Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai

1. Tính cấp thiết của đề tài

Thời gian qua, Quốc hội Khóa XIV đã sửa đổi và ban hành nhiều bộ luật, luật mới có tác động tới việc giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và tranh chấp KDTM tại Tòa án nói riêng như: Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Luật Doanh nghiệp 2014, v.v… Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp nói chung và tranh chấp KDTM đã có nhiều bước tiến mới. Đối với một số địa phương có điều kiện kinh tế xã hội còn nhiều hạn chế như các tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Kon Tum, Lâm Đồng), việc thực hiện hòa giải thông qua hòa giải viên là điều hết sức khó khăn, chính vì vậy ở các địa phương này, việc áp dụng phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án vẫn là phương án lựa chọn tối ưu nhất. Nhưng việc vận dụng các quy định mới của pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM ở một số Tòa án chưa thực sự linh hoạt, còn cứng nhắc, dẫn đến việc giải quyết tranh chấp KDTM bằng hòa giải ở Tòa án chưa thực sự phát huy hết vai trò và ý nghĩa của mình. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Làm rõ một số vấn đề lý luận cũng như đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện hành và việc áp dụng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về hòa giải, đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật, tìm ra các vướng mắc, từ đó đưa ra một số đánh giá và kiến nghị hoàn thiện về pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án và nâng cao hiệu quả thi hành ở Tòa án nhân tỉnh Gia Lai.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Các quy định của pháp luật Việt Nam về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM được quy định trong BLDS (1995, 2009, 2015), BLTTDS (2011, 2015); các đạo luật liên quan đến KDTM như LDN (2005, 2014), LTM (1997, 2005), LTTTM (2010); các luật liên quan và văn bản hướng dẫn về hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Triết học Mac – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng.

5.1. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân loại pháp lý, diễn dịch, quy nạp, so sánh pháp luật, phân tích quy phạm, phân tích tình huống, quy nạp và phương pháp xây dựng mô hình.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Về ý nghĩa lý luận, góp phần làm sáng tỏ khái niệm, phạm vi, trình tự tiến hành và ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Về ý nghĩa thực tiễn, đưa ra được các giải pháp kiến nghị để hoàn thiện các quy định của pháp luật và khắc phục hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật để tiến hành hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án.

7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thi hành ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án và nâng cao hiệu quả thi hành tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

CHƯƠNG 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1.1. Khái niệm, đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại

1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại

– Hiện nay, vẫn chưa có một khái niệm rõ ràng quy định thế nào là tranh chấp KTDM mà chỉ ở quan điểm tiếp cận của một số tác giả thông qua pháp luật nội dung và tố tụng.

– Có thể định nghĩa khái niệm về tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động KDTM hoặc có liên quan đến hoạt động KDTM.

1.1.2. Đặc điểm tranh chấp kinh doanh thương mại

– Chủ thể của các hoạt động phát sinh tranh chấp chủ yếu là những thương nhân, có hoạt động thương mại và có đăng ký kinh doanh.

– Khách thể của các tranh chấp KDTM là các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia trong hoạt động KDTM.

– Nội dung các tranh chấp KDTM luôn là những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, tài sản, nảy sinh gắn liền với hoạt động KDTM.

1.2. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

1.2.1. Khái niệm hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM tại Tòa án là “Hoạt động tố tụng do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận được với nhau về giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể phát sinh trong quá trình thực hiện hoạt động KDTM”.

1.2.2. Đặc điểm của hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

– Cơ sở của hòa giải tại Tòa án là quyền tự định đoạt của các đương sự.

– Là hoạt động do Tòa án tiến hành.

– Là một nguyên tắc trong quá trình giải quyết các tranh chấp KDTM.

– Phải tuân thủ nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ do pháp luật quy định.

1.2.3. Vai trò, ý nghĩa của hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

– Đối với các bên tranh chấp:

+ Giải quyết tranh chấp một cách cởi mở, giảm bớt được mâu thuẫn cũng như ngăn ngừa tội phạm có nguồn gốc phát sinh trong quá trình xảy ra tranh chấp.

+ Góp phần nâng cao ý thức pháp luật của các bên tranh chấp, tiết kiệm được thời gian cũng như tiền bạc của các bên tranh chấp khi không phải đóng án phí xét xử.

– Đối với Tòa án:

+ Giảm được thời gian cũng như công sức cho việc giải quyết tranh chấp nếu hòa giải thành.

+ Số lượng án xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm giảm, dẫn đến số lượng án xét xử cấp phúc thẩm giảm, có thời gian nâng cao hiệu quả công tác xét xử, tránh tình trạng án bị kháng cáo, kháng nghị, góp phần tăng cường uy tín của cơ quan tư pháp của Nhà nước.

– Đối với xã hội:

+ Giữ gìn an ninh, trật tự, công bằng cho xã hội.

+ Nâng cao ý thức pháp luật của mọi người trong xã hội, góp phần xây dựng xã hội công bằng, phát triển, văn minh.

1.3. Pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

BLTTDS quy định Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự. BLTTDS 2015 đã quy định các nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; phạm vi, thành phần, trình tự, thủ tục để Tòa án tiến hành hòa giải các tranh chấp dân sự, trong đó có các tranh chấp KDTM.

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

2.1. Các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

2.1.1. Nguyên tắc của hòa giải trong tố tụng tại Tòa án

Được quy định tại Điều 205 BLTTDS 2015.

– Do Tòa án tiến hành trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án và tạo điều kiện cho việc tiến hành hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm.

– Được tiến hành cơ sở tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù hợp với ý chí của mình.

– Nội dung thỏa thuận giữa các đương sự không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2.1.2. Phạm vi hòa giải trong tố tụng tại Tòa án

– Phải tiến hành hòa giải tất cả các vụ án mà Tòa án thụ lý trừ những vụ án không được hòa giải và những vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 206, 207 BLTTDS.

2.1.3. Thành phần tham gia hòa giải

Theo Điều 209 BLTTDS, gồm: Thẩm phán chủ trì; Thư ký ghi biên bản; các đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có QLNVLQ); người đại diện hợp pháp của các đương sự; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự (nếu có); người phiên dịch (nếu có).

2.1.4. Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải các vụ án dân sự

– Phát sinh từ việc nộp đơn khởi kiện của người khởi kiện.

– Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận đơn, Chánh án Toà án phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

– Nếu vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án thì Thẩm phán thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí, Thẩm phán thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai thu tiền tạm ứng án phí (trừ trường hợp miễn hoặc không phải nộp tạm ứng án phí).

– Xác định thời hạn giải quyết vụ án, đối với vụ án KDTM thì thời hạn chuẩn bị xét xử là 02 tháng, có thể gia hạn 01 tháng do tính chất của vụ án.

– Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trừ trường hợp vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

* Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm:

– Triệu tập đương sự đến tham gia phiên họp và phiên hòa giải.

– Trình tự, thủ tục tiến hành phiên hòa giải:

+ Trước khi tiến hành phiên họp, Thư ký báo cáo Thẩm phán và Thẩm phán tự mình kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia, phổ biến quyền và nghĩa vụ cho đương sự. Công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, hỏi đương sự về những vấn đề có liên quan, xem xét các ý kiến, giải quyết các yêu cầu của đương sự.

+ Tiến hành phiên hòa giải bằng cách phổ biến cho các đương sự về các quy định của pháp luật liên quan, phân tích hậu quả pháp lý của việc hòa giải thành để đương sự tự nguyện thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

+ Các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trình bày nội dung tranh chấp, ý kiến của mình, đề xuất quan điểm về những vấn đề cần hòa giải, hướng giải quyết vụ án (nếu có);

+ Thẩm phán xác định và yêu cầu các đương sự trình bày bổ sung những vấn đề chưa rõ, chưa thống nhất và kết luận.

+ Thư ký Tòa án lập biên bản theo quy định.

– Xử lý kết quả hòa giải:

+ Trong trường hợp hòa giải không thành: Tùy từng trường hợp, Thẩm phán ra một trong 03 quyết định: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ giải quyết vụ án hoặc đưa vụ án ra xét xử.

+ Trong trường hợp hòa giải thành:

Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án, Tòa án sẽ lập biên bản hòa giải thành và ra QĐCN sự thỏa thuận của các đương sự sau khi hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến. Quyết định có hiệu lực thi hành ngay, chỉ bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Nếu các đương sự chỉ thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết một phần vụ án, Toà án không công nhận sự thoả thuận của các đương sự mà tiến hành mở phiên toà để xét xử.

* Thủ tục hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm:

– Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không. Nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì HĐXX thảo luận, thông qua tại phòng nghị án và lập thành văn bản, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa thay mặt HĐXX ra quyết định và ký tên trong QĐCN.

* Thủ tục hòa giải tại cấp phúc thẩm:

+ Tại phiên tòa phúc thẩm, Chủ tọa phiên tòa hỏi các đương sự có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hay không, nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án thì HĐXX phúc thẩm ra bản án phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

2.2.1. Vài nét về Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

– TAND tỉnh Gia Lai có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết sơ thẩm; phúc thẩm vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị; kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và giải quyết việc khác theo quy định của pháp luật.

– Tòa kinh tế TAND tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp, yêu cầu về KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh quy định tại Điều 37 của BLTTDS; giải quyết theo thủ tục phúc thẩm những vụ việc bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của BLTTDS.

2.2.2. Những kết quả đạt được khi thực hiện hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

– TAND tỉnh Gia Lai đã giải quyết được số lượng lớn vụ án về tranh chấp dân sự, tuy nhiên, tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Gia Lai xảy ra ít, các tranh chấp đều không hòa giải thành và được đưa ra xét xử, không có vụ án nào hòa giải thành tại phiên tòa xét xử sơ thẩm cũng như phúc thẩm.

– TAND tỉnh Gia Lai cũng như 17 TAND cấp huyện các năm 2015, 2016 và 2017 thụ lý chưa đến 20 vụ án KDTM, số vụ án hòa giải thành chiếm khoảng gần 50 % số vụ án giải quyết tại Tòa án trên toàn tỉnh và giảm theo các năm và đưa ra 02 vụ án hòa giải thành của TAND thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai làm ví dụ điển hình.

– Đặc điểm chung của các tranh chấp KDTM tại Tòa án trên địa bàn tỉnh Gia Lai chủ yếu là tranh chấp về hợp đồng tín dụng và hợp đồng kinh tế (mua bán hàng hóa); các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án tỉnh ít hơn tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án huyện.

– Những năm gần đây, hệ thống TAND tỉnh Gia Lai đã đưa nội dung công tác hòa giải là một trong những nhiệm vụ trọng tâm năm 2018, đặt ra mục tiêu phấn đấu nhằm đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, tạo cơ sở cho việc thực hiện công tác hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, bao gồm tranh chấp KDTM được tập trung và đạt hiệu quả cao.

2.2.3. Một số hạn chế, vướng mắc khi thực hiện hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

Những vướng mắc, hạn chế trong quy định của pháp luật:

* Về phạm vi hòa giải:

– Khoản 1 Điều 206 BLTTDS quy định những vụ án dân sự không được hòa giải có yêu cầu đòi bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước. Tuy nhiên, BLDS không quy định về hình thức “sở hữu Nhà nước” mà thay bằng hình thức “sở hữu toàn dân” là một bất cập.

– Tại Điều 200 BLDS năm 2015 quy định về việc thực hiện quyền sở hữu toàn dân đối với tài sản được đầu tư vào doanh nghiệp mà các doanh nghiệp có quyền tự chủ, tự quyết định tài sản của doanh nghiệp mình, việc hạn chế không được hòa giải khi có tranh chấp xảy ra trong trường hợp này hạn chế quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, mâu thuẫn với LDN về tự do và tự chủ trong kinh doanh.

* Về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải:

– Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm:

Về việc triệu tập đương sự:

+ Không có quy định như thế nào là không tham gia được vì “có lý do chính đáng.

+ Không quy định rõ ràng vấn đề “triệu tập hợp lệ” đương sự gây nên nhiều cách hiểu khác nhau cũng như việc áp dụng không thống nhất giữa các Tòa án.

+ Thiếu sót về việc quy định sự có vắng mặt của người có QLNVLQ khi được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tại phiên hòa giải.

Về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải:

+ Không quy định cụ thể số lần phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm.

+ Không quy định thủ tục trong trường hợp các đương sự thỏa thuận lại sau khi Tòa án lập biên bản hòa giải thành.

+ Thời hạn lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt tại phiên hòa giải chưa được BLTTDS quy định.

+ Quy định về giá trị của QĐCN sự thỏa thuận đối với đương sự: Theo khoản 3 Điều 212 BLTTDS, quyền và nghĩa vụ của đương sự vắng mặt sẽ được Tòa án giải quyết như thế nào nếu đã ra QĐCN sự thỏa thuận giữa các đương sự có mặt.

– Về thủ tục hòa giải tại cấp phúc thẩm:

+ Không được BLTTDS quy định là thủ tục bắt buộc trong thời hạn chuẩn bị xét xử ở cấp phúc thẩm, chỉ khuyến khích các bên hòa giải tại phiên tòa xét xử phúc thẩm, làm hạn chế ý nghĩa của thủ tục hòa giải tại Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KDTM.

* Về việc thực hiện công tác hòa giải tại TAND tỉnh Gia Lai:

– Có sự vi phạm về thời hạn tố tụng: TAND các huyện không bảo đảm được quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án (02 tháng, gia hạn 01 tháng) dẫn đến một số vụ án giải quyết quá hạn, vi phạm về thủ tục tố tụng.

– Về thành phần tham gia hòa giải:

+ Không xác định đúng tư cách, phạm vi, quyền hạn của những người đại diện của đương sự khi tham gia hòa giải.

– Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm:

Về việc triệu tập đương sự:

+ Không triệu tập người có QLNVLQ đến phiên hòa giải.

+ Chưa thực hiện việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự theo đúng quy định của BLTTDS về cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng.

Trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải:

+ Biên bản hòa giải thiếu chữ ký hay điểm chỉ của những người tham gia (vi phạm khoản 4 Điều 211 BLTTDS).

Việc xử lý kết quả hòa giải, ra QĐCN:

+ Nội dung QĐCN không giống với nội dung thỏa thuận trong biên bản hòa giải thành.

+ Còn ghi nhận nội dung thỏa thuận trái quy định pháp luật.

+ Ra QĐCN mà không có sự đồng ý bằng văn bản của đương sự vắng mặt theo quy định tại khoản 3 Điều 212 BLTTDS.

2.2.4. Nguyên nhân của thực tiễn thực hiện pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

Về nguyên nhân chủ quan:

+ Công tác hòa giải vẫn chưa được quan tâm đúng mức.

+ Trình độ, kỹ năng của các Thẩm phán chưa được đào tạo, hướng dẫn nhiều.

+ Việc không đạt được mục đích hòa giải thành các tranh chấp KDTM tại TAND tỉnh một phần tác động đến hiệu quả, năng lực tổ chức hòa giải của Thẩm phán Tòa án tỉnh, không có nhiều kinh nghiệm thực tế để hướng dẫn công tác nghiệp vụ cho các Tòa án huyện mà phụ thuộc nhiều vào ý kiến chỉ đạo của cấp trên.

Nguyên nhân khách quan:

+ Các quy định của BLTTDS chưa rõ ràng, đầy đủ.

+ Chưa quan tâm đến công tác tập huấn, đào tạo kỹ năng chuyên sâu về hòa giải cho cán bộ Thẩm phán, Thư ký Tòa án.

+ Công tác tuyển dụng, bổ nhiệm Thẩm phán chưa công khai, không có tính cạnh tranh, thời kỳ bổ nhiệm ngắn, lương, phụ cấp, đãi ngộ thấp.

+ Số lượng án KDTM ít dẫn đến việc thiếu kinh nghiệm trong việc giải quyết án của Thẩm phán Tòa án.

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM từ thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tại tỉnh Gia Lai

CHƯƠNG 3

ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

– Bảo đảm các nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự.

– Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền tự định đoạt của các đương sự khi tham gia hòa giải tại Tòa án.

– Hướng quy định chế định hòa giải trong tố tụng dân sự thành một chương riêng, đồng thời phải bảo đảm sự thống nhất giữa các quy định của pháp luật, đảm bảo tiến hành hòa giải một cách đơn giản, nhanh chóng và hiệu quả.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án

* Về nguyên tắc tiến hành hòa giải:

– BLTTDS nên bổ sung nguyên tắc thể hiện sự “bình đẳng” và “trung thực” khi các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp.

* Về phạm vi hòa giải:

– Về phạm vi vụ án không được hòa giải liên quan yêu cầu bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, không thống nhất với quy định về tài sản thuộc sở hữu toàn dân tại Điều 197 BLDS. Điều 206 BLTTDS cần được hướng dẫn cho phù hợp với quy định của BLDS theo hướng “yêu cầu bồi thường vì lý do gây thiệt hại đến tài sản toàn dân do Nhà nước đại diện sở hữu và quản lý”.

– Đối với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản thuộc sở hữu Nhà nước được đầu tư vào doanh nghiệp, nên theo hướng Tòa án vẫn tiến hành hòa giải để các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

* Về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải:

– Thủ tục hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm:

Về việc triệu tập đương sự:

+ Nên quy định rõ không tham gia được vì có lý do chính đáng, quy định cụ thể nếu đương sự vắng mặt cần phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú về sự vắng mặt đó.

+ Vấn đề “triệu tập hợp lệ” đương sự: Cần quy định rõ trong các văn bản hướng dẫn theo hướng đơn giản hóa thủ tục triệu tập đương sự đến hòa giải như: Nếu có đương sự vắng mặt sau khi đã xác nhận giấy triệu tập đã gửi bằng thư bảo đảm và đương sự đã nhận được, thì đương nhiên là căn cứ để có thể xét xử vắng mặt đương sự lần sau; đương sự không có quyền vắng mặt quá 2 lần không có lý do chính đáng (không cần phải là 2 lần liên tục); nếu đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn hòa giải tranh chấp liên quan đến các đương sự có mặt, nếu việc hòa giải về bản chất không thể thiếu sự đồng ý của đương sự vắng mặt thì mới coi việc vắng mặt là sự kiện dẫn đến việc tạm hoãn buổi hòa giải.

+ Về quy định sự vắng mặt của người có QLNVLQ khi được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tại phiên hòa giải. Nên hướng dẫn Điều 207 BLTTDS là người có QLNVLQ không có yêu cầu độc lập đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt thì vụ án mới được coi là không tiến hành hòa giải được; còn người có QLNVLQ có yêu cầu độc lập cố tình vắng mặt lần thứ hai khi Tòa án triệu tập thì coi như họ đã từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó và họ có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật để phù hợp với quy định tại điểm d khoản 2 Điều 227 BLTTDS.

Về trình tự, thủ tục tiến hành hòa giải:

+ Nên quy định cụ thể số lần Tòa phải tiến hành hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, nên quy định Tòa án phải tổ chức phiên họp và phiên hòa giải 02 lần.

+ Nên bổ sung quy định thủ tục trong trường hợp các đương sự thỏa thuận lại sau khi Tòa án lập biên bản hòa giải thành: Trong thời hạn 07 ngày, nếu các đương sự thay đổi ý kiến thì Thẩm phán lập biên bản, không công nhận sự thoả thuận mà tiến hành mở phiên toà để xét xử. Trường hợp các đương sự có sự thay đổi về nội dung trong thỏa thuận nhưng theo hướng vẫn muốn Tòa án công nhận sự thỏa thuận, chỉ thay đổi nội dung của thỏa thuận, thì nên quy định theo hướng nếu Thẩm phán xét thấy thỏa thuận đó đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của các bên, không vi phạm điều cấm của luật và trái đạo đức xã hội thì lập biên bản về sự thỏa thuận lại của các đương sự. Nếu đương sự yêu cầu thì Thẩm phán có thể ra QĐCN sự thỏa thuận của đương sự mà không phải đợi hết thời gian 07 ngày, nếu các đương sự không yêu cầu Tòa án ra ngay QĐCN sự thỏa thuận thì quyết định này sẽ được ra trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành.

+ Quy định cụ thể về thời hạn lấy ý kiến của các đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 212 BLTTDS là trong thời hạn 15 ngày, Tòa án phải lấy ý kiến hay phải có sự đồng ý bằng văn bản của đương sự vắng mặt, kể từ ngày các đương sự có mặt tại phiên hòa giải thỏa thuận được với nhau về giải quyết vụ án, trong trường hợp đương sự vắng mặt ở nước ngoài thì thời hạn lấy ý kiến của đương sự vắng mặt được thực hiện theo thủ tục ủy thác tư pháp sẽ đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt. Và kể từ ngày Tòa án nhận được văn bản đồng ý của đương sự vắng mặt, nếu trong thời hạn 07 ngày, không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Tòa án ra QĐCN sự thỏa thuận của các đương sự.

+ Quy định về giá trị của QĐCN sự thỏa thuận đối với đương sự: Nên quy định Tòa án vẫn phải lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt mặc dù có ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của họ hay không, nếu có văn bản đồng ý của đương sự vắng mặt thì Tòa án tách yêu cầu của đương sự vắng mặt để giải quyết thành vụ án riêng và ra QĐCN sự thỏa thuận của các đương sự có mặt, đó kèm theo văn bản thể hiện sự đồng ý của đương sự vắng mặt. Trường hợp đương sự vắng mặt không đồng ý thì nêu ý kiến của mình trong văn bản không đồng ý để Tòa án tiến hành mở phiên hòa giải tiếp theo, trường hợp không thống nhất được thì Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử sơ thẩm.

