông Âu, vốn là các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, vào chiếc ô của nó. Trào lưu FTA khu vực và song phương nở rộ ở khắp các châu lục. Quá trình chuyển sang phát triển các nền kinh tế tri thức ở các nước công nghiệp phát triển vừa tạo cơ hội chuyển giao công nghệ và FDI cho các nước đang phát triển vừa tạo ra những thách thức lớn. Nguy cơ tụt hậu về kinh tế của các nước này trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, nếu họ không có những những đối sách thích hợp để thích ứng với một thế giới đang thay đổi cả về chính trị lẫn kinh tế . Ở cấp độ khu vực, những cơ hội và thách thức đối với ASEAN đều khá lớn. Quá trình phân chia Đông Nam Á thành hai thực thể chính trị , kinh tế đối lập nhau đã chấm dứt. Cơ hội can thiệp vào các công việc nội bộ của khu vực của các nước lớn đã được hạn chế. Từ nay, các nước trong khu vực có thể chung sống hoà bình và hợp tác với nhau để cùng phát triển.

Về phương diện kinh tế, sau những nỗ lực bền bỉ, các nền kinh tế ASEAN đã đựơc phục hồi và đang dẫn lấy lại đà tăng trưởng cũ. Các nền kinh tế mới ASEAN cũng phát triển mạnh. Trong lĩnh vực kinh tế, nguy cơ bùng phát trở lại của khủng hoảng tài chính- tiền tệ vẫn tiếp tục tiềm ẩn. Từ những trải nghiệm của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1998-1999,Tổng thống Inđônêxia Susilo Bambang Yudhoyono cho rằng “ Những thách thức của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1998 và mối đe doạ trở lại của nó đã đem tới cho ASEAN ý tưởng rằng nó cần phải trở thành Cộng đồng “ …. Không có sự lựa chọn nào khác: chỉ thông qua hội nhập kinh tế hoàn toàn ASEAN mới có thể khai thác tiềm năng thị trường khổng lồ của nó và thu lợi từ các nền kinh tế tầm cỡ bên trong khu vực [20]. Quá trình xây dựng AFTA đã hoàn thành, nhưng tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế khu vực đã không đáp ứng được mong đợi của các nước thành viên. Thương mại nội khối vẫn chỉ dừng ở con số gần 25% tổng giá trị trao đổi thương mại toàn khối ( 304,8 tỷ USD/1; 224,8 tỷ USD năm 2005), và tập trung nhiều vào buôn bán phụ tùng và cấu kiện rời. Trong khuôn khổ AFTA, mức thuế chỉ còn lại từ 0% đến 5%, nhưng tỷ lệ thoả dụng ( utility rate ) đối với hàng hoá và dịch vụ vẫn còn rất thấp. Vào cuối thập kỷ 1990, tỷ lệ thoả dụng tổng thể (overall utility rate) chỉ có 3% đối với ASEAN; năm 2002 tỷ lệ này đối với Thái Lan là 11% và chỉ có 4% đối với Malaixia[21]. Trong các hiệp định ưu đãi thương mại của châu Âu, nếu tỷ lệ này dưới 50% bị coi là rất thấp .

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\TRAN THAI BAO

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *