Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn

Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn

Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

NS huyện Bình Sơn là một bộ phận cấu thành NSNN, là công cụ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong quá trình phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh, giải quyết được những vấn đề bức thiết của xã hội trên địa bàn huyện.

Luật NSNN năm 2002 là cơ sở pháp lý cơ bản để tổ chức quản lý NSNN nói chung và NS huyện nói riêng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, hiệu quả sử dụng NS không cao, còn gây thất thoát, lãng phí. Do đó, việc tăng cường công tác quản lý NSNN là một nhiệm vụ hết sức cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả trong sử dụng kinh phí và tài sản của Nhà nước.

Xuất phát từ thực tế trên, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi” để làm Luận văn tốt nghiệp.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận cơ bản về công tác quản lý NSNN cấp huyện và kinh nghiệm của một số địa phương.

– Đánh giá đúng thực trạng về công tác quản lý NS của huyện Bình Sơn; từ đó rút ra nguyên nhân của những hạn chế.

– Đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý NSNN huyện trong thời gian tới.

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

– Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý NSNN cấp huyện.

– Phạm vi nghiên cứu:

+ Về không gian: Công tác quản lý NSNN qua các khâu lập dự toán, chấp hành, quyết toán và thanh, kiểm tra NS ở huyện Bình Sơn.

+ Về thời gian: Luận văn sử dụng số liệu thực trạng về NS trong 5 năm 2010 – 2014; đưa ra hệ thống các giải pháp áp dụng đến năm 2020.

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích, so sánh, đánh giá, tình hình quản lý, số liệu thực tế về quản lý NS huyện Bình Sơn và kinh nghiệm thực tiển ở một số địa phương…từ đó làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu.

5. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, luận văn chia thành 3 (ba) chương với các nội dung cụ thể như sau:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện (quận).

Chương 2: Thực trạng công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn.

Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Bình Sơn

6. TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN (QUẬN)

1.1. NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN (QUẬN)

1.1.1. Tổng quan về ngân sách nhà nước

1.1.1.1. Khái niệm ngân sách nhà nước

– Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từ năm 2004, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [1, tr3].

1.1.1.2. Bản chất của ngân sách nhà nước

NSNN là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền với quá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định.

1.1.1.3. Chức năng của ngân sách nhà nước

? Chức năng phân phối: là phân bổ các nguồn lực tài chính cho đối tượng sử dụng.

? Chức năng giám đốc: Giám đốc là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng phân phối NSNN.

1.1.1.4. Vai trò của ngân sách nhà nước

– Huy động nguồn tài chính để bảo đảm nhu cầu chi tiêu của NN.

– NSNN có vai trò để điều tiết vĩ mô nền KT-XH qua các hoạt động:

+ Kích thích sự tăng trưởng nền kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế

+ Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát.

+ Điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư, bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, góp phần thực hiện công bằng xã hội:

1.1.2. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN

1.1.2.1. Hệ thống NSNN ở Việt Nam

Theo Luật NS số 01/2002/QH11 ngày 16 tháng 12 năm 2002, thì hệ thống NSNN Việt Nam theo sơ đồ sau:

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG

NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG

NGÂN SÁCH CẤP TỈNH

NGÂN SÁCH CẤP HUYỆN

NGÂN SÁCH CẤP XÃ

: Quan hệ cấp trên – dưới

: Quan hệ trong hệ thống

1.1.2.2. Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

– Nội dung phân cấp quản lý NSNN:

+ Giải quyết các mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi, chế độ quản lý NSNN.

+ Giải quyết các mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối NSNN.

+ Giải quyết mối quan hệ trong quá trình thực hiện chu trình NS.

– Nguyên tắc phân cấp quản lý NSNN:

+ Phân cấp quản lý NS phải được tiến hành đồng bộ với phân cấp quản lý kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính.

+ Đảm bảo thực hiện vai trò chủ đạo của NS trung ương và ví trí độc lập của NS địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất.

+ Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp quản lý NS.

1.1.3. Ngân sách nhà nước cấp huyện (quận) trong hệ thống ngân sách nhà nước

1.1.3.1. Khái niệm ngân sách nhà nước cấp huyện (quận)

Theo Bộ Tài chính, thì: NS huyện (quận) là quỹ tiền tệ tập trung của huyện (quận) được hình thành bằng các nguồn thu và đảm bảo các khoản chi trong phạm vi huyện (quận).

1.1.3.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước cấp huyện (quận)

NS huyện (quận) là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KT-XH trên địa bàn. NS huyện (quận) phải cân đối theo nguyên tắc tổng số thu phải bằng hoặc lớn hơn tổng chi; NS huyện (quận) không có bội chi NS.

1.1.3.3. Vai trò của ngân sách huyện (quận)

NS huyện (quận) có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh của huyện. NS huyện (quận) là công cụ quan trọng của chính quyền cấp huyện trong việc ổn định và phát triển KT-XH trên địa bàn.

1.1.3.4. Nguồn thu và nhiệm vụ chi của ngân sách huyện (quận)

– Nguồn thu NS huyện bao gồm: Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ; các khoản thu NS huyện hưởng 100%; thu bổ sung từ NS tỉnh; thu kết dư NS huyện và thu chuyển nguồn NS huyện.

– Các khoản chi NS huyện bao gồm: chi đầu tư phát triển; chi thường xuyên; chi bổ sung cho NS cấp dưới và chi chuyển nguồn NS huyện.

1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN (QUẬN)

1.2.1. Công tác lập dự toán ngân sách nhà nước huyện (quận)

Lập dự toán là khâu đầu tiên của chu trình quản lý NSNN, quyết định nhiệm vụ và quy mô thu, chi NS trong một năm của NS huyện cũng như của một đơn vị dự toán huyện.

1.2.2. Công tác chấp hành dự toán ngân sách nhà nước huyện (quận)

Chấp hành NS là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế – tài chính nhằm biến các chỉ tiêu thu, chi trong dự toán NS hàng năm của huyện thành hiện thực.

1.2.3. Công tác quyết toán ngân sách nhà nước huyện (quận)

Quyết toán NS là tổng kết quá trình thực hiện dự toán NS, nhằm đánh giá toàn bộ kết quả hoạt động của một năm NS, từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cần thiết trong việc quản lý NS huyện cho những năm tiếp sau đó.

Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi

1.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra ngân sách nhà nước huyện (quận)

Mục đích của việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện tham nhũng, lãng phí, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, của các cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế và các cá nhân.

1.3. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN

1.3.1. Cơ chế quản lý tài chính

Cơ chế quản lý tài chính bao gồm những nội dung chủ yếu như: Hệ thống các văn bản về chính sách pháp quy tài chính, các hình thức, phương pháp tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ, phân phối các nguồn tài chính.

1.3.2. Phân cấp quản lý NS trong hệ thống ngân sách nhà nước

Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của chính quyền Nhà nước các cấp trong việc quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ thu, chi của NS; góp phần khuyến khích chính quyền khai thác triệt để các nguồn thu để đáp ứng một cách tốt nhất nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương.

1.3.3. Nhận thức của địa phương về tầm quan trọng và trách nhiệm trong công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện (quận)

Lãnh đạo địa phương phải nắm vững các yêu cầu và nguyên tắc quản lý NSNN để quản lý đầy đủ, toàn diện ở tất cả các khâu: Lập dự toán NS, chấp hành, quyết toán NS và kiểm tra, thanh tra NS.

1.3.4. Tổ chức bộ máy và trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý cấp huyện

Trình độ của bộ máy quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến việc đề ra biện pháp quản lý. Như vậy, con người được giao nhiệm quản lý, được trang bị kiến thức quản lý tiên tiến sẽ là nhân tố quan trọng, quyết định chất lượng của công tác quản lý NS.

1.3.5. Hệ thống thông tin, phương tiện quản lý ngân sách nhà nước huyện (quận)

Việc thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kết cấu hạ tầng công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ trong quản lý NS là nhiệm vụ của địa phương và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý NS.

1.4. KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN (QUẬN)

1.4.1. Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam

Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam có điều kiện KT-XH tương tự như huyện Bình Sơn; Công tác quản lý, điều hành thu – chi NSNN gắn liền với nhu cầu thực tế về phát triển KT-XH của địa phương bằng những chính sách đột phá để khai thác nguồn thu cho NS.

1.4.2. Kinh nghiệm quản lý ngân sách nhà nước huyện (quận)

Một là, kiểm tra quyết toán thu, chi rất chú trọng đến hiệu quả của công tác quản lý thu, chi NSNN. Quá trình lập, phân bổ, chấp hành và quyết toán NSNN đều được thực hiện chặt chẽ từ khâu đầu đến khâu cuối cùng.

Hai là, công tác kiểm tra, thanh tra và kiểm toán quản lý NSNN luôn coi trọng hàng đầu trong định hướng phát triển KT-XH.

Ba là, phải coi trọng cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý NS.

Bốn là, cần coi trọng vai trò công tác phân tích, dự báo kinh tế phục vụ cho việc hoạch định chính sách kinh tế và các chính sách liên quan đến thu, chi NS nhằm phát triển KT-XH một cách toàn diện và vững chắc.

Năm là, thống nhất chỉ đạo và mạnh dạn phân cấp quản lý kinh tế; phân cấp quản lý thu, chi NS cho các cấp chính quyền địa phương trên cơ sở thống nhất chính sách, chế độ.

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN

HUYỆN BÌNH SƠN TRONG THỜI GIAN QUA

2.1. KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH SƠN GIAI ĐOẠN 2010 – 2014

2.1.1. Đặc điểm về tự nhiên

Bình Sơn là huyện thuộc vùng đồng bằng ven biển, nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi; phía Bắc giáp huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam; Nam giáp huyện Sơn Tịnh và thành phố Quảng Ngãi; Tây giáp huyện Trà Bồng và Đông giáp với biển Đông. Huyện có 24 xã và 01 thị trấn với diện tích 467,542 Km2, chiếm 9,07% tổng diện tích của tỉnh Quảng Ngãi. Trên địa bàn huyện có KKT Dung Quất với diện tích 103Km2 .

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội huyện Bình Sơn từ 2010 -2014

2.1.2.1. Về kinh tế: Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, giảm dần tỷ trọng Ngành nông -lâm -thủy sản, tăng dần tỷ trọng Ngành CN – XD và Ngành TM – DV. Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 15,15%.

2.1.2.2. Về văn hóa – xã hội: Văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ; ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất mang lại hiệu quả; các vấn đề xã hội được quan tâm thực hiện, cơ bản đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của Nhân dân.

2.1.3. Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của huyện Bình Sơn trong thời gian qua

2.1.3.1. Thuận lợi

Kinh tế của huyện đang từng bước phát triển, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống của người dân được cải thiện; quốc phòng, an ninh được giữ vững.

2.1.3.2. Khó khăn

Kinh tế nông nghiệp, nông thôn chưa có sự chuyển dịch rõ nét; quy mô sản xuất CN – TTCN còn nhỏ và chưa ổn định; hoạt động TM – DV phát triển nhưng chưa đủ mạnh.

2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN BÌNH SƠN TRONG THỜI GIAN QUA (GIAI ĐOẠN 2010-2014)

2.2.1. Công tác lập dự toán ngân sách nhà nước huyện

Lập dự toán thường thực hiện vào cuối tháng 6 hoặc đầu tháng 7 và kết thúc vào trước ngày 31 tháng 12 năm trước; Phòng TC-KH huyện Bình Sơn là cơ quan chủ trì tham mưu cho UBND huyện trình HĐND huyện xem xét giao dự toán thu NS trên địa bàn, phân bổ chi NS địa phương.

2.2.1.1. Lập dự toán thu ngân sách nhà nước huyện

Dự toán thu của huyện được lập căn cứ theo những quy định: về phân cấp nguồn thu; tỷ lệ phần trăm (%) phân chia các khoản thu và số bổ sung cân đối từ NS cấp trên; thực trạng thu NS các năm trước; nhiệm vụ phát triển KT-XH… do cơ quan thẩm quyền thông báo.

Bảng 2.1. Tình hình lập dự toán thu NSNN trên địa bàn huyện từ năm 2010 – 2014

Năm

Chỉ tiêu

20102011201220132014
1. Dự toán thu NSNN do tỉnh giao (triệu đồng)80.720103.050140.400121.700118.430
2. Dự toán thu NSNN do huyện giao (triệu đồng)81.860105.250142.450122.700120.595
3. Chênh lệch (1) – (2)1.1402.2002.0501.0002.165
4. Tỷ lệ phấn đấu vượt so với tỉnh giao (%)1,412,131,460,821,83

Nguồn: Dự toán NSNN huyện từ năm 2010 – 2014 – Phòng TC- KH huyện Bình Sơn

Công tác lập dự toán thu NS của huyện Bình Sơn đảm bảo đúng đúng theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Tuy nhiên công tác dự báo nguồn thu hàng năm vẫn còn những hạn chế, đó là chưa có cơ sở và chưa tính toán hết khả năng thu NS thực tế trên địa bàn huyện, vấn đề này thể hiện rõ ở phần Chấp hành dự toán thu tại huyện Bình Sơn có những chỉ tiêu đạt rất cao, nhưng có những chỉ tiêu đạt thấp. Mặt khác công tác lập dự toán thu NSNN huyện thường thấp, để được bổ sung nguồn thu của cấp trên.

2.2.1.3. Lập dự toán chi ngân sách nhà nước huyện

Căn cứ số kiểm tra về dự toán của UBND tỉnh Quảng Ngãi, kết quả thực hiện dự toán chi NS của huyện Bình Sơn các năm trước và nhiệm vụ cụ thể của năm kế hoạch, những chỉ tiêu phản ánh quy mô nhiệm vụ, đặc điểm hoạt động, điều kiện KT-XH và tự nhiên của từng vùng như: dân số theo vùng lãnh thổ, biên chế… do cơ quan có thẩm quyền thông báo và hướng dẫn của cấp trên làm cơ sở lập dự toán chi ngân sách hàng năm. Phòng TC-KH huyện Bình Sơn chủ trì tham mưu cho UBND huyện phương án phân bổ chi NS trình HĐND huyện quyết định phân bổ dự toán chi cho các đơn vị dự toán NS các cấp.

Công tác lập dự toán chi NS trong những năm qua tại huyện Bình Sơn đã thực hiện đúng quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn có liên quan của Trung ương, và của tỉnh Quảng Ngãi. Tuy nhiên, trong khi xây dựng dự toán các đơn vị dự toán thuộc huyện thường sử dụng số liệu quyết toán năm trước và ước thực hiện năm sau để xây dựng dự toán, chưa tính toán đầy đủ các nhiệm vụ chi trong năm; ngoài ra còn đề xuất một số nhiệm vụ chi không mang lại hiệu quả thiết thực. Chính vì vậy dự toán thường khó thực hiện trong năm, thường phải điều chỉnh nội dung chi, điều chỉnh dự toán dẫn đến khó quản lý chi theo dự toán được phê duyệt từ đầu năm.

2.2.2. Công tác chấp hành dự toán ngân sách nhà nước huyện

Chấp hành dự toán NSNN là giai đoạn thực hiện các chỉ tiêu thu, chi tài chính đã được phê duyệt; thời gian bắt đầy từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 hàng năm.

2.2.2.1. Chấp hành dự toán thu tại huyện Bình Sơn

Bảng 2.2. Cơ cấu nguồn thu NS huyện Bình Sơn ( 2010-2014)

CHỈ TIÊUNăm 2010Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
Tổng cộng100%100%100%100%100%
1. Thu cân đối NS26,23%27,89%23,65%27,59%23,09%
2. Thu bổ sung tư NS cấp trên67,30%59,92%69,26%68,19%70,18%
2.1. Thu bổ sung cân đối24,56%43,52%37,03%32,22%44,99%
2.2. Thu bổ sung có mục tiêu42,74%16,40%32,22%35,97%25,19%
3. Thu chuyển nguồn6,18%12,01%7,09%3,98%6,05%
4. Thu để lại đơn vị quản lý qua NSNN0,29%0,18% 0,24%0,68%

– Căn cứ Nghị quyết HĐND huyện giao, Phòng TC-KH tham mưu cho UBND huyện ban hành Quyết định giao dự toán thu NS trên địa bàn; theo đó Chi Cục thuế, Phòng TC-KH, các cơ quan đơn vị liên quan huyện Bình Sơn và UBND các xã, thị trấn thuộc huyện tổ chức thu, nộp NS hàng năm.

Huyện Bình Sơn có nguồn thu cân đối còn thấp, chủ yếu là dựa vào nguồn bổ sung cân đối từ NS cấp trên. Thu bổ sung có mục tiêu từ NS cấp trên chủ yếu để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng, bổ sung để thực hiện cải cách tiền lương và một số nhiệm vụ xã hội khác…

2.2.2.2. Chấp hành dự toán chi tại huyện Bình Sơn

Sau khi HĐND huyện Bình Sơn quyết định dự toán NS hàng năm, UBND huyện thực hiện phân bổ và giao dự toán NS các đơn vị sử dụng thuộc huyện.

– Chi NS huyện gồm: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.

– Kiểm soát của KBNN đối với chi thường xuyên, theo Sơ đồ 2.3.

1 2

Khách hàng

Cán bộ kiểm soát chi

Kế toán trưởng

Thanh toán viên

Thủ quỹ

Trung tâm thanh toán

Giám đốc

6

5 3

7 5 4

Sơ đồ 2.3. Quy trình kiểm soát chi NS tại Kho bạc NN

Nguồn: KBNN huyện Bình Sơn

– Kiểm soát của KBNN đối với chi đầu tư phát triển theo sơ đồ 2.4.

Kế toán KBNN

Kế toán trưởng

Lãnh đạo KBNN

Chủ đầu tư

Nhà thầu

Sơ đồ 2.4. Quy trình kiểm soát chi ĐTXDCB tại KBNN huyện

– Cơ cấu chi NS huyện Bình Sơn qua các năm tỷ trọng khoản chi cụ thể xem Bảng 2.3.

Bảng 2.3. Cơ cấu chi NS huyện Bình Sơn giai đoạn 2010-2014

CHỈ TIÊUNăm 2010Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
TỔNG CỘNG100100100100100
1. Chi đầu tư phát triển (%)13,6916,810,1818,2816,68
2. Chi thường xuyên (%)86,3183,289,8281,7283,32

Chi cân đối NS huyện gồm có chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên. Chi đầu tư phát triển có xu hướng tăng, nhưng mức tăng không đáng kể, điều này cho thấy huyện tập trung nguồn vốn vào chi đầu tư phát triển còn rất thấp; Chi thường xuyên chủ yếu là chi cho con người, chi hoạt động chuyên môn và mua sắm một số thiết bị phục vụ nhu cầu cơ bản của một cán bộ, công chức, viên chức và người lao động.

2.2.3. Công tác quyết toán ngân sách nhà nước huyện

Quyết toán NSNN là giai đoạn tổng kết, đánh giá việc thực hiện NS và chính sách tài chính NS khi sử dụng NSNN để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao; thời gian quyết toán NSNN huyện không quá 6 tháng kể từ khi năm NS kết thúc.

2.2.3.1. Quyết toán thu ngân sách nhà nước huyện

Vào thời điểm cuối năm, cơ quan thu và UBND các xã, thị trấn tiến hành đối chiếu, lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan tài chính để tổng hợp báo cáo quyết toán thu ngân sách huyện hàng năm.

2.2.3.2. Quyết toán chi ngân sách nhà nước huyện

Kết thúc năm NS, các đơn vị sử dụng NS tiến hành rà soát, kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ chi, lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan tài chính huyện để thẩm tra, đồng thời tổng hợp quyết toán chi NS hàng năm.

Trong những năm qua, quyết toán của cơ quan tài chính lập gửi HĐND thường thuyết minh sơ sài, chưa phân tích cụ thể các chỉ tiêu, báo cáo quyết toán đơn thuần chỉ phản ảnh số liệu báo cáo quyết toán vì vậy rất khó khăn cho công tác thẩm định quyết toán của HĐND, thiếu đánh giá các nguyên nhân tăng hoặc giảm nguồn thu như vậy chưa thể đưa ra giải pháp tăng thu phù hợp.

2.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra ngân sách nhà nước tại huyện Bình Sơn

Công tác thanh tra, kiểm tra thu, chi NS huyện từ năm 2010 -2014:

– Công tác kiểm tra thuế, cụ thể theo Bảng 2.4.

Bảng 2.4. Tổng hợp công tác kiểm tra thuế từ năm 2010 -2014

TTNội dungĐVTNăm 2010Năm 2011Năm 2012Năm 2013Năm 2014
1Kiểm tra hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế.
–Số hồ sơ được kiểm traHồ sơ3.2463.2172.9732.491832
–Hồ sơ yêu cầu bổ sung thông tinHồ sơ673312351534178
2Kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế
–Số doanh nghiệp kiểm traDN4040434442
–Số thuế phát hiện truy thu sau kiểm tra và số thu phạt vi phạm trong lĩnh vực thuếTriệu đồng2.1301.8802.3701.9141.754
3Kiểm tra xử lý vi phạm về hóa đơn
–Số đơn vị được kiểm traDN1215222315
–Số tiền xử phạt vi phạmTriệu đồng1917262112,6

Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác thu NSNN của Chi cục Thuế huyện Bình Sơn từ năm 2010 đến năm 2014.

– Công tác thẩm tra quyết toán: Phòng TC- KH huyện tổ chức thẩm tra báo cáo quyết toán của các đơn vị sử dụng NS; kiểm tra tính đầy đủ, chính xác, khớp đúng giữa số liệu quyết toán đơn vị lập và số quyết toán đã qua KBNN huyện.

– Thanh tra nhà nước huyện Bình Sơn từ năm 2010 – 2014, đã triển khai 27 cuộc thanh tra về việc chấp hành pháp luật thu, chi tài chính và thanh quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản ở 47 đơn vị. Qua thanh tra đã phát hiện và xử lý những khoản thu, chi không đúng quy định, đã góp phần trong việc chấn chỉnh kỷ luật, kỷ cương trong công tác quản lý NSNN tại huyện Bình Sơn.

2.3. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN BÌNH SƠN

Quản lý NSNN huyện thực chất là quản lý ngân sách qua các khâu lập dự toán, chấp hành, quyết toán và thanh tra, kiểm tra ngân sách.

2.3.1. Những kết quả đạt được trong công tác quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Bình Sơn

Thông qua phân cấp quản lý NS đã thúc đẩy phân cấp các quy trình quản lý về thu NS tạo sự chủ động và làm rõ trách nhiệm từng cấp trong quản lý chi NS trong phạm vi đã phân cấp.

Số thu NS có sự tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước từ 0,41% đến 23% đáp ứng được một phần nhu cầu chi tại huyện để phát triển KT-XH theo Nghị quyết Đại hội đảng Đảng bộ lần thứ XXV và Nghị quyết HĐND huyện.

Dự toán NS địa phương đã được HĐND huyện quyết định, phân bổ dự toán bảo đảm theo quy định của Luật NSNN và các văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền; phù hợp với định hướng phân bổ NS của HĐND và UBND huyện.

Công tác lập, phân bổ và giao dự toán chi đảm bảo tính công khai, minh bạch, cơ bản đảm bảo thời gian theo quy định, từng bước nâng cao chất lượng, phù hợp với quan điểm thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đảm bảo hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Công tác xét duyệt, thẩm định NSNN được cơ quan tài chính tập trung nhân lực để tổ chức thực hiện.

2.3.2. Những hạn chế còn tồn tại trong công tác quản lý ngân sách nhà nước tại Huyện Bình Sơn

2.3.2.1. Công tác lập dự toán

Trong công tác lập dự toán NSNN tại huyện Bình Sơn ngoài kết quả đạt được cũng còn nhiều hạn chế cụ thể như sau:

– Có một số đơn vị dự toán thuộc huyện lập và nộp dự toán đến cơ quan tổng hợp còn chậm, dẫn đến tổng hợp dự toán NS huyện thiếu chính xác.

– Đơn vị dự toán cấp dưới và các địa phương thường xây dựng dự toán thu thấp (dấu nguồn thu), dự toán chi cao để được NS cấp trên bổ sung cân đối.

– Tiêu chí phân bổ NS chưa khoa học, thiếu tính tự chủ và linh hoạt.

– Công tác lập dự toán và điều hành NS trong năm chưa hướng mạnh vào việc tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng để xây dựng nguồn thu NS huyện đảm bảo cân đối chi.

– Thuyết minh dự toán và cơ sở tính toán còn sơ sài, chất lượng thấp.

– Công tác xây dựng dự toán chi chưa toàn diện, trong khi đó nguồn thu có hạn nên phải điều chỉnh, bổ sung dự toán.

2.3.2.2. Về chấp hành dự toán

* Đối với công tác chấp hành dự toán thu NS.

– Công tác cải cách hành chính trong đăng ký, kê khai nộp thuế, hoàn thuế, sử dụng hóa đơn chưa đồng bộ.

– Sử dụng chứng từ thu chưa đúng quy định, còn sử dụng chứng từ thu là phiếu thu, ký tên người nộp tiền trên danh sách.

* Đối với công tác chấp hành dự toán chi NS.

– Chi NS ở một số đơn vị sử dụng NS chưa thực hiện đúng chế độ tài chính và chưa có hiệu quả nhưng vẫn chưa được điều chỉnh; thực hiện nhiệm vụ chi chưa thực sự tiết kiệm, không thiết thực, có nội dung không đảm bảo chứng từ theo quy định; thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về biên chế chưa hiệu quả.

– Việc sử dụng nguồn dự phòng chi NS hàng năm còn để chi cho nhiệm vụ chi thường xuyên ngoài dự toán, không đúng theo quy định của Luật NSNN.

– Công tác bố trí kế hoạch vốn đầu tư còn dàng trãi, dẫn đến nợ trong đầu tư ngày càng tăng; quyết toán dự án hoàn thành chưa được chú trọng; một số đơn vị được giao quản lý dự án không đảm bảo năng lực chuyên môn; sai phạm trong đầu tư XDCB còn nhiều; một số công trình đầu tư kém hiệu quả.

2.3.2.3. Về công tác quyết toán ngân sách huyện

– Công tác quyết toán NS đúng quy định nhưng chất lượng chưa cao.

– Việc tổ chức xét duyệt và thẩm tra quyết toán của các đơn vị dự toán cấp I và cơ quan tài chính thường chậm, chất lượng chưa cao.

2.3.2.4. Công tác thanh tra, kiểm tra

Công tác thanh tra, kiểm tra chưa có sự phối hợp chặt chẽ, xử lý sai phạm chưa triệt để, có những sai phạm trong khâu quyết toán hoặc thanh tra NS phát hiện đối tượng vi chưa thực hiện qua nhiều năm nhưng huyện cũng chưa có biện pháp xử lý nghiêm.

2.3.3. Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những hạn chế trên

2.3.3.1. Về lập dự toán ngân sách huyện

Trình độ đội ngũ cán bộ phân tích và lập dự toán chưa chuyên sâu, chưa có bộ phận chuyên trách cho lĩnh vực lập dự toán. Lập dự toán chưa bám sát kế hoạch phát triển KT-XH của huyện, chủ yếu căn cứ vào số kiểm tra của cấp trên giao. Số liệu dự toán chủ yếu là ước thực hiện năm trước để lập dự toán cho năm kế hoạch, tình hình giá cả tăng, chế độ chi tiêu thay đổi,…

2.3.3.2. Chấp hành ngân sách

Công tác quản lý dự toán NS chưa thật sự nhất quán, trong thực hiện thường điều chỉnh dự toán và chi khác ngân sách huyện bố trí còn nhiều, từ đó tạo tính ỷ lại cho một số đơn vị dự toán trong công tác lập dự toán hàng năm. Công tác quản lý nguồn thu chưa triệt để, chưa có biện pháp xử lý mạnh đối với các đối tượng trốn thuế. Phân cấp quản lý ngân sách còn nhiều bấc cập, làm cho NS huyện ở thế bị động.

2.3.3.3. Về quyết toán ngân sách

Công chức kế toán có trình độ chưa đồng đều, sử dụng phần mềm kế toán còn hạn chế, cuối năm công tác khóa sổ lập báo cáo quyết toán thường chậm trễ, dẫn đến công tác lập báo cáo quyết toán NS huyện thường chậm.

2.3.3.4. Công tác thanh tra, kiểm tra quyết toán ngân sách nhà nước huyện

– Các cơ quan thanh kiểm tra còn mang tính hình thức, thiếu trách nhiệm trong tổ chức phối hợp, hình thức xử phạt chưa đúng mức.

– Các cơ quan thanh, kiểm tra phát hiện những bất cập trong chế độ chính sách, nhưng việc kiến nghị các cấp thẩm quyền cấp trên để hoàn chỉnh hành lang pháp lý còn hạn chế.

2.3.3.5. Chính sách tài chính của nhà nước hiện nay

Hệ thống pháp luật và cơ chế tài chính chưa tạo hành lang pháp lý vững chắc trong quản lý NSNN nói riêng và quản lý kinh tế nói chung.

CHƯƠNG 3

GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI HUYỆN BÌNH SƠN

3.1. MỤC TIÊU, ĐỊNH HƯỚNG KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HUYỆN BÌNH SƠN ĐẾN NĂM 2020

3.1.1. Mục tiêu tổng quát

Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đồng bộ với phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, phấn đấu đến năm 2020 Bình Sơn là huyện có kinh tế khá nhất tỉnh Quảng Ngãi.

3.1.2. Các chỉ tiêu chủ yếu

Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế chủ yếu: Ngành nông – lâm – ngư nghiệp tăng bình quân: 4,5-5 %/năm; Ngành CN-XD bình quân: 11-12%/năm và Ngành TM-DV tăng bình quân: 13-14%/năm. Cơ cấu ngành kinh tế năm 2020: Nông, lâm, ngư nghiệp: 15 – 15,5%; CN-XD: 34,5 – 35% và TM-DV: 50%.

3.1.3. Các nhiệm vụ chủ yếu

– Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án, phương án phát triển ngành nông – lâm – ngư nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

– Thực hiện tốt cơ chế, chính sách thu hút, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Củng cố, phát triển hợp tác xã phi nông nghiệp trên địa bàn huyện. Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH nông thôn và đô thị.

– Tập trung phát triển TM-DV, du lịch, khuyến khích đầu tư phát triển trung tâm thương mại, siêu thị, khách sạn, nhà hàng. Đẩy mạnh xã hội hóa phát triển du lịch và các dịch vụ du lịch.

– Quản lý tốt các nguồn thu, có biện pháp nuôi dưỡng, tạo nguồn thu mới và chống thất thu NS; xử lý nghiêm các trường hợp nợ đọng thuế. Tăng cường huy động vốn cho đầu tư phát triển và xây dựng các công trình quan trọng của huyện; khuyến khích phát triển đa dạng các thị trường tín dụng.

3.2. GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN BÌNH SƠN TRONG THỜI GIAN ĐẾN

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước

3.2.1.1. Nâng cao chất lượng công tác lập dự toán ngân sách

Lập dự toán NSNN phải dựa trên kết quả phân tích, đánh giá kế hoạch ngân sách của các năm trước, nhất là của năm báo cáo; các chế độ chính sách, tiêu chuẩn, định mức cụ thể về thu, chi và quy trình từ dưới cơ sở tổng hợp lên, nhằm đảm bảo thực tế từng địa phương, đơn vị.

* Nâng cao chất lượng lập dự toán thu ngân sách

– Cần phải đánh giá đúng thực trạng nhiệm vụ phát triển KT-XH, nguồn thu NS hàng năm; dự báo chính xác tốc độ trưởng kinh tế và nguồn thu năm sau.

– Chi Cục thuế cần phải trọng rà soát, đối chiếu, nắm chắt số DN, hộ kinh doanh trên địa bàn; xây dựng mô hình dự báo ngắn hạn, để dự báo số thu đối với các sắc thuế chính và dự báo tổng thu chung.

– Phòng TC-KH huyện phải chủ động phối hợp, hướng dẫn các đơn vị lập dự toán thu, chi NS thuộc phạm vị mình quản lý.

– Chủ tịch UBND các xã, thị trấn khi lập dự toán thu NS cấp xã phải bám sát vào chế độ, chính sách và tình hình phát triển KT-XH của địa phương.

Hoàn thiện công tác lập dự toán chi ngân sách huyện

– Đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương lập dự toán chi phải bám sát yêu cầu phát triển KT-XH. Lập và gửi dự toán đúng theo quy định.

– Phòng TC – KH tổng hợp và xây dựng dự toán chi NSNN huyện trên cơ sở dự toán của các đơn vị dự toán NS, đồng thời dự kiến nguồn thu được hưởng để cân đối nhiệm vụ chi.

3.2.1.2. Nâng cao chất lượng công tác chấp hành ngân sách

* Hoàn thiện hệ thống thu NS

– Chi cục Thuế huyện tập trung hơn nữa đối với công tác hướng dẫn, đưa luật thuế mới vào đời sống Nhân dân, thông qua việc tuyên truyền, hướng dẫn.

– Ứng dụng công nghệ thông tin trong quá trình thu và quản lý thuế.

– Tăng cường quản lý, khai thác các nguồn thu ở cấp xã, các khoản thu tại xã phải được nộp đầy đủ, kịp thời vào NSNN có xác nhận của KBNN.

– Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan thực hiện thu NSNN

– Ngoài ra, để góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm và tăng thu NS trong thời gian đến, cần phải tốt công tác quy hoạch sử dụng đất, đầu tư cơ sở hạ tầng các cụm công nghiệp thu hút các doanh nghiệp đầu tư; đồng thời khôi phục các ngành nghề truyền thống trên địa bàn huyện.

* Hoàn thiện công tác chấp hành chi NS huyện

– Đổi mới cơ cấu chi NSNN, bố trí hợp lý tỷ trọng các nguồn chi: chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển, chi dự phòng

– Thực hiện tốt chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí đối với các đơn vị hành chính, sự nghiệp.

– Tăng cường công tác kiểm tra việc quản lý, sử dụng NS, tài sản công.

– Chỉ bổ sung dự toán khi đã rà soát, điều chỉnh mà không đủ nguồn.

– KBNN phải quản lý chặt chẽ các khoản chi, đảm bảo đúng theo Điều 51 của Luật NSNN

3.2.1.3. Đổi mới công tác quyết toán ngân sách huyện

– HĐND các cấp trong huyện cần phải tăng cường vai trò, trách nhiệm, chủ động trong việc phê duyệt quyết toán NS hàng năm.

– Kiểm tra, đối chiếu số liệu hạch toán, kế toán trong năm đảm bảo khớp đúng giữa đơn vị sử dụng NS và KBNN nơi giao dịch.

– Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Tài chính, Thuế, KBNN huyện trong việc quản lý nguồn thu và nhiệm vụ chi NS.

– UBND các cấp trong huyện chỉ đạo cơ quan thu rà soát các khoản thu, nộp kịp thời vào NS nhà nước.

– Phòng TC-KH huyện có kế hoạch xét duyệt, thẩm định số liệu quyết toán theo từng quý để việc tham mưu điều hành NS hiệu quả.

– Đối với quyết toán dự án hoàn thành: Cần quy định rõ trách nhiệm cá nhân của Trưởng Ban Quản lý dự án, Thủ trưởng đơn vị hoặc Chủ đầu tư trong việc quyết toán dự án hoàn thành.

3.2.1.4. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra ngân sách huyện

– Xây dựng mối quan hệ phối hợp và phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của mỗi cơ quan tham gia vào qúa trình kiểm tra NS từ khâu lập, chấp hành và quyết toán NS.

– Tăng cường thanh tra thường xuyên hoặc đột xuất theo chuyên đề, nhất là đối với một số đơn vị, địa phương có dấu hiệu vi phạm.

3.2.2. Nhóm giải pháp bỗ trợ công tác quản lý ngân sách nhà nước

3.2.2.1. Đẩy mạnh việc phân cấp quản lý ngân sách huyện

– Tăng cường đẩy mạnh phân cấp quản lý Nhà nước, phân cấp quản lý NSNN các cấp nhằm phát huy tính năng động, chủ động điều hành NS.

– Phân định rõ ràng nguồn thu và nhiệm vụ chi cho NS cấp xã đảm bảo thực tiễn và có hiệu quả.

3.2.2.2. Nâng cao năng lực chuyên môn của cán bộ quản lý ngân sách

– Thực hiện tốt công tác tuyển dụng, bố trí cán bộ trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ liên quan công tác thực hiện nhiệm vụ thu, chi NSNN; ưu tiên những cán bộ trẻ được đào tạo chính quy và có kinh nghiệm.

– Thực hiện tốt công tác điều động luân chuyển, thuyên chuyển cán bộ, công chức, viên chức theo Quyết định 1000/QĐ-UBND ngày 22/6/2009 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

– Thường xuyên tổ chức thực hiện đào tạo, đào tạo lại đối với nguồn nhân lực trong ngành Tài chính, Thuế, KBNN theo Đề án phát triển nguồn nhân lực huyện Bình Sơn giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.

– Cần có chế độ thưởng, phạt rõ ràng riêng đối với các cá nhân, tổ chức làm tốt công tác quản lý NSNN.

3.2.2.3. Ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý ngân sách nhà nước huyện

– Đầu tư phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, đào tạo cán bộ sử dụng hệ thống tin học quản lý.

– Các cơ quan thu phối hợp theo yêu cầu Luật Quản lý thuế thông qua mạng thông tin nhằm ngăn chặn hành vi trốn thuế và chậm nộp thuế.

– KBNN cần kiểm soát chặt chẽ các giao dịch thanh toán, chi NS, hạn chế dùng tiền mặt nhằm kiểm soát được doanh thu chịu thuế của các DN.

3.3.KIẾN NGHỊ

3.3.1. Kiến nghị Trung ương

– Sửa đổi Luật NSNN phù hợp với thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.

– Đổi mới và hiện đại hóa công tác dự báo nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý NSNN.

– Cho phép cấp tỉnh được chủ động trong việc ban hành chính sách và kiểm toán trước khi quyết toán NS.

– Phân cấp mạnh cho chính quyền địa phương trong quản lý NS; đồng thời hoàn thiện thể chế, pháp luật về NSNN để đảm bảo quản lý thống nhất.

– Hoàn thiện cơ chế quản lý NSNN, bảo đảm mọi khoản thu nộp trực tiếp vào quỹ NSNN thông qua hệ thống KBNN hoặc Ngân hàng Nhà nước, triển khai thực hiện nộp trực tuyến qua hệ thống Ngân hàng.

– Hoàn thiện hệ thống chế độ, chính sách thu NSNN; định mức, tiêu chuẩn chi NSNN.

3.3.2. Kiến nghị tỉnh Quảng Ngãi

– Cần sớm điều chỉnh, sửa đổi bổ sung Quyết định số 32/2010/QĐ-UBND ngày 14 tháng 12 năm 2010 về việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi, tỷ lệ % phân chia các khoản thu giữa NS các cấp chính quyền địa phương năm 2011 và các năm tiếp theo của thời kỳ ổn định NS mới;

– Đẩy mạnh hơn nữa việc phân cấp thu, chi NS cho các huyện (thành phố) nhất là các khoản chi đầu tư xây dựng cơ bản trên địa bàn.

– Tỉnh cần chỉ đạo các ngành, các cấp đặc biệt là các ngành bảo vệ Pháp luật tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm để tăng cường tính kỷ luật, kỷ cương về tài chính, NS.

– Tăng cường hướng dẫn, định kỳ kiểm tra nghiệp vụ chuyên môn về chính sách, chế độ đối với cán bộ làm công tác quản lý tài chính cấp huyện.

KẾT LUẬN

NS huyện là một bộ phận cấu thành của NSNN. Quản lý NSNN gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ; điều đó chứng tỏ các khoản thu, chi NS có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước nói chung, của cấp huyện nói riêng. Vì vậy, việc khai thác và huy động các nguồn thu, sử dụng vốn, chi tiêu NSNN một cách tiết kiệm, có hiệu quả là một bộ phân không thể tách rời của vấn đề phát triển KT-XH của quốc gia nói chung và địa phương nói riêng. Nâng cao hiệu quả quản lý NS là tất yếu, đó là một quá trình lâu dài và sẽ gặp không ít khó, vướng mắc, đòi hỏi nỗ lực cố gắng của từng cá nhân, từng cơ quan, đơn vị và từng xã, thị trấn thuộc huyện.

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là góp phần lý giải trên phương diện những lý luận cơ bản về hiệu quả NSNN, thực trạng của quá trình quản lý NSNN của huyện Bình Sơn và kinh nghiệm của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, đề tài nêu ra cơ sở cơ bản đề ra những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng công hiệu quả công tác quản lý NSNN huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian đến, góp phần đẩy mạnh phát triển KT-XH của địa phương một cách có hiệu quả và bền vững.

NS Nhà nước được coi là huyết mạch của nền kinh tế, có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế nhanh và bền vững, thực hiện chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng và an ninh, là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả quản lý nền kinh tế.

Thông qua NS, Nhà nước huy động các nguồn lực của xã hội, phân phối và sử dụng cho nhu cầu phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Vì vậy, việc củng cố, hoàn thiện, lành mạnh hoá hệ thống tài chính quốc gia để phát triển kinh tế là yếu tố quan trọng quyết định thành công chiến lược phát triển KT-XH của Nhà nước Việt Nam nói chung và của huyện Bình Sơn nói riêng trong thời kỳ mới.

Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn được trình bày trong luận văn, tôi xin rút ra một số kết luận:

– Để tăng cường hiệu lực trong công tác quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với quản lý NSNN cần đổi mới một cách hiệu quả và sâu sắc công cụ quản lý, trong đó đội ngũ cán bộ quản lý là quan trọng nhất.

– Để xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, nhà nước phải sử dụng một hệ thống các công cụ quản lý vĩ mô như kế hoạch, chính sách, các công cụ tài chính, pháp luật… Việc sử dụng các công cụ này thể hiện thông qua hoạt động của các cơ quan, đơn vị trong bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước.

– Thực hiện quản lý tốt nguồn thu và nhiệm vụ chi NS, đảm bảo chất lượng và hiệu quả, thu đúng và đầy đủ theo quy định pháp luật tạo môi trường kinh doanh công bằng giữa các đối tượng kinh doanh, chi NS tiết kiệm, hiệu quả đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cấp chính quyền, từng đơn vị góp phần hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ thúc đẩy huyện Bình Sơn phát triển ngày càng nhanh và bền vững.

Tuy nhiên với khả năng hiểu biết của bản thân và thời gian có hạn nên bài viết sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong quý Thầy, Cô giáo, Quý bạn đọc nhận xét, góp ý để bài viết được hoàn thiện hơn, với mong muốn đóng góp một phần vào công tác quản lý thu, chi NS huyện Bình Sơn cho những năm đến.

Tác giả xin chân thành cảm ơn quý thầy cô của Đại học Duy Tân, lãnh đạo UBND huyện Bình Sơn và phòng TC-KH, Chi cục thuế, KBNN huyện Bình Sơn, đặc biệt là Tiến sĩ Hồ Văn Nhàn đã tận tình chỉ dẫn và tạo mọi điều kiện trong suốt thời gian nghiên cứu để hoàn thành luận văn này./.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN VAN HAI

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *