Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An

Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An

Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, cùng với quá trình phát triển kinh tế xã hội, hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và đã thực sự trở thành một công cụ quan trọng trong quản ký kinh tế.

Là một bộ phận cấu thành của hệ thống kế toán Việt Nam, kế toán hành chính sự nghiệp luôn được đổi mới và càng thích ứng với yêu cầu của cơ chế tài chính mới, phù hợp với tinh thần của Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/06/2021 của Chính phủ (thay thế cho Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015) về quy định quyển tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập; góp phần nâng cao chất lượng quản lý và sử dụng tài chính, tài sản phù hợp, hiệu quả ở các đơn vị này. Với yêu cầu vừa phát triển, vừa phải đảm bảo chất lượng hoạt động, đồng thời phải huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực còn hạn chế từ ngân sách nhà nước và nguồn thu sự nghiệp khác đòi hỏi đơn vị cần quan tâm đến công tác kế toán tài chính trong đơn vị mình.

Tổ chức công tác kế toán là một trong những nội dung quan trọng trong tổ chức quản lý. Tổ chức công tác kế toán tốt có ý nghĩa hết sức quan trọng và to lớn trong việc nâng cao hiệu quả quản lý, thực hiện đúng chế độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước mà còn cung cấp chính xác, đầy đủ kịp thời thông tin về kinh tế tài chính giúp nhà quản trị điều hành đơn vị ra quyết định đúng đắn nhằm sử dụng tốt tài sản, nguồn vốn đem lại hiệu quả kinh tế cao và tạo ra môi trường hoạt động hiệu quả. Tổ chức công tác kế toán không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý trong doanh nghiệp mà nó còn là việc xác lập các yếu tố, điều kiện cũng như các mối liên hệ tác động qua lại trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, đảm bảo cho tổ chức sử dụng công cụ đó một cách khoa học, hợp lý và nâng cao hiệu quả.

Bệnh viện đa khoa thành phố Hội An là đơn vị sự nghiệp công lập, trước đây bệnh viện hoạt động dựa vào chủ yếu nguồn NSNN, phần lớn quan tâm đến các hoạt động chuyên môn, tổ chức kế toán hầu như không được để ý. Tuy nhiên, hiện nay bệnh viện là một đơn vị kinh tế dịch vụ, tự chủ toàn bộ chi thường xuyên. Đơn vị kinh tế dịch vụ thông qua các hoạt động dịch vụ của mình để có thu nhập và tích cực hoạt động. Chính vì thế với mục tiêu vừa phát triển quy mô, vừa đảm bảo nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, vừa phải huy động và sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn lực đòi hỏi tổ chức kế toán của đơn vị phải thay đổi phù hợp với thực tiễn hoạt động của đơn vị.

Bệnh viện đa khoa thành phố Hội An đã có những thay đổi tích cực đạt được những kết quả đáng kể trong công tác quản lý tài chính nói chung và tổ chức kế toán nói riêng. Cơ chế tự chủ tài chính đã tạo điều kiện cho bệnh viện tạo nguồn thu lớn, việc mua sắm trang thiết bị máy móc hiện đại, phục vụ khám chữa bệnh được nâng cao, thu nhập hàng năm của cán bộ nhân viên được tăng… Tuy nhiên, do đang trong giai đoạn hoàn thiện nên cơ chế quản lý tài chính nói chung và tổ chức kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An nói riêng còn nhiều hạn chế, chưa có sự thống nhất chặt chẽ kết nối liền mạch rõ ràng, dẫn đến một số khía cạnh của tổ chức kế toán cần hoàn thiện.

Từ các lý do về mặt lý luận và những nội dung đã khảo sát thực tiễn tại Bệnh viện nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An” để thực hiện bản luận văn thạc sĩ của mình.

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài:

+ Hệ thống hóa lý luận về công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Phân tích và đánh giá thực trạng công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

+ Đề xuất các giải pháp cụ thể, khoa học nhằm hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

Phạm vi nghiên cứu:

+ Về mặt không gian: Tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

+ Về mặt thời gian: Số liệu nghiên cứu giai đoạn từ năm 2019-2021.

4. Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, bao gồm: phương pháp tổng hợp, phân tích, khảo sát tư liệu, điều tra, tổng hợp thông tin và các phương pháp kỹ thuật cụ thể như so sánh đối chiếu để giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Thông tin, số liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá bao gồm dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An ở thời điểm năm 2019-2021, cụ thể là:

Nguồn dữ liệu sơ cấp cho luận văn có được thông qua việc quan sát, ghi chép lại từ các nhân viên Phòng Tài chính kế toán, các khoa/ phòng có liên quan đến cơ chế quản lý tài chính và thu nhập dữ liệu thứ cấp chủ yếu là dựa vào các chế độ tài chính, công văn, các quy định tổ chức thông tin kế toán trong các đơn vị sự nghiệp y tế có thu, chứng từ, sổ sách và báo cáo tài chính của bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

Các dữ liệu thu thập được dùng để mô tả, phân tích và đánh giá nhằm thể hiện rõ thực trạng công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An, từ đó đưa ra các giải pháp giúp hoàn thiện công tác kế toán tại Bệnh viện.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được bố cục gồm 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

Chương 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An.

6. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1. Tổng quan về đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.1.1. Khái niệm đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Điều 2, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP: “Đơn vị sự nghiệp công lập do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”. [2]

Đơn vị sự nghiệp công lập được nhận diện thông qua các yếu tố sau:

– Được thành lập bởi cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định;

– Là bộ phận cấu thành trong tổ chức bộ máy của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội;

– Có tư cách pháp nhân;

– Cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước;

– Viên chức là lực lượng lao động chủ yếu, bảo đảm cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đơn vị.

Trong đó, đặc trưng của đơn vị sự nghiệp để phân biệt với cơ quan hành chính nhà nước. Đơn vị sự nghiệp ngoài công lập và các cơ quan, tổ chức khác. Là vị trí pháp lý, tính chất hoạt động và đội ngũ viên chức. Các đơn vị sự nghiệp được các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội. Thành lập theo trình tự, thủ tục chặt chẽ và là bộ phận cấu thành trong cơ cấu tổ chức cơ quan nhà nước. Nhưng không mang quyền lực nhà nước, không có chức năng quản lý nhà nước như: Xây dựng thể chế, thanh tra, xử lý vi phạm hành chính… Các đơn vị sự nghiệp công lập bình đẳng với các tổ chức, cá nhân trong quan hệ cung cấp dịch vụ công.

1.1.1.2. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập

– Đơn vị sự nghiệp công lập là một tổ chức hoạt động theo nguyên tắc phục vụ xã hội, không vì mục đích kiếm lời:

Các đơn vị sự nghiệp được thành lập để thực hiện những chức năng, nhiệm vụ và đáp ứng những nhu cầu nhất định của xã hội. Trong quá trình hoạt động, đơn vị sự nghiệp có thể được Nhà nước cấp kinh phí hoạt động. Các sản phẩm dịch vụ do đơn vị sự nghiệp cung ứng cần được sử dụng thì có thể do Nhà nước đứng ra cung cấp không thu tiền để xã hội tiêu dùng. Trong trường hợp có thu tiền của người tiêu dùng thì cũng chỉ thu để bù đắp một phần chi phí đầu vào để tạo ra chúng.

Tuy nhiên, xã hội ngày càng đòi hỏi tính hiệu quả trong quá trình hoạt động của các đơn vị sự nghiệp được hiểu ở hai khía cạnh: Chất lượng phục vụ và tiết kiệm nguồn lực cho xã hội.

  • Sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lợi ích chung và có tính lâu dài:

Hoạt động sự nghiệp chủ yếu là cung cấp dịch vụ công cộng, tạo ra những giá trị về tri thức, văn hóa, phát minh, sức khỏe, đạo đức, các giá trị về xã hội… là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng.

Nhìn chung, đại bộ phận các sản phẩm của đơn vị sự nghiệp là sản phẩm có tính phục vụ không chỉ bó hẹp trong một ngành hoặc một lĩnh vực nhất định. Những sản phẩm đó khi tiêu dùng thường có tác dụng lan tỏa.

1.1.1.3. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

Theo Luật số 58/2010/QH12, đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành 2 nhóm như sau:

  • Đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ.
  • Đơn vị sự nghiệp công lập chưa được giao quyền tự chủ.

Được giao quyền tự chủ là có quyền tự chủ hoàn toàn về việc thực hiện nghĩa vụ, tài chính cũng như tổ chức bộ máy nhân sự.

Quy chế về tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập được quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015.

Ngoài ra ta có thể phân chia Đơn vị sự nghiệp công lập dựa trên các tiêu chí dưới đây:

Bảng 1.1. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ vào nguồn thu và vị trí pháp lý

Tiêu chí

Loại

Căn cứ vào nguồn thu của đơn vị sự nghiệp công lậpTheo vị trí pháp lý của đơn vị sự nghiệp công lập
  1. Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo chi phí hoạt động.
  2. Đơn vị sự nghiệp tự đảm bảo một phần chi phí hoạt động.
  3. Đơn vị sự nghiệp do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động.

(Theo hướng dẫn tại Phần II Công văn 3772/BNV-KHTC, hướng dẫn thực hiện Nghị định 43/2006/NĐ-CP)

  1. Đơn vị thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ.
  2. Đơn vị thuộc Tổng cục, Cục.
  3. Đơn vị thuộc cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
  4. Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  5. Đơn vị thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện

Theo Luật Ngân sách Nhà nước, kế toán đơn vị sự nghiệp được tổ chức theo hệ thống dọc tương ứng với từng cấp ngân sách nhằm phù hợp với công tác chấp hành ngân sách đó. Căn cứ theo cấp ngân sách, các đơn vị SNCL được phân loại như sau:

  • Đơn vị dự toán cấp I: Là đơn vị trực tiếp nhận kinh phí ngân sách nhà nước cấp hàng năm từ cơ quan tài chính, phân bổ ngân sách cho các đơn vị dự toán cấp dưới.
  • Đơn vị dự toán cấp II: Là đơn vị trực thuộc đơn vị dự toán cấp I có nhiệm vụ quản lý kinh phí ở cấp trung gian, là cầu nối giữa đơn vị dự toán cấp I và cấp III trong một hệ thống.
  • Đơn vị dự toán cấp III: Là đơn vị trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để

thực hiện nhiệm vụ được giao. Đơn vị dự toán cấp III nhận kinh phí ngân sách từ đơn vị cấp II hoặc cấp I (trong trường hợp không có đơn vị cấp II).

  • Đơn vị cấp dưới của đơn vị dự toán cấp III được nhận kinh phí để thực hiện phần công việc cụ thể, khi chi tiêu phải thực hiện công tác kế toán và quyết toán với đơn vị dự toán cấp trên như quy định đối với đơn vị dự toán cấp III với cấp II và cấp II với cấp I.

Cách xác định mức độ đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên được xác định như sau:

Mức tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị sự nghiệp (%)=Tổng số nguồn thu sự nghiệpX100
Tổng số chi hoạt động thường xuyên

Như vậy, căn cứ vào nguồn thu sự nghiệp, có thể chia các đơn vị SNCL ra làm 2 nhóm chính là đơn vị SNCL thuần tuý và đơn vị SNCL có thu. Trong đó, đơn vị SNCL thuần túy là các đơn vị sự nghiệp do Nhà nước thành lập không có nguồn thu, được Ngân sách Nhà nước bảo đảm toàn bộ kinh phí hoạt động. Còn đơn vị SNCL có thu là những đơn vị sự nghiệp mà ngoài nguồn kinh phí được Ngân sách Nhà nước cấp còn được Nhà nước cho phép thu một số khoản thu phí, lệ phí hoặc một số khoản thu khác để phục vụ trong quá trình hoạt động của đơn vị.

1.1.2. Đặc điểm quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An
Hoàn thiện công tác kế toán tại bệnh viện đa khoa thành phố Hội An

1.1.2.1. Cơ chế quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Hiện nay các đơn vị SNCL thực hiện cơ chế quản lý tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 và Thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 9/8/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Theo cơ chế này, đối với các đơn vị SNCL thuần tuý thì thực hiện cơ chế thu, chi theo định mức, dự toán được cơ quan chủ quản duyệt. Nếu không chi hết thì nộp lại ngân sách, nếu không đủ chi thì giải trình xin cấp bù (nếu được giao thêm nhiệm vụ). Còn đơn vị SNCL có thu được tự chủ tài chính trên cơ sở tăng thu, tiết kiệm chi hợp lý, nếu tạo ra kết quả tài chính thì được sử dụng trích lập bổ sung các quỹ và trả thêm thu nhập cho người lao động theo quy định đối với phần kinh phí được tự chủ. Đồng thời các đơn vị SNCL có thu cũng được phép tự chủ trong việc sử dụng các quỹ theo quy định hiện hành và quy chế chi tiêu nội bộ.

Theo Nghị định 43, thì quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm được trao cho đơn vị sự nghiệp công lập trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động. Nhà nước thực hiện chủ trương xã hội hóa trong việc cung cấp dịch vụ cho xã hội, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động sự nghiệp, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN. Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với đơn vị sự nghiệp, nhưng Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển. Để tiếp tục thực hiện quyền tự chủ tự chịu trách nhiệm, Nhà nước đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập trong từng lĩnh vực. Trong lĩnh vực y tế có nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập nhằm tăng cường hơn nữa quyền tự chủ của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập.

Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm phải tuân thủ theo nguyên tắc:

– Hoàn thành nhiệm vụ được giao. Đối với hoạt động sản xuất hàng hóa, cung cấp dịch vụ (gọi tắt là hoạt động dịch vụ) phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, phù hợp với khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị.

– Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật.

– Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định pháp luật.

Quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập được thể hiện như sau:

– Thứ nhất, tự chủ thực hiện nhiệm vụ: Các đơn vị sự nghiệp công lập được chủ động quyết định các biện pháp thực hiện để đảm bảo chất lượng, tiến độ đối với nhiệm vụ được nhà nước giao; được tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn, khả năng của đơn vị và đúng với quy định của pháp luật; được liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân để hoạt động dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội theo quy định của pháp luật.

– Thứ hai, tự chủ về tổ chức nhân sự: Là sự chủ động về phương thức quản lý nguồn nội lực của đơn vị sự nghiệp công lập nhằm mục tiêu phát triển. Các đơn vị sự nghiệp công lập cần được quyết định và chủ động trong việc xây dựng cơ cấu tổ chức, thành lập, tổ chức lại, giải thể các đơn vị trực thuộc, tuyển dụng, quản lý, sử dụng, bổ nhiệm, đánh giá, đào tạo bồi dưỡng cán bộ chuyên môn, đãi ngộ nhân tài đồng thời xây dựng một chiến lược phát triển có tầm nhìn và định hướng rõ ràng.

– Thứ ba, tự chủ về tài chính: Các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ về nguồn kinh phí thường xuyên, vay vốn của các tổ chức tín dụng, được huy động vốn của cán bộ, viên chức trong đơn vị để đầu tư mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động sự nghiệp, tổ chức hoạt động dịch vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo quy định của pháp luật; thực hiện đầu tư, mua sắm, quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định của pháp luật về quản lý tài sản nhà nước tại đơn vị sự nghiệp công lập. Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động dịch vụ phải thực hiện trích khấu hao thu hồi vốn theo quy định áp dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Số tiền trích khấu hao tài sản cố định và số tiền thu từ thanh lý tài sản thuộc nguồn NSNN đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp. Số tiền trích khấu hao, tiền thu thanh lý tài sản thuộc nguồn vốn vay được dùng để trả nợ vay. Trường hợp đã trả đủ nợ vay, đơn vị được để lại bổ sung Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp đối với số còn lại (nếu có).

Theo quy định hiện hành, các đơn vị sự nghiệp công lập được tự chủ trên các mặt sau:

– Tự chủ về các khoản thu, mức thu

+ Các đơn vị sự nghiệp công lập được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giao thu phí, lệ phí phải thực hiện thu đúng, thu đủ, thu kịp thời theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định.

Trường hợp Nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu, đơn vị sự nghiệp công lập căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng hoạt động, từng đối tượng nhưng không vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định và phải thực hiện chế độ miễn, giảm cho các đối tượng chính sách – xã hội theo quy định của nhà nước.

+ Đối với sản phẩm hàng hóa, dịch vụ được cơ quan nhà nước đặt hàng thì mức thu theo đơn giá do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; trường hợp sản phẩm chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định giá thì mức thu được xác định dựa trên cơ sở dự toán chi phí được cơ quan tài chính cùng cấp thẩm định chấp thuận.

+ Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết đơn vị được quyết định các khoản thu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc đảm bảo đủ bù đắp chi phí và có tích lũy.

– Tự chủ về sử dụng nguồn tài chính:

Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đối với các khoản chi thường xuyên, Thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập được quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; đơn vị quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản được thực hiện theo quy định.

Trên cơ sở quyền tự chủ về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức nhân sự và tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập phải tự chịu trách nhiệm trước người sử dụng dịch vụ công, xã hội, Nhà nước và chính bản thân đơn vị trên các mặt sau:

– Trách nhiệm với xã hội:

Là trách nhiệm đảm bảo chất lượng như cam kết và trách nhiệm sử dụng hiệu quả, minh bạch các khoản thu sự nghiệp của người sử dụng dịch vụ công đóng góp và kinh phí ngân sách cấp. Trong từng lĩnh vực công, để có định hướng đúng đắn và cạnh tranh lành mạnh, mỗi đơn vị sự nghiệp công lập phải chủ động xây dựng chiến lược và mục tiêu phù hợp, xây dựng đội ngũ và cơ sở vật chất thích đáng để cạnh tranh thu hút sự đầu tư từ Nhà nước cũng như từ các nguồn khác nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ công, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực xã hội.

– Trách nhiệm với nhà nước:

Là trách nhiệm đảm bảo mọi hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập theo nhiệm vụ chính trị được giao và trong khuôn khổ của pháp luật, trách nhiệm sử dụng kinh phí cấp phát của Nhà nước một cách hiệu quả và minh bạch, trách nhiệm báo cáo và chịu sự giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước.

– Trách nhiệm đối với chính đơn vị:

Là trách nhiệm phát triển đơn vị sự nghiệp công lập một cách bền vững, giữ vững và nâng cao uy tín của đơn vị vì quyền lợi của tập thể đội ngũ cán bộ viên chức. Trong cơ chế tự chủ, uy tín và sự phát triển của đơn vị sự nghiệp công lập phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo, quản lý và chuyên môn của chính đội ngũ cán bộ từng đơn vị sự nghiệp công lập; Nhà nước chỉ tạo cơ chế thông thoáng và giúp các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình.

Từ những vấn đề nêu trên, dẫn đến việc quản lý, tổ chức công tác kế toán các đơn vị sự nghiệp công lập khác với các doanh nghiệp, tổ chức khác.

    • Sử dụng kết quả hoạt động tài chính trong năm

Hàng năm, sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị SNCL được sử dụng như sau:

+ Trích tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;

+ Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động;

+ Trích lập Quỹ khen thưởng, phúc lợi; Quỹ dự phòng ổn định thu nhập.

1.1.2.2. Nguồn tài chính đơn vị sự nghiệp công lập

Muốn duy trì được hoạt động bình thường và phát triển, các đơn vị sự nghiệp công lập cần được huy động các nguồn tài chính để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị chuyên môn, trả lương cho viên chức và đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ,… Như vậy, đầu tư tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập là nhằm đầu tư cho phát triển, góp phần xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đồng thời góp phần an sinh xã hội. Nguồn tài chính đầu tư cho các đơn vị sự nghiệp công lập được hình thành trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân của các chủ thể kinh tế – xã hội.

Nguồn tài chính của các đơn vị SNCL bao gồm: Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp; Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp; Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho; Nguồn khác.

Thứ nhất, nguồn do kinh phí ngân sách nhà nước cấp gồm:

– Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao; được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao, trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;

– Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ, chương trình đào tạo bổi dưỡng cán bộ, viên chức, các chương trình mục tiêu quốc gia, các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước giao;

– Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định;

– Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hằng năm;

– Vốn đối ứng để thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền giao;

– Kinh phí khác

Thứ hai, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp gồm:

– Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật.

– Thu từ hoạt động dịch vụ phù hợp với lĩnh vực chuyên môn và khả năng của đơn vị.

– Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có)

– Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng.

Thứ ba, nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho không phải nộp ngân sách theo chế độ: Đây là những khoản thu không thường xuyên, không dự tính trước được nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Thứ tư, nguồn khác gồm:

– Nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động của cán bộ, viên chức trong đơn vị.

– Nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật .

1.1.2.3. Nội dung chi đơn vị sự nghiệp công lập

Về nội dung chi, thực hiện theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ, được hướng dẫn như sau:

    • Chi thường xuyên:

+ Chi hoạt động thường xuyên theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành; dịch vụ công cộng; văn phòng phẩm; các khoản chi nghiệp vụ; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định.

+ Chi hoạt động thường xuyên phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí, gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành cho số lao động trực tiếp phục vụ công tác thu phí và lệ phí; các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn; sửa chữa thường xuyên tài sản cố định và các khoản chi khác theo chế độ quy định phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí.

+ Chi cho các hoạt động dịch vụ gồm: Tiền lương; tiền công; các khoản phụ cấp lương; các khoản trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định hiện hành; nguyên, nhiên, vật liệu, lao vụ mua ngoài; khấu hao tài sản cố định; sửa chữa tài sản cố định; chi trả lãi tiền vay, lãi tiền huy động theo hình thức vay của cán bộ, viên chức; chi các khoản thuế phải nộp theo quy định của pháp luật và các khoản chi khác (nếu có).

    • Chi không thườngxuyên:

Chi không thường xuyên là các khoản chi cho mục đích đầu tư phát triển và thực hiện những nhiệm vụ đột xuất được giao như chi thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ; chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức; chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia.

Trong cơ chế tự chủ tài chính, căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, các đơn vị sự nghiệp được tự chủ, tự quyết định một số mức chi quản lý, chi hoạt động nghiệp vụ cao hoặc thấp hơn mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định; quyết định đầu tư xây dựng, mua sắm mới và sửa chữa lớn tài sản thực hiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, yêu cầu căn bản đối với quản lý chi trong các đơn vị sự nghiệp là phải có hiệu quả và tiết kiệm. Muốn vậy các đơn vị phải sử dụng đồng thời nhiều biện pháp khác nhau trong đó có tổ chức hệ thống thông tin bằng số liệu để phản ánh, ghi nhận kịp thời các khoản chi theo từng nội dung chi, từng nhóm chi mục chi và thường xuyên tổ chức phân tích, đánh giá, tổng kết rút kinh nghiệm trên cơ sở đó đề ra biện pháp tăng cường quản lý chi. Theo đó, các đơn vị SNCL có thể căn cứ vào đặc điểm chi để tiến hành theo dõi chi tiết theo từng nhóm chi cụ thể như sau:

    • Nhóm I: Chi thanh toán cá nhân (chi cho con người)

Bao gồm các khoản chi về lương, phụ cấp lương và các khoản phải nộp theo lương: BHYT, BHXH, BHTN, KPCĐ chi chênh lệch thu nhập tăng thêm, trợ cấp, phụ cấp khác, chi công tác xã hội.

    • Nhóm II: Chi mua hàng hóa dịch vụ phục vụ công tác quản lý hành chính và chuyên môn: Bao gồm các khoản chi: mua hàng hoá, vật tư dùng cho công tác điều trị và khám bệnh; trang thiết bị kỹ thuật; sách, tài liệu chuyên môn, tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, thông tin liên lạc, hội nghị, khánh tiết, xăng xe….
    • Nhóm III: Chi mua sắm, sửa chữa tài sản cố định

Việc chi tiêu mua sắm phải tuân thủ theo các quy định của nhà nước, phải có chiến lược quản lý và sử dụng công nghệ phù hợp để đạt hiệu quả.

Nhóm IV: Các khoản chi khác

Bao gồm các khoản chi phí, lệ phí, nộp thuế, chi bảo hiểm tài sản, phương tiện, chi hỗ trợ, chi tiếp khách, chi lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ phúc lợi, Quỹ khen thưởng, Quỹ phát triển đơn vị sự nghiệp.

1.2. Tổ chức CÔNG TÁC kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.1. Khái niệm, vai trò của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.1.1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán

Thep quy định của Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015, đơn vị kế toán là đơn vị có thực hiện công việc kế toán như lập và xử lý chứng từ kế toán, mở tài khoản, ghi sổ kế toán, lập báo cáo tài chính, phải bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán và thực hiện các quy định khác về kế toán theo quy định của pháp luật.

Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản , lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán. Nói cách khác, tổ chức công tác kế toán là sự thiết lập mỗi quan hệ qua lại giữa các phương pháp kế toán, đối tượng kế toán với con người am hiểu nội dung công tác kế toán (người làm kế toán) biểu hiện qua một hình thức kế toán thích hợp của một đơn vị cụ thể.

Nội dung công tác kế toán bao gồm các nội dung sau:

  • Tổ chức vận dụng và thực hiện chế độ chứng từ kế toán;
  • Tổ chức vận dụng chế độ tài khoản kế toán;
  • Tổ chức áp dụng hệ thống sổ kế toán;
  • Tổ chức lựa chọn và vận dụng hình thức sổ kế toán phù hợp;
  • Tổ chức lập và phân tích báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị;
  • Tổ chức kiểm kê tài sản;
  • Tổ chức kiểm tra kế toán;
  • Tổ chức bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán;

Tổ chức công việc kế toán trong trường hợp đơn vị kế toán chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.

1.2.1.2. Vai trò tổ chức công tác kế toán

Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị HCSN là sự thiết lập mối quan hệ qua lại giữa các yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán để phát huy tối đa vai trò của kế toán trong công tác quản lý nói chung và quản lý tài chính nói riêng. Chính vì vậy, tổ chức kế toán khoa học sẽ góp phần quan trọng vào việc thu thập, xử lý thông tin, giúp lãnh đạo đơn vị đưa ra những quyết định đúng đắn và kịp thời, có ảnh hưởng đến kết quả sử dụng các nguồn lực nhằm hoàn thành tốt các chức năng, nhiệm vụ được giao của các đơn vị sự nghiệp.

Kế toán là khâu quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính của một đơn vị. Việc tính đúng, tính đủ các yếu tố đầu vào và tổ chức tốt công tác thu thập, xử lý, phân tích, cung cấp thông tin để phục vụ yêu cầu quản lý có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

Như vậy, bên cạnh việc phân tích nhu cầu của xã hội đối với các dịchvụ công, thì kế toán công là công cụ quan trọng để các đơn vị sự nghiệp công lập xác định thế mạnh của mình và xây dựng chiến lược phát triển lâu dài.

Kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập, vừa có tính chất quản lý vừa có tính chuyên môn học thuật của đơn vị, nhằm hỗ trợ cho nhu cầu thông tin; lập kế hoạch và ra quyết định của các cấp quản lý đơn vị. Tuy nhiên, do tác động của cơ chế bao cấp trong một thời gian dài nên tổ chức kế toán ở các đơn vị sự nghiệp công lập hiện chỉ dừng lại ở việc phản ánh các khoản mục thu – chi theo hệ thống tài khoản và mục lục NSNN. Việc tổ chức, vận hành tổ chức kế toán quản trị chưa được chú trọng, chưa mang tính hệ thống và khoa học ở các đơn vị sự nghiệp công lập, gây khó khăn cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, điều hành kiểm soát các hoạt động trong đơn vị. Do vậy, hoàn thiện tổ chức công tác kế toán công ở các đơn vị sự nghiệp công lập là việc làm cần thiết và quan trọng.

1.2.1.3. Nguyên tắc tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập

– Nguyên tác phù hợp

Tổ chức công tác kế toán phải đảm bảo phù hợp trên các nội dụng sau:

+ Phù hợp với chế độ, thể lệ quản lý tài chính, luật ngân sách và chế độ kế toán hiện hành cũng như phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế về nghề nghiệp kế toán là đòi hỏi có tính bắt buộc đối với tất cả các đơn vị hành chính sự nghiệp. Đồng thời tổ chức hạch toán kế toán trong các đơn vị hành chính sự nghiệp cần phải có sự phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, phải lấy các nguyên tắc và chuẩn mực kế toán quốc tế làm cơ sở cho tổ chức hạch toán kế toán nhằm đảm bảo tính thông lệ, tính tương đồng với hệ thống kế toán của các quốc gia khác trên thế giới.

+ Phù hợp với lĩnh vực hoạt động, đặc điểm hoạt động và đặc điểm quản lý của các đơn vị sự nghiệp đặc biệt là quản lý tài chính và phân cấp quản lý tài chính, phù hợp với yêu cầu quản lý và cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp công lập.

+ Phù hợp với hệ thống phương tiện vật chất và các trang thiết bị hiện có của mỗi đơn vị.

+ Phù hợp với thực trạng đội ngũ lao động kế toán về trình độ nghiệp vụ chuyên môn của đội ngũ quản lý, cán bộ kế toán tại chính các đơn vị này.

  • Nguyên tắc thống nhất:

Nguyên tắc này thể hiện trên các nội dung sau:

+ Thống nhất giữa các đơn vị sự nghiệp trong một hệ thống quản lý thống nhất: thống nhất giữa cấp trên và cấp dưới, thống nhất giữa các đơn vị trong một ngành, thống nhất giữa các ngành với nhau.

+ Thống nhất trong thiết kế, xây dựng các chỉ tiêu trên chứng từ, sổ kế toán và báo cáo kế toán với các chỉ tiêu quản lý.

+ Thống nhất trong nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép trên các tài khoản kế toán.

+ Thống nhất trong việc áp dụng chính sách tài chính, kế toán. Thống nhất giữa chế độ chung và việc vận dụng trong thực tế tại đơn vị về chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo kế toán.

+ Thống nhất giữa bộ máy kế toán và bộ máy quản lý của đơn vị hành chính sự nghiệp trong mối quan hệ với bộ máy quản lý của ngành.

  • Nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả.

Tổ chức hạch toán kế toán phải đảm bảo tính thực hiện, hiệu quả của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong quản lý, tuy nhiên tổ chức hạch toán kế toán phải được thực hiện trên nguyên tắc tiết kiệm trong quan hệ hài hòa với việc thực hiện các yêu cầu của quản lý, kiểm soát các đối tượng hạch toán kế toán trong đơn vị hạch toán, với việc thực hiện các giả thiết, khái niệm, nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung.

Nguyên tắc này được thể hiện trên hai phương diện:

Trên phương diện quản lý: Phải đảm bảo hiệu quả trong quản lý các đối tượng hạch toán kế toán trên cơ sở các thông tin do kế toán cung cấp.

Trên phương diện kế toán: Phải đảm bảo tính đơn giản, dễ làm, dễ đối chiếu, kiểm tra, chất lượng thông tin do kế toán cung cấp phải có được tính tin cậy, khách quan, đầy đủ kịp thời và có thể so sánh được và bảo đảm tính khoa học, tiết kiệm và tiện lợi cho thực hiện khối lượng công tác kế toán trên hệ thống sổ kế toán cũng như công tác kiểm tra kế toán.

Thực hiện nguyên tắc này, tổ chức bộ máy kế toán, tổ chức hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ kế toán và báo cáo tài chính phải vừa gọn nhẹ, tiết kiệm chi phí vừa bảo đảm thu nhập thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác.

  • Nguyên tắc bất kiêm nhiệm: nhằm mục đích tăng cường chức năng kiểm tra, kiểm soát của hệ thống kế toán, nguyên tắc bất kiêm nhiệm cần được quán triệt trong tổ chức hạch toán kế toán. Trong tổ chức kế toán cần thực hiện phân công, phân nhiệm rõ ràng, một số công việc cần được phân công cho nhiều người, tránh phân công cho một người kiêm nhiệm như kế toán tiền mặt không được vừa giữ tiền vừa làm công tác thanh toán.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN VINH QUANG\New folder

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *