Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự

Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5

1. Tính cấp thiết của đề tài

Ở nước ta, cùng với các Tòa án nhân dân, các Tòa án quân sự được pháp luật quy định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức trong Quân đội. Trải qua hơn 70 năm xây dựng, hoạt động và trưởng thành, các TAQS đã phát triển từ thấp đến cao cùng với sự phát triển không ngừng của Quân đội. Các Tòa án quân sự đã vượt mọi khó khăn, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình; bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; góp phần quan trọng vào sự nghiệp Cách mạng và xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Các quy định về tổ chức, hoạt động và thẩm quyền của TAQS luôn sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu, nhiệm vụ từng giai đoạn lịch sử của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam.

Việc phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án nói chung và của Tòa án quân sự nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng. Bởi lẽ, thẩm quyền xét xử được phân định càng rõ ràng, khoa học, càng sát với thực tế bao nhiêu thì càng đảm bảo cho việc xét xử khách quan, chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Việc xác định đúng thẩm quyền còn đảm bảo cho các Tòa án quân sự bảo vệ an ninh quốc phòng, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, chống lại các quan điểm mập mờ, phá hoại Quân đội của các thế lực thù địch nhằm thu hẹp thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Đồng thời việc xác định đúng đắn thẩm quyền của Tòa án quân sự còn góp phần giúp các Tòa án quân sự thực hiện thắng lợi mục tiêu của Nghị quyết về việc lãnh đạo thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp trong Quân đội đến năm 2020 là: “giữ nghiêm pháp luật Nhà nước, phục vụ tốt yêu cầu, nhiệm vụ Chính trị, góp phần tăng cường kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội. Đồng thời góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của đất nước”.

Các Tòa án quân sự là một thiết chế đặc biệt nên bản thân nó có những đặc điểm riêng biệt nhất định. Trong tình hình hiện nay và lâu dài, các thế lực thù địch trong và ngoài nước đang tìm cách phá hoại Quân đội, trong đó đưa ra các lập luận nhằm thu hẹp thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự để từng bước làm suy yếu sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong sự nghiệp bảo vệ Đảng, bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, việc củng cố và tăng cường các thiết chế quân sự, chính trị, trong đó có các cơ quan tư pháp quân sự là đặc biệt cần thiết trong tình hình hiện nay.

Hiện nay, vấn đề áp dụng pháp luật còn một số vướng mắc như việc TAQS Quân chủng Hải quân với địa bàn xét xử không theo lãnh thổ là trái với quy định tại Điều 269 BLTTHS 2015; các văn bản pháp luật liên quan đến thẩm quyền xét xử đã không còn đáp ứng được yêu cầu của các quy định BLTTHS 2015; bộ máy TAQS vẫn còn cồng kềnh chưa đáp ứng được nhu cầu cải cách tư pháp…Vì lý do đó, tác giả chọn Đề tài: “Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5 ” làm Luận văn tốt nghiệp.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn thi hành các quy định về thẩm quyền xét xử của TAQS theo pháp luật tố tụng hình sự của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5. Từ đó tác giả đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng về thẩm quyền xét xử của TAQS, nâng cao hiệu quả xét xử của TAQS đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn đề ra các nhiệm vụ cụ thể cần giải quyết như sau:

– Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự trong tố tụng hình sự Việt Nam.

– Khái quát lịch sử pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền xét xử của TAQS; phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự.

– Nghiên cứu thực tiễn và đề xuất những kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền xét xử của TAQS.

4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

– Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của BLTTHS về thẩm quyền xét xử của TAQS và thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về thẩm quyền xét xử của TAQS dưới góc độ Luật tố tụng hình sự Việt Nam trên địa bàn Quân khu 5; thời gian 5 năm (2013 – 2017).

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng về chiến lược cải cách tư pháp.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: so sánh, thống kê, tổng hợp, phân tích, tham khảo chuyên gia…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm sáng tỏ thêm các quy định của pháp luật về thẩm quyền xét xử của TAQS Việt Nam theo pháp luật tố tụng hình sự hiện nay.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo; các TAQS có thể khai thác kết quả nghiên cứu để nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hình sự.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, Luận văn có kết cấu gồm 03 chương.

Chương 1. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 2. Thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

Chương 3. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của các tòa án quân sự Quân khu 5 và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

1.1. Khái niệm về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

TQXX của TAQS được hiểu như sau: “TQXX của TAQS là hoạt động xét xử của cơ quan TA được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam đối với các vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật”.

1.2. Cơ sở của việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

– Khách thể quan trọng nhất mà TAQS bảo vệ là kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

– Bí mật quân sự là khách thể của tội phạm và còn liên quan với thủ tục tố tụng.

– Khi có vụ án xảy ra, chỉ có các cơ quan có thẩm quyền tố tụng trong Quân đội mới có đủ điều kiện cần thiết phục vụ nhiệm chính trị trung tâm của mình và nhiệm vụ chính trị trong địa bàn đóng quân.

– Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội.

– Hiện nay và lâu dài các thế lực thù địch trong và ngoài nước tìm mọi cách để chống phá nước ta, đặc biệt chúng đang tìm cách phá hoại Quân đội, đưa ra những luận điệu xuyên tạc nhằm thu hẹp thẩm quyền xét xử của TAQS.

– Thực tiễn hoạt động điều tra, truy tố, xét xử hơn 70 năm qua cho thấy, trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, dù thời chiến cũng như thời bình. Ngoài các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của Quân nhân. Các Tòa án quân sự đều xét xử những vụ án mà bị cáo là quân nhân, công nhân viên chức quốc phòng phạm tội. Những vụ án gây thiệt hại cho Quân đội.

– Hoạt động xét xử của TAQS không phải là sự khép kín trong Quân đội mà hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

1.3. Ý nghĩa của việc xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

– Xác định đúng về thẩm quyền xét xử của các TAQS góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc cải cách tư pháp.

– Xác định đúng TQXX thì sẽ xác định đúng thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra, thẩm quyền truy tố của Viện kiểm sát.

– Xác định đúng về thẩm quyền xét xử của các TAQS thúc đẩy nhanh các tiến trình tố tụng tiết kiệm thời gian, không để xảy ra tình trạng một vụ án hình sự kéo dài thời gian do xác định sai thẩm quyền phải hủy án để xét xử lại…

– Xác định đúng TQXX đảm bảo cho các Tòa án thực hiện tốt nhiệm vụ mà Nhà nước đã giao cho.

1.4. Căn cứ để phân định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

– Căn cứ vào tính nghiêm trọng, phức tạp của tội phạm

– Căn cứ vào cách tổ chức hệ thống cơ quan Nhà nước và thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng

– Căn cứ vào mối liên hệ giữa thẩm quyền xét xử với các chế định khác của tố tụng hình sự

– Căn cứ vào tình hình tội phạm, yêu cầu phòng ngừa và chống tội phạm trong những giai đoạn nhất định

– Căn cứ vào đặc điểm lĩnh vực hoạt động, chức năng, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức nơi tội phạm xảy ra hoặc hành vi phạm tội gây thiệt hại

1.5. Quy định pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Qua tìm hiểu về TQXX của TAQS một số nước trên thế giới, thấy rằng TQXX của TAQS các quốc gia được xác định theo hai khuynh hướng sau:

– Khuynh hướng quy định thẩm quyền mở rộng: Có nghĩa là, TQXX của TAQS là TQXX theo đối tượng. Theo đó các đối tượng là: quân nhân, đối tượng khác do Quân đội quản lý, hoặc những đối tượng phạm tội liên quan đến quốc phòng – an ninh thuộc TQXX của TAQS. Đại diện cho khuynh hướng này là các nước Trung Quốc, Lào, Cu Ba và Vương quốc Anh.

– Khuynh hướng quy định thẩm quyền hẹp: Các quốc gia theo khuynh hướng này là các nước như Hoa Kỳ, Thái Lan, Myanmar… Tại các quốc gia này, TAQS chỉ có TQXX các vụ án hình sự mà bị cáo là sĩ quan, quân nhân thuộc lực lượng vũ trang.

TAQS Việt Nam có khuynh hướng quy định thẩm quyền rộng với việc quy định TAQS có thẩm quyền xét xử đối với nhiều đối tượng khác nhau.

Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5
Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5

CHƯƠNG 2

THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

2.1. Khái quát quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

Có thể chia TQXX của TAQS thành bốn giai đoạn phát triển cơ bản sau đây:

– Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1960.

– Giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1986.

– Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2003.

– Giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2015.

2.2. Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

2.2.1. Thẩm quyền xét xử chung của Tòa án quân sự

2.2.1.1. Thẩm quyền xét xử theo đối tượng

– TQXX theo đối tượng của TAQS được quy định tại Điều 272 BLTTHS năm 2015.

Thứ nhất, về các đối tượng là người của Quân đội quản lý và sử dụng, được quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 272 BLTTHS năm 2015. So với quy định tại mục 1 Phần I Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18/4/2005 thì quy định thẩm quyền xét xử của TAQS tại điểm a khoản 1 Điều 272 BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm đối tượng là “viên chức quốc phòng” và “công dân được điều động hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân”. Quy định này thể hiện được sự rõ ràng, chính xác của pháp luật, tránh trường hợp khi gặp phải vụ án hình sự thì có sự tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa TAND và TAQS.

Thứ hai, về các đối tượng là người không do Quân đội quản lý và sử dụng, được quy định tại Điểm b khoản 1 Điều 272 BLTTHS năm 2015. BLTTHS năm 2015 quy định bổ sung thêm đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS là trường hợp cá nhân “Phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ”. Quy định bổ sung này đã bảo đảm được về đối tượng phạm tội do TAQS xét xử, nhưng việc xác định thế nào là phạm tội trong doanh trại quân đội và khu vực quân sự gặp khá nhiều khó khăn.

Thứ ba, về các đối tượng trong trường hợp thiết quân luật, được quy định tại khoản 2 Điều 272 BLTTHS năm 2015. Đây là quy định hoàn toàn mới của BLTTHS năm 2015, thể hiện sự tiến bộ của BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật của TAQS, có tính chất dự báo của pháp luật và đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.

2.2.1.2. Thẩm quyền xét xử theo việc

– TQXX chung của TAQS theo việc được quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015.

+ So với các quy định của Pháp lệnh Tổ chức TAQS năm 2002 và Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA thì TQXX theo sự việc của TAQS Khu vực quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015 cơ bản được giữ nguyên.

+ So với BLTTHS năm 2003, khoản 2 Điều 268 BLTTHS năm 2015 bổ sung quy định hai trường hợp thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS cấp Quân khu, đó là: “Các tội phạm được thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Vụ án hình sự có bị cáo, bị hại, đương sự ở nước ngoài hoặc tài sản có liên quan đến vụ án ở nước ngoài”. Các vụ án hình sự có liên quan đến yếu tố nước ngoài đều thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS cấp Quân khu; quy định này thể hiện sự thống nhất với quy định tại khoản 2 Điều 269 BLTTHS năm 2015 Thẩm quyền theo lãnh thổ:“Bị cáo phạm tội ở nước ngoài nếu xét xử ở Việt Nam thì TAND cấp tỉnh…TAQS cấp Quân khu xét xử theo quyết định của Chánh án TAQS Trung ương”. Đồng thời, BLTTHS năm 2015 đã cụ thể hóa những vụ án tuy thuộc TQXX của TAQS Khu vực nhưng TAQS cấp Quân khu cần lấy lên để xét xử. Như vậy, BLTTHS năm 2015 đã có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về TQXX theo sự việc so với BLTTHS năm 2003 khi chỉ quy định chung chung.

– Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA có quy định phân biệt về thẩm quyền xét xử của TAQS cấp Quân khu và TAQS Khu vực căn cứ vào quân hàm hoặc chức vụ của bị cáo khi phạm tội. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 không quy định về nội dung cấp quân hàm hoặc chức vụ cụ thể thì thuộc thẩm quyền xét xử của TAQS cấp Quân khu hay TAQS Khu vực.

2.2.1.3. Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ

Điều 269 BLTTHS năm 2015 quy định về TQXX theo lãnh thổ của Tòa án. Để xác định TQXX theo lãnh thổ của các TAQS cần thiết phải căn cứ trên các quy định chung của pháp luật hiện hành, đồng thời còn phải căn cứ vào các quy định riêng của đặc thù Quân đội. Từ đó, mới có thể xác định chính xác TQXX theo lãnh thổ đối với các TAQS.

2.2.1.4. Giải quyết việc tranh chấp về thẩm quyền xét xử

Quy định tại Điều 275 BLTTHS năm 2015.

2.2.2. Thẩm quyền xét xử cụ thể của các Tòa án quân sự

2.2.2.1. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Khu vực

– Thẩm quyền xét xử theo đối tượng của Tòa án quân sự khu vực: Đối tượng xét xử thuộc thẩm quyền của TAQS phải thuộc Điều 3 Pháp lệnh tổ chức TAQS. Riêng các đối tượng có nhân thân thuộc đơn vị Quân đội quản lý khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố phải có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc người có chức vụ từ Trung đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống; Tuy nhiên, trong BLTTHS năm 2015 không quy định về nội dung cấp quân hàm hoặc chức vụ cụ thể, theo quan điểm cá nhân nên duy trì TQXX này nhằm xét xử theo pháp luật và bảo đảm công bằng, bình đẳng đối với người phạm tội.

Riêng đối với các TAQS khu vực Quân chủng Hải quân, ngoài các quy định về TQXX chung theo đối tượng được phân tích ở phần trên thì TQXX theo đối tượng còn được quy định như sau:

Các TAQS khu vực Quân chủng Hải quân có TQXX những vụ án mà bị cáo là người của các đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân quản lý hoặc các vụ án gây thiệt hại cho các đơn vị thuộc Quân chủng Hải quân. Riêng các đối tượng có nhân thân thuộc đơn vị Hải quân quản lý khi phạm tội hoặc khi bị khởi tố có quân hàm từ Trung tá trở xuống hoặc người có chức vụ từ Trung đoàn trưởng hoặc tương đương trở xuống.

– Thẩm quyền xét xử theo việc của Tòa án quân sự khu vực:

Đối với bị cáo là người thuộc Quân đội quản lý, Các TAQS Khu vực có TQXX các tội phạm mà theo quy định của BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, có khung hình phạt đối với các tội đó có mức cao nhất là 15 năm tù. Trừ những tội quy định tại khoản a, b, c khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015. Đối với bị cáo không thuộc đối tượng trên thì chỉ khi nào bị cáo phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự, gây thiệt hại cho Quân đội, phạm tội trong doanh trại quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ mới thuộc TQXX của TAQS Khu vực, tuy nhiên phải thuộc vào các tội được quy định ở khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015.

Đối với bị cáo là người thuộc Quân chủng Hải quân quản lý thì bất kể bị cáo phạm tội gì được quy định tại khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015. Đối với bị cáo không thuộc đối tượng trên thì chỉ khi nào bị cáo phạm tội liên quan đến bí mật quân sự, gây thiệt hại cho Quân chủng Hải quân, phạm tội trong doanh trại hoặc khu vực quân sự do Quân chủng Hải quân quản lý, bảo vệ mới thuộc TQXX của TAQS khu vực Quân chủng Hải quân, tuy nhiên phải thuộc vào các tội được quy định ở khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015.

– Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án quân sự khu vực: Trên cơ sở các quy định chung về TQXX theo lãnh thổ tại Điều 269 BLTTHS năm 2015, Thông tư liên tịch số 01/2005 hướng dẫn về TQXX của TAQS quy định: vụ án thuộc thẩm quyền của TAQS cấp nào xảy ra trên địa bàn có TAQS cấp đó xét xử.

Đối với các TAQS khu vực Quân chủng Hải quân khi xác định TQXX cần căn cứ vào quy định trong Thông tư liên tịch 01/2005 và Quyết định số 79/2004/QĐ-BQP ngày 07 tháng 6 năm 2004 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc phân định địa bàn xét xử của các TAQS.

2.2.2.2. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương

* Thẩm quyền xét xử sơ thẩm vụ án hình sự của Tòa án quân sự quân khu và tương đương

– Thẩm quyền xét xử theo đối tượng của Tòa án quân sự quân khu và tương đương: TAQS cấp quân khu và tương đương có TQXX về các tội phạm mà bị cáo khi phạm tội hoặc bị khởi tố có quân hàm từ Thượng tá trở lên hoặc có chức vụ từ Phó Sư đoàn trưởng và Phó Cục trưởng và tương đương trở lên.

– Thẩm quyền xét xử theo việc của Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương: Theo quy định tại Điều 268 BLTTHS năm 2015 và Pháp lệnh thì TAQS quân khu và tương đương có TQXX sơ thẩm những vụ án hình sự sau đây:

Về các tội đặc biệt nghiêm trọng. Đây là những tội phạm mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình; Các tội phạm quy định tại điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 268 BLTTHS năm 2015.

Như vậy, TQXX sơ thẩm của TAQS cấp quân khu và tương đương không được quy định chi tiết cụ thể trong BLTTHS như TQXX của các TAQS khu vực nhưng căn cứ vào các quy định pháp luật khác điều chỉnh hoạt động của TAQS, chúng ta vẫn xác định được một cách chi tiết, cụ thể về TQXX theo việc của TAQS cấp quân khu và tương đương. Từ đó, đảm bảo cho các hoạt động thụ lý, xét xử của Tòa án được chính xác, đúng pháp luật góp phần giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, có hiệu quả kinh tế cao.

– Thẩm quyền xét xử theo lãnh thổ của Tòa án quân sự cấp quân khu và tương đương: TQXX theo lãnh thổ đối với các TAQS cấp quân khu căn cứ vào các quy định tại Điều 269 BLTTHS . Do tính chất đặc thù của Quân đội, bên cạnh các quy định chung của BLTTHS thì TQXX theo lãnh thổ đối với TAQS cấp quân khu còn thực hiện theo Quyết định số 79/2004/QĐ-BQP ngày 07 tháng 6 năm 2004 của Bộ Trưởng Bộ Quốc phòng về việc phân định địa bàn xét xử của TAQS.

Vì tính chất hoạt động đặc thù của Quân đội của các Tòa án Quân chủng Hải quân nên TQXX theo lãnh thổ của các TAQS Quân chủng Hải quân không theo các quy tắc chung. Do đó, các TAQS Quân chủng Hải quân được quy định xét xử các vụ án hình sự không phụ thuộc vào nơi thực hiện tội phạm.

2.2.2.3. Thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự Trung ương

TQXX của TAQS Trung ương được quy định tại Điều 330, khoản 3 Điều 382 BLTTHS năm 2015, Luật tổ chức Tòa án Nhân dân và Điều 22 Pháp lệnh tổ chức TAQS. TQXX của TAQS Trung ương được cụ thể như sau:

– Phúc thẩm những vụ án hình sự mà bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của các TAQS cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

– Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án hình sự mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của các TAQS cấp dưới bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.

Các bản án hoặc quyết định của TAQS Trung ương vẫn có thể được giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của pháp luật.

Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5
Thẩm quyền xét xử của Tòa án Quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quân khu 5

CHƯƠNG 3

THỰC TIỄN THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA CÁC TÒA ÁN QUÂN SỰ QUÂN KHU 5 VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN THẨM QUYỀN XÉT XỬ CỦA TÒA ÁN QUÂN SỰ

3.1. Thực tiễn thực hiện thẩm quyền xét xử của các Tòa án quân sự Quân khu 5

3.1.1. Kết quả thực hiện

Trong nhiều năm qua, Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ của mình. Chất lượng và hiệu quả xét xử nói chung và xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự nói riêng của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 đã có những chuyển biến tích cực, giải quyết kịp thời các vụ án đã thụ lý, bảo vệ có hiệu quả các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; không kết án oan người không phạm tội. Số án bị hủy, sửa chiếm tỷ lệ thấp và chủ yếu vì lý do khách quan. Các sai sót nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật về cơ bản được khắc phục.

Trong thời gian 5 năm, Tòa án quân sự hai cấp Quân khu 5 không có bị khiếu kiện hay kháng cáo, kháng nghị do áp dụng sai về thẩm quyền xét xử. Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho quân nhân được thực hiện bằng nhiều hình thức, trong đó hoạt động nói chuyện pháp luật, tổ chức xét xử lưu động và viết thông báo về việc xét xử các vụ án hình sự gửi các đơn vị đóng quân trên địa bàn quản hạt làm tài liệu giáo dục chung là những hình thức quan trọng.

3.1.2. Những hạn chế, vướng mắc trong việc thực hiện thẩm quyền xét xử

– Thứ nhất, việc giải quyết tranh chấp về thẩm quyền xét xử giữa Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự. Theo quy định của khoản 4 Điều 275 BLTTHS năm 2015, thì việc tranh chấp Thẩm quyền xét xử giữa Tòa án quân sự và Tòa án nhân dân do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao tối cao quyết định. Đồng thời theo quy định của Điều 274 BLTTHS năm 2015 thì trong bất kỳ trường hợp nào, nếu vụ án thuộc TQXX của TAQS thì phải chuyển vụ án theo đúng TQXX. Thế nhưng, cho đến nay, chưa có một cơ chế hữu hiệu để giúp Chánh án thực hiện thẩm quyền đó.

– Thứ hai, việc chuyển vụ án theo thẩm quyền xét xử giữa TAND và TAQS, trong thực tiễn, do nhận thức của những cán bộ pháp luật của các Cơ quan tư pháp còn hạn chế nên chuyển vụ án để xét xử theo thẩm quyền còn có sự nhầm lẫn.

– Thứ ba, về tách vụ án trong trường hợp có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền của TAQS, vừa có bị cáo hoặc tội phạm thuộc thẩm quyền của TAND.

– Thứ tư, sự thay đổi về địa lý và cơ quan quản lý hành chính; sự thay đổi về tên đơn vị Quân đội cũng là vấn đề chưa được cập nhật kịp thời trong các văn bản pháp luật, khiến cho việc xác định thẩm quyền gặp không ít khó khăn.

– Thứ năm, về xác định thế nào là khu vực Quân đội quản lý, bảo vệ, trong thực tế, khi xảy ra một vụ án hình sự ở khu vực do Quân đội quản lý nhiều lúc cũng rất khó xác định địa điểm thực hiện tội phạm cụ thể.

– Thứ sáu, liên quan đến yếu tố nước ngoài trong các vụ án hình sự thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Qua thực tiễn xét xử cho thấy các vụ án này khi thụ lý, giải quyết thì TAQS cấp Quân khu gặp rất nhiều vấn đề phức tạp bởi liên quan đến yếu tố ngoại giao, xác định nhân thân bị cáo, bị hại và đương sự ở nước ngoài hay tài sản liên quan đến vụ án ở nước ngoài hoặc về bồi thường trách nhiệm dân sự và một số vấn đề khác trong vụ án hình sự…

– Thứ bảy, trường hợp cơ quan tư pháp không đánh giá đúng thế nào là hành vi liên quan đến bí mật quân sự và thế nào là gây thiệt hại cho Quân đội nên đã không xác định đúng thẩm quyền xét xử.

– Thứ tám, hệ thống TAQS hiện nay được tổ chức theo 3 cấp. Gồm có: TAQS Trung ương, TAQS cấp quân khu và tương đương, TAQS khu vực. Các TAQS tương đương được hiểu là TAQS quân khu Quân chủng Hải quân. Theo pháp lệnh TAQS Hải quân bao gồm: một TAQS Quân khu Quân chủng Hải quân và hai TAQS khu vực Quân chủng Hải quân. Các TAQS Quân chủng Hải quân hoạt động không tuân thủ các quy định về TQXX theo lãnh thổ đã được quy định trong BLTTHS.

3.1.3. Nguyên nhân những hạn chế, vướng mắc trong thực hiện quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

– Về mặt pháp luật, các quy định của pháp luật chưa thật phù hợp với đặc điểm tổ chức, hoạt động của Quân đội, của tổ chức TAQS và mối quan hệ giữa TAQS với TAND. Chẳng hạn như, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nhưng các văn bản pháp luật hướng dẫn của các cơ quan chức năng về áp dụng các quy định của pháp luật về TQXX của TAQS chưa đầy đủ. Hiện nay, ở cấp Trung ương mới có một văn bản duy nhất là Thông tư liên tịch số Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BQP-BCA ngày 18 tháng 4 năm 2005, thay thế Thông tư liên ngành số 01/TTLN năm 1994. Các cơ quan pháp luật trong Quân đội cũng ít có những quy định liên ngành hướng dẫn về quan hệ tố tụng hình sự giữa các cơ quan này trong điều tra, truy tố và xét xử.

– Trình độ nhận thức và ý thức pháp luật của công dân, của các đương sự liên quan đến vụ án hình sự chưa thực sự cao. Thực tiễn trong nhiều vụ án hình sự có nhiều trường hợp không hiểu tại sao Tòa án quân sự lại có thẩm quyền xét xử vụ án đó. Họ không hiểu được thế nào là thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự.

– Sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc xác định, phát hiện, xử lý các vụ án có sự dấp dính về TQXX chưa thật tốt.

– Chất lượng, trình độ chuyên môn của cán bộ các cơ quan tư pháp, kể cả dân sự và Quân đội còn yếu kém, chưa thực sự nghiêm túc khi nghiên cứu và áp dụng pháp luật về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

– Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” đã nêu ra nguyên nhân chủ quan đầu tiên là: Công tác cán bộ của các cơ quan tư pháp chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình hiện nay. Đội ngũ cán bộ tư pháp còn thiếu về số lượng, yếu bản lĩnh, sa sút về phẩm chất đạo đức. Đây là vấn đề nghiêm trọng làm ảnh hưởng đến kỷ cương, pháp luật, giảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước.

– Hiện tại hệ thống tổ chức Tòa án quân sự còn cồng kềnh, chống chéo về thẩm quyền xét xử dẫn đến hoạt động chưa cao. Tòa án quân sự Quân chủng Hải quân với địa bàn xét xử không theo lãnh thổ là trái với Điều 269 BLTTHS năm 2015 (Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện).

3.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự

3.2.1. Yêu cầu của cải cách tư pháp

Do đó, việc nghiên cứu để hoàn thiện TQXX của TAQS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp là vấn đề cấp bách hiện nay. Để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ cải cách tư pháp cần thực hiện tốt một số chủ trương, giải pháp cơ bản sau:

– Một là, phải quán triệt nghiêm túc Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 và Nghị quyết số 67-NQ/ĐUQSTƯ ngày 08 tháng 3 năm 2007 của Đảng ủy quân sự Trung ương về việc lãnh đạo thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp trong Quân đội; đồng thời, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với công tác này. Kiên quyết triển khai thực hiện việc đổi mới mô hình, tổ chức lại các cơ quan pháp luật theo khu vực hành chính quân sự; thu gọn biên chế, đáp ứng yêu cầu đổi mới toàn diện đất nước, tạo sự đồng thuận cao.

– Hai là, triển khai tập huấn, thực hiện tốt Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Bộ luật dân sự 2015… Đồng thời sớm ban hành các văn bản pháp luật hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cho phù hợp với các quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

– Ba là, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tăng cường kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, bảo vệ bí mật quân sự, tiềm lực quốc phòng; góp phần tích cực đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trong Quân đội.

– Bốn là, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác tư pháp, đặc biệt là thẩm phán, nâng cao hiệu quả hoạt động tư pháp trong Quân đội.

– Năm là, kế thừa thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự qua các thời kỳ và nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Tòa án quân sự của các nước có chế độ chính trị tương tự với Việt Nam như: Nga, Trung Quốc, Cu Ba, Lào… thì đối tượng xét xử thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cũng giống như Việt Nam.

– Sáu là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan tư pháp trong Quân đội, đảm bảo các nhiệm vụ cải cách tư pháp được thực hiện đồng bộ, hiệu quả và kịp thời.

– Bảy là, khắc phục những bất cập, vướng mắc trong quy định và thực tiễn thi hành TQXX vụ án hình sự của TAQS, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự trong Quân đội thời gian tới.

3.2.2. Các giải pháp cụ thể

– Thứ nhất, trên cơ sở kế thừa những quy định còn giá trị áp dụng của Thông tư liên tịch số 01/2005/TTLT, đồng thời căn cứ theo một số quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để có hướng ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn về thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự cho phù hợp. Trong văn bản hướng dẫn về thẩm quyền quyền xét xử cần làm rõ các khái niệm sau: Doanh trại Quân đội, Khu vục quân sự, Thiết quân luật, Người có chức sắc trong tôn giáo, Người có uy tín cao trong dân tộc ít người.

Ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện TQXX theo đối tượng tương tự quy định trong Pháp lệnh Tổ chức TAQS 2002.

– Thứ hai, hoàn thiện quy định của pháp luật về phân chia địa bàn xét xử của các Tòa án quân sự theo hướng bổ sung các thay đổi về địa lý và tổ chức Tòa án quân sự.

– Thứ ba, hoàn thiện về sự phối hợp giữa các Cơ quan tư pháp Quân đội, đặc biệt là Tòa án quân sự với các cơ quan chức năng có thẩm quyền về liên quan đến các yếu tố nước ngoài như Bộ Ngoại giao, Sở Ngoại vụ… bằng cách ban hành văn bản về sự tăng cường phối hợp trong hoạt động công tác giữa các cơ quan này.

– Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về hệ thống cơ cấu tổ chức theo Đề án mô hình tổ chức Tòa án quân sự từ năm 2015 đến 2020 và nhưng năm tiếp theo được chia thành 02 giai đoạn:

+ Giai đoạn 1, từ năm 2015 đến năm 2020: Cần giải thể Tòa án quân sự Quân chủng Hải quân và 02 Tòa án quân sự Khu vực Quân chủng Hải quân.

+ Giai đoạn 2, sau năm 2020: Thu gọn Tòa án quân sự cấp Quân khu thành các Tòa án quân sự Vùng:

– Tòa án quân sự Vùng 1 (Trụ sở tại Thái Nguyên) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 1 và Quân khu 2.

– Tòa án quân sự Vùng 3 (Trụ sở tại thành phố Hải Phòng) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 3 và Thủ đô Hà Nội.

– Tòa án quân sự Vùng 4 (Trụ sở tại thành phố Vinh) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 4.

– Tòa án quân sự Vùng 5 (Trụ sở tại thành phố Đà Nẵng) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 5.

– Tòa án quân sự Vùng 7 (Trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 7.

– Tòa án quân sự Vùng 9 (Trụ sở tại thành phố Cần Thơ) có thẩm quyền xét xử các tội phạm thuộc thẩm quyền xảy ra trên địa bàn Quân khu 9.

Thu gọn 02 Tòa án quân sự Khu vực của mỗi Vùng thành 01 Tòa án quân sự Khu vực; ngoại trừ Tòa án quân sự Vùng 1 và Tòa án quân sự Vùng 5 vẫn giữ nguyên 02 Tòa án quân sự Khu vực bởi các Tòa án quân sự Khu vực này có diện tích rộng, đường biên giới dài, địa bàn miền núi nhiều, tình hình an ninh-chính trị tương đối phức tạp nên lượng án của các Tòa án quân sự Khu vực này nhiều:

– Tòa án quân sự Khu vực 1 Vùng 1 (Trụ sở tại thành phố Thái Nguyên) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 1.

– Tòa án quân sự Khu vực 2 Vùng 1 (Trụ sở tại thành phố Việt Trì) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 2.

– Tòa án quân sự Khu vực Vùng 3 (Trụ sở tại thành phố Hải Phòng) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 3 và Thủ đô Hà Nội.

– Tòa án quân sự Khu vực Vùng 4 (Trụ sở tại thành phố Vinh) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 4.

– Tòa án quân sự Khu vực 1 Vùng 5 (Trụ sở tại thành phố Quy Nhơn) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum.

– Tòa án quân sự Khu vực 2 Vùng 5 (Trụ sở tại thành phố Nha Trang) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn tỉnh Phú Yên, Nha Trang, Ninh Thuận, Đăk Lăk, Đăk Nông.

– Tòa án quân sự Khu vực Vùng 7 (Trụ sở tại thành phố Hồ Chí Minh) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 7.

– Tòa án quân sự Khu vực Vùng 9 (Trụ sở tại thành phố Cần Thơ) có thẩm quyền xét xử xảy ra trên địa bàn Quân khu 9.

– Thứ năm, bên cạnh giải pháp về mặt pháp luật, cần phải thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

+ Tăng cường công tác phối hợp trong hoạt động và tăng cường mối quan hệ giữa các Cơ quân tư pháp trong và ngoài quân đội.

+ Các Tòa án quân sự cần thường xuyên tăng cường công tác tổng kết, rút kinh nghiệm xét xử sau mỗi vụ án hay theo định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm.

+ Nhà nước ta cần có các biện pháp phổ biến, giáo dục pháp luật một cách sâu rộng và có hiệu quả để nâng cao trình độ nhận thức và ý nghĩa pháp luật cho nhân dân, cán bộ và chiến sỹ.

+ Tăng cường bồi dưỡng, nâng cao trình độ, nhận thức của cán bộ nghiệp vụ của các Tòa án quân sự là hết sức quan trọng để nâng cao hiệu quả xét xử trong thực tiễn diễn ra một cách chính xác, khoa học. Lãnh đạo các Tòa án quân sự phải thực hiện tốt quy chế tuyển chọn, đào tạo và sử dụng cán bộ nghành Tòa án quân sự đảm bảo đúng các tiêu chuẩn theo quy định Pháp lệnh về Thẩm phán và Hội thẩm. Việc tái bổ nhiệm Thẩm phán phải căn cứ vào chất lượng hoàn thành nhiệm vụ của Thẩm phán trong nhiệm kỳ, kiên quyết không đề nghị tái bổ nhiệm những người hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ thấp.

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn của Tòa án quân sự Quân khu 5, đưa ra khái niệm, các cơ sở, ý nghĩa, căn cứ của việc quy định thẩm quyền xét xử.

Qua việc khảo sát thực tế xét xử của Tòa án quân sự nói chung và Tòa án quân sự hai cấp Quân khu 5 nói riêng trong những năm qua vẫn thấy còn một số hạn chế, vướng mắc. Từ đó, Luận văn đưa ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án quân sự thì giải pháp về mặt pháp luật có vai trò quan trọng nhất với việc hoàn thiện pháp luật về các văn bản hướng dẫn thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự, hoàn thiện pháp luật về hệ thống cơ cấu tổ chức của Tòa án quân sự và một số giải pháp hoàn thiện về mặt pháp luật khác. Kết hợp với một số giải pháp khác bảo đảm tính đồng bộ trong việc nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án quân sự.

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi gặp phải một số khó khăn khách quan và những hạn chế về kiến thức, kinh nghiệm của bản thân nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì thế, chúng tôi mong nhận được sự đóng góp chân thành để chúng tôi có cơ sở tiếp tục hoàn thiện tốt luận văn.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\HINH SU\DINH MINH LUONG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *