Miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, đất nước ta chuyển sang phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng quan hệ kinh tế, đối ngoại với nhiều nước trên thế giới. Sự vận hành của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã và đang đem lại kết quả tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được bạn bè quốc tế đánh giá cao.
Bên cạnh những mặt tích cực đã nêu ở trên, nền kinh tế thị trường cũng đã làm nảy sinh nhiều vấn đề tiêu cực, trong đó tình hình tội phạm diễn biến phức tạp với mức độ ngày càng nghiêm trọng cả về tính chất và quy mô của tội phạm. Đáng chú ý các vụ án do người dưới 18 tuổi phạm tội đang có chiều hướng gia tăng và chiếm tỷ lệ cao.
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra và thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ, thông qua hoạt động của nhiều cấp ngành nhằm giáo dục, ngăn chặn và hạn chế tình trạng người dưới 18 tuổi phạm tội và luôn có sự quan tâm đặc biệt đến việc hoạch định CSHS. Thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nhưng cho đến nay, một số nội dung của chế định này còn có những quan điểm khác nhau và chưa thống nhất. Chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội cũng luôn vận động và phát triển đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu, giải quyết. Trước tình hình đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp để tiếp tục hoàn thiện BLHS hiện hành và giải quyết những vướng mắc của thực tiễn áp dụng PLHS là việc làm cần thiết, có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay ở Việt Nam. Với những lý do trên tác giả đã lựa chọn đề tài “Miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ một cách có hệ thống về mặt lý luận nội dung cơ bản của những quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, xác định những bất cập để đề xuất những giải pháp cụ thể, góp phần tiếp tục hoàn thiện những quy định này trong thời gian tới. Đồng thời, luận văn cũng nhằm giải quyết một số vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, góp phần nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện nói riêng và tội phạm nói chung ở nước ta hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Với mục đích nghiên cứu như đã đề cập ở trên, luận văn tập trung vào việc giải quyết những nhiệm vụ sau:
– Về mặt lý luận: Trên cơ sở nghiên cứu sự phát triển của chế định này trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam để làm sáng tỏ bản chất pháp lý của những quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam.
– Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu việc áp dụng các QPPL của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong thực tiễn áp dụng PLHS tại thành phố Đà Nẵng. Trên cơ sở phân tích, đánh giá những số liệu thống kê trên thực tế, những thiếu sót, khuyết điểm và những vướng mắc của việc áp dụng PLHS liên quan đến chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tác giả đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm góp phần tạo sự nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam. Cụ thể như: Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội; khái niệm, đặc điểm miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Luận văn cũng đi vào đánh giá, nhận xét số liệu từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng việc áp dụng PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó đưa ra các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam dưới góc độ của luật hình sự và nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Phương pháp luận của luận văn là quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chính sách của Đảng về Nhà nước và pháp luật. Luận văn được trình bày trên cơ sở nghiên cứu các văn bản PLHS, tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các văn bản pháp lý khác, những luận điểm khoa học trong các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như phương pháp hệ thống, lịch sử, lôgic, phân tích, đánh giá, so sánh, tổng hợp để chọn lọc kinh nghiệm thực tiễn và tri thức khoa học.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
– Luận văn phân tích một cách có hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản của chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như: Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội, khái niệm miễn trách nhiệm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo luật hình sự Việt Nam, những quy định của PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Với việc phân tích lý giải, luận văn góp phần xác định cơ sở khoa học cho việc nhận thức chế định này được thống nhất.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu khái quát việc áp dụng các quy định PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong hoạt động thực tiễn thành phố Đà Nẵng, phân tích một số điểm chưa phù hợp của BLHS và một số vướng mắc trong quá trình áp dụng PLHS liên quan đến việc giải quyết vấn đề miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Từ đó, luận văn cũng đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm góp phần giải thích, hướng dẫn áp dụng PLHS được thống nhất, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của thực tiễn đấu tranh và phòng chống tội phạm, bảo vệ các lợi ích của Nhà nước, của xã hội, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Các yêu cầu và các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật hình sự về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM
HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
Miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một chế định nhân đạo của luật hình sự Việt Nam được thể hiện bằng văn bản với nội dung không truy cứu TNHS đối với hành vi phạm tội do người dưới 18 tuổi phạm tội, do các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng tùy thuộc vào giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng khi có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định.
1.1.2. Đặc điểm
Đặc điểm thứ nhất, miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những chế định phản ánh rõ nét nguyên tắc nhân đạo của luật hình sự Việt Nam.
Đặc điểm thứ hai, đây là trường hợp miễn TNHS đặc biệt dành riêng cho người dưới 18 tuổi phạm tội, là một trong những chế định phản ánh rõ nét nhất nguyên tắc nhân đạo của CSHS nói chung và PLHS Việt Nam nói riêng, cũng như sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước ta đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Đặc điểm thứ ba, miễn TNHS chỉ có thể đặt ra đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi mà hành vi của họ thỏa mãn những dấu hiệu của CTTP cụ thể nhưng đối với họ lại có đầy đủ căn cứ pháp lý và những điều kiện nhất định. Đây là trường hợp miễn TNHS mang tính chất tùy nghi
Đặc điểm thứ tư, theo giai đoạn tố tụng hình sự tương ứng cụ thể, miễn TNHS được thực hiện bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và quyết định được thể hiện bằng văn bản.
Đặc điểm thứ năm, người dưới 18 tuổi phạm tội được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện như không bị truy cứu TNHS, không phải chịu hình phạt, không bị coi là có án tích và không bị coi là có tội.
Đặc điểm thứ sáu, PLHS Việt Nam quy định chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong áp dụng pháp luật cũng như giáo dục cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội, không những động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập cộng đồng mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, giúp họ trở thành người có ích trong xã hội.
1.1.3 Ý nghĩa
Dưới góc độ chính trị-xã hội, việc quy định những trường hợp miễn TNHS trong PLHS giúp cho các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xác định được chính xác và đúng đắn trường hợp nào người dưới 18 tuổi phạm tội và hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, hoặc không cần thiết phải áp dụng TNHS mà vẫn đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng và chống tội phạm
Dưới góc độ pháp lý, biện pháp miễn TNHS chỉ có thể được đặt ra đối với người nào thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà luật hình sự quy định hành vi đó là tội phạm. Ngoài ra, cũng dưới góc độ pháp lý này, người dưới 18 tuổi được miễn TNHS đương nhiên không phải chịu các hậu quả pháp lý hình sự bất lợi của việc phạm tội do mình thực hiện.
Dưới góc độ nhân đạo và bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự. Miễn TNHS là một trong những chế định phản ánh rõ nét chính sách nhân đạo của PLHS Việt Nam.
Dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, nếu những trường hợp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được nhà làm luật nước ta quy định trong BLHS một cách đầy đủ, chặt chẽ, có hệ thống và phù hợp với thực tiễn thì đó cũng là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và hoàn thiện một số chế định khác có liên quan
1.2. Khái quát lịch sử lập pháp Việt Nam về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi
1.2.1. Giai đoạn từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1985
Ở nước ta, cho đến BLHS năm 1985 được pháp điển hóa thì chế định miễn TNHS mới được nhà làm luật nước ta ghi nhận chính thức, còn trước đó chưa được ghi nhận với tính chất là một chế định độc lập trong PLHS nhưng trong thực tiễn xét xử và một số văn bản pháp lý đã thừa nhận và áp dụng với nhiều tên gọi khác nhau như “xá miễn”, “tha miễn TNHS”, “miễn tố”, “tha bổng bị cáo”, “miễn nghị cho bị cáo”, “miễn hết cả tội”… cùng được áp dụng cho người dưới 18 tuổi phạm tội. Như vậy, tuy không chính thức quy định với tính chất là một chế định độc lập trong PLHS nhưng vấn đề miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã được áp dụng thực tiễn được thừa nhận trong một số văn bản pháp lý với nhiều tên gọi khác nhau theo các giai đoạn thời kì của đất nước.
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999
Năm 1985, BLHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của PLHS Việt Nam nói chung, các quy định về miễn TNHS nói riêng. BLHS năm 1985 đã quy định cả hệ thống các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Bên cạnh đó còn quy định các biện pháp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong BLHS đầu tiên này, miễn TNHS được chính thức quy định tại một số điều của Phần chung và Phần các tội phạm BLHS với các quy định cụ thể về những trường hợp miễn TNHS.
Tóm lại, việc quy định chế định miễn TNHS trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam có ý nghĩa quan trọng không chỉ động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng, mà còn tạo cơ sở pháp lý cho sự kết hợp các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước với các biện pháp tác động xã hội trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội, qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và chống tội phạm.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1. Quy định miễn trách nhiệm hình sự áp dụng chung
* Miễn trách nhiệm hình sự do tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (Điều 19 Bộ luật hình sự)
Theo Điều 19 BLHS năm 1999 quy định “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn TNHS. Như vậy, căn cứ vào nội dung điều luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua, chúng ta có thể chỉ ra những điều kiện để được miễn TNHS như sau:
Một là, người phạm tội chấm dứt thực hiện ý định hoặc hành vi phạm tội phải tự nguyện và dứt khoát. Những trường hợp chủ thể dừng lại việc thực hiện tội phạm đến cùng do các nguyên nhân khách quan khác (ví dụ: do bị thúc ép, do bị bắt buộc, do bị phát hiện hay gặp trở ngại khác…) đều không được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.
Hai là, việc chấm dứt thực hiện tội phạm chỉ xảy ra trong trường hợp tội phạm chưa hoàn thành.
Ba là, người phạm tội tự quyết định chấm dứt việc thực hiện tội phạm, mặc dù vào thời điểm thực tế quyết định chấm dứt việc thực hiện tội phạm, người phạm tội vẫn nhận thức được khả năng thực tế khách quan vẫn cho phép tiếp tục thực hiện tội phạm.
* Miễn trách nhiệm hình sự do sự chuyển biến của tình hình (khoản 1 Điều 25 Bộ luật hình sự)
Khoản 1 Điều 25 BLHS quy định “Người phạm tội được miễn TNHS, nếu khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, do chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc đối với hai dạng cụ thể, đó là khi tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử do có sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa hoặc người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.
– Trường hợp do sự chuyển biến của tình hình mà hành vi phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Đây là trường hợp khi các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành truy cứu TNHS đối với người đã phạm tội, do tình hình đã thay đổi, PLHS hiện hành quy định hành vi do người đó thực hiện đã không còn nguy hiểm cho xã hội, mặc dù vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì hành vi đó được PLHS quy định là tội phạm.
– Trường hợp do chuyển biến của tình hình mà người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, được hiểu là:
Một là, sự thay đổi của tình hình ở đây phải xảy ra sau khi chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời tại thời điểm khi có sự chuyển biến của tình hình thì tội phạm mà người đó thực hiện nhất thiết phải đang ở trong giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử.
Hai là, người phạm tội không còn nguy hiểm cho xã hội nữa có nghĩa là trước khi có sự chuyển biến của tình hình người đó là đối tượng nguy hiểm cho xã hội, phải chịu TNHS về hành vi phạm tội đã thực hiện. Tuy nhiên, tại thời điểm các cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, cộng với sự chuyển biến của tình hình, thì người này đã không còn là phần tử nguy hiểm cho xã hội nữa, họ được xã hội thừa nhận như bất kỳ công dân bình thường nào khác sống trong xã hội.
* Miễn trách nhiệm hình sự do hành vi tích cực của người phạm tội (khoản 2 Điều 25 Bộ luật hình sự)
Theo khoản 2 Điều 25 BLHS năm 1999 thì trong trường hợp “Trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người phạm tội đã tự thú, khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm, cố gắng hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả của tội phạm, thì cũng có thể được miễn TNHS” Xem xét trường hợp miễn này cho thấy đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất tùy nghi (có thể được miễn), nếu trước khi hành vi phạm tội bị phát giác, người đó phải tự thú về tội phạm chưa bị phát giác, phải khai rõ sự việc, góp phần có hiệu quả vào việc phát hiện và điều tra tội phạm
* Miễn trách nhiệm hình sự khi có quyết định đại xá (khoản 3 Điều 25 Bộ luật hình sự)
Cũng theo khoản 3 Điều 25 BLHS năm 1999 thì người phạm tội được miễn TNHS khi có quyết định đại xá. Đây cũng là một trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc khi có văn bản đại xá. Bằng trường hợp miễn TNHS này, lần đầu tiên nhà làm luật Việt Nam không chỉ “khẳng định dứt khoát đại xá là một chế định luật hình sự, mà còn thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của CSHS nói chung, của PLHS nói riêng trong giai đoạn xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
* Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội gián điệp (khoản 3 Điều 80 Bộ luật hình sự)
Khoản 3 Điều 80 BLHS năm 1999 quy định “Người đã nhận làm gián điệp nhưng không thực hiện nhiệm vụ được giao và đã tự thú, thành khẩn khai báo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì được miễn TNHS”. Đây là trường hợp miễn TNHS có tính chất bắt buộc khi nhà làm luật sử dụng thuật ngữ “được miễn” đối với các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền.
* Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội đưa hối lộ (đoạn 2 khoản 6 Điều 289 Bộ luật hình sự)
Điều kiện để các cơ quan tư pháp hình sự có thẩm quyền xem xét quyết định miễn TNHS hay không đối với người đưa hối lộ được ghi nhận tại đoạn 2 khoản 6 Điều 289 BLHS năm 1999 với nội dung “Người đưa hối lộ tuy không bị ép buộc nhưng đã chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS và được hoàn trả lại một phần hoặc toàn bộ của đã dùng để đưa hối lộ”. Người phạm tội phạm tội đưa hối lộ và lẽ ra họ phải chịu TNHS về tội phạm này, song do khi chưa bị phát giác, mặc dù không bị ép buộc và bản thân có thể giữ kín mà không ai biết nhưng họ đã chủ động khai báo và tự khai nhận về hành vi phạm tội của mình và tố giác hành vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn trước cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Với hành động như vậy đã thể hiện sự tự ăn năn hối cải, khai báo hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, PLHS quy định trường hợp này có thể được xem xét để miễn TNHS cho người phạm tội.
* Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội làm môi giới hối lộ (khoản 6 Điều 290 Bộ luật hình sự)
Khoản 6 Điều 290 BLHS năm 1999 thì “Người môi giới hối lộ mà chủ động khai báo trước khi bị phát giác, thì có thể được miễn TNHS”. Như vậy, là trường hợp miễn TNHS có tính chất tùy nghi thuộc thẩm quyền áp dụng của bất kỳ cơ quan tư pháp hình sự nào khi có cơ sở cho thấy, người môi giới hối lộ có đủ căn cứ do luật định
* Miễn trách nhiệm hình sự cho người phạm tội không tố giác tội phạm (khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự)
Khoản 3 Điều 314 BLHS năm 1999 quy định: “Người không tố giác tội phạm nếu đã có hành vi can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm thì có thể được miễn TNHS hoặc miễn hình phạt”. Trong trường hợp này mặc dù người phạm tội đã thực hiện một trong các hành vi cấu thành tội phạm và lẽ ra họ phải chịu TNHS về tội này nhưng do họ có một trong các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều luật này như đã nêu trên nên họ được miễn TNHS
2.1.2. Quy định miễn trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Ngoài các trường hợp miễn TNHS cho người phạm tội nói chung, người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng, BLHS có quy định về trường hợp miễn TNHS riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khoản 2 Điều 69 BLHS quy định “NCTN phạm tội có thể được miễn TNHS, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan tổ chức nhận giám sát, giáo dục”.
Đây là dạng miễn TNHS thuộc thẩm quyền áp dụng của bất kỳ cơ quan tư pháp hình sự nào căn cứ vào giai đoạn tố tụng hình sự cụ thể tương ứng – Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là dạng miễn TNHS tùy nghi được áp dụng bởi tất cả các cơ quan tư pháp theo từng giai đoạn tố tụng. Biện pháp này được áp dụng khi có căn cứ pháp lý do luật thực định quy định tại khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999. Theo đó, điều kiện để người dưới 18 tuổi được miễn TNHS theo quy định của BLHS năm 1999 phải có đầy đủ bốn điều kiện cụ thể sau:
Một là, người phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Hai là, tội phạm mà người dưới 18 tuổi thực hiện phải là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, gây hại không lớn.
Ba là, người dưới 18 tuổi phải có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS.
Bốn là, người dưới 18 tuổi được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức xã hội nhận giám sát, giáo dục.
Ngoài ra, khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999 đã khắc phục được một điểm chưa hợp lý trong BLHS năm 1985 đó là về thẩm quyền quyết định áp dụng miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Theo đó, theo BLHS năm 1999 không quy định rõ cơ quan nào có thẩm quyền quyết định việc miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội mà quy định chung chung. Do đó điều này chúng ta có thể hiểu cả ba cơ quan (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án) đều có quyền quyết định áp dụng biện pháp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội khi có đầy đủ căn cứ và điều kiện quy định trong PLHS tùy thuộc vào các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử tương ứng.
Về yếu tố địa lý – dân cư
Đà Nẵng nằm ở 15055′ độ đến 16014′ độ vĩ Bắc, 107018′ đến 108020′ độ kinh Đông; phía Bắc giáp: Tỉnh Thừa Thiên – Huế; phía Tây và Nam giáp: Tỉnh Quảng Nam; phía Đông giáp: Biển Đông;
Diện tích tự nhiên: 1.283,4km2 với dân số 951.572 người; mật độ: 757,8 người/km2. Đà Nẵng có 6 quận nội thành, 2 huyện và 56 phường, xã.
Về yếu tố kinh tế – xã hội
Thành phố Đà Nẵng có một vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững khi nằm ở vị trí trung độ của Việt Nam, nằm trên trục giao thông Bắc – Nam của quốc gia về đường bộ, đường sắt, đường hàng không với các khu công nghiệp và Vùng kinh tế trọng điểm phát triển năng động.
2.2.2. Tổng quan tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Trong những năm qua, tình hình người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật và phạm tội ở nước ta nói chung và địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng vẫn có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Công an thành phố Đà Nẵng, Phòng thống kê tổng hợp Viện kiểm sát nhân dân tỉnh thành phố Đà Nẵng và Văn phòng Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng cho thấy tổng số người dưới 18 tuổi được miễn TNHS trên địa bàn thành phố Đà Nẵng chiếm tỷ lệ rất ít so với tổng số người miễn TNHS; tổng số người dưới 18 tuổi được miễn TNHS tăng, giảm theo từng năm và có xu hướng tăng trong năm 2016. Trong giai đoạn xét xử, số người dưới 18 tuổi được Tòa án áp dụng chế định miễn TNHS chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tập trung chủ yếu vào Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Riêng năm 2016 người dưới 18 tuổi được Tòa án áp dụng chế định miễn TNHS có xu hướng tăng cao hơn so với những năm trước.
Ngoài ra, qua khảo sát tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi phạm tội thực hiện và việc áp dụng chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng thì thấy rằng: việc đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án do miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của các cơ quan tiến hành tố tụng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng được áp dụng bởi nhiều lý do khác nhau
Về cơ cấu tội phạm, hành vi vi phạm PLHS của người dưới 18 tuổi tập trung nhiều nhất vào các nhóm tội xâm phạm sở hữu; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự con người, một số tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng.
Về địa bàn hoạt động, các vụ vi phạm pháp luật và phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện thường xảy ra tại nơi có tình hình an ninh trật tự phức tạp như bến xe, các khu công nghiệp,….
2.2.3. Kết quả việc áp dụng các quy định về miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Trong BLHS năm 1999 có Chương 10, từ Điều 68 đến Điều 77 bao gồm những quy định riêng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong BLTTHS có Chương 32, từ Điều 301 đến Điều 310 quy định những thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Ngoài ra, những vấn đề liên quan đến người dưới 18 tuổi còn được quy định rải rác trong một số điều luật cụ thể khác. Chế độ giam, giữ người dưới 18 tuổi quy định trong BLTTHS và các văn bản dưới luật, Nghị định của Chính phủ… Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có người dưới 18 tuổi phạm tội, đều phải chú ý đến từng chi tiết vụ án cũng như tình tiết có lợi cho người dưới 18 tuổi. Theo Điều 69 BLHS năm 1999, nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội luôn luôn nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội.
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh trở thành công dân có ích cho xã hội; người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được miễn TNHS; việc truy cứu TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện trong trường hợp cần thiết; không áp dụng hình phạt chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
* Đánh giá thực tiễn việc thực hiện chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng:
Thứ nhất, việc các cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án với lý do (căn cứ) miễn TNHS chủ yếu được thực hiện và áp dụng ở giai đoạn điều tra và giai đoạn truy tố (thuộc thẩm quyền quyết định của cơ quan Điều tra với sự phê chuẩn của Viện kiểm sát và Viện kiểm sát), còn Tòa án có áp dụng miễn TNHS đối với các bị cáo là người dưới 18 tuổi bị đưa ra xét xử nhưng số bị cáo là người dưới 18 tuổi được miễn TNHS chiếm tỷ lệ không cao.
Thứ hai, trong giai đoạn xét xử số bị cáo là người dưới 18 tuổi được Tòa án áp dụng miễn TNHS trên tổng số bị cáo bị đưa ra xét xử có thể nhận thấy chiếm tỷ lệ rất nhỏ, hầu như không đáng kể.
Thứ ba, Cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã áp dụng các quy định của PLHS, PLTTHS một cách đúng đắn và chính xác về căn cứ, điều kiện, thẩm quyền và thủ tục.
Thứ tư, Cơ quan điều tra và đặc biệt là Viện kiểm sát cần đổi mới phương pháp, nâng cao chất lượng trong công tác thống kê tội phạm là người chưa thành niên, cần lập biểu bảng riêng, chi tiết, rõ ràng, thống kê đầy đủ.
2.2.4. Nguyên nhân của việc áp dụng không đúng các quy định biện pháp miễn trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng
Thứ nhất, mặc dù quy định về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong BLHS năm 1999 đã hoàn thiện và đầy đủ hơn so với các quy định tương ứng trong BLHS năm 1985 nhưng qua thực tiễn áp dụng và thi hành cho thấy là các quy định về chế định này vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện và cần có văn bản giải thích và hướng dẫn thống nhất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Thứ hai, do trình độ nhận thức về các quy định của PLHS, PLTTHS của đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung và đội ngũ cán bộ trong các cơ quan tiến hành tố tụng nói riêng còn hạn chế.
Thứ ba, do ý thức pháp luật, phương pháp, lề lối làm việc, trách nhiệm của cán bộ giải quyết vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chưa cao, việc quản lý, xử lý giải quyết vụ án chưa thật sâu và kỹ.

CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ MIỄN TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
Việc hoàn thiện các quy định về miễn TNHS nói chung và miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nói riêng cũng không nằm ngoài mục đích hoàn thiện PLHS Việt Nam nói chung thể hiện tính nhân đạo, sự quan tâm đến tương lai và sự mong muốn phát triển hoàn thiện nhân cách, trở thành người có ích cho xã hội đối với những dưới 18 tuổi phạm tội
3.1.2. Yêu cầu bảo đảm nguyên tắc tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong bất kỳ lĩnh vực nào thì pháp chế đều có nghĩa là bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật.
3.1.3. Yêu cầu bảo đảm quyền con người, quyền của người dưới 18 tuổi phạm tội
Quyền con người, đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi là những giá trị xã hội cao nhất có ý nghĩa xã hội to lớn về nhiều mặt, do vậy đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ một cách có hiệu quả.
3.1.4. Yêu cầu của phòng, chống tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
Các cơ quan tiến hành tố tụng phải làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm về áp dụng đúng chế định miễn TNHS nói chung và đối với người dưới 18 tuổi nói riêng sẽ có tác dụng rất lớn nhằm động viên, khuyến khích người phạm tội lập công chuộc tội, chứng tỏ khả năng giáo dục, cải tạo nhanh chóng hòa nhập với cộng đồng góp phần đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm có hiệu quả.
3.2.1. Cần tiến hành đống bộ các công việc để triển khai thi hành đúng quy định của BLHS năm 2015
Quốc hội đã thông qua BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thể chế hóa chủ trương chính sách của Nhà nước về tăng cường bảo vệ NCTN; tăng tính hướng thiện trong xử lý tội phạm; đảm bảo tính minh bạch của các quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng chế định miễn TNHS, khắc phục những bất cập trong thực tiến áp dụng quy định này của BLHS năm 1999. Theo đó, BLHS năm 2015 đã có những sửa đổi bổi sung về chế định miễn TNHS. Để những qui định mới này đi vào trong cuộc sống, được thi hành đúng cần phải thực hiện tốt những vấn đề sau:
Thứ nhất, tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu BLHS năm 2015
Thứ hai, ban hành các văn bản hướng dẫn
Thứ ba,đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật để nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật hình sự và chế định miễn TNHS
BLTTHS năm 2015 đi vào thực tiễn chắc chắn sẽ phát sinh những vướng mắc, bất cập mới, đó là chưa kể những biến đổi của đời sống xã hội sẽ làm cho những quy định của pháp luật không còn phù hợp. Do vậy cần có sự tiếp tục hoàn thiện pháp luật một cách kịp thời, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội.
3.2.3.Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp trong công tác giải quyết các vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Chất lượng cán bộ tư pháp giải quyết các vụ án đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có ý nghĩa quan trọng. Vì vậy, yêu cầu cấp thiết ở đây là đòi hỏi phải tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nâng cao tiêu chuẩn về chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ý thức pháp luật và năng lực chuyên môn của cán bộ, cũng như bồi dưỡng về tâm lý học và khoa học giáo dục lứa tuổi vị thành niên cho cán bộ trong các cơ quan tư pháp nói chung và cán bộ giải quyết các vụ án đối với người dưới 18 tuổi nói riêng.
3.2.4. Tăng cường vai trò của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình, nhà trường trong việc giám sát, giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội khi họ được miễn trách nhiệm hình sự
Người dưới 18 tuổi là thế hệ trẻ của đất nước, là mầm sống của xã hội cho nên cộng đồng xã hội cần quan tâm, chăm sóc bảo vệ các em, sẵn sàng giúp đỡ các em sửa chữa những lỗi lầm, làm lại cuộc đời và sống có ích cho xã hội. Cũng như xã hội thì gia đình cũng có vai trò to lớn trong việc hình thành nhân cách và lối sống của các em ở độ tuổi này
3.2.5. Khẩn trương tiến hành thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên
Việc ra đời của Tòa gia đình và NCTN trong tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân, là dấu ấn quan trọng, là một trong những thành tựu của tiến trình cải cách tư pháp. Việc thành lập Tòa gia đình và NCTN chứng tỏ cam kết mạnh mẽ của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền trẻ em, thông qua việc xây dựng một hệ thống tư pháp trẻ em toàn diện mà Tòa gia đình và NCTN là trung tâm, với sự tham gia, phối hợp chặt chẽ của các cơ quan, tổ chức có liên quan. Đây cũng là phương thức để thực hiện nguyên tắc Hiến định về việc xét xử kín đối với người dưới 18 tuổi. Do vậy, cần khẩn trương thành lập Tòa gia đình và người chưa thành niên …
Chế định miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là một trong những chế định cơ bản, có ảnh hưởng lớn đến các chế định có liên quan và cũng là vấn đề được quan tâm, nghiên cứu hiện nay.
Trên cơ sở nghiên cứu, chúng tôi đã đưa ra phân tích một số vấn đề như: Khái niệm miễn TNHS, miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, đồng thời kiến nghị sửa đổi khoản 2 Điều 69 BLHS năm 1999; và kiến nghị bổ sung thêm một trường hợp miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như đã trình bày ở trên; thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Người dưới 18 tuổi được miễn TNHS theo khoản 2 Điều 69 BLHS, bên cạnh đó người dưới 18 tuổi cũng được hưởng các trường hợp miễn TNHS như người đã thành niên được quy định trong BLHS năm 1999 tại các Điều 19, khoản 1, 2, 3 Điều 25, khoản 3 Điều 80, khoản 6 Điều 289, khoản 6 Điều 290, khoản 3 Điều 314. Các quy định của BLHS năm 1999 về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi nêu trên là cơ sở pháp lý để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng vào thực tiễn.
Trên cơ sở phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân của những hạn chế tồn tại, tác giả luận văn đã có cố gắng đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng các quy định của PLHS Việt Nam về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội như hoàn thiện PLHS về miễn TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội; nâng cao nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ cơ quan tư pháp, đặc biệt cần xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách để giải quyết đối với vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi phạm tội.
Khẩn trương tiến hành thành lập Tòa gia đình và NCTN trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, có đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thấm phán và Hội thẩm nhân dân chuyên trách về người dưới 18 tuổi.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\LUAT HINH SU VA TO TUNG HINH SU\LE THI TU UYEN\SAU BAIO VE