– Thủ tục hòa giải tại cấp phúc thẩm:

+ Nên quy định các trường hợp: Hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (quy định chung trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, Tòa án tiến hành hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án); Hòa giải tại phiên tòa sơ thẩm; Hòa giải tại phiên tòa phúc thẩm.

3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai

– Thứ nhất, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường công tác bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật

– Thứ hai, đối với cơ quan tiến hành tố tụng: Tổ chức phối hợp với các cơ quan tiến hành tố tụng là Viện kiểm sát và các cơ quan có liên quan là các cơ quan bổ trợ tư pháp trong quá trình giải quyết vụ án để tạo điều kiện cho việc hòa giải một cách nhanh chóng, tiết kiệm thời gian, chi phí tố tụng của đương sự cũng như của Tòa án.

– Thứ ba, đối với công tác tổ chức cán bộ:

+ Rà soát, đánh giá lại đội ngũ cán bộ, Thẩm phán để bố trí công tác phù hợp với năng lực, trình độ, yêu cầu của cơ quan, đơn vị.

+ Tăng cường kỷ cương, kỷ luật nghiệp vụ, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra trong ngành TAND tỉnh.

+ Xây dựng kế hoạch tuyển chọn, bổ nhiệm, nâng ngạch cán bộ, Thẩm phán, bảo đảm tính chặt chẽ, đúng quy định, công khai, minh bạch.

+ Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cũng như giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký TAND.

+ Tạo ra cơ chế đảm bảo sự độc lập của Thẩm phán.

+ Thường xuyên tổ chức các buổi tổng kết, rút kinh nghiệm, hướng dẫn nghiệp vụ về công tác giải quyết án, trong đó có công tác tổ chức hòa giải tranh chấp KDTM tại Tòa án.

+ Thực hiện tốt công tác thi đua, khen thưởng.

+ Đảm bảo cơ sở vật chất, trang thiết bị phương tiện làm việc cho các TAND các cấp, cũng như tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của Tòa án.

– Thứ tư, đối với mỗi Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chuẩn bị kỹ như nghiên cứu nội dung vụ án để xác định các nội dung cần phải hòa giải và gửi thông báo cho đương sự biết về nội dung này để các bên chuẩn bị. Tại phiên họp và phiên hòa giải, Thẩm phán cần có sự kiên trì với thái độ tích cực khi hòa giải để tạo điều kiện cho các bên thống nhất về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

– Thứ năm, đảm bảo hoạt động giám sát của của nhân dân đối với hoạt động tố tụng của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án và tăng cường công tác phổ biến, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân.

KẾT LUẬN

Thông qua việc nghiên cứu chế định hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp KDTM, có thể thấy được ý nghĩa quan trọng của hòa giải trong quá trình tố tụng dân sự. Hòa giải là phương thức hiệu quả để bảo đảm quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự. Hòa giải thành giúp giải quyết triệt để, hiệu quả các tranh chấp, tiết kiệm được tối đa chi phí, thời gian, công sức của đương sự và Nhà nước.

Tuy nhiên, quá trình tiến hành hoạt động hòa giải các tranh chấp tại TAND cấp huyện và tỉnh Gia Lai vẫn gặp phải một số vướng mắc, hạn chế trong quá trình áp dụng pháp luật, nhiều quy định chưa rõ ràng, gây nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều tranh chấp phát sinh với nội dung phức tạp chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của cơ quan có thẩm quyền cũng như trình độ của người áp dụng pháp luật còn có sự hạn chế nhất định.

Để nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự nói chung và các tranh chấp KDTM nói riêng, thì không chỉ cần chú trọng vào công tác lập pháp, hướng dẫn áp dụng pháp luật, thực hiện tốt công tác tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng và nâng đội ngũ cán bộ chuyên trách, mà còn đòi hỏi mỗi Thẩm phán phải không ngừng rèn luyện kỹ năng giải quyết án nói chung và kỹ năng hòa giải nói riêng nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng công tác xét xử đồng thời góp phần xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, công lý, dân chủ và nghiêm minh.

 

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 7\KINH TE\THUY SON HOA

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *