Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa ban huyện Quảng Ninh
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngân sách nhà nước (NSNN) là phạm trù kinh tế, gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường. Nhà nước sử dụng quyền lực của mình tham gia vào quá trình phân phối sản phẩm xã hội dưới hình thức tiền tệ như thuế bằng tiền, vay nợ… để phục vụ cho hoạt động của mình hình thành nên NSNN. Ngân sách nhà nước là một bộ phận cơ bản trong hệ thống tài chính quốc gia, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Đồng thời NSNN là công cụ quan trọng của nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội đảm bảo an ninh quốc gia. Ngân sách nhà nước giữ vai trò quan trọng, chủ yếu trong huy động và phân phối các nguồn lực của nền kinh tế nhằm đảm bảo hoạt động của nhà nước, đồng thời phân phối nguồn lực hợp lý để thúc đẩy kinh tế phát triển nhanh, ổn định và bền vững; bên cạnh đó còn giải quyết những vấn đề xã hội, đảm bảo thực hiện công bằng, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi hoạt động xã hội. Đặc biệt là từ khi Luật ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ hai thông qua ngày 25/06/2015 với mục tiêu và ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc quản lý và điều hành ngân sách nhà nước, phát triển kinh tế- xã hội; tăng cường tiềm lực tài chính đất nước; quản lý thống nhất nền tài chính quốc gia; xây dựng ngân sách nhà nước lành mạnh, thúc đẩy vốn và tài sản nhà nước tiết kiệm, hiệu quả; tăng tích luỹ để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; đảm bảo các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Có thể nói, là một đô thị mới nổi của tỉnh Quảng Bình, huyện Quảng Ninh, là một trong bảy huyện, thành phố của tỉnh Quảng Bình, huyện có 14 xã và 1 thị trấn với diện tích hơn 1.191 km2, dân số năm 2012 là 87.264 người. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2018- 2020 là 8,8%. Trong những năm qua, công tác quản lý, điều hành thu, chi ngân sách Nhà nước đã có những đóng góp tích cực vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện Quảng Ninh. Hoạt động quản lý thu, chi ngân sách đã góp phần phát huy được thế mạnh của địa phương, tạo đà cho sản xuất phát triển, giải quyết công ăn việc làm, đảm bảo công bằng an sinh xã hội và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý thu, chi ngân sách vẫn còn một số hạn chế, tồn tại như công tác quản lý thu, chi ngân sách tại địa bàn huyện trong thời gian qua chưa được quan tâm chặt chẽ; việc phân bổ vốn đầu tư còn dàn trải, không gắn với kế hoạch vốn; công tác quản lý tạm ứng vốn thanh toán còn lỏng lẻo, tạm ứng vốn cho nhà thầu tỷ lệ lớn, kéo dài nhiều năm nhưng chưa thu hồi dứt điểm cho NSNN, làm thất thoát vốn đầu tư; lãng phí, kém hiệu quả trong quản lý chi thường xuyên; chưa có công cụ, thước đo hiệu quả việc sử dụng ngân sách đối với các đơn vị thực hiện khoán chi hành chính; bộ máy ngân sách xã phường còn yếu; việc phân định trách nhiệm quyền hạn trong quản lý kiểm soát thu, chi NSNN chưa rõ ràng, còn phân tán, chưa tập trung đầu mối. Vì vậy, hơn bao giờ hết hoàn thiện trong đổi mới công tác quản lý ngân sách huyện là một nhiệm vụ luôn được đặt lên hàng đầu, do vậy trong bối cảnh đó việc nghiên cứu “Hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước trên địa ban huyện Quảng Ninh” là thực sự cần thiết về cả mặt lý luận cũng như thực tiễn.
Trên cơ sở làm rõ những lý luận cơ bản về NSNN, đánh giá đúng thực trạng tình hình quản lý ngân sách tại huyện Quảng Ninh từ đó đề xuất giải pháp chủ yếu hoàn thiện công tác quản lý ngân sách nhà nước huyện Quảng Ninh, góp phần phát triển kinh tế xã hội của quận. Cụ thể:
Thứ nhất, Đánh giá thực trạng tình hình quản lý ngân sách tại huyện Quảng Ninh.
Thứ hai, Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách tại huyện Quảng Ninh.
Để thực hiện được các mục tiêu trên, cần trả lời hai câu hỏi sau:
1. Đánh giá thực trạng thu-chi ngân sách tại huyện Quảng Ninh trong các khâu lập dự toán, thực hiện thu chi ngân sách có gặp phải vấn đề, tồn tại gì không?
2. Những giải pháp nào nhằm hoàn thiện công tác lập dự toán; quản lý thu-chi ngân sách tại huyện Quảng Ninh?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng công tác quản lý NSNN cấp huyện như công tác quản lý thu, quản lý chi ngân sách nhà nước từ khâu lập dự toán, thu và chi ngân sách.
– Phạm vi nghiên cứu về không gian là tại phòng tài chính, Kho bạc nhà nước và các phòng ban liên quan trên địa bàn huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
– Phạm vi nghiên cứu về thời gian thực hiện công tác thu chi ngân sách từ năm 2018- 2020.
Cơ sở lý luận: Lý thuyết tài chính công, kinh tế phát triển, lý thuyết về quản lý nhà nước, các văn bản pháp luật về tài chính ngân sách. Tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, đối chiếu; kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu khoa học có nội dung gần gũi với đề tài.
Cơ sở thực tế: Luận văn sử dụng các thông tin số liệu, tài liệu thực tế về thu, chi ngân sách nhà nước huyện Quảng Ninh, giai đoạn 2018 – 2020; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Quảng Ninh lần thứ XIX về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh. Vận dụng các phương pháp chung, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, tổng hợp so sánh, khái quát hóa vấn đề, bảng biểu minh họa.
Ngoài ra, Luận văn còn thu thập ý kiến của các chuyên gia và các nhà quản lý có liên quan đến công tác quản lý thu, chi ngân sách như: Cán bộ lãnh đạo Sở Tài chính, cán bộ lãnh đạo ngành KBNN, cán bộ lãnh đạo cấp huyện và cấp xã, các cán bộ làm công tác Tài chính lâu năm… để có căn cứ khoa học cho việc rút ra các kết luận một cách chính xác và đề ra các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu, chi ngân sách nhà nước trên địa bàn
Nội dung của luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, được thể hiện chủ yếu ở 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý ngân sách nhà nước cấp quận, huyện.
Chương 2: Thực trạng quản lý ngân sách huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2018- 2020
Chương 3: Một số giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý ngân sách huyện Quảng Ninh
7. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP QUẬN HUYỆN
1.1.1. Khái niệm NSNN và quản lý NSNN cấp quận huyện
1.1.1.1. Khái niệm
a. Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế khách quan, ra đời cùng với sự xuất hiện của Nhà nước và sự phát triển của các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ. Nhà nước ra đời đã ban hành các luật thuế để lấy tiền chi tiêu, song cho tới chế độ phong kiến, việc thu – chi của nhà nước rất tuỳ tiện, chủ yếu là theo quyết định của nhà Vua. Do đó mọi khoản thu – chi không có kế hoạch trước, không có niên độ, cũng không có sự tính toán phân loại và không có luật lệ điều chỉnh, chỉ đến khi chủ nghĩa tư bản ra đời, giai cấp tư sản đấu tranh đòi nhà nước phải hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực kinh tế, đòi thiết lập trình tự lập kế hoạch chi tiêu và cơ chế kiểm tra, giám sát đối với việc chi tiêu của nhà nước thì các nhân tố của NSNN mới được quy tụ đầy đủ. Từ đó NSNN mới được hình thành với các đặc trưng của nó là tính kế hoạch dự toán tính cân đối thu – chi và tính niên độ.
Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế – xã hội ở mọi quốc gia. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm này.
Theo từ điển thuật ngữ Tài chính – Tín dụng, thuật ngữ Ngân sách bắt nguồn từ tiếng nước ngoài có nghĩa là cái túi, tuy nhiên trong đời sống kinh tế, thuật ngữ này đã thoát ly ý nghĩa ban đầu và nội dung hoàn toàn khác, theo đó Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền chi ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, gia đình hoặc cá nhân, trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm. “NSNN là dự toán các khoản thu – chi bằng tiền của Nhà nước trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm” .
Ở Việt Nam năm ngân sách là năm dương lịch tính từ 01/01 đến 31/12
Luật NSNN của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” (Điều 4 luật NSNN số 83/2015/QH13 ngày 25/06/2015) [5].
b. Ngân sách nhà nước cấp quận, huyện
Quản lý ngân sách nhà nước là một trong những hoạt động cơ bản, có ý nghĩa vô cùng quan trọng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực tổ chức quản lý nguồn thu, kiểm soát chi ngân sách nhà nước và điều hòa vốn trong hệ thống kho bạc nhà nước nhằm đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả và sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách của nhà nước. Nói một cách khái quát thì quản lý ngân sách nhà nước là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền gồm 3 hoạt động chính là quản lý nguồn thu, kiểm soát chi và điều hòa vốn trong kho bạc nhà nước. Mỗi một hoạt động này đều có ý nghĩa quan trọng của nó và là vấn đề lớn ảnh hưởng đến hiệu quả của việc sử dụng ngân sách. Một trong số những vấn đề ấy chính là việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước.
Quản lý ngân sách huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã được giao dự toán bởi UBND tỉnh và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của cấp trên giao và huyện đề ra.
Hoạt động quản lý ngân sách nhà nước được tiến hành nhằm bảo đảm sử dụng tối ưu quỹ ngân sách nhà nước. Để đạt được mục tiêu này, hoạt động quản lý ngân sách nhà nước phải đạt được ba yêu cầu chủ yếu.
Thứ nhất, phải đảm bảo tập trung đầy đủ, đúng hạn các nguồn thu hình thành quỹ ngân sách Nhà nước. Yêu cầu này chỉ được đáp ứng khi công tác kiểm tra, đối chiếu số lượng thu ngân sách nhà nước được tiến hành nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót và vi phạm chế độ thu ngân sách Nhà nước, tránh bỏ sót nguồn thu.
Thứ hai, phải loại trừ tình trạng thất thoát tiền, tài sản của Nhà nước trong quá trình sử dụng ngân sách Nhà nước. Điều đó có nghĩa là phải chi đúng tiêu chuẩn, chế độ và mục lục ngân sách đã được phê duyệt để đáp ứng yêu cầu này cần phải làm tốt công tác kiểm soát chi ngân sách Nhà nước.
Thứ ba, phải thực hiện tốt công tác điều hòa vốn trong hệ thống Kho bạc Nhà nước, sao cho vốn không tồn đọng ở bất cứ đơn vị kho bạc Nhà nước nào. Đồng thời bảo đảm khả năng thanh toán của từng đơn vị trong hệ thống cũng như toàn hệ thống kho bạc Nhà nước.
Nhằm đạt được mục tiêu bao trùm trong quản lý ngân sách nhà nước cũng như để đảm bảo quỹ ngân sách Nhà nước đạt được ba yêu cầu cơ bản trên, cần phải đề ra những chuẩn mực pháp lý cụ thể cho hoạt động quản lý quỹ tiền tệ. Đặt các hoạt động quản lý ngân sách nằm trong khuôn khổ những chuẩn mực pháp lý đó. Nói cách khác, phải sử dụng pháp luật để điều chỉnh hoạt động quản lý ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo quỹ ngân sách Nhà nước được sử dụng có hiệu quả, đáp ứng tốt nhất yêu cầu phát triển của đất nước.
1.1.1.2. Đặc điểm của NSNN và NSNN cấp quận huyện
a. Đặc điểm của NSNN
+ Về hình thức: NSNN là một bảng liệt kê các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước được dự kiến và được phép thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định.
+ Về cơ cấu: NSNN bao gồm toàn bộ các khoản thu và chi của Nhà nước.
+ Về mặt pháp lý: NSNN được cơ quan có thẩm quyền quyết định. Ở Việt Nam, Quốc hội là cơ quan có thẩm quyền quyết định NSNN về tổng mức và cơ cấu phân bổ. Theo đó mọi hoạt động thu, chi của NSNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp luật do Nhà nước ban hành.
+ Về thời gian: NSNN được thực hiện trong một năm (năm này gọi là năm ngân sách hay năm tài khóa)
NSNN vừa là nguồn lực để nuôi dưỡng bộ máy nhà nước, vừa là công cụ hữu hiệu để Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội nên có những đặc điểm chính sau:
– Các hoạt động tạo lập và sử dụng quỹ NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế, chính trị của Nhà nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước do Hiến pháp quy định.
– Các hoạt động thu, chi của NSNN đều được tiến hành trên cơ sở pháp lý như các luật thuế, luật quản lý thuế, chế độ thu, chế độ chi tiêu, định mức chi tiêu… do Nhà nước ban hành.
– Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN là từ giá trị sản phẩm thặng dư của xã hội và được hình thành chủ yếu qua quá trình phân phối lại mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến.
b. Nguyên tắc cơ bản của quản lý ngân sách cấp huyện
Quản lý NSNN được thực hiện theo một số nguyên tắc cơ bản sau:
– Nguyên tắc thống nhất: Theo nguyên tắc này, mọi khoản thu, chi của một cấp hành chính đưa vào một kế hoạch ngân sách thống nhất. Thống nhất quản lý chính là việc tuân thủ một khuôn khổ chung từ việc hình thành, sử dụng, thanh tra, kiểm tra, thanh quyết toán, xử lý các vấn đề vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện. Thực hiện nguyên tắc quản lý này sẽ đảm bảo tính bình đẳng, công bằng, tính có hiệu quả và hạn chế những tiêu cực cũng như những rủi ro, nhất là những rủi ro mang tính chủ quan khi quyết định các khoản chi tiêu.
– Nguyên tắc dân chủ: Một chính sách tốt là một ngân sách phản ảnh được lợi ích của đa số các tầng lớp, các bộ phận, các cộng đồng người trong chính sách, hoạt động thu – chi ngân sách. Sự tham gia của xã hội, công chúng được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách, từ lập dự toán, chấp hành đến quyết toán ngân sách, thể hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý ngân sách. Sự tham gia của người dân sẽ làm cho ngân sách minh bạch hơn, các thông tin ngân sách trung thực, chính xác hơn.
Tuy nhiên, thực hiện dân chủ, tăng cường sự tham gia hoạt động của người dân trong quản lý ngân sách đôi khi làm cho quản lý ngân sách trở lên khó khăn. Các nhà lãnh đạo sẽ phải đối mặt với các ý kiến, các luồng quan điểm khác nhau của người dân, đôi khi là những hành động mang tính lợi dụng, chống đối.
– Nguyên tắc cân đối ngân sách: Kế hoạch ngân sách được lập và thu, chi ngân sách phải cân đối. Mọi khoản chi phải có nguồn thu bù đắp.
– Nguyên tắc công khai, minh bạch: Ngân sách là một chương trình, là tấm gương phản ánh các hoạt động của chính phủ bằng các số liệu. Thực hiện công khai, minh bạch trong quản lý sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng có thể giám sát, kiểm soát các quyết định thu chi tài chính, hạn chế những thất thoát và đảm bảo tính hiệu quả. Nguyên tắc công khai, minh bạch được thực hiện trong suốt chu trình ngân sách.
– Nguyên tắc quy trách nhiệm: Nhà nước là cơ quan công quyền, sử dụng các nguồn lực của nhân dân thực hiện các mục tiêu đề ra. Đây là nguyên tắc yêu cầu về trách nhiệm của các đơn vị cá nhân trong quá trình quản lý ngân sách, bao gồm:
+ Quy trách nhiệm giải trình về các hoạt động ngân sách; chịu trách nhiệm về các quyết định về ngân sách của mình.
+ Trách nhiệm đối với cơ quan quản lý cấp trên và trách nhiệm đối với công chúng, đối với xã hội.
+ Quy trách nhiệm yêu cầu phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của từng cá nhân, đơn vị, chính quyền các cấp trong thực hiện ngân sách Nhà nước theo chất lượng công việc đạt được.
1.1.1.3. Vai trò của NSNN và NSNN cấp quận huyện
a. Vai trò khai thác huy động nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu chi
Hoạt động của Nhà nước luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để thỏa mãn những nhu cầu chi tiêu thực hiện mục đích được xác định, các nhu cầu chi tiêu phải thoả mãn từ các nguồn thu dưới các hình thức thuế và thu ngoài thuế.
Đây là vai trò lịch sử của NSNN được xuất phát từ nội tại của phạm trù tài chính mà trong bất kỳ chế độ xã hội nào và cơ chế kinh tế nào, NSNN đều phải phát huy. Trong huy động các nguồn lực vào NSNN cần chú ý 3 vấn đề:
Thứ nhất, mức động viên vào NSNN của các thành viên trong xã hội qua thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác phải hợp lý; mức thu quá cao hay quá thấp đều có tác dụng tiêu cực.
Thứ hai, tỷ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng giai đoạn cụ thể, tỷ lệ này vừa phải đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa phải đảm bảo cho cơ sở sản xuất có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất.
Thứ ba, các chính sách, công cụ sử dụng tạo trong thu NSNN và chi NSNN phải hợp lý, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế, cho từng vùng kinh tế, cho nhóm đối tượng để đảm bảo tính khả thi nhưng đảm bảo nguyên tắc thống nhất của NSNN.
Thứ tư, các nguồn lực tài chính mà NSNN cần khai thác hiệu quả, bao gồm những nguồn lực hữu hình và các nguồn lực tài chính vô hình.
b. Vai trò quản lý điều tiết vĩ mô nền kinh tế
– Kích thích sự tăng trưởng nền kinh tế:
Để duy trì sự ổn định và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nhà nước cần sử dụng nhiều công cụ, trong đó có các công cụ của NSNN, chủ yếu thông qua chính sách thu thuế và chi đầu tư NSNN. Chính sách thuế bắt buộc chủ thể liên quan phải thực hiện, mang tính pháp chế, trong đó có chế độ khuyến khích, ưu đãi cho đối tượng cụ thể, vùng cụ thể nhằm hướng dẫn, khuyến khích và bắt buộc đối với các chủ thể. Chính sách thuế có tác dụng khuyến khích thu hút vốn đầu tư, tạo điều kiện các nhà đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh. Mặt khác, thông qua các khoản chi của NSNN thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế – xã hội, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hóa, thực hiện các chính sách công bằng xã hội, tạo động lực mới cho sự phát triển. Ví dụ như tập trung đầu tư vào những ngành kinh tế mũi nhọn, vùng kinh tế trọng điểm và ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn; đầu tư mở rộng nâng cấp cơ sở hạ tầng, nâng cao trình độ dân trí, đào tạo nguồn nhân lực. Hiện nay, NSNN còn khó khăn nên quan điểm của Nhà nước ta chỉ đầu tư vào lĩnh vực không có khả năng thu hồi vốn.
– Điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát:
Hai yếu tố cơ bản của thị trường là cung cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường. Sự mất cân đối giữa cung và cầu sẽ tác động đến giá cả, làm cho giá cả hoặc giảm đột biến và gây biến động trên thị trường. Để đảm bảo lợi ích người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà nước sử dụng NSNN để can thiệp vào thị trường thông qua các khoản chi của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ tài chính về hàng hóa và dự trữ tài chính.
Sự điều tiết linh hoạt và hiệu quả của Nhà nước đối với hoạt động của thị trường thông qua các loại quỹ dự trữ phụ thuộc vào mức độ hình thành các quỹ này trong nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần hoạt động theo cơ chế thị trường là một nền kinh tế động, do đó tác động của các quy luật nên có thể dẫn đến những biến động phức tạp trong đời sống xã hội. Vì vậy, cần thiết quan tâm và tăng cường lực lượng dự trữ quốc gia, khoản dự trữ này được hình thành từ nguồn kinh phí của Nhà nước, hoặc từ tăng thu ngân sách hàng năm, từ kết dư của NSNN hàng năm. Trong quá trình điều chỉnh thị trường, NSNN còn tác độ đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn và trên cơ sở đó thực hiện giảm phát, kiểm soát lạm phát. Điều này được thể hiện khi Nhà nước áp dụng các biện pháp tích cực như: giải quyết cân đối NSNN, khai thác các nguồn vốn vay trong và ngoài nước dưới hình thức phát hành trái phiếu Chính phủ, thu hút viện trợ nước ngoài, tham gia thị trường vốn với tư cách là người mua và người bán chứng khoán.
– Bù đắp những khiếm khuyết của thị trường, đảm bảo công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái:
Với lập luận “hai bàn tay” nổi tiếng, Samuelon – nhà kinh tế học Mỹ – cho rằng cần phải dùng cả hai bàn tay (nhà nước và thị trường) để tổ chức và phát triển kinh tế bởi vì dù hữu hình hay vô hình thì bàn tay nào cũng có khuyết tật, cần phải dùng cả hai bàn tay để hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Ngày nay đa số đều ủng hộ vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, đồng thời coi trọng quy luật kinh tế khách quan, hạn chế sự can thiệp không cần thiết, khi thị trường có thể làm được với cơ chế của nó, đồng thời sẽ can thiệp tích cực với mức độ hợp lý trong những trường hợp cần thiết để bù đắp những thất bại của thị trường.
Dưới lăng kính lợi ích cộng đồng, công bằng xã hội và môi trường sinh thái, thị trường cạnh tranh không quan tâm đến các tầng lớp nghèo trong xã hội, không chú ý đến bảo vệ môi trường sinh thái khi vận động. Thị trường thường xuyên chạy theo những lợi nhuận kinh tế đơn thuần và thực hiện phân phối thu nhập theo các tiêu thức của nó. Xét trên bình diện xã hội, đó là một hệ thống phân phối không công bằng, thiếu tính bền vững do không quan tâm đến lợi ích môi trường xã hội của cả cộng đồng. Khiếm khuyết này chỉ có thể san lấp phần nào nhờ vào nhà nước, nhờ vào hiệu quả sử dụng quyền lực pháp lý để bắt buộc (hoặc khuyến khích) sử dụng (hoặc không sử dụng) một hoặc nhiều loại dịch vụ, hàng hóa công cộng nào đó (ví dụ: sản xuất phải đảm bảo môi trường, đảm bảo năng lực, có chứng chỉ hành nghề, bắt buộc trẻ em trong độ tuổi đi học phải đi học, bắt buộc đội mũ bảo hiểm khi lưu thông trên đường, phương tiện vận tải phải đảm bảo an toàn…)
NSNN là một công cụ tài chính hữu hiệu được Nhà nước sử dụng để điều tiết thu nhập của dân cư. NSNN ảnh hưởng đến phân phối thu nhập trên phạm vi toàn xã hội ở hai mặt thu và chi bằng việc áp dụng thuế trực thu, thuế gián thu, chi phúc lợi công cộng, chi trợ cấp đối với bộ phận dân cư nằm trong diện thực hiện chính sách xã hội của Nhà nước.
c. Vai trò của quản lý ngân sách nhà nước cấp huyện
* Ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc điều tiết kinh tế phát triển kinh tế, kích thích phát triển sản xuất
Cấp huyện, thị xã có vai trò tham mưu với các cơ quan cấp trên thực hiện chính sách chống độc quyền. Thông qua ước tính các thời kỳ đề ra mức thu chi sao cho hợp lý từng bộ phận, định hướng cách đi mới cho thế mạnh từng vùng.
Thông qua khoán chi thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng, hình thành doanh nghiệp then chốt trong mọi thành phần kinh tế. Hình thành các doanh nghiệp nhà nước, bảo đảm cạnh tranh hoàn hảo, điều chỉnh giá cả, tiền lương huy động tài chính thông qua sự chỉ đạo, tạo điều kiện cho doanh nghiệp muốn đầu tư tại địa phương.
* Ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề xã hội
Thông qua sự điều chỉnh quyết định cấp trên giao tiến hành phân bố dự toán ngân sách thực hiện các chính sách trợ cấp xã hội, trợ giá, kế hoạch hoá dân số, giải quyết công ăn việc làm. Phát triển ngành lao động truyền thống tận dụng được lao động nhàn rỗi.
* Xây dựng, thực hiện các phần kế hoạch kinh tế – xã hội huyện là đơn vị hành chính cơ sở
Thông qua thu ngân sách mà nguồn thu được tập trung nhằm tạo lập quỹ ngân sách, đồng thời giúp các cấp thực hiện kiểm tra, kiểm soát điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, dịch vụ theo đúng pháp luật. Thu ngân sách góp phần đảm bảo công bằng, duy trì phát triển sản xuất, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao dân trí sức khoẻ cho người dân. Quản lý ngân sách cấp huyện, thị xã, thành phố là nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại phát triển hay trì trệ của toàn bộ bộ máy chính quyền. Mỗi bộ phận là sự kết hợp của nhiều người có mục tiêu hội tụ với nhau. Các cơ quan chỉ hoạt động tốt khi nó được tiến hành các hoạt động của mình phù hợp với yêu cầu của các quy luật có liên quan điều này biểu hiện quản lí ngân sách cấp huyện, thị đúng đắn giúp cho tổ chức hạn chế được nhược điểm của mình, liên kết được mọi người tạo ra niềm tin sức mạnh và truyền thống, tận dụng mọi cơ hội và sức mạnh tổng hợp của các tổ chức bên ngoài.

* Quản lý ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng đối với việc đóng góp cho ngân sách cấp trên
Quản lý ngân sách cấp huyện có vai trò quan trọng đối với việc đóng góp cho ngân sách cấp trên. Cụ thể:
– Vai trò của NS cấp huyện đã khuyến khích địa phương phấn đấu tăng thu ngân sách để có nguồn chi, tăng cường trách nhiệm, nâng cao vai trò, chức năng của huyện trong việc quản lý NSNN.
– Việc trao quyền nhiều hơn cho chính quyền địa phương trong việc quyết định các vấn đề về ngân sách cũng đòi hỏi địa phương phải tăng tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong thực hiện ngân sách.
– Góp phần tăng thu NS từ địa phương đến trung ương.
1.2. NỘI DUNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CẤP HUYỆN
Quản lý Ngân sách huyện là quá trình quản lý hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình tạo lập, phân bổ và sử dụng quỹ tiền tệ của chính quyền Nhà nước cấp huyện; quản lý các khoản thu, chi của huyện đã dự toán bởi Uỷ ban Nhân dân huyện giao và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của cấp trên giao và Hội đồng nhân dân huyện đề ra.
1.2.1. Lập dự toán Ngân sách huyện
Mục tiêu cơ bản của việc lập dự toán ngân sách là nhằm tính toán đúng đắn ngân sách trong kỳ kế hoạch, có căn cứ khoa học và căn cứ thực tiễn các chỉ tiêu thu, chi của ngân sách trong kỳ kế hoạch.
* Yêu cầu trong quá trình lập ngân sách phải đảm bảo:
– Kế hoạch NSNN phải bám sát kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và có tác động tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội: Kế hoạch ngân sách chỉ mang tính hiện thực khi bám sát kế hoạch phát triển, xã hội. Có tác động tích cực đến thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, cũng chính là thực hiện kế hoạch NSNN. Trong điều kiện kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý vĩ mô, kế hoạch phát triển KT-XH chủ yếu mang tính định hướng.
– Kế hoạch NSNN phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quan điểm của chính sách tài chính địa phương trong thời kỳ và yêu cầu của Luật NSNN. Hoạt động NSNN là nội dung cơ bản của chính sách tài chính. Do vậy, lập NSNN phải thể hiện được đầy đủ và đúng đắn các quan điểm chủ yếu của chính sách tài chính địa phương như: Trật tự và cơ cấu động viên các nguồn thu, thứ tự và cơ cấu bố trí các nội dung chi tiêu. Bên cạnh đó, NSNN hoạt động luôn phải tuân thủ các yêu cầu của Luật NSNN, nên ngay từ khâu lập ngân sách cũng phải thể hiện đầy đủ các yêu cầu của Luật NSNN như: Xác định phạm vi, mức độ của nội dung các khoản thu, chi; phân định thu, chi giữa các cấp ngân sách, cân đối NSNN.
* Căn cứ lập NSNN:
– Nhiệm vụ phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của Đảng và chính quyền địa phương trong năm kế hoạch và những năm tiếp theo.
– Lập NSNN phải dựa trên kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của địa phương trong năm kế hoạch. Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội là sơ sở, căn cứ để đảm bảo các nguồn thu cho NSNN. Đồng thời, cũng là nơi sử dụng các khoản chi tiêu của NSNN.
– Lập NSNN phải tính đến các kết quả phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch ngân sách của các năm trước, đặc biệt là của năm báo cáo.
– Lập NSNN phải dựa trên các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn định mức cụ thể về thu, chi tài chính nhà nước. Lập NSNN là xây dựng các chỉ tiêu thu chi cho năm kế hoạch, các chỉ tiêu đó chỉ có thể được xây dựng sát, đúng, ngoài dựa vào căn cứ nói trên phải đặc biệt tuân thủ theo các chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu chi tài chính nhà nước thông qua hệ thống pháp luật (đặc biệt là hệ thống các Luật thuế) và các văn bản pháp lý khác của nhà nước.
1.2.2. Chấp hành Ngân sách huyện
Sau khi được Uỷ ban nhân dân huyện tiến hành ra quyết định giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc. Phòng Tài chính – Kế hoạch căn cứ vào quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện thông báo phân bổ dự toán ngân sách gửi cho các đơn vị trực thuộc; đồng thời gửi Phòng Tài chính – Kế hoạch, Kho bạc Nhà nước huyện để phối hợp thực hiện.
Khi nhận được quyết định của Uỷ ban nhân dân huyện, thông báo của phòng Tài chính – Kế hoạch huyện. Các cơ quan đơn vị, các xã, thị trấn tổ chức triển khai ngay công tác thu, chi ngân sách Nhà nước thuộc nhiệm vụ được giao.
1.2.2.1. Quản lý thu ngân sách Nhà nước
Về thực hiện nhiệm vụ thu Ngân sách chỉ cơ quan tài chính, cơ quan Thuế, cơ quan Hải Quan và cơ quan khác được Nhà nước giao nhiệm vụ thu ngân sách (Gọi chung là cơ quan Thu) được tổ chức thu Ngân sách Nhà nước.
Cơ quan Thu có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Phối hợp với các cơ quan Nhà nước hữu quan tổ chức thu đúng pháp luật; chịu sự chỉ đạo, kiểm tra của Uỷ ban nhân dân và sự giám sát của Hội đồng nhân dân về công tác thu Ngân sách tại địa phương; Phối hợp với mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên tuyên truyền, vận động tổ chức, cá nhân thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ nộp ngân sách theo quy định của luật Ngân sách Nhà nước và các quy định khác của pháp luật.
Tổ chức quản lý, thực hiện thu thuế và các khoản thu khác phải nộp Ngân sách Nhà nước do các tổ chức, cá nhân nộp.
Kiểm tra, kiểm soát các nguồn thu của Ngân sách Nhà nước; kiểm tra việc chấp hành thu, nộp Ngân sách Nhà nước và xử lý các hành vi, vi phạm theo quy định của pháp luật.
Toàn bộ các khoản thu ngân sách phải được nộp trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước. Trong trường hợp đặc biệt, cơ quan thu được phép thu trực tiếp, nhưng phải nộp đầy đủ, đúng thời hạn vào Kho bạc Nhà nước theo quy định của Bộ trưởng Bộ Tài chính.
1.2.2.2. Quản lý chi ngân sách Nhà nước
Về chi ngân sách căn cứ vào dự toán ngân sách được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ, thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách thực hiện rút kinh phí chi tiêu cho hoạt động của đơn vị mình và phải chịu trách nhiệm về việc quản lý, sử dụng tài sản và Ngân sách Nhà nước theo đúng chính sách chế độ, tiêu chuẩn, định mức dự toán được giao; trường hợp vi phạm sẽ xử lý theo quy định của luật Ngân sách Nhà nước năm 2015. Người phụ trách công tác tài chính, kế toán tại các đơn vị sử dụng Ngân sách có trách nhiệm thực hiện chế độ quản lý tài chính – ngân sách, chế độ kế toán Nhà nước; thực hiện kiểm tra thường xuyên, định kỳ nhằm phát hiện, ngăn ngừa và kiến nghị thủ trưởng đơn vị, cơ quan tài chính xử lý đối với những trường hợp vi phạm.
Các khoản chi thường xuyên theo định kỳ được bố trí kinh phí đều trong năm để chi; các khoản chi có tính chất thời vụ hoặc mua sắm, sửa chữa lớn được bố trí trong thời điểm kinh phí ngân sách đáp ứng được thì thực hiện.
Chi đầu tư phát triển phải đảm bảo cấp đúng và đủ theo tiến độ thực hiện trong phạm vi tổng mức dự toán được giao. Đối với những dự án, nhiệm vụ chi quan trọng, đột xuất cấp thiết thì được tạm ứng trước dự toán để thực hiện.
Về nhiệm vụ chi cho các chương trình mục tiêu quốc gia; chi mua sắm, sửa chữa lớn, chi sự nghiệp kinh tế, dự toán năm giao cho các đơn vị sử dụng còn được phân theo tiến độ từng quý.
Dự toán chi đầu tư xây dựng cơ bản được phân bổ chi tiết theo từng loại và các hạng mục của Mục lục Ngân sách Nhà nước phân bổ bằng thông báo hạn mức vốn đầu theo tiến độ thực hiện.
Khi phân bổ dự toán ngân sách được giao, cơ quan, đơn vị phân bổ dự toán chi phải đảm bảo bố trí đủ vốn, kinh phí cho các dự án, nhiệm vụ đã được chi ứng trước dự toán nhưng đồng thời phải phân bổ hết dự toán ngân sách được giao. Trường hợp có các nhiệm vụ chi chưa xác định được rõ đơn vị thực hiện trong dự toán đầu năm thì được giữ lại để phân bổ sau, nhưng khi phân bổ thì phải gửi cơ quan tài chính cùng cấp để xem xét.
Theo Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015, nguyên tắc chi trả, thanh toán các khoản chi của Ngân sách Nhà nước là: căn cứ vào dự toán Ngân sách Nhà nước được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi của đơn vị theo đúng tiến độ, tiêu chuẩn, định mức. Phòng Tài chính – Kế hoạch và Kho bạc Nhà nước huyện thực hiện chi trả thanh toán các khoản chi có tính chất lương, người cung cấp hành hoá, dịch vụ và người nhận thầu. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, do chưa đủ điều kiện thực hiện chi trả, thanh toán theo nguyên tắc như trên. Việc chi trả, thanh toán đối với một số khoản chi Ngân sách Nhà nước được áp dụng theo một số hình thức khác như: Lệnh chi tiền, Uỷ nhiệm chi, Ghi thu, ghi chi…
Thanh toán, chi trả theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước huyện
Đối tượng chi trả, thanh toán theo dự toán từ Kho bạc Nhà nước huyện gồm các khoản chi thường xuyên trong dự toán ngân sách được giao của các cơ quan, đơn vị sau:
+ Các cơ quan hành chính Nhà nước.
+ Các đơn vị sự nghiệp.
+ Các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp thường xuyên được Ngân sách Nhà nước hỗ trợ kinh phí.
Dựa trên cơ sở dự toán ngân sách đã gửi Kho bạc Nhà nước huyện và theo yêu cầu nhiệm vụ chi cho hoạt động của đơn vị mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị sử dụng ngân sách lập chứng từ, giấy rút dự toán ngân sách kèm theo hồ sơ thanh toán gửi Kho bạc Nhà nước huyện. Kho bạc Nhà nước huyện kiểm tra tính hợp pháp của chứng từ, hồ sơ thanh toán, các điều kiện chi và giấy rút dự toán, nếu đầy đủ thì thực hiện thanh toán, nếu chưa đầy đủ các điều kiện để thực hiện thanh toán ở tất cả các khoản thì được phép cấp tạm ứng đối với một số khoản chi nhất định. Sau khi hoàn thành công việc và có đầy đủ chứng từ thanh toán thì chuyển từ tạm ứng sang thực thi.
Thanh toán, chi trả bằng hình thức lệnh chi tiền
Một số nhiệm vụ được thanh toán, chi trả theo hình thức lệnh chi tiền gồm có: Chi hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế, xã hội các đơn vị đóng trên địa bàn không thụ hưởng ngân sách địa phương; chi trả nợ, viện trợ; chi bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới và một số khoản chi khác.
Căn cứ vào dự toán Ngân sách Nhà nước được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, cơ quan tài chính xem xét, kiểm tra từng yêu cầu, nhiệm vụ chi và nếu có đủ điều kiện thanh toán thì ra lệnh chi trả cho tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách. Kho bạc Nhà nước thực hiện tính hợp lý của chứng từ xuất quỹ ngân sách, chuyển khoản hoặc cấp tiền mặt cho các tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách.
Thanh toán, chi trả bằng Uỷ nhiệm chi; chi bằng hình thức này đối với các chương trình, dự án của cấp trên uỷ quyền cho cơ quan tài chính cấp dưới thực hiện một số nhiệm vụ chi phát sinh trên địa bàn.
Có thể nói tất cả các khoản chi đều có quy định cụ thể, từ đối tượng được chi, quy trình chi trả, thanh toán như việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát. Quan trọng là trong thực tế phải nghiêm chỉnh chấp hành theo luật Ngân sách Nhà nước và các quy định của pháp luật, đồng thời sáng tạo trong việc áp dụng vào thực tế. Điều này đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý Nhà nước trên lĩnh vực tài chính ngân sách phải có trình độ, có lương tâm nghề nghiệp.
Trong quá trình chấp hành ngân sách, khi phát sinh các công việc đột xuất như: khắc phục hậu quả thiên tai, dịch hoạ và các nhiệm vụ chi cấp thiết chưa được bố trí hoặc bố trí chưa đủ trong dự toán được giao mà sau khi sắp xếp lại các khoản chi, đơn vị vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thì lập tờ trình báo cáo phòng Tài chính – kế hoạch trình Uỷ ban nhân dân huyện để xử lý.
Việc xử lý các khoản chi phát sinh đột xuất trong năm, phòng Tài chính – kế hoạch huyện tổng hợp trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét điều chỉnh bổ sung dự toán ngân sách Nhà nước trình Hội đồng nhân dân vào kỳ họp gần nhất.
Quá trình thực hiện khâu chấp hành dự toán ngân sách huyện, sự giám sát của nhân dân, Hội đồng nhân dân huyện, các cơ quan tài chính cấp trên, nhất là Sở Tài chính tỉnh phải thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn công tác quản lý tài chính là một công việc hết sức quan trọng giúp cho Uỷ ban nhân dân huyện phát hiện được những sai sót, kịp thời điều chỉnh cho đúng với các quy định của Nhà nước.
Các tổ chức, cá nhân có nhiệm vụ thu, chi ngân sách Nhà nước phải tổ chức hạch toán, kế toán, báo cáo và quyết toán theo đúng chế độ kế toán của Nhà nước.
Cơ quan Kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện hạch toán kế toán Ngân sách Nhà nước; định kỳ báo cáo việc thực hiện tiến độ dự toán thu, chi cho cơ quan Tài chính và cơ quan Nhà nước hữu quan.
Các cơ quan quản lý Ngân sách huyện, các đơn vị dự toán có trách nhiệm tổ chức thực hiện công tác kế toán Ngân sách thuộc phạm vi quản lý, lập quyết toán thu, chi Ngân sách Nhà nước, tổng hợp báo cáo quyết toán Ngân sách Nhà nước.
Tổ chức bộ máy kế toán Ngân sách
Đơn vị dự toán và cấp chính quyền địa phương, phải tổ chức bộ máy kế toán Ngân sách. Những cán bộ làm công tác kế toán phải được đào tạo đúng chuyên môn và bố trí theo đúng chức danh tiêu chuẩn quy định của Nhà nước và được bảo đảm quyền độc lập về chuyên môn nghiệp vụ. Khi thay đổi hoặc điều chuyển cán bộ kế toán phải thực hiện bàn giao giữa cán bộ kế toán cũ với cán bộ kế toán mới, cán bộ kế toán cũ vẫn phải chịu trách nhiệm về công việc của mình đã làm kể từ ngày bàn giao về trước, cán bộ kế toán mới phải chịu trách nhiệm về công việc của mình kể từ ngày nhận bàn giao.
Khi giải thể, tiếp nhận, chia tách hoặc sát nhập đơn vị kế toán, thủ trưởng đơn vị cùng kế toán trưởng hoặc người phụ trách công tác kế toán phải hoàn thành việc quyết toán của đơn vị đến thời điểm giải thể, chia tách, sát nhập.
Khoá sổ kế toán Ngân sách
Cuối niên độ kế toán các đơn vị dự toán và ngân sách cấp huyện phải thực hiện công tác khoá sổ sách kế toán. Đối với các đơn vị dự toán, phải theo dõi chặt chẽ dự toán còn lại chưa chi, số dư tài khoản tiền gửi của đơn vị tại Kho bạc Nhà nước và tồn quỹ tiền mặt tại đơn vị để chủ động chi tiêu trong những ngày cuối năm.
Quyết toán Ngân sách
Cuối năm ngân sách, căn cứ vào hướng dẫn của Bộ Tài chính, sở Tài chính và các quy định của pháp luật, thủ trưởng các đơn vị có nhiệm vụ thu, chi ngân sách lập quyết toán ngân sách của đơn vị mình gửi cơ quan quản lý cấp trên.
Số liệu thể hiện trong báo cáo quyết toán ngân sách phải chính xác, trung thực. Nội dung báo cáo quyết toán Ngân sách phải theo đúng các nội dung ghi trong dự toán được duyệt và phải báo cáo quyết toán chi tiết theo Mục lục Ngân sách Nhà nước và đúng các biểu mẫu theo quy định của Bộ Tài chính phát hành.
Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện có trách nhiệm chỉ đạo công tác kế toán, lập quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện; tổng hợp, lập báo cáo thu Ngân sách Nhà nước trên địa bàn huyện và quyết toán thu, chi ngân sách của huyện bao gồm quyết toán thu, chi ngân sách cấp huyện và quyết toán thu chi ngân sách cấp xã trình Uỷ ban nhân dân huyện xem xét, gửi Sở Tài chính tỉnh, đồng thời trình Hội đồng nhân dân huyện phê chuẩn. Trong trường hợp báo cáo quyết toán năm của huyện do Hội đồng nhân dân huyện phê chuẩn có thay đổi so với báo cáo quyết toán năm do Uỷ ban nhân dân huyện đã gửi Sở Tài chính thì Uỷ ban nhân dân huyện báo cáo bổ sung, gửi Sở Tài chính. Sau khi Hội đồng nhân dân phê chuẩn, trong thời gian 5 ngày, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện gửi báo cáo quyết toán đến các cơ quan sau:
– 01 bản gửi Hội đồng Nhân dân huyện.
– 01 bản gửi Uỷ ban Nhân dân huyện.
– 01 bản gửi Sở Tài chính.
– 01 bản lưu tại Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện.
Đồng thời, gửi Kho bạc Nhà nước huyện Nghị quyết phê chuẩn quyết toán của Hội đồng huyện.
1.2.4. Thanh kiểm tra quản lý ngân sách
– Kiểm tra, thanh tra, kiểm toán là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản lý NSNN. Nó đảm bảo cho việc thực hiện ngân sách đúng pháp luật, đảm bảo việc sử dụng nguồn lực đóng góp của nhân dân theo đúng mục tiêu đề ra, tránh những hậu quả xấu đè nặng lên người dân, người chịu thuế.
– Công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán NSNN được thực hiện bởi nhiều cơ quan. Trong đó, chịu trách nhiệm chính và trước hết là thủ trưởng các đơn vị dự toán phải thường xuyên tự kiểm tra đối chiếu với chính sách chế độ về quản lý NSNN để đảm bảo việc thu, chi đúng chính sách, chế độ qui định. Các Bộ, các đơn vị dự toán cấp trên chịu trách nhiệm kiểm tra việc chấp hành các chế độ thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của các đơn vị trực thuộc và hướng dẫn các đơn vị này thực hiện việc kiểm tra trong đơn vị mình. Cơ quan Tài chính, cơ quan thu ngân sách, cơ quan Kho bạc Nhà nước có trách nhiệm tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra thường xuyên, định kỳ đối với các đơn vị, cá nhân có nghĩa vụ thu nộp ngân sách, đơn vị sử dụng ngân sách các cấp.
– Thanh tra tài chính có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành thu, chi và quản lý ngân sách, quản lý tài sản nhà nước của các tổ chức và cá nhân. Kiểm toán nhà nước có nhiệm vụ xác định tính đúng đắn, hợp pháp của báo cáo quyết toán ngân sách các cấp và các đơn vị dự toán. Kết quả kiểm toán được báo cáo trước Chính phủ, Quốc hội và thực hiện trước khi Quốc hội, HĐND phê chuẩn quyết toán ngân sách.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\NGUYEN HUU HAI


