Hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước luôn là mối quan tâm lớn của Đảng, Nhà nước và của các cấp, các ngành. Nó góp phần quan trọng trong việc giám sát sự phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính một cách đúng mục đích, có hiệu quả, đồng thời là một biện pháp hữu hiệu để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước đều phải được kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán theo đúng quy định. Góp phần trong việc quản lý, kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại địa phương là cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước và thủ trưởng của các cơ quan đơn vị trực tiếp sử dụng ngân sách. Kết quả của thực hiện cơ chế kiểm soát chi đã góp phần quan trọng trong việc sử dụng ngân sách ngày càng hiệu quả hơn. Hàng năm Sở Tài chính xây dựng dự toán thu chi ngân sách tỉnh, quyết toán thu chi ngân sách huyện và các đơn vị sử dụng ngân sách trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước dù được kiểm tra, kiểm soát khá chặt chẽ, nhưng tình trạng sử dụng ngân sách vẫn còn chưa đạt hiệu quả, lãng phí, gây thất thoát cho ngân sách nhà nước. Đặc biệt, tại ngân sách cấp huyện, là một trong 3 cấp ngân sách thuộc ngân sách địa phương, mỗi huyện là một địa bàn rộng lớn với hàng ngàn dân số, các vấn đề về kinh tế, chính trị, an ninh, xã hội diễn biến rất phức tạp, việc điều hành sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ chính trị, thúc đẩy kinh tế địa phương ngày càng phát triển là những nhiệm vụ cực kỳ khó khăn, công tác quản lý ngân sách còn nhiều bất cập, thu ngân sách hàng năm không đủ chi, ngân sách tỉnh phải trợ cấp cân đối thì vấn đề tăng cường kiểm soát chi ngân sách càng trở nên cấp thiết.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện thuộc tỉnh Kiên Giang là rất cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Vì thế việc nghiên cứu “Hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” do Sở Tài chính Kiên Giang thực hiện kiểm soát là thực sự cần thiết, nhằm nhận thấy được những vấn đề còn tồn tại hiện nay và đưa ra các giải pháp nhằm từng bước nâng cao hơn hiệu quả kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang góp phần phục vụ công cuộc phát triển kinh tế tại địa phương.
2. MỤC TIÊU VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn về chi ngân sách, kiểm soát chi ngân sách.
Đánh giá thực trạng tình hình Sở Tài chính Kiên Giang kiểm soát chi ngân sách tại các huyện từ năm 2014 đến 2016.
Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi tại các huyện của Sở Tài chính.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
– Đối tượng nghiên cứu: Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện do Sở Tài chính Kiên Giang thực hiện.
– Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện do Sở Tài chính Kiên Giang thực hiện.
+ Về thời gian: Sử dụng số liệu kế toán chi NSNN tại Sở Tài chính Kiên Giang thời kỳ ổn định ngân sách từ sách từ năm 2014 – 2016, các giải pháp được đề xuất áp dụng trong thời kỳ ổn định ngân sách mới đến năm 2020.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Luận văn sử dụng phương pháp mô tả, phân tích, đánh giá trường hợp thực tế tại Sở Tài chính Kiên Giang. Số liệu được lấy từ Sở Tài chính Kiên Giang cùng với việc khảo sát phỏng vấn những người có liên quan.
5. BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI
Ngoài lời mở đầu, kết luận, các danh mục khác nhau, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn được kết cấu thành 3 chương với tên gọi của từng chương cụ thể như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về các quy định về chi ngân sách nhà nước, kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính.
Chương 2. Thực trạng việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính.
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC, CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC VÀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1.1. Khái quát về ngân sách nhà nước
1.1.1.1. Khái niệm về ngân sách nhà nước
Theo Điều 1, Luật Ngân sách nhà nước ban hành năm 2002 định nghĩa “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định để đảm bảo thực hiện chức năng nhiệm vụ của Nhà nước”. [1]
Ngân sách nhà nước bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương.
1.1.1.2. Phân cấp quản lý ngân sách
Bộ máy quản lý hành chính nhà nước được tổ chức 4 cấp: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và xã, phường, thị trấn.
Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội thông qua ngày 16/12/2002 quy định nội dung chi ngân sách nhà nước bao gồm các khoản chi phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của Nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. [1,tr.2]
Chi đầu tư phát triển là quá trình Nhà nước sử dụng một phần vốn tiền tệ đã được tạo lập thông qua hoạt động thu của NSNN để đầu tư xây dựng hạ tầng KT-XH, phát triển sản xuất và để dự trữ vật tư hàng hóa, nhằm đảm bảo thực hiện các mục tiêu ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
Chi thường xuyên là quá trình phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước để đáp ứng nhu cầu chi gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý KT-XH. Chi thường xuyên thường được tập hợp theo từng lĩnh vực và nội dung chi, bao gồm:
– Chi quản lý hành chính Nhà nước.
– Chi quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội.
– Chi sự nghiệp văn hóa xã hội.
– Chi sự nghiệp kinh tế của Nhà nước.
– Chi khác.
– Chi chuyển nguồn.
1.2. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.2.1. Khái niệm về kiểm soát và kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Kiểm soát là một chức năng của quản lý, ở đâu có quản lý thì ở đó có kiểm tra kiểm soát. Kiểm soát chi NSNN là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định, kiểm tra, kiểm soát các khoản chi NSNN theo các chính sách, chế độ, tiêu chuẩn và định mức chi tiêu do Nhà nước quy định dựa trên cơ sở những nguyên tắc, hình thức và phương pháp quản lý tài chính trong từng thời kỳ.
1.2.2. Sự cần thiết phải kiểm soát chi ngân sách nhà nước
– Do yêu cầu về công cuộc đổi mới
– Do hạn chế từ chính bản thân cơ chế quản lý chi NSNN
– Do ý thức của các đơn vị sử dụng NSNN
– Do tính đặc thù của các khoản chi NSNN
1.2.3. Yêu cầu đối với công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước
Công tác kiểm soát chi NSNN phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Làm cho hoạt động chi NSNN đạt được hiệu quả cao nhất, có tác động tích cực đến sự phát triển của nền kinh tế, tránh tình trạng làm cho quỹ NSNN bị cắt đoạn, phân tán, gây căng thẳng trong quá trình điều hành NSNN.
Công tác quản lý và kiểm soát NSNN là một quy trình phức tạp từ lập dự toán, phân bổ dự toán tới cấp phát, thanh toán, hạch toán, quyết toán NSNN, có liên quan tới tất cả các Bộ, ngành, địa phương.
Tổ chức bộ máy theo hướng gọn nhẹ, đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Đồng thời cũng phân định rõ ràng vai trò, trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan quản lý ngân sách, các cơ quan nhà nước, các đơn vị sử dụng NSNN, trong quá trình chi NSNN từ khâu lập dự toán, cấp phát ngân sách, thực hiện chi đến khâu thông tin, báo cáo, quyết toán NSNN để tránh những trùng lắp, chồng chéo trong quá trình thực hiện.
Kiểm soát chi NSNN cần được thực hiện đồng bộ, thống nhất với việc quản lý NSNN từ khâu lập dự toán, chấp hành dự toán đến quyết toán NSNN.
1.3. NỘI DUNG KIỂM SOÁT CHI NSNN
1.3.1. Rủi ro liên quan đến chi NSNN
1.3.2. Kiểm soát chi đầu tư phát triển
1.3.3. Kiểm soát chi thường xuyên
1.3.4. Kiểm soát các khoản chi khác
Chi khác bao gồm chi khen thưởng, chi dự phòng, chi từ kết dư ngân sách năm trước, chi bổ sung cho ngân sách cấp xã, chi chuyển nguồn ngân sách cấp huyện. Cụ thể quá trình kiểm soát tại sơ đồ 1.3.
Chi bổ sung ngân sách cấp xã là chi bổ sung cân đối ngân sách xã và bổ sung mục tiêu.
Chuyển nguồn ngân sách huyện là tổng hợp các kinh phí được giao nhiệm vụ, mục tiêu trong năm, huyện chưa hoàn thành, được cấp có thẩm quyền cho phép chuyển nguồn sang năm sau tiếp tục thực hiện.
1.4. KINH NGHIỆM VỀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC QUA SỞ TÀI CHÍNH TẠI CÁC TỈNH KHÁC
1.4.1. Kinh nghiệm kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính Long An
1.4.2. Kinh nghiệm kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính Bến tre
1.4.3. Kinh nghiệm cho tỉnh Kiên Giang
THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH TẠI CÁC HUYỆN THUỘC KIÊN GIANG
2.1. KHÁI QUÁT VỀ SỞ TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG VÀ CHI NSNN TẠI TỈNH KIÊN GIANG
2.1.1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang
2.1.2. Vai trò của Sở Tài chính trong việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện thuộc tỉnh Kiên Giang.
2.1.3. Chi NSNN tại các huyện thuộc tỉnh Kiên Giang
Kết quả chi ngân sách các huyện giai đoạn năm 2014 – 2016 được thể hiện tại biểu đồ 2.1.

Biểu đồ 2.1: Tình hình chi ngân sách nhà nước các huyện của tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2014 – 2016
(Nguồn: Sở Tài chính Kiên Giang)
2.2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH HUYỆN QUA SỞ TÀI CHÍNH TỈNH KIÊN GIANG
2.2.1. Tổ chức bộ máy của Sở Tài chính Kiên Giang
2.2.2. Thực trạng đội ngũ cán bộ kiểm soát chi ngân sách huyện của Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang
Theo đề án vị trí việc làm được phê duyệt, tổng số biên chế của Sở Tài chính là 79 biên chế. Trong đó phòng Quản lý ngân sách là phòng chuyên môn trực tiếp kiểm soát chi ngân sách huyện có 11 biên chế gồm 01 trưởng phòng, 02 phó trưởng phòng, 08 chuyên môn nghiệp vụ thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn.
2.3. THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH TẠI CÁC HUYỆN DO SỞ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
2.3.1. Rủi ro liên quan đến chi NSNN
Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang có ban hành quyết định phân cấp nhiệm vụ thu, chi rõ ràng trên đại bàn từng huyện. Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm trong điều hành quản lý thu, chi ngân sách trên địa bàn quản lý. Tuy nhiên trong quá trình quản lý, do nhiều yếu tố khách quan, chủ quan.
2.3.2. Kiểm soát chi đầu tư phát triển
2.3.2.1. Kiểm soát công tác lập, giao vốn đầu tư
a. Phân bổ vốn
b. Ứng trước dự toán ngân sách năm sau
c. Cấp mã dự án và nhập Tamis đối với dự án được giao vốn
2.3.2.2. Kiểm soát công tác quyết toán dự án
Thứ 1, Huyện phải thực hiện các biểu mẫu quyết toán vốn đầu tư XDCB đúng theo biểu mẫu được ban hành kèm theo Thông tư số 210/2010/TT-BTC ngày 20/10/2010 của Bộ Tài chính gồm.
Thứ 2, thời gian khóa sổ lập báo cáo quyết toán được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 210/2010/TT-BTC, trên cơ sở đó hàng năm Sở Tài chính đều có Công văn thông báo cho các huyện thời gian cụ thể gửi báo cáo quyết toán vốn xây dựng cơ bản và lịch quyết toán của từng huyện.
Thứ 3, Đối với các công trình xây dựng cơ bản, các chương trình dự án quốc gia, huyện lập báo quyết toán thực hiện vốn đầu tư trong năm theo từng công trình, dự án.
Thứ 4, Hàng quí, Sở Tài chính văn bản yêu cầu Phòng Tài chính – kế hoạch các huyện báo cáo tình hình giải ngân, thanh toán vốn đầu tư.
Thư 5, Sở Tài chính thường xuyên tổng hợp danh mục các công trình hoàn thành chưa được quyết toán gửi UBND huyện để có hướng đôn đốc các chủ đầu tư hoàn thiện hồ sơ gửi để Sở Tài chính thẩm tra phê duyệt quyết toán.
Thứ 6, đối với các khoản tạm ứng, Sở Tài chính kiểm soát đơn vị tạm ứng có đúng quy định, thu hồi đủ qua các lần thanh toán khối lượng hoàn thành. Qua 3 năm 2014 – 2016 tình hình tạm ứng ngân sách đầu tư cho XDCB là rất lớn.
Thứ 7, theo hồ sơ chứng từ đã được Kho bạc thanh toán, Sở Tài chính xác định số vốn đó được quyết toán vào năm nào.
Thứ 8, Sở Tài chính yêu cầu huyện gửi thuyết minh kèm theo báo cáo quyết toán, báo cáo tổng quát tình hình thực hiện kế hoạch, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản Nhà nước giao trong năm.
Thứ 9, Sau 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo chế độ quy định, Sở Tài chính sẽ thực hiện thẩm định quyết toán của huyện và thông báo kết quả thẩm định quyết toán đến huyện về tình hình thực hiện, thanh toán và quyết toán vốn trong năm.
Kết quả kiểm soát công tác quyết toán: Qua công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán đã cắt giảm giá trị quyết toán 31.764 triệu đồng. Cụ thể được phản ánh tại Bảng 2.4.
2.3.3. Kiểm soát chi thường xuyên
2.3.3.1. Kiểm soát công tác lập, phân bổ, thực hiện dự toán
a. Cơ sở kiểm soát dự toán: Luật ngân sách và các văn bản quản lý ngân sách hiện hành
b. Kiểm soát nội dung, định mức chi trong dự toán
Thứ 1, Trong khoảng tháng 6 – 7 hàng năm, Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện tổng hợp dự toán chi ngân sách huyện gửi Sở Tài chính thẩm định. Sở Tài chính thẩm định các nội dung chi trong dự toán có đúng chế độ, định mức theo quy định của Luật NSNN.
Thứ 2, Sở Tài chính kiểm soát dự toán NS huyện do Phòng Tài chính – Kế hoạch huyện lập.
Thứ 3, Sở Tài chính kiểm soát định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cấp huyện theo Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND tỉnh Kiên Giang về việc ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách trong giai đoạn ổn định từ năm 2011 đến năm 2015, và Quyết định số 06/2016/QĐ-UBND ngày 26/01/2016 về việc kéo dài thời gian thực hiện Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND ngày 14/01/2011 của UBND tỉnh Kiên Giang.
Thứ 4, trong quá trình thẩm định dự toán tiền lương của các huyện, Sở Tài chính thực hiện thẩm định số tiết kiệm 10% chi thường xuyên ở dự toán đầu năm ở năm 2014, 2015, 2016 để tạo nguồn cải cách tiền lương cho huyện, và thẩm định nguồn tiền lương còn tồn của năm trước chuyển sang.
Thứ 5, đối với nhu cầu mua sắm tài sản, xe ô tô, thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của của Thủ tướng Chính phủ hạn chế tối đa việc mua sắm xe ô tô, Sở Tài chính tổng hợp nhu cầu của các huyện, kiểm soát xem xét lại nhu cầu của từng huyện, chỉ khi thật sự rất cần thiết.
Việc lập dự toán chi NSNN địa phương từ năm 2014 – 2016 được thể hiện ở (Phụ lục 3, 4, 5 của Luận văn).
c. Kiểm soát dự toán bổ sung trong năm
Định kỳ hàng quý, Sở Tài chính có văn bản yêu cầu Phòng Tài chính – kế hoạch các huyện báo cáo tình hình điều hành, quản lý chi ngân sách huyện. và tình hình bổ sung sự phòng ngân sách đối với những khoản dự toán đến 30/6 chưa phân bổ.
Trong năm, khi Chính phủ điều chỉnh mức lương cơ sở, trên cơ sở đề xuất của UBND các huyện, Sở Tài chính (cụ thể là Phòng Quản lý ngân sách) thẩm định báo cáo nhu cầu tiền lương tăng thêm của từng huyện, cân đối các nguồn kinh phí giữ lại và tiết kiệm tạo nguồn cải cách tiền lương còn tồn tại huyên, phần còn thiếu trình UBND tỉnh báo cáo Bộ Tài chính bổ sung kinh phí ngoài dự toán.
Trên cơ sở đề xuất của UBND cấp huyện, Sở Tài chính thẩm định nhu cầu kinh phí bổ sung có mục tiêu do phát sinh những nhiệm vụ chi ngoài dự toán ngân sách được giao, kiểm tra, đối chiếu các tờ trình xin bổ sung kinh phí phát sinh trong năm, nếu thật sự chưa bố trí trong dự toán đầu năm.
Qua bảng số liệu ta thấy số dự toán bổ sung trong năm là khá lớn, đây là các nhiệm vụ phát sinh trong năm, ngân sách trung ương giao bổ sung nhiệm vụ đồng thời bổ sung kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu, an sinh xã hội, hỗ trợ sản xuất lúa, thủy lợi phí, cải cách tiền lương… ngân sách tỉnh cấp bổ sung dự toán về cho huyện để thực hiện, phát triển kinh tế địa phương.
2.3.2.2. Kiểm soát công tác quyết toán
a. Cơ sở kiểm soát quyết toán là các văn bản hiện hành
b. Kiểm soát báo cáo quyết toán của các huyện
Thứ 1, cuối năm căn cứ vào các hướng dẫn khóa sổ kế toán, quyết tóan cuối năm của Bộ Tài chính, nhiệm vụ tài chính ngân sách UBND tỉnh giao trong năm, Sở Tài chính mỗi năm đều có công văn hướng dẫn các huyện thực hiện công tác khóa sổ kế toán cuối năm và lập báo cáo quyết toán NSNN theo đúng quy định.
Thứ 2, Báo cáo quyết toán ngân sách của huyện phải thực hiện đầy đủ và đúng biểu mẫu theo các biểu mẫu số 36, 38, 40, 42, 44, 46, 48, 52 Phụ lục số 06 Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/06/2003 của Bộ Tài chính.
Thứ 3, kiểm soát số liệu báo cáo quyết toán phải chính xác, đầy đủ.
Thứ 4, thời gian gửi báo cáo quyết toán, chỉnh lý quyết toán thực hiện theo đúng quy định của Luật Ngân sách. Sở Tài chính sắp xếp, phân bổ thời gian, thông báo đến từng huyện lịch quyết toán để huyện trực tiếp đến làm việc tại Sở Tài chính trao đổi các nội dung còn vướng mắc trong báo cáo quyết toán.
Thứ 5, đối với dự toán ngân sách còn tồn, các khoản chi thường xuyên được giao dự toán đầu năm huyện được bổ sung vào kết dư ngân sách huyện, còn kinh phí tỉnh bổ sung có mục tiêu thực hiện chi thường xuyên, huyện đã rút về chưa giải ngân cho nhiệm vụ mục tiêu phải nộp hoàn trả cho ngân sách cấp tỉnh, trừ các nguồn kinh phí bổ sung có mục tiêu được cấp thẩm quyền xem xét cho phép chi chuyển nguồn.
Thứ 6, Sở Tài chính luôn yêu cầu huyện báo cáo quyết toán riêng các chương trình mục tiêu, báo cáo cụ thể từng mục tiêu, số tỉnh cấp về, huyện cấp phát sử dụng trong năm, còn tồn chuyển năm sau.
Thứ 7, các khoản chi quản lý qua ngân sách (ghi thu ghi chi vào ngân sách), kiếm soát các nội dung các khoản thu đơn vị thực hiện ghi thu ghi chi có đúng quy định, các nguồn thu của huyện có kịp thời ghi thu ghi chi vào ngân sách kịp thời đẩy đủ.
Thứ 8, đối với số kinh phí huyện tạm ứng, cũng xem xét phần tạm ứng đó thuộc nguồn kinh phí nào, nếu là nguồn kinh phí được cơ quan có thẩm quyền cho phép chuyển nguồn sang năm sau thực hiện thì Sở Tài chính thống nhất cho đơn vị chuyển nguồn sang năm sau, nếu không Sở Tài chính sẽ yêu cầu huyện thu hồi tạm ứng, nộp trả kinh phí về ngân sách.
Thứ 9, khi nhận báo cáo quyết toán Sở Tài chính yêu cầu huyện phải có báo cáo thuyết minh kèm theo báo cáo quyết toán, báo cáo thuyết minh phải giải trình rõ chi tiết nguyên nhân tăng giảm thu chi đối với từng nhiệm vụ, lĩnh vực so với dự toán được cơ quan có thẩm quyền giao, tình hình tiết kiệm chi, sử dụng nguồn tiết kiệm đó, tình hình thực hiện kinh phí cải cách tiền lương.
c. Công tác thanh tra, kiểm tra
Trong năm Sở Tài chính thành lập đoàn kiểm tra tiến hành xuống trực tiếp tại huyện, kiểm tra sổ sách báo cáo về nguồn cải cách tiền lương và các chương trình mục tiêu.
Công tác thanh tra cũng là một công tác rất quan trọng. Sở Tài chính luôn chú trọng quan tâm chỉ đạo công tác thanh tra.
2.3.4. Kiểm soát các khoản chi khác
Đối với các khoản chi khác như: chi dự phòng, chi bổ sung ngân sách cấp dưới, chi chuyển nguồn ngân sách, chi từ nguồn kết dư ngân sách…
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH TẠI CÁC HUYỆN DO SỞ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
2.4.1. Một số kết quả đạt được trong thực hiện kiểm soát chi ngân sách huyện
Nhìn chung trong những năm qua công tác kiểm soát chi NSNN huyện tại Sở Tài chính Kiên Giang có nhiều chuyển biến tích cực.
2.4.1.1. Chi đầu tư xây dựng cơ bản
Về công tác quyết toán dự án hoàn thành trên địa bàn tỉnh thực sự chuyển biến tích cực, năm 2016 số lượng hồ sơ báo cáo quyết toán được lập thẩm tra và phê duyệt đều tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước; số lượng dự án hoàn thành bàn giao đưa vào sử dụng, tồn đọng chưa được lập báo cáo quyết toán trên địa bàn đã được khắc phục và giảm nhiều so với các năm. Trong công tác thẩm tra, phê duyệt quyết toán của các Sở Tài chính được thực hiện đúng quy trình và cơ bản đảm bảo về mặt thời gian. Công tác thẩm tra quyết toán được chú trọng và có hiệu quả, qua công tác thẩm tra đã kiên quyết loại bỏ một số chi phí sai quy định, giảm chi phí đầu tư, tiết kiệm ngân sách.
2.4.1.2. Chi thường xuyên và chi khác
Thực hiện đúng theo chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ và các hướng dẫn của Bộ Tài chính, Sở Tài chính đã thực hiện triệt để các nhiệm vụ được giao, trong quá trình triển khai các nhiệm vụ chi thường xuyên và chi đầu tư tại ngân sách cấp huyện, kiểm soát các khoản chi ngân sách cơ bản chặt chẽ, có hiệu quả theo chế độ nhà nước quy định, chi trong phạm vi dự toán được giao.
Công tác quyết toán các khoản chi thường xuyên luôn được thực hiện cơ bản tốt. Gửi công văn đôn đốc các huyện gửi báo cáo quyết toán cơ bản đúng thời gian, hướng dẫn huyện điều chỉnh các mẫu biểu quyết toán ngân sách tương đối đầy đủ, theo đúng mẫu biểu hướng dẫn của Bộ Tài chính, tổng hợp xét chuyển nguồn kinh phí sang năm sau thực hiện.
Hệ thống Tamis góp phần hỗ trợ rất lớn trong công tác quản lý ngân sách nói chung, kiểm soát chi ngân sách nói riêng, xác định rõ nội dung thu chi ngân sách, rõ rang, chính xác cũng như tập trung thông tin thu, chi ngân sách các cấp một cách đồng bộ, tức thời, trong quá trình kiểm soát.
2.4.2. Những hạn chế trong thực hiện kiểm soát chi ngân sách huyện
2.4.2.1. Kiểm soát chi xây dựng cơ bản
Trong lĩnh vực chi đầu tư XDCB, không bố trí đủ vốn trả nợ công trình XDCB, phải ứng vốn không có kế hoạch cho các công trình XDCB kéo dài; Cơ cấu chi đầu tư phát triển cũng còn nhiều bật cập như: chi đầu tư XDCB cũng chưa có trọng điểm, phần lớn chi XDCB cho cơ quan công quyền, đầu tư phát triển nguồn nhân lực còn thấp, chi đầu tư phát triển hạ tầng giao thông còn dàn trải, chưa đạt hiệu quả cao.
Cơ chế vốn đầu tư XDCB thay đổi thường xuyên, ban hành quá nhiểu, gây khó khăn trong tổ chức thực hiện
Cơ quan tài chính và kho bạc có sự phối hợp chặt chẽ, tuy nhiên chi ngân sách thường nhiều vào ba tháng cuối năm và tháng đầu năm của năm sau, gây khó khăn chi cơ quan tài chính thẩm tra quyết toán, do trong thời gian này hồ sơ, chứng từ thường xuyên bổ sung, điều chỉnh, thẩm tra quyết toán phải điều chỉnh số liệu.
Kiên quyết xử lý, kỷ luật trong chấp hành các chế độ quản lý NSNN về xây dựng cơ bản còn chưa nghiêm như các sai sót về việc thu hồi tạm ứng, chấp hành hợp đồng A-B, về thời hạn quyết toán hầu như điều bị sai phạm nhưng không xử lý được.
Công tác thẩm tra phê duyệt quyết toán vốn đầu tư đã có chuyển biến tích cực, tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, như: vẫn còn một số nhà thầu lập báo cáo quyết toán vốn đầu tư dây dưa kéo dài, chậm so với quy định; lập hồ sơ thanh toán khối lượng hoàn thành, hồ sơ quyết toán chưa đúng quy định hiện hành.
2.4.2.2. Kiểm soát chi thường xuyên và chi khác
a. Kiểm soát công tác lập, phân bổ dự toán
Theo quy định của Luật ngân sách nhà nước, hàng năm trên cơ sở dự toán của các cơ quan đơn vị lập, Sở Tài chính kiểm tra, tổng hợp, lập dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, dự toán thu, chi ngân sách báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh để trình Thường trực Hội đồng nhân dân xem xét trước ngày 20 tháng 7 năm trước. Tuy nhiên, các kế hoạch triển khai nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và Kế hoạch chi tiết về phát triển kinh tế xã hội của từng huyện thường được cơ quan có thẩm quyền ban hành sau thời điểm Sở Tài chính tổng hợp dự toán; điều đó ảnh hưởng đến chất lượng của việc giao và phân bổ dự toán ngân sách, có khoản giao thừa, có khoản giao thiếu.
Việc lập dự toán chi NSNN hàng năm chưa sát với thực tế, nên trong quá trình thực hiện còn phải bổ sung ngoài dự toán khá nhiều.
Việc khống chế các tỷ lệ cứng đối với chi cho lĩnh vực giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ… hàng năm được ấn định trong dự toán theo chỉ tiêu pháp lệnh của Chính phủ đã gây khó khăn cho ngân sách các cấp ở địa phương, vì không được điều chỉnh dự toán chi cho sự nghiệp khác. Trong khi đó ở huyện các đề tài, dự án về khoa học – công nghệ ít và hiệu quả không cao, dự án, đề tài kéo dài, lãng phí ngân sách.
Trong thời kỳ ổn định NS, một số nhiệm vụ chi được tỉnh chuyển về cho huyện, nhưng không được tỉnh tính bổ sung dự toán chi từ tỉnh cho huyện; định mức phân bổ dự toán ngân sách theo tiêu chí quan hệ tỷ lệ tiền lương và chi hoạt động, nhưng lại cố định ở mức lương tối thiểu (730.000 đồng) của năm đầu thời kỳ ổn định, nên khoản chi hoạt động qua các năm không tăng mà còn giảm.
Việc lập dự toán ở ngân sách cấp huyện (Phòng Tài chính- Kế hoạch) và các đơn vị dự toán cấp tỉnh còn chậm chưa đáp ứng được thời gian, chưa đầy đủ thông tin biểu mẫu; một số địa phương đơn vị chưa quan tâm, lập dự toán còn sơ sài gây khó khăn cho việc kiểm soát chi các nguồn kinh phí.
Huyện báo cáo nhu cầu nguồn cải cách tiền lương cao hơn so với thực tế, Sở Tài chính thẩm định nhu cầu trên cơ sở huyện báo cáo, dẫn đến cấp bổ sung thừa kinh phí tại một số huyện.
Việc kiểm tra kiểm soát các nguồn kinh phí tỉnh bổ sung mục tiêu còn chưa chặt chẽ, đối với các khoản mục tiêu tỉnh bổ sung hoạt động thường xuyên, huyện sử dụng còn thừa không thực hiện nộp trả tỉnh mà tổng hợp vào kết dư ngân sách huyện hoặc bổ sung hoạt động cho các đơn vị sử dụng ngân sách.
b. Kiểm soát công tác quyết toán
Cán bộ chuyên quản ngân sách huyện của Sở Tài chính chuyên môn còn hạn chế, vẫn còn xảy ra sai sót trong việc thẩm định dự toán, quyết toán ngân sách chưa kịp thời, chưa đúng thời gian theo quy định; Chất lượng thẩm định, xét duyệt quyết toán chưa cao; chưa kiên quyết trình cấp có thẩm quyền xử lý những tồn tại ở các huyện.
Thực tế, ngân sách huyện hàng năm phải hỗ trợ thêm kinh phí cho các cơ quan trung ương ở địa phương (cơ quan tư pháp, công an, quân đội, thuế, kho bạc nhà nước), việc hỗ trợ này đã tạo thêm nguồn lực tài chính cho các cơ quan trung ương ở địa phương để thực hiện nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện thực tế ở địa phương. Tuy nhiên, theo Luật NSNN quy định không được dùng NS của cấp này để chi nhiệm vụ của cấp khác (trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ).
Hàng năm, đa số các huyện sử dụng kết dư ngân sách để bổ sung chi hoạt động thường xuyên trên địa bàn. Tuy nhiên, kết dư ngân sách là do tích lũy tư nhiều năm, nên trong việc thuyết minh chi tiết nguồn kinh phí tạo nên kết dư thường là không rõ ràng, vả lại văn bản không quy định rõ kết dư ngân sách huyện sẽ được chi cho những nội dung nào, gây khó khăn trong việc kiểm soát chi cho Sở Tài chính.
Một số huyện thành phố chưa rà soát chặt chẽ nên đã đề nghị chuyển nguồn kinh phí bổ sung có mục tiêu một số nội dung chưa đúng quy định, nhiều khoản chi đã hết nhiệm vụ chi không thực hiện nộp trả ngân sách tỉnh mà đề xuất chuyển nguồn.
Việc lập báo cáo quyết toán của một số huyện chưa đảm bảo đúng biểu mẫu và thời gian theo quy định. Số liệu quyết toán ngân sách chủ yếu dựa vào số liệu kết xuất trên hệ thống Tamis nhưng việc nhập liệu và xử lý số liệu trên hệ thống tương đối phức tạp, cán bộ chuyên quản ngân sách huyện chuyên môn còn yếu, thường để xảy ra sai sót, số liệu quyết toán không đúng, phải điều chỉnh nhiều lần.
Hệ thống Tabmis không theo dõi hạch toán riêng từng nguồn kinh phí và chưa hỗ trợ cho việc lập báo cáo quyết toán theo Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 26/3/2003 của Bộ Tài chính.
2.4.3. Những nguyên nhân của các hạn chế trong thực hiện kiểm soát chi ngân sách huyện
Hai là, Những hạn chế của cơ quan tài chính trong công tác tham mưu điều hành ngân sách của các cấp chính quyền địa phương.
Ba là, đội ngũ cán bộ tài chính, ngân sách còn yếu về năng lực trình độ chuyên môn, còn nhiều mặt hạn chế trong hoạt động quản lý.
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI
NGÂN SÁCH HUYỆN QUA SỞ TÀI CHÍNH
3.1. ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH HUYỆN DO SỞ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
3.1.1. Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2020
3.1.1.2. Mục tiêu nhiệm vụ cụ thể

3.1.2.Quan điểm cần quán triệt trong công tác chi ngân sách
Để đạt được các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể nêu trên, trong quá trình triển khai thực hiện, từng đơn vị, bộ phận phòng ban chức năng, các tổ chức đoàn thể, mỗi cán bộ công chức, đảng viên phải bám sát và thực hiện tốt các yêu cầu cơ bản sau đây:
– Quán triệt đầy đủ, sâu sắc quan điểm, mục tiêu phát triển KT- XH giai đoạn từ năm 2016 – 2020 mà Nghị quyết đại hội Đại biểu tỉnh Đảng bộ lần thứ X đã đề ra. Chủ động triển khai đưa Nghị quyết vào nhiệm vụ cụ thể của đơn vị.
– Xây dựng và triển khai chương trình hành động phải cụ thể hóa đầy đủ các chủ trương đường lối của Đảng, chính sách Pháp luật của nhà nước và phải phù hợp với nhiệm vụ cụ thể của mỗi đơn vị, các nhân.
– Nâng cao đạo đức, phẩm chất, trình độ chuyên môn trình độ lý luận chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên; đổi mới phương pháp tổ chức hoạt động của chính quyền và các tổ chức đoàn thể trong cơ quan tạo động lực và phát huy cao vai trò của từng thành viên trong mỗi tổ chức.
3.1.2.2. Các nhiệm vụ trọng tâm
Huy động mọi nguồn lực tài chính và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để chủ động thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao và bền vững:
– Để đảm bảo nguồn lực tài chính đáp ứng nhiệm vụ phát triển KT – XH trong giai đoạn từ năm 2016 – 2020, ngành tài chính Kiên Giang phối hợp với các cơ quan có liên quan tập trung hòan thành chỉ tiêu thu ngân sách Nhà Nước hàng năm.
– Thực hiện đa dạng hóa các giải pháp huy động vốn từ các nguồn vốn trong xã hội, gồm: Vốn NSNN, vốn đầu tư ngoài nước, vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp và các loại vốn khác; đồng thời đề ra những giải pháp sử dụng nguồn vốn có trọng tâm, trọng điểm, tiết kiệm và hiệu quả.
– Thực hiện các chính sách động viên tài chính hợp lý nhằm khơi thông các nguồn lực trong xã hội, khuyến khích các thành phần kinh tế bỏ vốn ĐTPT sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở đó nâng cao khả năng khai thác nguồn thu cho NSNN.
– Tăng cường công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế… giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước để tập trung nguồn vốn cho ĐTPT.
Hoàn thiện cơ chế, chính sách, phân phối tài chính – ngân sách:
– Đổi mới chính sách phân phối tài chính – ngân sách một cách hợp lý, sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả nguồn lực đầu tư của xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển đồng bộ các vùng kinh tế gắn với bảo đảm công bằng xã hội và xóa đói giảm nghèo.
– Tiến hành cơ cấu lại chi NSNN theo hướng tích cực hơn, tăng chi cho ĐTPT nguồn nhân lực, đầu tư kết cấu hạ tầng xã hội, phân định rõ nội dung và phạm vi chi NSNN, tập trung cho những nhiệm vụ quan trọng và thiết yếu; thực hiện QLNN theo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định, tham mưu HĐND. UBND tỉnh bố trí ngân sách, đảm bảo cho các nhiệm vụ chi thường xuyên và các chỉ đạo đột xuất của cấp thẩm quyền; xác định nhu cầu kinh phí thực hiện cải cách tiền lương và nguồn kinh phí thực hiện cải cách tiền lương theo chiến lược cải cách tiền lương của Chính phủ cho từng giai đoạn.
– Tiếp tục thực hiện việc trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn toàn tỉnh.
Thực hiện có hiệu quả chủ trương thực hành tiết kiệm chống lãng phí, chống tham nhũng, nâng cao hiệu quả công tác kế toán, thanh tra.
Hoàn thiện công tác tổ chức, quản lý đội ngũ cán bộ tài chính như: đào tạo lại đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý tài chính từ tỉnh đến huyện đủ mạnh để đáp ứng nhiệm vụ đề ra trong tình hình hiện nay. Tăng cường công tác tổ chức cán bộ và đạo tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực của bộ máy tài chính địa phương.
Hoàn thiện quy trình chuyên môn nghiệp vụ kiểm soát chi ngân sách huyện: tập huấn, hoàn thiện quy trình kiểm soát chi; tăng cường kỷ luật trong sử dụng ngân sách đúng quy định; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống kiểm soát chi từ ngân sách tỉnh đến ngân sách huyện.
3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH HUYỆN DO SỞ TÀI CHÍNH THỰC HIỆN
3.2.1. Giải pháp thuộc về tổ chức, quản lý
3.2.1.1. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực và phẩm chất cán bộ Sở Tài chính tỉnh Kiên Giang
3.2.1.2. Tăng cường phối hợp với các cơ quan, ban, ngành trong thực hiện kiểm soát chi ngân sách
3.2.1.3. Tiếp nhận, xử lý kịp thời ý kiến, phản ánh của đơn vị sử dụng ngân sách trong quản lý thu chi ngân sách
3.2.2. Giải pháp thuộc về qui trình, chuyên môn, nghiệp vụ
3.2.2.1. Tập huấn, hoàn thiện quy trình kiểm soát chi
3.2.2.2. Tăng cường kỷ luật trong sử dụng kinh phí ngân sách đúng quy định
3.2.2.3. Nâng cao trình độ, chuyên môn nghiệp vụ kiểm soát chi
3.2.2.4. Tăng cường và hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra tài chính.
3.2.2.5. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống kiểm soát chi từ ngân sách tỉnh đến ngân sách huyện
3.2.3. Một số đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách huyện
Chế độ quản lý, định mức, tiêu chuẩn còn là cơ sở để thực hiện kiểm tra, kiểm soát là cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện chính sách tiết kiệm, là thước đo của hiệu quả quản lý và sử dụng ngân sách.
Khi quy định nguồn thu, nhiệm vụ chi và xây dựng định mức phân bổ ngân sách cần chú ý đến những yếu tố đặc thù của các địa phương và yếu tố trượt giá hàng năm.
Quy định hiện hành không được dùng ngân sách của cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác, trừ trường hợp đặc biệt theo quy định của Chính phủ.
Việc sử dụng dự phòng NS cần xác định rõ ràng về tiêu chí nhiệm vụ nào cấp bách, nhiệm vụ nào phát sinh ngoài dự toán được phép chi từ nguồn dự phòng.
Tiêu chí làm căn cứ để xây dựng các định mức chi phải đảm bảo rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu, dễ làm và dễ kiểm tra trong quá trình thực hiện.
Đối với định mức chi giáo dục đào tạo tại các trường nên tỉnh nên tính giao cho huyện theo cơ cấu tăng tỷ lệ chi tiền lương, giảm tỷ lệ chi hoạt động, có như vậy mới đáp ứng yêu cầu chi lương cho giáo dục.
Chi an ninh – quốc phòng: thời kỳ ổn định NS tiếp theo, tỉnh cần ban hành thêm định mức hỗ trợ kinh phí cho lĩnh vực an ninh, quốc phòng trên địa bàn tỉnh ngoài định mức của TW ban hành.
Đối với định mức chi mua sắm sửa chữa hàng năm, tỉnh nên qui định bằng 1% trên tổng chi thường xuyên của huyện. Như vậy mới đủ nguồn kinh phí đảm bảo chi mua sắm, sửa chữa của huyện.
Sửa đổi qui định về sử dụng tăng thu ngân sách, trong quá trình thực hiện ngân sách nếu có số tăng thu và tiết kiệm chi so với dự toán được giao thì các cấp ngân sách chính quyền địa phương được sử dụng để giảm bội chi, tăng chi trả nợ, tăng chi ĐTPT, chi thực hiện chính sách, chế độ mới ban hành, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách.
Để giúp cơ quan tài chính các cấp thực hiện công tác quyết toán ngân sách hàng năm, như lập quyết toán thu chi NSNN cấp mình, tổng hợp báo cáo thu NSNN trên địa bàn, quyết toán chi NSĐP, quyết toán chi kinh phí uỷ quyền, quyết toán vốn ĐTXDCB, quyết toán chương trình mục tiêu… Bộ Tài chính cần khẩn trương hoàn thiện dự án Tabmis phục vụ cho công tác theo dõi nguồn kinh phí của ngân sách các cấp và phục vụ cho việc quyết toán ngân sách hàng năm của cơ quan tài chính các cấp nói chung và Sở Tài chính nói riêng.
Hàng năm mở các lớp tập huấn về các chế độ chính sách quản lý ngân sách và ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý ngân sách để nâng cao năng lực cán bộ tài chính từ tỉnh đến huyện, xây dựng đội ngũ công chức ngành tài chính đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao.
KẾT LUẬN
Hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện gắn liền với việc thực hiện các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước của tỉnh Kiên Giang. Trong giai đoạn hội nhập và phát triển; với mục tiêu sớm đưa tỉnh Kiên Giang trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, nhu cầu ngân sách cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa là rất lớn. Với mục tiêu đó, việc quản lý và sử dụng nguồn vốn ngân sách tiết kiệm và hiệu quả là nhiệm vụ hết sức quan trọng đặt ra với ngành tài chính tỉnh nhà.
Với vai trò là cơ quan tham mưu, giúp Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính, ngân sách nhà nước; Hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện là nhiệm vụ thiết thực trong giai đoạn hiện nay đối với ngành Tài chính Kiên Giang nói chung và Sở Tài chính Kiên Giang nói riêng. Đây là nhiệm vụ rất khó khăn không chỉ riêng đối với Sở Tài chính Kiên Giang mà còn liên quan đến tất cả các cấp chính quyền địa phương, các sở ban ngành, đoàn thể, các đơn vị có quan hệ với ngân sách địa phương. Quá trình nghiên cứu, Luận văn đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản sau đây:
– Khái quát và phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về ngân sách nhà nước, chi ngân sách nhà nước, kiểm soát chi ngân sách nhà nước qua Sở Tài chính, làm tiền đề cho việc đánh giá thực trạng quá kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2014 -2016 do Sở Tài chính thực hiện.
– Phân tích và đánh giá thực trạng trong việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện qua Sở Tài chính; trên cơ sở đó nêu ra những vấn đề cần thiết khách quan phải hoàn thiện làm cơ sở cho việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện trong giai đoạn tiếp theo.
– Đề xuất mục tiêu và các giải pháp nhằm hoàn thiện việc kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện qua Sở Tài chính tỉnh Kiên Gaing. Bao gồm các giải về công tác tổ chức, quản lý cán bộ tài chính, hoàn thiện các quy trình kiểm soát chi, công tác phối hợp các cơ quan ban ngành trong kiểm soát chi, và giải pháp hoàn thiện quy trình chuyên môn nghiệp vụ kiểm soát chi ngân sách huyện, tăng cường kỷ luật trong sử dụng ngân sách đúng quy định, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống kiểm soát chi từ ngân sách tỉnh đến ngân sách huyện.
Với kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn công tác quản lý tài chính ngân sách, trên cơ sở phân tích, đánh thực trạng về thực hiện quy trình ngân sách địa phương, nêu ra các mục tiêu và giải pháp hữu hiệu nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi ngân sách nhà nước tại các huyện qua Sở Tài chính với mong muốn góp một phần nhỏ trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh nhà.
Mặt dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và trình bày, nội dung Luận văn đưa ra mang tính chất thực tế, tuy nhiên vẫn không thể tránh khỏi thiếu sót. Bản thân tôi rất mong được sự đóng góp của quý Thầy, Cô giáo và các bạn, để cho bản thân tôi có nhiều kinh nghiệm thực tế hơn trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ công tác tại cơ quan và trong cuộc sống.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LOP KIEN GIANG\LUAN VAN DA NOP DUY TAN\R.LUAN VAN PHAM THI THIEN THU


