Quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngành thủy sản của nước ta đã và đang có những bước phát triển nhanh và ổn định, trở thành ngành kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, thực hiện xoá đói giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của cộng đồng cư dân. Đến năm 2016, tổng sản lượng thủy sản đạt hơn 6,7 triệu tấn (tăng hơn 6,5 lần so với năm 1990); tỷ trọng sản lượng nuôi trồng tăng lên gần 54%; giá trị kim ngạch xuất khẩu đã vượt mức 7 tỷ USD. Sản phẩm thủy sản Việt Nam đã có mặt tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ. Sự tăng trưởng ổn định của ngành thủy sản trong thời gian qua khăng định được vị thế quan trọng trong cộng đồng nghề cá thế giới, đứng thứ 8 về sản lượng khai thác thủy sản, thứ 3 về sản lượng nuôi thủy sản và thứ 3 về giá trị xuất khẩu thủy sản [18].
Huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi có bờ biển dài trên 40km, có 2 cửa biển Mỹ Á và Sa Huỳnh, là đầu mối giao thông đường thủy và là tụ điểm của nghề cá, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản. Trong những năm qua, ngành thủy sản của Đức Phổ có những bước phát triển nhanh và ổn định, trở thành ngành kinh tế trọng điểm của địa phương, góp phần chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn, giải quyết việc làm, thực hiện xóa đói giảm nghèo, cải thiện đời sống của cộng đồng dân cư, đóng góp quan trọng vào việc giữ gìn an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển đảo của Tổ quốc. Bên cạnh đó, phương thức quản lý, chỉ đạo và tổ chức sản xuất thủy sản cũng có sự chuyển biến tích cực như: Từ chỉ đạo hành chính sang chỉ đạo theo chương trình, dự án trọng điểm; từ sản xuất mang tính tự cung tự cấp với mức đầu tư thấp sang sản xuất hàng hóa đáp ứng thị trường; từ quy mô nhỏ lẻ sang quy mô trang trại, hợp tác xã và từ đối tượng truyền thống sang nuôi các giống mới, có thời gian nuôi ngắn theo hướng thâm canh cho năng suất, hiệu quả kinh tế cao. Việc ứng dụng các tiến bộ mới vào sản xuất được chú trọng, di nhập và sản xuất được một số giống mới có năng suất, giá trị kinh tế phục vụ nuôi trồng…. Vì vậy sản xuất thủy sản có bước phát triển cả về quy mô, diện tích, sản lượng mang lại hiệu quả rõ nét, đưa thủy sản trở thành chương trình nông nghiệp trọng điểm của huyện.
Tuy nhiên, cùng với nhiều thuận lợi và cơ hội, ngành thủy sản huyện Đức Phổ cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức để tiếp tục phát triển bền vững và hiệu quả, như: Công tác chỉ đạo và tổ chức sản xuất theo quy hoạch, kế hoạch chưa được quan tâm; nguồn lực đầu tư phát triển sản xuất còn rất hạn chế; dịch vụ phục vụ phát triển sản xuất chưa phát triển; công tác thanh tra, kiểm tra chưa đáp ứng được yêu cầu; cơ chế chính sách khuyến khích chưa hấp dẫn; lực lượng cán bộ quản lý lĩnh vực chuyên ngành mỏng; quản lý con giống, vùng nuôi theo hướng tạo sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm còn nhiều hạn chế; cơ sở hạ tầng kỹ thuật nghề cá chưa được đầu tư tương xứng với nhu cầu phát triển…
Để thúc đẩy ngành thủy sản tại huyện Đức Phổ phát triển nhanh và bền vững, cần phải giải quyết được những tồn tại, hạn chế trong đó việc đổi mới công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với ngành thủy sản có vai trò hết sức quan trọng. Vì vậy, đề tài: “Quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi” được lựa chọn làm chủ đề nghiên cứu của luận văn thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, từ đó đề xuất các giải pháp quản lý đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
– Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý nhà nước về thủy sản;
– Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ trong thời gian qua;
– Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về thủy sản tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là QLNN về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung:
Xét theo công đoạn, chuỗi giá trị, hoạt động thủy sản bao gồm: hoạt động khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu thủy sản, dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản. Nhằm tập trung phân tích sâu vấn đề, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu các nội dung về nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản.
Quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản là vấn đề rất rộng và phức tạp. Vì vậy, dưới góc độ quản lý kinh tế, luận văn không nghiên cứu dàn trải các vấn đề mà tập trung nghiên cứu một số chức năng, nội dung chủ yếu trong quản lý nhà nước cấp huyện đối với ngành thủy sản ở Đức Phổ trên các mặt: Ban hành và triển khai thực hiện các văn bản, chính sách ngành thủy sản; định hướng phát triển thủy sản qua xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch; tổ chức các hoạt động phát triển ngành thủy sản; kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thủy sản. Qua đó tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phát triển sản xuất, phát huy tiềm năng, lợi thế, nâng cao hiệu quả kinh tế, thu nhập cho người nuôi, đồng thời nâng cao giá trị sản xuất ngành thủy sản trong nội bộ ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Đức Phổ.
Về không gian: Luận văn nghiên cứu đối với huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Về thời gian: Luận văn nghiên cứu các nội dung trong giai đoạn 2013–2017, đề xuất các giải pháp đến 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
5. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cách tiếp cận
Khung phân tích của đề tài:
Bối cảnh phát triển
– Nội dung QLNN
– Công cụ QLNN
– Các tiêu chí đánh giá
QLNN về thủy sản ở huyện Đức Phổ
– Quan điểm, phương hướng QLNN
– Giải pháp
Các nhân tố ảnh hưởng
Đề tài sử dụng các cách tiếp cận nghiên cứu như sau:
Tiếp cận hệ thống: Nghiên cứu quản lý nhà nước đối với thủy sản tại huyện Đức Phổ được đặt trong tổng thể quy hoạch thủy sản huyện Đức Phổ gắn với tổng thể quy hoạch thủy sản nói chung và dựa vào sự tác động của các bộ phận bên trong bên ngoài.
Cách tiếp cận chuỗi giá trị: Luận văn tiếp cận nghiên cứu thông qua các công đoạn của thủy sản (khai thác, nuôi trồng –> chế biến –> tiêu thụ)
Cách tiếp cận theo quy trình quản lý: Luận văn nghiên cứu đi từ quy trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển thủy sản đến xây dựng ban hành các chính sách đối với các hoạt động sản xuất kinh doanh lĩnh vực thủy sản, tiếp đến là triển khai thực hiện các chính sách, quy định trong hoạt động sản xuất kinh doanh lĩnh vực thủy sản, sau đó là kiểm tra, giám sát và xử lý các vi phạm trong việc thực hiện chính sách về thủy sản
Cách tiếp cận phát triển bền vững: Nghiên cứu quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ được dựa trên quan điểm phát triển bền vững, tính toán đến lợi ích của tương lai, bảo đảm tính lâu dài của nguồn lợi thủy sản để có chế độ khai thác hợp lý, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thủy sản.
5.2. Phương pháp nghiên cứu và phương pháp thu thập, xử lý thông tin, số liệu
a) Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp so sánh: Là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Điều kiện để so sánh là: Các chỉ tiêu so sánh phải cùng nội dung kinh tế, đơn vị đo lường, phương pháp tính toán.
Phương pháp so sánh có hai hình thức: So sánh tuyệt đối dựa trên hiệu số của hai chỉ tiêu so sánh là chỉ tiêu kỳ phân tích và chỉ tiêu cơ sở; So sánh tương đối là tỷ lệ (%) của chỉ tiêu kỳ phân tích so với chỉ tiêu gốc để thể hiện mức độ hoàn thành hoặc tỷ lệ của số chênh lệch tuyệt đối với chỉ tiêu gốc để nói lên tốc độ tăng trưởng.
Phương pháp này được sử dụng để hỗ trợ cho việc đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội, đánh giá tình hình khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản của huyện Đức Phổ.
Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương này được sử dụng trong luận văn để chỉ ra những vấn đề lý luận, thực tiễn đã được nghiên cứu liên quản đến nội dung luận văn, xác định được những vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận văn; làm sáng tỏ cơ sở lý luận về quản lý nhà nước về thủy sản; để đánh giá, phân tích những kết quả, hạn chế và nguyên nhân của quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ từ năm 2013–2017.
Phương pháp thống kê kinh tế: Phương pháp này được sử dụng để tập hợp các số liệu về tình hình phát triển kinh tế – xã hội của huyện Đức Phổ, số liệu về tình hình khai thác, nuôi trồng và chế biến thủy sản của huyện Đức Phổ.
Phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức): Trên cơ sở các dữ liệu thu thập được, tác giả tiến hành phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của ngành thủy sản huyện Đức Phổ.
b) Phương pháp thu thập và xử lý các thông tin, số liệu
+ Nguồn thu thập dữ liệu thứ cấp: Thông qua các thông tin từ Chi cục thống kê huyện, các báo cáo về thủy sản của UBND huyện và các phòng chuyên môn của huyện. Bên cạnh đó luận văn còn sử dụng các kết quả đã công bố tại các luận văn, bài báo, tạp chí, giáo trình của các tác giả để phục vụ cho nghiên cứu.
+ Xử lý thông tin, số liệu: Các thông tin, số liệu được phân loại theo chủ đề; phân tích, đánh giá sơ bộ và đối chiếu giữa các nguồn cung cấp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần hệ thống hóa, làm rõ thêm cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản làm cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về thủy sản trên địa bàn huyện Đức Phổ, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về thủy sản tại huyện Đức Phổ đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo thiết thực cho đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác quản lý nhà nước về thủy sản tại huyện Đức Phổ và những ai quan tâm nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về thủy sản.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN
1.1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về thủy sản
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
1.1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của thủy sản
a) Khái niệm thủy sản
Thủy sản là thuật ngữ chỉ về những nguồn lợi, sản vật đem lại cho con người từ môi trường nước, được con người bảo vệ, khai thác, nuôi trồng nhằm mục đích làm thực phẩm và nguyên liệu cho các ngành công nghiệp khác.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả cho rằng, ngành thủy sản được coi là ngành sản xuất dựa trên những khả năng tiềm tàng về sinh vật trong môi trường nước để sản xuất ra những dịch vụ không ngừng tăng lên của con người. Hoạt động thủy sản là việc tiến hành khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, thủy sản, dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản [13].
b) Đặc điểm của thủy sản
Thủy sản là một bộ phận của nông nghiệp theo nghĩa rộng, nên sản xuất kinh doanh thủy sản có những đặc điểm tương tự những đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nói chung. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của đối tượng lao động nên biểu hiện của những đặc điểm chung trong ngành thủy sản lại có những nét riêng [15, tr.13].
– Đối tượng sản xuất là các sinh vật sống trong nước
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng thủy sản là những cơ thể sống, là các loại động thực vật thủy sản chúng sinh trưởng, phát sinh, phát triển và phát dục theo các quy luật sinh học nên con người phải tạo được môi trường sống phù hợp cho tùng đối tượng mới thúc đẩy khả năng sinh trưởng và phát triền của nó.
– Thuỷ vực là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế
Đất đai là tư liệu sản xuất song nó là tư liệu sản xuất đặc biệt khác với các tư liệu khác ở chỗ: diện tích của chúng có giới hạn, vị trí của chúng cố định, sức sản xuất của chúng thì không giới hạn và nếu biết sử dụng hợp lý thì đất đai diện tích mặt nước không bị hao mòn đi mà còn tốt hơn, mặt khác đất đai diện tích mặt nước là tư liệu sản xuất không đồng nhất về chất lượng do cấu tạo thổ nhưỡng, địa hình vị trí dẫn đến độ màu mỡ của đất đai diện tích mặt nước giữa các vùng thường khác nhau. Chính vì vậy khi sử dụng đất đai diện tích mặt nước phải hết sức tiết kiệm, phải quản lý quản lý chặt chẽ diện tích mặt nước cả trên ba mặt pháp chế, kinh tế, kỹ thuật.
– Sản xuất thuỷ sản mang tính thời vụ
Trong nuôi trồng thủy sản, ngoài sự tác động trực tiếp của con người, các đối tượng nuôi còn chịu tác động của môi trường tự nhiên. Vì vậy, trong nuôi trồng thủy sản, quá trình tái sản xuất kinh tế xen kẽ với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian lao động không hoàn toàn ăn khớp với thời gian sản xuất, do đó ngành nuôi trồng thủy sản có tình thời vụ rất rõ rệt.
– Nuôi trồng thủy sản là một ngành phát triển rộng và tương đối phúc tạp hơn so với các ngành sản xuất vật chất khác
Đối tượng sản xuất của ngành nuôi trồng là các loại động vật máu lạnh, sống trong môi trường nước, chịu ảnh hưởng trực tiếp của rất nhiều yếu tố môi trường như thủy lý, thủy hóa, thủy sinh do đó muốn cho các đối tượng nuôi trồng phát triển tốt con người phải tạo môi trường sống phù hợp cho từng đối tượng nuôi. Các biện pháp kỹ thuật sản xuất chỉ khi nào phù hợp với các yêu cầu sinh thái, phù hợp với quy luật sinh trưởng, phát triển và sinh sản của các đối tượng nuôi trồng thì mới giúp đối tượng nuôi phát triển tốt, đạt được năng suất, sản lượng cao và ổn định. Hơn nữa, hoạt hoạt động nuôi trồng thủy sản là hoạt động sản xuất ngoài trời với các điều kiện sản xuất như khí hậu, thời tiết, các yếu tố môi trường …và sinh vật có ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau đồng thời luôn có sự biến động khôn lường.
1.1.1.2. Vai trò của thủy sản trong nền kinh tế quốc dân
Theo Vũ Đình Thắng và Nguyến Viết Trung (2005) [15, tr.5–13], ngành thủy sản có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện qua các mặt sau:
– Cung cấp những sản phẩm thực phẩm quý cho tiêu dùng của dân cư, cung cấp nguyên liệu cho phát triển một số ngành khác; chẳng hạn, 50% sản lượng đánh bắt hải sản ở vùng biển Bắc Bộ, Trung Bộ và 40% sản lượng đánh bắt ở vùng biển Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ được dùng làm thực phẩm cho nhu cầu của người dân Việt Nam. Nuôi trồng thuỷ sản phát triển rộng khắp, tới tận các vùng sâu vùng xa, góp phần chuyển đổi cơ cấu thực phẩm trong bữa ăn của người dân Việt Nam, cung cấp nguồn dinh dưỡng dồi dào. Từ các vùng đồng bằng đến trung du miền núi, tất cả các ao hồ nhỏ đều được sử dụng triệt để cho các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản. Trong thời gian tới, các mặt hàng thủy sản sẽ ngày càng có vị trí cao trong tiêu thụ thực phẩm của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.
– Đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm
Ngành thuỷ sản là một trong những ngành tạo ra lương thực, thực phẩm, cung cấp các sản phẩm tiêu dùng trực tiếp. Ở tầm vĩ mô, dưới giác độ ngành kinh tế quốc dân, ngành thuỷ sản góp phần đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm, đáp ứng được yêu cầu cụ thể là tăng nhiều đạm và vitamin cho thức ăn. Ngành thuỷ sản đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm cho người dân, không những thế nó còn là một ngành kinh tế tạo cơ hội công ăn việc làm cho nhiều cộng đồng nhân dân, đặc biệt ở những vùng nông thôn và vùng ven biển. Những năm gần đây, công tác khuyến ngư đã tập trung vào hoạt động trình diễn các mô hình khai thác và nuôi trồng thuỷ sản, hướng dẫn người nghèo làm ăn. Hiện tại, mô hình kinh tế hộ gia đình được đánh giá là đã giải quyết cơ bản công ăn việc làm cho ngư dân ven biển. Bên cạnh đó, mô hình kinh tế tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân đã góp phần giải quyết việc làm cho nhiều lao động ở các vùng, nhất là lao động nông nhàn ở các tỉnh Nam Bộ và Trung Bộ.
– Xoá đói giảm nghèo
Ngành thuỷ sản đã đóng góp nhiều cho chương trình xóa đói giảm nghèo bằng việc phát triển các mô hình nuôi trồng thuỷ sản đến cả vùng sâu, vùng xa, không những cung cấp nguồn dinh dưỡng, đảm bảo an ninh thực phẩm mà còn góp phần xoá đói giảm nghèo. Tại các vùng duyên hải, nuôi thuỷ sản nước lợ đã chuyển mạnh từ phương thức nuôi quảng canh sang quảng canh cải tiến, bán thâm canh và thâm canh, thậm chí nhiều nơi đã áp dụng mô hình nuôi thâm canh theo công nghệ nuôi công nghiệp. Các vùng nuôi tôm rộng lớn, hoạt động theo quy mô sản xuất hàng hoá lớn đã hình thành, một bộ phận dân cư các vùng ven biển đã giàu lên nhanh chóng, rất nhiều gia đình thoát khỏi cảnh đói nghèo nhờ nuôi trồng thuỷ sản.
– Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn
Việt Nam có đầy đủ điều kiện để phát triển một cách toàn diện một nền kinh tế biển. Nếu như trước đây việc lấn ra biển, ngăn chặn những ảnh hưởng của biển để mở rộng đất đai canh tác là định hướng cho một nền kinh tế nông nghiệp lúa nước thì hiện nay việc tiến ra biển, kéo biển lại gần sẽ là định hướng khôn ngoan cho một nền kinh tế công nghiệp hoá và hiện đại hoá.
Trong những thập kỷ qua, nhiều công trình hồ thuỷ điện đã được xây dựng, khiến nước mặn ngoài biển thâm nhập sâu vào vùng cửa sông, ven biển. Đối với nền canh tác nông nghiệp lúa nước thì nước mặn là một thảm hoạ, nhưng với nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ thì nước mặn được nhận thức là một tiềm năng mới, vì hoạt động nuôi trồng thuỷ sản có thể cho hiệu quả canh tác gấp hàng chục lần hoạt động canh tác lúa nước.
Một phần lớn diện tích canh tác nông nghiệp kém hiệu quả đã được chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản. Nguyên nhân của hiện tượng này là do giá thuỷ sản trên thị trường thế giới những năm gần đây tăng đột biến, trong khi giá các loại nông sản xuất khẩu khác của Việt Nam lại bị giảm sút dẫn đến nhu cầu chuyển đổi cơ cấu diện tích giữa nuôi trồng thủy sản và nông nghiệp càng trở nên cấp bách.
– Tạo nghề nghiệp mới, tăng hiệu quả sử dụng đất đai
Ao hồ nhỏ là một thế mạnh của nuôi trồng thuỷ sản ở các vùng nông thôn Việt Nam. Người nông dân sử dụng ao hồ nhỏ như một cách tận dụng đất đai và lao động. Hầu như họ không phải chi phí nhiều tiền vốn vì phần lớn là nuôi quảng canh. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người nông dân tận dụng các mặt nước ao hồ nhỏ trong nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt với các hệ thống nuôi bán thâm canh và thâm canh có chọn lọc đối tượng cho năng suất cao như mè, trắm, các loại cá chép, trôi Ấn Độ và các loài cá rô phi đơn tính.
– Nguồn xuất khẩu quan trọng
Trong nhiều năm liền, ngành thuỷ sản luôn trong bảng danh sách các ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn nhất đất nước. Theo Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam, dự báo tổng xuất khẩu thủy sản của cả nước năm 2018 sẽ đạt 8,9 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2017 [18].
– Đảm bảo chủ quyền quốc gia, đảm bảo an ninh quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, nhất là ở vùng biển và hải đảo
Ngành thuỷ sản giữ vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh, chủ quyền trên biển, ổn định xã hội và phát triển kinh tế các vùng ven biển, hải đảo, góp phần thực hiện chiến lược quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Tính đến nay, rất nhiều cảng cá quan trọng đã được xây dựng theo chương trình Biển đông hải đảo, cụ thể là: Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ và Cát Bà (Hải Phòng), Hòn Mê (Thanh Hoá), Cồn Cỏ (Quảng Trị), Lí Sơn (Quảng Nam), Phú Quí (Bình Thuận), Côn Đảo (Bà Rịa–Vũng Tàu), Hòn Khoai (Cà Mau), Nam Du, Thổ Chu và Phú Quốc (Kiên Giang). Hệ thống cảng cá tuyến đảo này sẽ được hoàn thiện đồng bộ để phục vụ sản xuất nghề cá và góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh vùng biển của tổ quốc.
1.1.2. Khái niệm, nội dung, phương pháp và tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về thủy sản
1.1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về thủy sản
Theo Nguyễn Hữu Hải (2010) [9, tr.3] : “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.
Như vậy, QLNN là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước của các cơ quan nhà nước và CBCC có thẩm quyền, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đối tượng của QLNN là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội. Có thể chia đối tượng của QLNN theo các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng…
Từ khái niệm thủy sản, khái niệm quản lý nhà nước, tác giả Nguyễn Thị Đông Anh (2018) [2] cho rằng: “Quản lý nhà nước ngành thủy sản là sự tác động có tổ chức và bằng pháp quyền của Nhà nước đến các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được các mục tiêu phát triển ngành thủy sản trong điều kiện hội nhập và mở rộng giao lưu quốc tế.”
Trong phạm vi nghiên cứu này, tác giả quan niệm quản lý nhà nước về thủy sản: Quản lý nhà nước về thủy sản là sự tác động của nhà nước bằng cơ chế, chính sách nhằm quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực thủy sản (bao gồm hoạt động khai thác, nuôi trồng, vận chuyển, bảo quản, chế biến, mua bán, xuất khẩu, nhập khẩu, thủy sản, dịch vụ trong hoạt động thủy sản, điều tra, bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản) với mục tiêu sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển ngành thủy sản theo hướng bền vững.
Trong luận văn, tác giả đề cập đến quản lý nhà nước lĩnh vực thủy sản chủ yếu tập trung vào quản lý nuôi trồng thủy sản, khai thác thủy sản.
a) Mục tiêu quản lý nhà nước về thủy sản
Mục tiêu quản lý nhà nước về thủy sản là nhằm phát huy được các thế mạnh của ngành, đó là sử dụng có hiệu quả cao nhất các diện tích mặt nước sẵn có do thiên nhiên tạo ra trong quá trình đưa vào nuôi trồng thủy sản nhằm mục đích kinh tế (sản xuất kinh doanh) hoặc bảo tồn nguồn lợi tự nhiên [15, tr.227]. Đối với diện tích mặt nước sử dụng vào mục đích kinh doanh, quản lý nhà nước có mục tiêu tạo ra khung pháp lý có vai trò điều chỉnh các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt sao cho đảm bảo vừa đạt hiệu quả kinh tế cao vừa không làm tổn hại đến môi trường thiên nhiên như gây ô nhiễm họăc làm cạn kiệt nguồn nước dẫn đến không thể phát triển sản xuất kinh doanh bền vững. Đối với diện tích mặt nước sử dụng vào mục tiêu bảo tồn nguồn lợi thủy sản, quản lý nhà nước có vai trò tạo khung pháp lý điều chỉnh các hoạt động của con người sống tại chỗ và những người tham quan, du lịch được hưởng lợi mà không làm cho các nguồn lợi thủy sản tự nhiên bị mất đi hoặc bị tổn hại, đồng thời tạo các điều kiện về vật chất, tinh thần để không ngừng phát triển các nguồn lợi thủy sản đã có và ngày một đa dạng hơn.
Ngoài ra, quản lý nhà nước về thủy sản còn hướng tới đạt các mục tiêu về xã hội như hỗ trợ các điều kiện lao động cho ngư dân khai thác thủy sản trên biển, ven biển, vận động người nghèo tham gia khai thác thủy sản nhằm gia tăng thêm thu nhập, giúp giảm nghèo bền vững; quản lý nhằm bảo đảm các yêu cầu về xã hội và môi trường nhằm tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
b) Chủ thể quản lý nhà nước về thủy sản
Chủ thể quản lý nhà nước là Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm các yếu tố:
– Hệ thống tổ chức bộ máy chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, được hình thành theo nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định bao gồm các cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách, pháp luật, kế hoạch và các cơ quan thực thi kế hoạch, pháp luật.
– Các cơ chế, nguyên tắc và chế độ hoạt động của bộ máy chính quyền.
– Nguồn nhân lực của bộ máy công quyền, bao gồm các công chức, viên chức, những người thừa hành công vụ và những người phục vụ cho các hoạt động khác nhau của các cơ quan, bộ phận của bộ máy công quyền trong quá trình thực thi chức năng quản lý nhà nước.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng quản lý nhà nước về thủy sản, bao gồm: Quản lý nhà nước về hoạt động thủy sản trong phạm vi cả nước; xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án về hoạt động thủy sản; ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, định mức kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực thủy sản; chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện quan trắc, cảnh báo môi trường, phòng, chống dịch bệnh thủy sản, khai thác thủy sản trên biển; quản lý chế biến, thương mại thủy sản; chất lượng, an toàn thực phẩm thủy sản theo quy định của pháp luật; xây dựng, quản lý, hướng dẫn cập nhật, truy cập hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; quản lý nhà nước về kiểm ngư; chỉ đạo thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ kiểm ngư; tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản; ủy quyền, phân cấp quản lý theo quy định của pháp luật; tổ chức điều tra, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ; thẩm định, đánh giá tác động các hoạt động kinh tế gây ảnh hưởng đến hoạt động thủy sản; tổ chức hướng dẫn, kiểm tra quản lý nhà nước về cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá trên phạm vi cả nước; tổ chức tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ về quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo quy định của pháp luật; công bố danh sách cảng chỉ định có đủ hệ thống xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác; quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước và tổ chức thực hiện đào tạo, tập huấn, huấn luyện, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực thủy sản; tổ chức thực hiện, hướng dẫn thống kê, thông tin, tuyên truyền, phổ biến kiến thức, giáo dục pháp luật trong lĩnh vực thủy sản; quy định về chỉ tiêu, chất lượng nước cho nuôi trồng thủy sản, quy định quản lý kỹ thuật chuyên ngành trong hoạt động thủy sản; quản lý, chỉ đạo, xây dựng kế hoạch và tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền; là cơ quan đầu mối thực hiện hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thủy sản; chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; Tổ chức thực hiện lưu giữ giống gốc, loài thủy sản bản địa có giá trị kinh tế.
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn tổ chức thi hành pháp luật về thủy sản; chỉ đạo, tổ chức quản lý hoạt động thủy sản trên địa bàn; tổ chức sản xuất khai thác thủy sản; tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, tập huấn kiến thức, về thủy sản; xây dựng cơ sở dữ liệu về thủy sản trên địa bàn và cập nhật hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản; tổ chức thực hiện việc cấp, cấp lại, gia hạn, thu hồi các loại giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ thuộc phạm vi quản lý trong hoạt động thủy sản theo phân công, phân cấp; chỉ đạo xây dựng kế hoạch, tổ chức thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm pháp luật về thủy sản theo thẩm quyền; bảo đảm chế độ, kinh phí, các điều kiện hoạt động cho Kiểm ngư địa phương theo quy định của pháp luật; tổ chức quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá theo phân cấp; thực hiện thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, chấp hành quy định của pháp luật về khai thác thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, an toàn thực phẩm trên tàu cá, tại cảng cá, bảo vệ môi trường, phòng chống cháy, nổ tại cảng cá; thu thập, tổng hợp báo cáo số liệu về thủy sản qua cảng cá theo quy định; quản lý nhà nước đối với khu bảo tồn biển, khu bảo vệ nguồn lợi thủy sản trên địa bàn.
Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây: Thực hiện nội dung, biện pháp quản lý trong hoạt động thủy sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật; thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản theo phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp; tổ chức, thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thủy sản trên địa bàn.
c) Phân cấp quản lý nhà nước về thủy sản cấp huyện
Tại Điều 102, Luật Thủy sản ngày 21/11/2017 có quy định Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm sau đây:
– Thực hiện nội dung, biện pháp quản lý trong hoạt động thủy sản trên địa bàn theo quy định của pháp luật;
– Thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về thủy sản theo phân cấp hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp;
– Tổ chức, thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thủy sản trên địa bàn.
d) Các đối tượng quản lý
Đối tượng của quản lý nhà nước về thủy sản đó chính là hoạt động của các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản và các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm thủy sản.
e) Vai trò quản lý nhà nước về thủy sản
+ Vai trò định hướng
– Xây dựng các chính sách, khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về thủy sản thông qua các công cụ kinh tế, giáo dục và hành chính.
– Hoạch định các chiến lược, quy hoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đưa chính sách phù hợp vớ thực tiễn.
+ Vai trò phối hợp
– Phối hợp trong công tác QLNN giữa ngành thủy sản với các ngành khác từ trung ương đến địa phương.
+ Vai trò điều tiết
– Nhà nước trên cở sở nắm bắt những quy luật vận động khách quan của nền kinh tế, định hướng cho ngành thủy sản phát triển theo hướng tích cực. Nhà nước tạo cơ sở pháp lý, có chính sách khuyến khích các tổ chức và cá nhân tham gia vào lĩnh vực thủy sản.
+ Vai trò hỗ trợ
– Nhà nước với tư cách là một chủ thể quản lý nhưng đồng thời nhà nước cũng là chủ thể kinh tế thông qua việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước nhằm hỗ trợ tạo điều kiện cho ngành thủy sản phát triển.
– Hoàn thiện thể chế, chính sách phù hợp với điều kiện từng địa phương nhằm thu hút các nguồn lực bên ngoài đầu tư vào lĩnh vực thủy sản.
– Duy trì, tạo môi trường ổn định cho việc thực thi các hoạt động khai thác và sản xuất thủy sản.
+ Vai trò kiểm tra, giám sát
– Thực hiện kiểm tra, giám sát việc thực thi các chủ trương, chính sách, pháp luật, thông tư, nghị định hướng dẫn và các văn bản triển khai của địa phương đối với hoạt động thủy sản
– Thực hiện kiểm tra, giám sát, hướng dẫn các tổ chức, cá nhân tham gia lĩnh vực KTTS hoạt động theo đúng định hướng, chủ trương của Đảng và nhà nước, kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý thủy sản của Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức QLNN về lĩnh vực thủy sản.
– Nhà nước thường xuyên giám sát hoạt động của mọi chủ thể hoạt động trong lĩnh vực thủy sản cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó nhằm phát hiện và xử lý những sai sót, những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạm pháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điều chỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của QLNN đối với hoạt động thủy sản.
1.1.2.2. Nội dung quản lý nhà nước về thủy sản
a) Ban hành và triển khai thực hiện các văn bản, chính sách lĩnh vực thủy sản
Để quản lý và điều tiết thống nhất toàn bộ hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động của lĩnh vực thủy sản thì nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước là phải ban hành các văn bản, chính sách. Thông qua các chính sách, các văn bản đó thì mới có thể điều chỉnh được các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước về thủy sản.
Nội dung ban hành chính sách trong lĩnh vực thủy sản bao gồm:
+ Xây dựng cơ chế, chính sách huy động mọi nguồn lực, tăng đầu tư phát triển kinh tế thủy sản
+ Nghiên cứu xây dựng cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế thủy sản, góp phần nâng cao đời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo.
+ Bố trí ngân sách cho công tác quy hoạch, hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ ngành thủy sản; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đào tạo phát triển nguồn nhân lực thủy sản.
+ Tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư tham g ia hoạt động của ngành thủy sản.
Các văn bản pháp quy về quản lý nhà nước trong lĩnh vực thủy sản ở địa phương bao gồm: Nghị quyết; quyết định, chiến lược, chương trình, kế hoạch phát triển ngành thủy sản.
Song song với việc ban hành các văn bản thì cơ quan quản lý nhà nước phải tiến hành tổ chức thực hiện các văn bản, trong đó bao gồm việc tuyên truyền, phổ biến, triển khai thực hiện và giám sát việc tuân thủ các quy định của pháp luật về thủy sản của các đơn vị, cá nhân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước ngành thủy sản. Trên cơ sở chính sách phát triển lĩnh vực thủy sản được phê duyệt thì cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tuyên truyền, công bố và phổ biến các chính sách đến các tổ chức có liên quan để triển khai thực hiện và tham gia giám sát việc thực hiện. Tuyên truyền cho cán bộ công chức viên chức quản lý về thủy sản, các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản qua các phương tiện thông tin đại chúng, đối thoại, tập huấn về nội dung chính sách, quy định về thủy sản. Nâng cao nhận thức xã hội về vai trò của kinh tế thủy sản, bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tạo môi trường thúc đẩy phát triển kinh tế thủy sản.
b) Định hướng về phát triển thủy sản qua xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch
Quy hoạch phát triển ngành thủy sản thể hiện tầm nhìn, sự bố trí chiến lược về thời gian, không gian lãnh thổ, xây dựng khung về tổ chức không gian để chủ động hướng tới mục tiêu, đạt hiệu quả cao, phát triển bền vững. Do vậy, quy hoạch là tiền đề cho việc xây dựng các kế hoạch, chương trình.
Kế hoạch phát triển ngành thủy sản là công cụ quản lý của nhà nước theo mục tiêu, được thể hiện bằng những mục tiêu định hướng phát triển ngành thủy sản phát đạt được trong một thời gian nhất định ở một địa phương, đồng thời đưa ra những giải pháp, hoạt động cần thực hiện để đạt được những mục tiêu đó một cách có hiệu quả nhất.
Bản quy hoạch phải bao gồm các nội dung: Xác định vị trí, vai trò và lợi thế của ngành thủy sản trong phát triển kinh tế xã hội của địa phương; phân tích tiềm năng, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế thủy sản, hiện trạng tài nguyên thủy sản, các nguồn lực phát triển thủy sản; xác định quan điểm, mục tiêu, quy mô phát triển cho khu vực quy hoạch, dự báo các chỉ tiêu phát triển thủy sản; tổ chức sản xuất ngành thủy sản, kết cấu hạ tầng ngành thủy sản; đề xuất cơ chế, chính sách, giải pháp quản lý, phát triển thủy sản theo quy hoạch…
c) Tổ chức các hoạt động phát triển ngành thủy sản
+ Xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển ngành thủy sản
Là quá trình tập trung nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất, phương tiện được sử dụng để tham gia vào hoạt động đánh bắt và nuôi trồng thủy sản: Tàu thuyền, ngư cụ, nơi trú bão, hạ tầng giao thông, điện, nước… với mục tiêu tạo động lực để thực hiện phát triển kinh tế thủy sản nhanh và bền vững.
+ Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản
Đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản là các hoạt động học tập cung cấp những kiến thức, kỹ năng nhằm giúp người lao động hoạt động trong lĩnh vực thủy sản có thể thực hiện hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ vị trí việc làm của mình. Đó là quá trình truyền thụ khối kiến thức mới một cách có hệ thống để người lao động qua đó trở thành người có văn bằng mới hoặc có trình độ cao hơn trình độ trước đó.
Tập trung nâng cao chất lượng lao động trong lĩnh vực thủy sản; xã hội hóa trong việc đào tạo lao động nghề cá, hướng tới đào tạo có địa chỉ, theo nhu cầu thị trường. Hoạt động khuyến nông thông qua các hình thức: Đào tạo bồi dưỡng kiến thức ngắn hạn, hội thảo tham quan đầu bờ, sinh hoạt câu lạc bộ khuyến nông; tập huấn kết hợp giữa lý thuyết với thực hành tại hiện trường theo chu kỳ sinh trưởng phát triển của vật nuôi. Xây dựng và nhân rộng các mô hình khuyến nông có hiệu quả. Vì vật đối với các hộ nuôi trồng thủy sản được tiếp cận với công tác khuyến ngư có ý nghĩa quan trọng, là cơ hội để các hộ nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt khi trình độ hiểu biết kỹ thuật của nông dân còn hạn chế.
+ Tổ chức liên kết trong khai thác, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Tổ chức liên kết giữa khai thác và tiêu thụ sản phẩm được hiểu là làm cho sự kết hợp giữa các cơ sở tàu thuyền được phép khai thác tại các ngư trường được cấp phép với các cơ sở doanh nghiệp thu mua và tiêu thụ sản phẩm thủy sản diễn ra chặt chẽ và thường xuyên hơn trong quá trình khai thác, thu mua và tiêu thụ sản phẩm.
d) Kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thủy sản
Kiểm tra trong lĩnh vực thủy sản nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, các quy định của nhà nước đối với hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản.
Xử lý vi phạm là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng những biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định đối với các cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo phân cấp, UBND cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra và xử lý vi phạm một số lĩnh vực như quản lý và cấp giấy phép gia hạn cho tàu cá dưới 20CV, vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản, kiểm tra giấy chứng nhận phòng cháy chữa cháy…
Nội dung kiểm tra và xử lý vi phạm:
* Cấp giấy phép gia hạn cho tàu cá dưới 20CV
Công tác kiểm tra cấp giấy phép gia hạn cho tàu cá có công suất dưới 20CV được thực hiện theo quy định tại Nghị định 33/2010/NĐ–CP của Chính phủ về quản lý hoạt động khai thác thủy sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển.
Nội dung kiểm tra bao gồm:
– Công tác quản lý tàu cá có công suất dưới 20 CV
+ Tổ chức đăng ký và cấp giấy xác nhận đã đăng ký tàu cá cho tàu cá có công suất dưới 20 CV trên địa bàn quản lý. Sau khi đăng ký, tàu cá phải được ghi vào Sổ đăng ký tàu cá Việt Nam để quản lý
+ Để được cấp Giấy xác nhận đã đăng ký tàu cá, chủ tàu phải nộp: Tờ khai đăng ký tàu cá; giấy tờ mua bán tàu cá hoặc các giấy tờ khác có giá atrij xác định nguồn gốc hợp pháp của tàu cá; Giấy xác nhận đã đăng ký tàu cá cũ.
+ Tàu cá có công suất dưới 20 CV không thuộc diện bắt buộc phải đăng kiểm và chủ tàu cá tự chịu trách nhiệm về an toàn kỹ thuật tàu cá theo Khoản 3, Điều 9 của Nghị định số 66/2005/NĐ–CP ngày 19/5/2005 của Chính phủ về đảm bảo an toàn cho người và tàu cá hoạt động thủy sản.
– Quản lý hoạt động khai thác hải sản thuộc vùng biển ven bờ.
+ Tổ chức cấp mới, đổi, gia hạn Giấy phép khai thác hải sản cho tàu cá có công suất dưới 20 CV đã đăng ký trên địa bàn, trừ tàu cá có trọng tải dưới 0,5 tấn theo quy định về điều kiện và các nghề được khai thác tại Thông tư số 02/2006/TT–BTS ngày 20/3/2006 của Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) về hướng dẫn thực hiện Nghị định số 59/2005/NĐ–CP của Chính phủ về điều kiện sản xuất, kinh doanh một số ngành nghề thủy sản;
+ Tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát và xây dựng các mô hình, đề án quản lý cộng đồng hoạt động nghề cá đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhằm khai thác, sử dụng một cách hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phù hợp với đặc thù về sinh thái vùng ven bờ của tỉnh; phát triển bền vững, hài hòa giữa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường theo chiến lược quản lý tổng hợp vùng ven bờ.
* Vệ sinh an toàn thực phẩm tại cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản
Theo Thông tư số 48/2015/TT–BYT ngày 01/12/2015 của Bộ Y tế về quy định hoạt động kiểm tra an toàn thực phẩm trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm thuộc phạm vi quản lý của Bộ Y tế, nội dung kiểm tra gồm:
– Hồ sơ hành chính, pháp lý của cơ sở: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện an toàn thực phẩm, Giấy xác nhận kiến thức về an toàn thực phẩm. Giấy xác nhận đủ sức khỏe của chủ cơ sở và của người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; Giấy chứng nhận cơ sở đạt ISO, HACCP (Hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn) và tương đương.
– Hồ sơ, tài liệu và chấp hành của chủ cơ sở về điều kiện cơ sở, trang thiết bị dụng cụ; người trực tiếp sản xuất, kinh doanh thực phẩm; quy trình sản xuất, chế biến; thực hành vệ sinh an toàn thực phẩm của nhân viên; vận chuyển và bảo quản thực phẩm; nguồn nước; nguồn gốc xuất xứ đối với thực phẩm và nguyên liệu dùng để sản xuất, chế biến thực phẩm; lưu mẫu; các quy định khác có liên quan đến cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và sản phẩm thựcphẩm.
– Lấy mẫu kiểm nghiệm trong trường hợp cần thiết
Việc lấy mẫu kiểm nghiệm thực hiện theo quy định tại Thông tư số 14/2011/TT–BYT ngày 01 tháng 4 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế hướng dẫn chung về lấy mẫu thực phẩm phục vụ thanh tra, kiểm tra chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm.
1.1.2.3. Các công cụ, phương pháp quản lý nhà nước về thủy sản
– Tuyên truyền, giáo dục: Đây là công cụ tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao ý thức tự giác, thái độ đúng đắn đối với ngành thủy sản. Công cụ này thực hiện thường xuyên và mang tính lâu dài.
– Hành chính: Đây là công cụ sử dụng chủ yếu trong hoạt động QLNN đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh thông qua việc ban hành các nghị quyết, văn bản pháp lý mang tính bắt buộc, tác động trực tiếp đến các đối tượng liên quan, bao gồm: Độ ngũ làm công tác quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản, ngư dân và hộ NTTS.
– Kinh tế: Là một công cụ ảnh hưởng lớn đến hoạt động ngành thủy sản, tác động vào đối tượng quản lý, các cơ sở sản xuất, kinh doanh sản phẩm thủy sản, ngư dân và hộ NTTS; góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế thủy sản, thông qua việc hỗ trợ, đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngành thủy sản.
1.1.2.4. Các tiêu chí đánh giá quản lý nhà nước về thủy sản
a) Các tiêu chí đánh giá chia theo các nội dung quản lý nhà nước lĩnh vực về thủy sản
i) Tiêu chí đánh giá việc ban hành và triển khai thực hiện các văn bản, chính sách lĩnh vực thủy sản:
– Số lượng văn bản quy định, chính sách ban hành thể hiện sự quan tâm của các cấp chính quyền thông qua các quy định, cơ chế chính sách của nhà nước để hỗ trợ, thúc đẩy ngành thủy sản phát triển.
– Tính kịp thời, hợp lý của việc ban hành các văn bản, chính sách, quy định. Việc ban hành văn bản, chính sách, quy định có mang tính kịp thời để giải quyết những vấn đề phát sinh từ thực tiễn ngành thủy sản đang đặt ra và giúp cho các tổ chức, cá nhân được hưởng những ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào địa phương.
– Chính sách, quy định trong lĩnh vực thủy sản có được nhiều người dân biết, khả năng tiếp cận các cơ chế, chính sách của người dân về lĩnh vực thủy sản.
– Mức độ hài lòng của người dân về nội dung của văn bản, chính sách ban hành sẽ giúp cho các cơ quan quản lý nhà nước biết được chính sách, quy định ban hành có tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản. Từ đó đề ra các giải pháp nhằm giúp việc ban hành chính sách đem lại lợi ích cho tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực thủy sản và tạo thuận lợi cho việc quản lý của nhà nước được hiệu quả.
ii) Tiêu chí đánh giá định hướng về phát triển thủy sản qua xây dựng và triển khai thực hiện quy hoạch, kế hoạch
– Tỷ lệ thực hiện thực tế so với quy hoạch, kế hoạch đề ra.
– Mức độ hài lòng của người dân đối với quy hoạch phát triển kinh tế thủy sản
iii) Tiêu chí đánh giá tổ chức các hoạt động phát triển ngành thủy sản
Tiêu chí đánh giá việc xây dựng cơ sở hạ tầng ngành thủy sản:
– Số lượng tàu thuyền khai thác trên biển, số lượng, quy mô khu neo đậu tàu thuyền trú bão, bến cá.
– Số lượng, quy mô khu nuôi trồng thủy sản và các cơ sở chế biến sản phẩm thủy sản.
iv) Tiêu chí đánh giá công tác đào tạo nguồn nhân lực cho ngành thủy sản:
– Số lượng, chất lượng cơ sở đào tạo nguồn nhân lực thủy sản
– Tỷ lệ lao động trong ngành thủy sản đã qua đào tạo.
v) Tiêu chí đánh giá tổ chức liên kết trong khai thác, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm:
– Số lượng tàu tham gia vào các đội, đoàn, hợp tác xã khai thác thủy sản
– Tỷ lệ tàu tham gia vào các đội, đoàn, hợp tác xã khai thác thủy sản.
vi) Tiêu chí đánh giá kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực thủy sản
– Thời gian kiểm tra có hợp lý, có ngăn chặn kịp thời các vi phạm liên quan đến hoạt động thủy sản
– Tỷ lệ vi phạm hậu kiểm tra có vi phạm trở lại không. Nếu không vi phạm trở lại thì việc kiểm tra, xử lý vi phạm có hiệu quả, nếu tiếp tục vi phạm trở lại thì cần có biện pháp mạnh hơn để chấn chỉnh tình trạng vi phạm này.
b) Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
– Tiêu chí hiệu lực: Hiệu lực QLNN chỉ mức độ pháp luật được tuân thủ. Hiệu lực QLNN về thủy sản chỉ mức độ tuân thủ pháp luật, chấp hành mọi chỉ đạo từ các cơ quan QLNN của các đối tượng quản lý (các tổ chức, cá nhân có hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản và các cơ sở sản xuất chế biến sản phẩm thủy sản).
– Tiêu chí hiệu quả: Tiêu chí này xem xét các chí phí – lợi ích của việc QLNN, các kết quả của công tác QLNN đối với phát triển của hoạt động thủy sản.
c) Các tiêu chí theo các trụ cột của phát triển bền vững
– Về kinh tế: Tiêu chí về kinh tế thể hiện ở hiệu quả kinh tế, năng suất của hoạt động thủy sản trên địa bàn.
– Về xã hội: Bền vững về xã hội thể hiện qua đời sống của người dân, an toàn lao động trong hoạt động khai thác thủy sản,…
– Về môi trường: Tiêu chí về môi trường phản ánh tình hình dịch bệnh, vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi trường trong hoạt động thủy sản.
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về thủy sản
1.1.3.1. Nhân tố thuộc về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên là toàn bộ các điều kiện môi trường tự nhiên như: địa hình đa dạng; khi hậu ôn hòa; nguồn động, thực vật phong phú; vị trí địa lý thuận lợi, có tài nguyên biển, sông ngòi, đất đai,… Cơ quan QLNN dựa vào điều kiện tự nhiên làm cơ sở cho việc quy hoạch phát triển ngành thủy sản và các biện pháp chính sách để phát triển ngành thủy sản, khai thác và bảo vệ tài nguyên. Những yếu tố về điều kiện tự nhiên thuận lợi đã giúp cho việc hoạch định phát triển thủy sản và đưa ra thực thi các quyết định QLNN về thủy sản. Chẳng hạn, ở địa phương có diện tích bờ biển dài thì có thể quy hoạch phát triển ngành thủy sản theo hướng tập trung vào đánh bắt, dịch vụ hậu cần nghề cá, hoặc địa phương có nhiều sông ngòi thì quy hoạch thủy sản theo hướng đẩy mạnh nuôi trồng. Vì vậy, QLNN về thủy sản chịu nhiều ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên của địa phương.
1.1.3.2. Nhân tố điều kiện kinh tế – văn hóa – xã hội
Tình hình phát triển kinh tế của địa phương là nhân tố quan trọng tác động đến sự phát triển của ngành thủy sản và quản lý hoạt động thủy sản. Khi cơ quan QLNN ban hành một chính sách ưu đãi về thủy sản sẽ xét đến vấn đề về kinh tế của một địa phương để đưa ra một chính sách phù hợp với địa phương đó, ví dụ: Một địa phương có nền kinh tế phát triển thấp thì cơ quan QLNN ban hành chính sách ưu đãi về thủy sản sẽ phải đưa ra một số ưu đãi về đất đai, thuế, hỗ trợ lãi suất vay vốn, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nhân lực… Còn đối với địa phương có kinh tế phát triển mạnh thì chính sách ưu đãi về thủy sản sẽ hướng đến chất lượng sản phẩm thủy sản, liên kết sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu… Khi kinh tế phát triển và môi trường chính sách thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thuận lợi tham gia vào các hoạt động của ngành thủy sản, điều đó cũng thuận lợi cho công tác QLNN.
Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng làm xuất hiện nhu cầu về tiêu thụ các sản phẩm thủy sản. Trình độ dân trí, yếu tố văn hóa cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực thủy sản như: văn hóa ẩm thực các loài thủy sản bản địa, thủy sản đặc hữu sẽ dẫn tới các hoạt động khai thác đánh bắt quá mức, khai thác trái phép các loài quý hiếm có thể làm cho một số loài bị suy kiệt; hoạt động văn hóa lễ hội, dịch vụ du lịch càng phát triển mạnh thì vấn đề quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm thủy sản nói riêng đòi hỏi càng cao và càng phức tạp. Hơn nữa, từ thực tiễn cho thấy nếu địa phương nào trình độ dân trí cao, người dân có trình độ kỹ thuật cao thì thường xuyên được cập nhật thông tin và nắm bắt được các quy định pháp luật, cơ chế chính sách của nhà nước trong lĩnh vực thủy sản của nhà nước thì công tác quản lý nhà nước đều thuận lợi hơn ở các địa phương có trình độ dân trí thấp hơn do nhận thức và ý thức pháp luật củ họ cao hơn, khả năng tiếp cận và thụ hưởng chính sách tốt hơn.
Yếu tố văn hóa cũng có ảnh hưởng nhất định đến công tác quản lý nhà nước về kinh tế trong lĩnh vực thủy sản như: văn hóa ẩm thực các loài thủy sản bản địa, thủy sản đặc hữu sẽ dẫn tới các hoạt động khai thác đánh bắt quá mức, khai thác trái phép các loài quý hiếm có thể làm cho một số loài bị suy kiệt; hoạt động văn hóa lễ hội, dịch vụ du lịch càng phát triển mạnh thì vấn đề quản lý nhà nước về vệ sinh an toàn thực phẩm đối với các sản phẩm nông nghiệp nói chung và sản phẩm thủy sản nói riêng đòi hỏi càng cao và càng phức tạp.
1.1.3.3. Môi trường thể chế
Việc tạo điều kiện và tạo lập môi trường pháp lý thuận lợi, lành mạnh, rõ ràng, bình đẳng nhưng chặt chẽ sẽ đảm bảo công bằng, quyền lợi chính đáng cho các chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực thủy sản, đồng thời là điều kiện cơ bản để tăng trưởng và phát triển thị trường nói chung và thị trường ngành thủy sản nói riêng.
Sự ổn định về thể chế, nhất quán về hệ thống pháp luật là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ngành thủy sản và công tác quản lý nhà nước đối với ngành thủy sản.
Nhanh – gọn trong thủ tục hành chính, thúc đẩy nhanh hiệu quả hoạt động thủy sản cho các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực thủy sản.
Văn bản thi hành và văn bản hướng dẫn cụ thể, không có sự chồng chéo, tạo sự hiệu quả cao trong việc thực hiện chính sách đưa ra.
Sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan với nhau tạo nền tảng vững chắc cho công tác thông tin và tính hiệu lực của công tác quản lý.
1.1.3.4. Nhóm nhân tố khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ có ảnh hưởng hết sức quan trọng đến công tác quản lý nhà nước nói chung và công tác quản lý nhà nước về kinh tế đối với ngành thủy sản nói riêng. Trình độ khoa học công nghệ của người nuôi thủy sản càng cao thì thực tiễn công tác quản lý nhà nước về kinh tế càng phức tạp. Đối với người sản xuất kinh doanh, nếu xét ở góc độ tích cực thì nếu áp dụng khoa học công nghệ để nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế góp phần phát triển kinh tế xã hội, tuy nhiên nếu xét ở góc độ ảnh hưởng tiêu cực thì việc áp dụng các tiến bộ khoa học – công nghệ mới, công nghệ cao phục vụ cho các mục đích trốn tránh pháp luật, vi phạm pháp luật trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ gây rất nhiều khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Đối với cơ quan quản lý nhà nước thì trình độ khoa học công nghệ của tổ chức và đội ngũ cán bộ quản lý càng cao thì hiệu quả công tác quản lý càng cao và ngược lại.
1.1.3.5. Nhóm nhân tố chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý nhà nước về thủy sản là những người trực tiếp tham gia xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý thủy sản. Năng lực, trình độ của các cán bộ là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc xây dựng các văn bản pháp luật về quản lý thủy sản. Do đó, độ ngũ cán bộ công chức làm công tác quản lý đòi hỏi phải có tư duy khoa học, khả năng nghiên cứu và am hiểu các văn bản chính sách pháp luật của nhà nước, có kinh nghiệm thực tế.
Bên cạnh đó, ngoài việc tự nghiên cứu, học tập, bổ sung kiến thức thì trong quá trình công tác, đội ngũ cán bộ công chức nhà nước phải thường xuyên được kiểm tra, đánh giá lại năng lực và trình độ chuyên môn. Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý cử các cán bộ công chức tham gia các khóa đào tạo, tập huấn để nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và tổ chức các chương trình tọa đàm, trao đổi nhằm chia sẻ kinh nghiệm thực tế.
Cùng với việc tự nghiên cứu, bổ sung kiến thức thì đội ngũ cán bộ công chức cũng phải tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao bản lĩnh chính trị để không thể hiện ý chí chủ quản, không cửa quyền, tham ô, tham nhũng trong công việc.
Như vậy, năng lực, trình độ của các cán bộ công chức là yếu tố quan trọng góp phần thành công vào công tác quản lý nhà nước về thủy sản, do vậy, việc đào tạo con người nói chung hay đội ngũ cán bộ công chức nói riêng cần được quan tâm, chú trọng.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 9\QUAN LY KINH TE\PHUNG THI HUYNH TUYET\SAU BAO VE


