Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng

Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống ngân hàng vốn được xem là cốt lõi và có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến sự thăng trầm của nền kinh tế. Cùng với sự tăng trưởng ấn tượng của nền kinh tế Việt Nam trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam đã không ngừng phát triển cả về quy mô và chất lượng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một nước đang phát triển và hoạt động chủ yếu của hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn là hoạt động tín dụng. Đây là lĩnh vực mang lại lợi nhuận chính cho ngân hàng nhưng đồng thời cũng gắn liền với nhiều rủi ro và hậu quả cũng thường rất nặng nề.

Rủi ro trong hoạt động tín dụng làm tăng thêm chi phí của ngân hàng, thu nhập lãi giảm hoặc mất đi cùng với thất thoát vốn vay, tình hình tài chính của ngân hàng bị suy giảm cũng như ảnh hưởng đến uy tín và vị thế của ngân hàng. Rủi ro tín dụng không chỉ ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh của một ngân hàng mà còn có thể mang tính hệ thống và ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường tiền tệ ngân hàng cũng như toàn bộ nền kinh tế. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 là minh chứng cụ thể cho vấn đề này. Chính vì vậy việc kiểm soát rủi ro trong hoạt động tín dụng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.

Tại Việt Nam, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đến 98% tổng số doanh nghiệp và đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế. Nhận thấy tầm quan trọng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngân hàng thương mại đã đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cho vay đối với loại hình doanh nghiệp này. Tuy nhiên, đặc điểm chung của các doanh nghiệp nhỏ và vừa là hạn chế về vốn, công nghệ, thị trường cũng như năng lực quản trị và sự minh bạch về thông tin. Do đó, hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro và việc quản trị rủi ro trong cho vay loại hình doanh nghiệp này có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Vì những lý do đó, tôi đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng” cho luận văn thạc sĩ.

2. Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm giải quyết ba vấn đề cơ bản như sau:

– Hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay của ngân hàng thương mại

– Phân tích, đánh giá công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

– Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng trong tương lai.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề liên quan đến quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Do thời gian và nguồn lực có hạn nên đề tài chỉ tập trung nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng giai đoạn 2014-2016.

4. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính. Cụ thể là, dựa trên số liệu về hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng, luận văn thực hiện thống kê, so sánh và phân tích tình hình cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tiếp đó, các chỉ tiêu về chất lượng cho vay được tổng hợp và kết hợp với qui trình quản trị rủi ro tín dụng hiện tại của ngân hàng để đánh giá về công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng. Dựa trên kết quả phân tích, luận văn thực hiện đánh giá và đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm tăng cường công tác quản trị rủi ro trong cho vay nói chung và trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng tại ngân hàng.

Dữ liệu phục vụ nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được cung cấp bởi Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng.

5. Bố cục đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại

Chương 2: Thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh Đà Nẵng

6. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO

TÍN DỤNG TRONG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

. Khái niệm rủi ro tín dụng

Tín dụng là hoạt động đặc trưng và mang lại lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng, nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất lớn. “Về mặt bản chất, tín dụng là sự vận động độc lập tương đối các luồng giá trị từ chủ thể này sang chủ thể khác với điều kiện phải hoàn trả đúng hạn, có lãi và đảm bảo giá trị” [9, tr.216].

Do đó, rủi ro tín dụng (RRTD) từ lâu đã trở thành đề tài rất được quan tâm bởi các nhà khoa học nghiên cứu. Nhiều định nghĩa khác nhau về RRTD cũng được đề xuất dựa trên nhiều quan niệm khác nhau. Theo Downes John and Jordan Goodman [23], RRTD là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh tóan được nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong họat động cho vay của ngân hàng. Theo Henie Van Greuning và Sonja Brajovic Bratanovic [27], RRTD được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi, hoặc hòan trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khỏan của ngân hàng. Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng ñể xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ- NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng (KH) không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [7].

Nhìn chung, RRTD có thể được hiểu như những khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng cho KH, là những thiệt hại, mất mát và tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do khách hàng vay vốn không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi [12].

Theo Luật tổ chức tín dụng Việt Nam [8] thì: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do KH không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.

. Phân loại rủi ro tín dụng

Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh, RRTD được phân chia thành: rủi ro giao dịch (Transaction risk) và rủi ro danh mục (Portfolio risk) (xem Sơ đồ).

Sơ đồ 1.1. Phân loại rủi ro tín dụng

– Rủi ro giao dịch: nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá KH. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.

+ Rủi ro lựa chọn: là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, lựa chọn KH khi tác nghiệp chưa tốt. Cụ thể việc phân tích đánh giá KH còn nhiều sơ hở; Lựa chọn phương án vay vốn còn qua loa; Phương án thu nợ thiếu chắc chắn dẫn đến rủi ro.

+ Rủi ro bảo đảm: phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo.

+ Rủi ro nghiệp vụ: là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề

– Rủi ro danh mục: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại: Rủi ro nội tại (Intrinsic risk) và rủi ro tập trung (Concentration risk).

+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của KH vay vốn.

+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số KH, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.

Ngoài ra RRTD còn có thể được phân thành RRTD khách quan (là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên tai, địch họa, người vay chết, mất tích, bỏ trốn… và các biến động ngoài dự kiến khác dẫn đến thất thoát vốn vay); và RRTD chủ quan (là rủi ro do nguyên nhân chủ quan của người vay và người cho vay do vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay).

. Nguyên nhân xảy ra rủi ro tín dụng

Có ba nhóm nguyên nhân phổ biến gây RRTD mà các ngân hàng thường gặp phải.

. Những nguyên nhân từ phía ngân hàng

– Từ trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực của cán bộ ngân hàng còn hạn chế như kỹ năng thẩm định thấp, xác định kỳ hạn nợ, thời hạn cho vay không phù hợp, xác lập hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp không đầy đủ, chi tiết; theo dõi và quản lý khoản vay chưa chặt chẽ, chưa sâu sát với với những diễn biến hoạt động của KH để có những biện pháp xử lý kịp thời…

– Từ tài sản bảo đảm tiền vay của khách hàng vay hoặc của người bảo lãnh: rủi ro phát sinh do hồ sơ pháp lý của tài sản bảo đảm không bảo đảm hợp lệ, hợp pháp dẫn đến khó khăn hoặc bị vô hiệu hóa hợp đồng thế chấp khi xử lý phát mãi. Nó có thể phát sinh từ việc thẩm định giá tài sản không phù hợp với thị trường dẫn đến kết quả là bán tài sản thế chấp không thu hồi đủ nợ ngân hàng.

– Cạnh tranh nhằm thu hút khách hàng giữa các ngân hàng khiến cho việc thẩm định khách hàng sơ sài, một số ngân hàng còn hạ thấp tiêu chuẩn tín dụng, giảm thời gian thẩm định. Đây là hình thức cạnh tranh không lành mạnh, tăng rủi ro trong hoạt động tín dụng.

– Quá chú trọng đến lợi nhuận nên nhiều ngân hàng đã chấp nhận rủi ro cao, chạy theo doanh số hoặc khách hàng chấp nhận mức lãi suất cao. Do chú trọng đến lợi nhuận, ngân hàng đã bất chấp những khoản vay không lành mạnh, thiếu an toàn gây mất an toàn vốn của ngân hàng.

– Ngoài ra rủi ro tín dụng cũng dễ dàng nhận thấy từ chính sách tín dụng của NHTM nếu quá tập trung tín dụng vào một khách hàng, một nhóm khách hàng hoặc một ngành hàng. Thực tế cho thấy các ngân hàng thương mại quốc doanh trước đây đều tập trung vào cho vay các daonh nghiệp nhà nước, có tài sản bảo đảm không đầy đủ. Trong nền kinh tế thị trường và quá trình hội nhập, các doanh nghiệp nhà nước đã bộc lộ tính yếu kém trong quản lý và hiệu quả kinh doanh, nhiều doanh nghiệp không còn khả năng cạnh tranh đi đến thua lỗ phá sản, hậu quả là các NHTM quốc doanh phải gánh chịu số nợ tồn đọng khá lớn mà đến nay vẫn còn tiếp tục giải quyết.

. Những nguyên nhân từ phía khách hàng

Do khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích, tiền vay không có tác dụng thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến doanh nghiệp vay vốn làm ăn kém hiệu quả, nợ phải trả tăng trong đó có nợ vay ngân hàng. Ngoài ra, phần lớn những nguyên nhân dẫn đến khoản cho vay kém và mất an toàn bắt nguồn từ tình trạng mất khả năng trả nợ của khách hàng, khả năng trả nợ bị suy yếu hoặc không còn khả năng, nguyên nhân có thể do: năng lực và trình độ quản lý yếu kém; Thiếu vốn hoặc tỷ trọng vốn vay quá lớn trong tổng nguồn vốn hoạt động; Công nghệ sản xuất lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, không đáp ứng được nhu cầu của thị trường.

. Những nguyên nhân do môi trường bên ngoài

– Môi trường pháp lý hoàn thiện, đồng bộ sẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh ngân hàng an toàn hiệu quả. Ngược lại, khi chính sách nhà nước thay đổi theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp thì sẽ tác động đến độ an toàn tín dụng. Chẳng hạn như chính sách liên quan đến giao dịch bảo đảm và các quy định trong xử lý tài sản đảm bảo của ngân hàng thường gặp khó khăn khi thực hiện do vấn đề quyền sở hữu không rõ ràng. Công tác quản lý nhà nước về chế độ thống kê, kế toán và kiểm toán nhất là đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh chưa được giám sát chặt chẽ, tạo điều kiện cho nhiều doanh nghiệp lừa đảo xuất hiện.

– Môi trường kinh tế cũng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động kinh doanh của khách hàng, cũng như hoạt động tín dụng của ngân hàng. Khi nền kinh tế suy thoái, sức mua giản sút, hàng hóa tiêu thụ chậm sẽ ảnh hưởng đến nguồn thu và lợi nhuận của khách hàng dẫn đến khó trả nợ được đầy đủ và đúng hạn. Những vấn đề về thay đổi lãi suất, tỷ giá ngoại hối, lạm phát, nguyên liệu đầu vào tăng, đặc biệt là các rào cản thương mại đối với hàng xuất nhập khẩu làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, từ đó gây ra rủi ro cho vay đối với ngân hàng.

– Rủi ro từ môi trường thiên nhiên như động đất, bão lụt, hạn hán sẽ tác động xấu tới phương án đầu tư của khách hàng, làm cho khách hàng khó có khả năng trả nợ đúng hạn cho ngân hàng, từ đó gây ra rủi ro cho vay đối với ngân hàng.

. Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng và nền kinh tế

RRTD luôn tiềm ẩn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội của quốc gia và lan rộng trên phạm vi toàn cầu.

. Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng

Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng vẫn phải trả lãi cho người gửi tiền khi đến hạn, gây mất cân đối thu chi, vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí tăng. Từ đó, bắt buộc phải thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh giảm không những đối với thị trường nội địa mà còn lan rộng sang các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu có thể dẫn đến thua lỗ hoặc đưa đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.

. Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội

Bản chất và chức năng của ngân hàng là một tổ chức trung gian tài chính chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân có nhu cầu vay lại. Do vậy hoạt động tín dụng của ngân hàng có mặt trong tất cả các giai đoạn của quá sản xuất kinh doanh, tham gia hỗ trợ hoạt động của mọi doanh nghiệp, mọi lĩnh vực của nền kinh tế. Cho nên khi rủi ro tín dụng xảy ra quá lớn mà ngân hàng không xử lý được thì sẽ gây hậu quả khó lường, có khả năng dẫn đến phá sản và tác động dây chuyền đến cả hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp, người gửi tiền, từ đó làm cho nền kinh tế mất ổn định ngưng trệ, giá cả tăng, sức mua giảm, lạm phát, thất nghiệp gia tăng. Kinh nghiệm cho ta thấy cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và cuộc khủng hoảng tài chính Nam Mỹ (2001-2002) đã làm rung chuyển toàn cầu. Mặt khác, mối liên hệ về tiền tệ, đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh nên rủi ro tín dụng tại một nước ảnh hưởng trực tiếp ñến nền kinh tế các nước có liên quan.

Như vậy, rủi ro tín dụng xảy ra ở mức độ nhẹ thì sẽ làm cho ngân hàng giảm sút lợi nhuận, nếu rủi ro tín dụng xảy ra ở ở quy mô lớn vượt quá khả năng xử lý của ngân hàng gây nên hậu quả phá sản thì nó sẽ tác động xấu đến hệ thống ngân hàng, làm cho nền kinh tế bất ổn. Rủi ro tín dụng gây ảnh hưởng vô cùng nghiệm trọng, vì vậy đòi hỏi các ngân hàng phải có chiến lược quản trị rủi ro hiệu quả nhằm giảm thiểu tối đa tổn thất trong cho vay.

. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của ngân hàng thương mại (NHTM) [12]. Hoặc hiểu ngắn gọn hơn thì quản trị rủi ro tín dụng chính là việc hạ thấp rủi ro tín dụng, nâng cao mức độ an toàn cho kinh doanh của NHTM bằng các chính sách các biện pháp quản lý, giám sát các hoạt động tín dụng khoa học và hiệu quả [29]. Quản trị rủi ro tín dụng là một khâu trong quá trình quản trị tín dụng và là công cụ để kiểm soát thua lỗ trong hoạt động tín dụng của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng gắn liền với quản trị và kinh doanh tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo của NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng phải hướng vào các mục tiêu sau:

+ Đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh, trong giới hạn rủi ro có thể giám sát và khả năng chịu đựng được rủi ro.

+ Đảm bảo hoạt động an toàn, hiệu quả, phát triển bền vững trong điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro ngày một gia tăng.

+ Thực hiện đúng các quy định của nhà nước và của pháp luật hiện hành.

Với mục tiêu trên dễ dàng nhận thấy quản trị rủi ro tín dụng phải là hoạt động tất yếu, thường xuyên, liên tục trong suốt quá trình hoạt động của ngân hàng. Quản trị rủi ro tín dụng tốt là yếu tố chủ yếu quyết định thành công của ngân hàng. Ngược lại, thất bại của các ngân hàng phần khá lớn bắt nguồn từ những vấn đề về tín dụng.

. Nội dung của công tác quản trị rủi ro tín dụng

Với cách tiếp cận quản trị rủi ro như trên, nội dung chính của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng là một hệ thống gồm chiến lược hoạt động tín dụng, các chính sách của NHTM trong hoạt động tín dụng và các biện pháp được triển khai trong toàn bộ hệ thống NHTM nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Nội dung cụ thể gồm: Hình thành các chính sách và chiến lược rủi ro tín dụng; Phát triển mô hình xếp hạng rủi ro tín dụng; Phát triển mô hình đo lường rủi ro tín dụng; Quản trị rủi ro danh mục đầu tư; Quản trị rủi ro tín dụng trong các giao dịch liên ngân hàng và các hoạt động ngoại bảng; Quản trị rủi ro quốc gia trong cho vay và đầu tư xuyên quốc gia; Phát triển các chiến lược hạn chế rủi ro tín dụng; Phát triển qui trình theo dõi xếp hạng người vay; Thiết lập cơ chế đánh giá và kiểm soát tín dụng; Thiết lập phương pháp đánh giả lợi nhuận điều chỉnh rủi ro đối với vốn; Thiết lập phương pháp phân bổ vốn đối với rủi ro tín dụng; và Xây dựng chính sách định giá khoản vay [26].

Các nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cũng chỉ rõ quản trị rủi ro tín dụng cần đảm bảo việc thiết lập một môi trường rủi ro tín dụng phù hợp, hoạt động theo một qui trình cấp tín dụng bảo đảm, duy trì quá trình quản trị, đo lường và giám sát tín dụng phù hợp, cũng như đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng. Các ngân hàng cần thực hiện đầy đủ bốn nguyên tắc này nhằm đảm bảo hiệu quả của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng [26].

Trong quản trị rủi ro tín dụng thì chính sách tín dụng đóng vai trò hết sức quan trọng. Đây là những nguyên tắc chung hướng dẫn quá trình cấp tín dụng cho khách hàng. Chính sách tín dụng qui định những đối tượng được cấp tín dụng, thời điểm và lý do cấp tín dụng bao gồm phương án trả nợ và tài sản bảo đảm, cũng như biện pháp đánh giá rủi ro khách hàng vay vốn [30]. Afanasieff và cộng sự [1], Flannerry và Rangan [25] cho rằng chính sách tín dụng thắt chặt sẽ giúp cải thiện chất lượng tài sản, thiết lập được các tiêu chuẩn tối thiểu và áp dụng một ngôn ngữ và phương pháp chung đối với đo lường và báo cáo các tài sản không hoạt động, phân loại và giám sát khoản vay.

Một nội dung quan trọng khác của quản trị rủi ro tín dụng là hạn chế rủi ro tín dụng. Mục tiêu chính là để loại bỏ hoặc giảm thiểu mức độ lỗ trong trường hợp khách hàng không trả được nợ, bên cạnh việc tối thiểu hóa khả năng không trả được nợ của khách hàng đến mức cao nhất có thể. Ba phương pháp phổ biến để hạn chế rủi ro tín dụng là: (1) Phương pháp truyền thống; (2) Phương pháp đảm bảo tín dụng và (3) phương pháp phái sinh tín dụng. Phương pháp truyền thống liên quan đến việc thắt chặt quản trị tín dụng thông qua ứng dụng các qui định và qui trình nội bộ. Các qui định và qui trình này cần được tuân thủ chặt chẽ để đảm bảo chất lượng tín dụng. Việc phân tích các khoản vay dưới chuẩn và kiểm tra các khoản nợ có vấn đề sẽ chỉ ra những yếu kém trong hệ thống quản trị tín dụng và nguyên nhân khách hàng không trả được nợ. Từ đó ngân hàng sẽ có các biện pháp cần thiết để giảm thiểu rủi ro. Đối với phương pháp truyền thống, việc thắt chặt qui trình cấp tín dụng, nâng cao tiêu chuẩn cho vay, thắt chặt qui trình giải ngân để ngăn ngừa việc sử dụng vốn sai mục đích, theo dõi tài chính khách hàng vay và giám sát chặt chẽ hoạt động tài khoản vay của khách hàng, đẩy nhanh quá trình thu nợ trong trường hợp khách hàng có khả năng không trả nợ. Mặc dù phương pháp truyền thống rất quan trọng nhưng lại ít được ngân hàng quan tâm. Thông thường, ngân hàng thường dựa vào hệ thống kiểm toán nội bộ và cho rằng những yếu kém của hệ thống quản trị tín dụng sẽ được nhận diện thông qua đề xuất của kiểm toán nội bộ. Tuy nhiên, kiểm toán nội bộ chủ yếu là phát hiện những bất thường chứ không phải những thiếu sót của hệ thống và qui trình. Trong khi đó, những điều này cần được xem xét và điều chỉnh thường xuyên. Do đó, tăng cường qui trình quản trị tín dụng được ví như việc vá lỗ hổng hệ thống kịp thời nhằm tránh những hậu quả lớn trong tương lai [26].

Phương pháp đảm bảo tín dụng được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và giảm rủi ro tín dụng liên quan đến một hoặc một số các giao dịch cụ thể. Đẩy mạnh tín dụng có thể được thực hiện thông qua thế chấp khoản vay, bảo đảm khoản vay, cho vay hợp vốn, bảo hiểm khoản vay hoặc chứng khoán hóa khoản vay. Một cách khác đơn giản để hạn chế rủi ro tín dụng là yêu cầu người vay ký quỹ tại ngân hàng [25].

Phương pháp phái sinh tín dụng hạn chế rủi ro bằng việc sử dụng các công cụ phái sinh. Đây là các công cụ tài chính không có giá trị độc lập mà giá trị của nó phụ thuộc vào tài sản cơ cở. Để hạn chế rủi ro tín dụng, ngân hàng sẽ dùng các phái sinh tín dụng để chuyển rủi ro từ các khoản tín dụng sang một bên khác. Các phái sinh tín dụng phổ biến gồm hợp đồng hoán đổi tín dụng (nhằm bảo vệ ngân hàng khỏi khoản lỗ từ khoản cấp tín dụng), hợp đồng hoán đổi lãi suất (nhằm bảo vệ ngân hàng khỏi khoản lỗ thu nhập lãi tín dụng), trái phiếu ràng buộc với tài sản cơ sở là một hoặc nhiều tài sản (rủi ro được chuyển sang cho nhà đầu tư trái phiếu đồng ý chấp nhận mệnh giá thấp hơn để đổi lấy lợi tức cao hơn nếu những rủi ro đối với khoản tín dụng diễn ra trước thời điểm đáo hạn trái phiếu). Các công cụ phái sinh tín dụng có thể được sử dụng rộng rãi nếu tồn tại thị trường phái sinh tín dụng và có nhiều người mua bán các sản phẩm này. Ngoài ra, ngân hàng cũng phải cẩn thận trong việc lựa chọn đối tác để mua các sản phẩm phái sinh nhằm tránh trường hợp đối tác không thực hiện cam kết theo hợp đồng [26].

. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả quản trị rủi ro tín dụng

Đánh giá kết quả quản trị RRTD là thực hiện việc xác định mức độ nghiêm trọng của tổn thất, thông thường được sử dụng bằng các chỉ tiêu sau :

– Mức giảm tỷ lệ nợ quá hạn

Nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn trả nợ theo hợp đồng cam kết. Tỷ lệ nợ quá hạn được tính:

Tỷ lệ nợ quá hạn=Dư nợ quá hạn× 100%
Tổng dư nợ

Mức giảm tỷ lệ nợ quá hạn = [(tỷ lệ nợ quá hạn năm thực hiện – tỷ lệ nợ quá hạn năm trước) / tỷ lệ nợ quá hạn năm trước] x 100%

Mức giảm tỷ lệ nợ quá hạn gián tiếp đánh giá quy mô tăng giảm của các khoản nợ vay có vấn đề. Nếu mức này có trị số âm chứng tỏ khả năng quản trị RRTD của ngân hàng được cải thiện theo hướng tích cực, ngược lại ngân hàng phải xem xét đánh giá lại quy trình, thủ tục cho vay. Tuy nhiên, nợ quá hạn chưa phải là tổn thất của NHTM, đây vẫn là chỉ tiêu gián tiếp, bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này đều dẫn đến tổn thất.

– Mức giảm tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5) và tổng dư nợ cho vay ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm

Tỷ lệ nợ xấu=Dư nợ xấu (nợ nhóm 3, 4, 5)× 100%
Tổng dư nợ vay

Mức giảm tỷ lệ nợ xấu = [(tỷ lệ nợ xấu năm thực hiện – tỷ lệ nợ xấu năm trước) / tỷ lệ nợ xấu năm trước] x 100%

Tương tự mức giảm tỷ lệ nợ quá hạn, mức giảm tỷ lệ nợ xấu có giá trị dương thì rủi ro tín dụng của ngân hàng gia tăng, khi mức giảm tỷ lệ nợ xấu tăng quá mức thì tình hình tài chính ngân hàng có khả năng bị suy giảm.

– Mức giảm tỷ lệ trích lập dự phòng

Dự phòng rủi ro (DPRR) là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra cho khách hàng của tổ chức tín dụng.

Tỷ lệ DPRR=DPRR được trích× 100%
Dư nợ trong kỳ báo cáo

Mức giảm tỷ lệ DPRR = [(tỷ lệ DPRR năm thực hiện – tỷ lệ DPRR năm trước) / tỷ lệ DPRR năm trước] x 100%

Tỷ lệ DPRR phản ảnh khả năng chống đỡ của Ngân hàng đối với các khoản tổn thất tín dụng, chủ động đối phó với các khoản tổn thất dự kiến thông qua việc lập quĩ dự phòng rủi ro hàng năm. Mức giảm tỷ lệ DPRR tăng cho thấy danh mục cho vay của Ngân hàng tăng rủi ro tiềm ẩn và ngược lại.

– Tỷ lệ nợ xóa ròng

Tỷ lệ nợ xóa ròng=Nợ xóa ròng× 100%
Tổng dư nợ vay

Nợ xoá ròng = dư nợ các khoản vay đã xoá nợ vì rủi ro – giá trị các khoản thu bù đắp thiệt hại. Đây là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu nợ từ các khoản nợ đã chuyển ra ngoại bảng và đang được ngân hàng sử dụng các biện pháp để đòi. Nếu chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ khả năng quản trị RRTD kém vì ngân hàng có quá nhiều các khoản nợ ngoại bảng mà không thể thu hồi và ngược lại.

. Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN DUY TAN\LUAN VAN DUY TAN\LE NGUYEN THANH TUNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *