Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng

Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại

Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại

  1. 1. Tính cấp thiết của đề tài

Hợp đồng là một trong những chế định pháp lý có bề dày lịch sử, là nền tảng của giao dịch kinh doanh. Cùng với tự do thương mại, pháp luật hợp đồng ngày càng được hài hòa hóa, thậm chí nhất thể hóa trên quy mô khu vực và toàn cầu. Sự ra đời của Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 đã góp phần giải quyết được sự tản mạn, rải rác của những quy định pháp luật hợp đồng được điều chỉnh ở nhiều văn bản có giá trị pháp lý khác nhau như Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989, Bộ luật Dân sự 1995, Luật Thương mại 1997, và các đạo luật chuyên ngành khác; pháp luật hợp đồng Việt Nam đã dần dần được thống nhất thành một hệ thống, các quy định cũng thể hiện được sự tương thích với pháp luật thế giới và là một phần quan trọng của pháp luật quốc gia.

Khi nhắc đến hợp đồng thì có một vấn đề không thể không đề cập đó là “sự thống nhất ý chí”. Dù cổ luật hay pháp luật hiện đại, dù là Civil law hay Common law…, tất cả đều thống nhất với quan điểm “Hợp đồng là sự thỏa thuận có hiệu lực pháp lý bắt buộc”, nghĩa là sự thống nhất ý chí là yếu tố cơ bản và không thể thiếu của hợp đồng, phải tồn tại một sự thỏa thuận hợp pháp thì hợp đồng mới được hình thành. Như vậy, nghiên cứu về yếu tố thỏa thuận chính là nền tảng để hiểu đúng bản chất của hợp đồng nói chung.

Thực tiễn ký kết hợp đồng trong hoạt động kinh doanh, thương mại ở Việt Nam thời gian qua cho thấy hợp đồng được ký kết chủ yếu theo thói quen mà không theo kỹ năng pháp lý. Trong khi đó, xu hướng hội nhập đang mở ra rất nhiều cơ hội và cả thách thức cho thương nhân Việt Nam.Những hợp đồng được ký kết với bên đối tác nước ngoài như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế… ngày càng phổ biến và chiếm số lượng lớn. Nếu không có một sự hiểu biết nhất định về pháp luật hợp đồng thì liệu những thương nhân nước ta có đủ sức bảo vệ mình khi có tranh chấp trước những đối tác nước ngoài vốn rất hiểu biết và coi trọng pháp luật? Những vấn đề pháp lý như đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, năng lực chủ thể tham gia giao kết… nếu không được nhìn nhận một cách thỏa đáng thì chúng ta sẽ rất khó có được những bằng chứng pháp lý thuyết phục để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, có thể nói giai đoạn giao kết hợp đồng, đặc biệt là yếu tố thỏa thuận gần như là giai đoạn quan trọng bậc nhất trong pháp luật hợp đồng, nó sẽ là nền tảng thiết lập nên quan hệ giữa các bên và là cơ sở cho những hậu quả pháp lý phát sinh sau này.

Nhận thức được tầm quan trọng của sự thỏa thuận như vậy, pháp luật hợp đồng Việt Nam cũng đã phần nào thể hiện sự quan tâm đến yếu tố này với những quy định cụ thể trong BLDS 2005 và Bộ luật Dân sự năm 2015 trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định của BLDS 1995 và Luật thương mại 1997, đồng thời cũng có sự tương thích nhất định với pháp luật thế giới, đặc biệt là với hệ thống luật thành văn. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn mang tính nguyên tắc chung, khiến cho việc áp dụng có thể gặp phải những bất cập không đáng có, đôi khi còn không phù hợp với thông lệ quốc tế.

Trước tình hình đó, tôi chọn “Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình, qua đó có được cái nhìn tổng quan về vấn đề, thấy được những điểm tiến bộ và thiếu sót của pháp luật Việt Nam để tìm hướng khắc phục, góp phần vào quá trình thống nhất và hoàn thiện hệ thống pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay.

    1. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài
    2. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật hợp đồng Việt Nam về yếu tố thỏa thuận, có đặt trong sự đối chiếu so sánh với pháp luật nước ngoài, để tìm kiếm, phát hiện những tiến bộ và thiếu sót của pháp luật Việt Nam, đưa ra những kiến nghị, giải pháp xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật về sự thỏa thuận; chỉ ra được vai trò quan trọng của sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng trong tổng thể chung của chế định hợp đồng.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích trên, tác giả xác định phải thực hiện những nhiệm vụ sau:

+ Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về hợp đồng và yếu tố thỏa thuận của hợp đồng trong pháp luật Việt Nam và thế giới. Qua đó thấy được tầm quan trọng của thỏa thuận trong chế định hợp đồng.

+ Phân tích nội dung sự thỏa thuận của hợp đồng; bao gồm quy định của pháp luật Việt Nam (chủ yếu trong BLDS 2005 và BLDS 2015) về các thành tố tạo nên sự thỏa thuận: đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, các điều kiện hiệu lực và vô hiệu của thỏa thuận, các khiếm khuyết chủ yếu của một thỏa thuận trong thực tiễn. Có sự đối chiếu so sánh với pháp luật nước ngoài để làm rõ vấn đề.

+ Đánh giá pháp luật về yếu tố thỏa thuận của hợp đồng trong pháp luật Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất một số kiến nghị để xây dựng và hoàn thiện pháp luật này, đảm bảo tính chặt chẽ về mặt lập pháp, tính ứng dụng cao trên thực tế, và sự công bằng khi buộc phải giải quyết theo con đường tư pháp những tranh chấp xảy ra đối với sự thỏa thuận.

    1. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Chế định hợp đồng là một chế định rất phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề khác nhau như giao kết, thực hiện, chấm dứt hợp đồng…, các vấn đề về chủ thể, điều kiện hiệu lực, các nguyên tắc chung…Luận văn không có tham vọng nghiên cứu toàn bộ hệ thống này mà chỉ đi sâu nghiên cứu yếu tố thỏa thuận hay thống nhất ý chí – là yếu tố đầu tiên của hợp đồng, nghiên cứu các quy định cụ thể được nêu ra trong pháp luật hợp đồng Việt Nam. Tập trung phân tích các thành tố tạo nên sự thỏa thuận: đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS 2005, luật gốc của chế định hợp đồng Việt Nam, có sự đối chiếu so sánh với các quy định của các hệ thống pháp luật khác trên thế giới. Đồng thời chỉ ra các điều kiện để thỏa thuận có hiệu lực, các khiếm khuyết của nó, từ đó đưa ra những kiến nghị xây dựng một khung pháp luật thỏa đúng cho vấn đề. Trong luận văn tác giả cũng nghiên cứu các quy định về hợp đồng của Bộ luật Dân sự năm 2015, mặc dù bộ luật này có hiệu lực từ ngày 1/1/2017.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

Luận văn chỉ nghiên cứu các vấn đề chung của sự thống nhất ý chí giao kết hợp đồng thương mại, không đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề của luật chuyên ngành liên quan tới hợp đồng. Luận văn cũng không phân tích, đánh giá thực trạng, cũng như thi hành các qui định của các văn bản pháp luật chuyên ngành.

    1. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở đó, vận dụng phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, làm phương pháp luận cho quá trình nghiên cứu. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phân tích, tổng hợp, so sánh luật học, khảo cứu thực tế để làm rõ vấn đề cần nghiên cứu.

    1. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn góp phần vào việc củng cố và hoàn thiện cơ sở lý luận về hợp đồng trong khoa học pháp lý Việt Nam.

6.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn đặc biệt đi sâu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về các vấn đề liên quan đến yếu tố thỏa thuận, điều này là phù hợp với mục đích và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra. Dựa trên những cơ sở nền tảng đã được đề cập, việc phân tích như vậy giúp tác giả có thể đánh giá một cách khách quan tính ưu việt và sự hạn chế của quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu vào thực tiễn để rút ra những điểm cần phát huy và những điểm cần sửa đổi, hoàn thiện, tạo tính minh bạch và ứng dụng cao của sự thỏa thuận.

    1. 7. Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận được kết cấu gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận tổng quát về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại

Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại ở việt nam.

  1. CHƯƠNG 1
  2. LÝ LUẬN TỔNG QUÁT VỀ SỰ THỐNG NHẤT Ý CHÍ
  3. ĐỂ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI
    1. 1.1. Bản chất của hợp đồng
      1. 1.1.1. Quan niệm về hợp đồng

Hợp đồng là sự thống nhất ý chí nhằm làm phát sinh ra mối quan hệ nghĩa vụ giữa các bên trong quan hệ hợp đồng. Nói tới hợp đồng là nói tới hành vi pháp lý đa phương khác với hành vi pháp lý đơn phương là việc biểu lộ ý chí để tạo lập ra một quan hệ pháp lý.

Về bản chất, hợp đồng là sự thỏa thuận có hiệu lực pháp lý bắt buộc. Nghĩa là khi xem xét một hợp đồng cần lưu ý đến hai vấn đề:

(i) Hợp đồng là sự thỏa thuậnơpH

(ii) Sự thỏa thuận đó phải có giá trị pháp lý (thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực và được pháp luật thừa nhận).

      1. 1.1.2. Các thành tố của hợp đồng

1.1.2.1. Sự thỏa thuận

Thỏa thuận là sự gặp gỡ hay thống nhất ý chí của các bên làm phát sinh các hệ quả pháp lý.

Đây là yếu tố đầu tiên của hợp đồng. Không thể có hợp đồng nếu không có sự thỏa thuận giữa các bên.

Tuy nhiên, hợp đồng chỉ được coi là hình thành khi đã đạt được sự thỏa thuận tại những điều khoản cơ bản.

Các thỏa thuận được hình thành một cách hợp pháp thì sẽ có hiệu lực bắt buộc đối với người xây dựng nên các thỏa thuận.

Một thỏa thuận tạo nên một bản hợp đồng đòi hỏi phải có:

– Sự thống nhất ý chí nội tại, tức là ý chí bên trong và hành vi bên ngoài của bản thân chủ thể;

– Ý chí của các bên gặp nhau.

– Yếu tố nhận biết về sự thỏa thuận hợp đồng là: Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

1.1.2.2. Mục đích của sự thỏa thuận

Một giao dịch khi được tiến hành phải hướng tới những đối tượng nhất định. Điều kiện quan trọng nhất mà các bên cần phải thỏa thuận trước hết cũng là đối tượng của hợp đồng, sau đó mới đi vào thỏa thuận các điều khoản còn lại. Tùy thuộc vào tính chất và nội dung của từng thỏa thuận cụ thể mà chủ đích của nó là khác nhau.

Chủ đích của sự thỏa thuận bao gồm tài sản hoặc hành vi. Tài sản có thể là tài sản hữu hình hoặc tài sản vô hình, hành vi có thể là công việc phải làm hoặc công việc không được thực hiện….Những tài sản hay hành vi đó phải là hợp pháp, được xác định cụ thể, đáp ứng được một lợi ích nào đó (vật chất hoặc tinh thần) cho chủ thể có quyền. Đây là nguyên tắc cơ bản mà bất cứ pháp luật của hệ thống nào cũng ghi nhận.

Một thỏa thuận hướng đến chủ đích như vậy sẽ làm phát sinh hậu quả pháp lý: xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận; đáp ứng những nhu cầu hay lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà chủ thể mong muốn đạt được khi tham gia thỏa thuận. Đây là mục đích của thỏa thuận và cũng chính là cơ sở xác lập mục đích của hợp đồng. Mục đích này sẽ được biểu hiện thông qua chính nội dung của thỏa thuận và áp đặt lên các đối tượng mà thỏa thuận hướng tới.

    1. 1.2. Sự thống nhất ý chí hay sự thỏa thuận
      1. 1.2.1. Chủ thể của thỏa thuận

Đã gọi là “thỏa thuận” thì đương nhiên có sự bàn bạc, trao đổi, thương lượng với nhau. Tùy từng trường hợp cụ thể mà số lượng chủ thể là khác nhau và thông thường là từ hai người trở lên.

      1. 1.2.2. Các thành tố của sự thỏa thuận

Để tiến hành thỏa thuận, các bên có thể trực tiếp gặp nhau và đàm phán, một trong các bên khởi xướng đàm phán bằng chào hàng. Các bên sẽ thỏa thuận, thống nhất từng điều khoản, khi điều khoản cuối cùng được thống nhất, các bên có thể ký trực tiếp vào hợp đồng. Trong trường hợp này, khó xác định được đâu là chào hàng, đâu là chấp nhận chào hàng.

1.2.2.1. Đề nghị giao kết hợp đồng

* Khái niệm

Đề nghị giao kết hợp đồng là một đề nghị bày tỏ rõ ý định muốn giao kết hợp đồng, có nội dung xác định và được gửi tới những đối tác đã được xác định. Bên đề nghị còn phải chịu sự ràng buộc về đề nghị đó.

* Đặc điểm của đề nghị

Đề nghị giao kết hợp đồng thực chất là một hành vi pháp lý đơn phương. Hành vi này do bên đưa ra lời đề nghị thực hiện, hoàn toàn xuất phát từ chủ ý đơn phương của người đó, làm phát sinh một số hệ quả pháp lý nhất định đối với bản thân người đó mà không thể làm phát sinh nghĩa vụ đối với bên nhận được đề nghị.

Đề nghị giao kết hợp đồng phải được thể hiện ra bên ngoài bằng một hình thức cụ thể: văn bản, lời nói, hành vi cụ thể…

Đề nghị giao kết hợp đồng phải chắc chắn, không được mang tính nước đôi, nghĩa là nội dung của nó phải thể hiện rõ ý muốn giao kết hợp đồng của bên đưa ra đề nghị, không được có sự thay đổi, thất tín trong một thời hạn nhất định, và chỉ cần hành vi chấp nhận đề nghị của bên kia là đủ để giao kết hợp đồng.

Đề nghị giao kết hợp đồng phải hướng tới đối tượng cụ thể, có thể là một người hoặc một nhóm người, thậm chí cũng có thể hướng tới công chúng nói chung; có kèm theo hoặc không kèm theo thời hạn trả lời.

1.2.2.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

* Khái niệm

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là hành vi thể hiện ý chí của bên được đề nghị đồng ý ký kết hợp đồng theo toàn bộ nội dung và điều kiện của đề nghị đưa ra. Chấp nhận này chỉ có hiệu lực khi nó phù hợp với đề nghị giao kết một cách “tuyệt đối và vô điều kiện” hoặc trong một số trường hợp thì ít ra là đối với các nội dung chính của đề nghị nếu xét thấy ý chí chung của các bên là muốn ràng buộc bởi hợp đồng và các gợi ý bổ sung không ảnh hưởng đến nội dung chính của hợp đồng. Chấp nhận này phải chuyển đến cho người được đề nghị thì hợp đồng mới được xác lập.

* Đặc điểm

Chấp nhận đề nghị là sự biểu lộ ý chí của bên được đề nghị nhằm thiết lập hợp đồng với các điều kiện mà bên đề nghị đưa ra.

Chấp nhận có thể được thể hiện bằng văn bản, lời nói, hành vi. Sự im lặng không được xem là chấp nhận, tuy nhiên, nếu giữa 2 bên đã hình thành thói quen kinh doanh, tập quán thương mại, hoặc đã thỏa thuận “im lặng là đồng ý” thì về cơ bản có thể xem đó là trả lời chấp nhận đề nghị.

* Điều kiện:

– Chấp nhận đề nghị phải thể hiện rõ ý chí của người nhận muốn xác lập quan hệ hợp đồng.

Một đề nghị phải thể hiện rõ ý chí của bên đề nghị mong muốn được giao kết hợp đồng thì khi chấp nhận, bên được đề nghị cũng phải thể hiện rõ ý chí đó

– Chấp nhận phải là tuyệt đối và vô điều kiện các nội dung của đề nghị. Nếu có sửa đổi, bổ sung thì được xem là đưa ra đề nghị mới, lúc này bên đề nghị có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị mới này.

    1. 1.3. Điều kiện có hiệu lực của sự thỏa thuận
      1. 1.3.1. Các điều kiện cụ thể của sự thoả thuận

Để hợp đồng có hiệu lực, trước hết thỏa thuận phải tồn tại, nghĩa là giữa các bên đã thực tế có thỏa thuận hợp pháp, không phải là “thỏa thuận khống”.

Tùy theo từng hệ thống pháp luật mà có cách tiếp cận và quy định riêng về vấn đề này, thông thường một thỏa thuận có hiệu lực và làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý đối với các bên khi đảm bảo đầy đủ các điều kiện sau:

Thứ nhất, các bên có thẩm quyền giao kết- đối với cá nhân thẩm quyền được cấu thành từ năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chính cá nhân; đối với tổ chức, pháp nhân, thẩm quyền được xác định theo điều kiện kinh doanh, phạm vi hoạt động và năng lực hành vi và thẩm quyền của người đại diện.

Thứ hai, có sự thống nhất ý chí giữa các bên. Sự thống nhất ý chí chỉ được xác nhận khi hành vi tuyên bố ý chí và chấp nhận ý chí được thực hiện một cách hoàn toàn tự nguyện, và có ý chí ràng buộc về mặt pháp lý bởi sự thỏa thuận đó.

Thứ ba, thỏa thuận không chống lại trật tự công. Tự do trong quan hệ hợp đồng là tự do trong xã hội, nó chỉ có thể tồn tại khi nó có liên hệ mật thiết với trách nhiệm, thái độ tôn trọng luật pháp và quyền của người khác. Lợi ích của các bên chỉ được đảm bảo khi họ tôn trọng trật tự công.

Thứ tư, trong những trường hợp nhất định còn đòi hỏi thỏa thuận phải được thiết lập dưới những hình thức cụ thể.

      1. 1.3.2. Xử lý các thoả thuận không đủ điều kiện

Đối với những thỏa thuận không đủ tiêu chuẩn thì cần đặt chúng trong những hoàn cảnh cụ thể để có hướng xử lý đúng đắn và hợp pháp, đảm bảo quyền tự do ý chí, tự do thỏa thuận và giao kết hợp đồng giữa các bên.

Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại
Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại
    1. 1.4. Nguyên tắc của thoả thuận

Thỏa thuận chưa phải là một hợp đồng, nhưng là yếu tố đầu tiên của hợp đồng, là cơ sở hình thành hợp đồng và đôi lúc có thể được coi là hợp đồng, bởi thế cũng phải chịu sự điều tiết của pháp luật hợp đồng.

Hợp đồng là một chế định phổ biến và có phạm vi rất lớn trong pháp luật của hầu hết các quốc gia, nó được điều chỉnh ở rất nhiều ngành luật, bộ luật quan trọng, từ Hiến pháp cho đến các Bộ luật dân sự, Luật thương mại, Luật hàng không…, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành. Một số nước như Trung Quốc còn có Luật hợp đồng riêng.

Ngoài ra, án lệ, học thuyết pháp luật, tập quán và thói quen thương mại tùy theo từng hệ thống pháp luật cũng có sự điều tiết nhất định đến hợp đồng nói chung cũng như yếu tố thỏa thuận trong hợp đồng nói riêng.

  1. CHƯƠNG 2
  2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ SỰ THỐNG NHẤT Ý CHÍ ĐỂ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI

    1. 2.1. Cấu trúc và nguồn của pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay
      1. 2.1.1. Cấu trúc pháp luật hợp đồng

Cấu trúc của một hệ thống pháp luật có thể được xem xét trên ba phương diện: những bộ phận cấu thành của hệ thống, những chế định quan trọng nhất và cuối cùng là quy phạm pháp luật .

Pháp luật hợp đồng hiện nay của Việt Nam được quy định một cách khái quát và mang tính “gốc” ở Bộ luật Dân sự. Trong đó bao gồm các chế định về giao kết, thực hiện, sửa đổi, chấm dứt hợp đồng, đồng thời bộ luật cũng đưa ra và điều chỉnh một số loại hợp đồng dân sự thông dụng. Bộ luật còn quy định các nguyên tắc cơ bản, đây cũng là một phần quan trọng không thể thiếu khi xem xét chế định hợp đồng. Các quy phạm này điều tiết chung cho tất cả các hợp đồng được giao kết trong đời sống xã hội Việt Nam, bao gồm cả hợp đồng trong lĩnh vực thương mại cũng như hợp đồng có yếu tố nước ngoài.

Với các hợp đồng chuyên biệt như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tín dụng, hợp đồng vận chuyển bằng đường biển, đường không… còn được quy định chi tiết trong các đạo luật chuyên ngành như Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật ngân hàng, Luật hàng hải, Luật hàng không… Các quy phạm trong đó đề cập cụ thể và sát thực hơn về loại hợp đồng đó, trên cơ sở đảm bảo tuân thủ những nguyên tắc chung đã được quy định trong BLDS.

      1. 2.1.2. Nguồn của pháp luật hợp đồng

Nguồn của pháp luật hợp đồng nghĩa là hình thức ghi nhận và ban hành quy phạm pháp luật hợp đồng. Đơn giản hơn, “Tìm thấy các quy định của pháp luật hợp đồng ở đâu, nơi ấy được gọi là nguồn”

Hiện nay nguồn của pháp luật hợp đồng Việt Nam bao gồm:

  • Các văn bản pháp luật của Việt Nam liên quan đến hợp đồng.

– Hiến pháp 2013

– Bộ luật dân sự 2005

– Luật thương mại 2005

– Ngoài ra các đạo luật điều chỉnh các loại hợp đồng chuyên biệt như Luật hàng hải, Luật hàng không dân dụng, Luật ngân hàng, Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật xây dựng, Luật kinh doanh bất động sản….cũng được xem là nguồn của pháp luật hợp đồng. Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư…, các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành cũng điều tiết rất nhiều lĩnh vực liên quan đến hợp đồng.

  • Các án lệ hay các học thuyết là một loại nguồn của pháp luật, các hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao, các phán quyết và nghị quyết của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao đã bắt đầu được tái công bố từ năm 2004 đang tạo thành một nguồn pháp luật tương tự như án lệ và đôi khi cũng trở nên rất quan trọng đối với pháp luật hợp đồng.
  • Thói quen, tập quán thương mại được áp dụng trong trường hợp pháp luật không có quy định cụ thể hay các bên không có thỏa thuận (với điều kiện chúng không trái các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam).
  • Đối với hợp đồng có tính chất quốc tế như hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế… thì các bên có thể thỏa thuận chọn luật áp dụng là luật nước ngoài, các công ước quốc tế, Incoterms 2000, Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quôc tế…Chúng cũng có thể được xem là một loại nguồn của pháp luật hợp đồng Việt Nam trong những giao dịch cụ thể.
    1. 2.2. Quy định pháp luật Việt Nam về yếu tố thỏa thuận (thống nhất ý chí) của hợp đồng
      1. 2.2.1. Chủ thể của sự thỏa thuận

Chủ thể của thỏa thuận trong trường hợp đặc biệt trên thực tế có thể chỉ là một người như phân tích ở trên, nhưng về cơ bản và thông thường thì chủ thể thỏa thuận là từ hai người trở lên, như thế thì mới có được sự bàn bạc, thương lượng, sự gặp gỡ giữa các ý chí để đi tới giao kết hợp đồng. Chủ thể có thể là cá nhân, pháp nhân, tổ chức khác.

      1. 2.2.2. Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Trước đây có thể tìm thấy những quy định về vấn đề này cả trong Luật thương mại 1997 từ điều 51 đến điều 55 :“chào hàng và chấp nhận chào hàng”. Tuy nhiên, trong hệ thống pháp luật hợp đồng của Việt Nam hiện nay, chỉ có thể tìm thấy những quy định trực tiếp về vấn đề này tại BLDS 2005 từ Điều 390 đến điều 395 (đề nghị) và điều 396 đến điều 400 (chấp nhận đề nghị). Bộ luật Dân sự 2015 quy định về đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Điều 386 đến điều 392 (đề nghị) và điều 393 đến điều 397 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.

      1. 2.2.3. Điều kiện của sự thỏa thuận
  • Thẩm quyền giao kết của chủ thể thỏa thuận
  • Thỏa thuận không chống lại trật tự công
  • Tự nguyện thỏa thuận
  • Hình thức của sự thỏa thuận
      1. 2.2.4. Hiệu lực của sự thỏa thuận

Về hiệu lực của thỏa thuận, cũng cần lưu ý: “Khi hành vi không được thừa nhận là hợp pháp thì mọi sản phẩm tạo ra từ hành vi đó thường được coi là bất hợp pháp. Một thỏa thuận được hình thành từ hành vi bất hợp pháp của các bên thì đương nhiên bị vô hiệu”

    1. 2.3. Pháp luật điều tiết những rủi ro thường gặp trong thoả thuận

Trong giao kết hợp đồng, thỏa thuận là một yếu tố quan trọng không thể thiếu, đồng thời cũng đòi hỏi sự thỏa thuận đó không được có tì ố. Tuy nhiên thực tiễn pháp luật lại diễn ra rất phức tạp, các nhà làm luật cũng đã dự liệu đến những trường hợp rủi ro, chỉ ra được những khiếm khuyết đối với một chế định. Trong pháp luật hợp đồng Việt Nam, những khiếm khuyết chủ yếu về sự thỏa thuận cũng đã tồn tại song hành với những quy định khác về vấn đề này.

Mặt khác, hợp đồng phải là kết quả của sự tự nguyện thỏa thuận của các bên được thể hiện một cách rõ ràng. Tuy nhiên không có gì là tuyệt đối, và sự tự nguyện thỏa thuận của các bên không phải lúc nào cũng được thực thi một cách nghiêm túc. Hệ quả của việc không tự nguyện thỏa thuận chính là những khiếm khuyết của sự thỏa thuận. Pháp luật hợp đồng Việt Nam ghi nhận những trường hợp thỏa thuận bị khiếm khuyết là: nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, thiệt thòi.

      1. 2.3.1. Thỏa thuận do bị nhầm lẫn

Đây là trường hợp chủ thể đánh giá sai về thực tế khách quan. Tuy nhiên không phải sự nhầm lẫn nào cũng dẫn đến thỏa thuận bị vô hiệu.

Thực tế, có các dạng nhầm lẫn sau:

Một là: Nhầm lẫn về bản chất: đương nhiên dẫn đến hủy thỏa thuận

Hai là: Nhầm lẫn về đối tượng hay mục đích

Nhầm lẫn về đối tượng là sự hình dung sai về bản chất của đối tượng và tính chất cơ bản của đối tượng mà các bên thỏa thuận.

Ba là: Nhầm lẫn về chủ thể: Chỉ trở thành nguyên nhân làm thỏa thuận vô hiệu khi thỏa thuận đó được xác lập dựa trên nhân thân của chủ thể, có nghĩa nhân thân của chủ thể là yếu tố quan trọng cho việc thỏa thuận cũng như giao kết hợp đồng.

Một số điều kiện để xác định sự nhầm lẫn là một khiếm khuyết của sự thỏa thuận và sẽ ảnh hưởng tới hiệu lực của thỏa thuận đó là:

+ Sự nhầm lẫn phải mang tính chất quyết định đối với sự tự nguyện của người tham gia thỏa thuận

+ Chỉ cần một trong các bên biết được về sự nhầm lẫn

+ Chủ thể yêu cầu xem xét hiệu lực thỏa thuận do bị nhầm lẫn phải chứng minh được mình bị nhầm lẫn nên mới dẫn đến xác lập thỏa thuận

      1. 2.3.2. Thỏa thuận do bị lừa dối

Từ quy định tại điều 132 BLDS VN 2005 và điều 127 BLDS 2015 có thể hiểu: Lừa dối trong thỏa thuận là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung nên đã xác lập thỏa thuận đó.

Đây là hành vi trái pháp luật, mang tính chất cố ý của người lừa dối.

Điều kiện để lừa dối trở thành nguyên nhân cho khiếm khuyết của thỏa thuận, có thể dẫn tới thỏa thuận bị hủy bỏ, đó là:

– Sự lừa dối có tính cách quyết định dẫn tới giao kết, nghĩa là nếu không có hành vi lừa dối đó thì bên kia đã không chấp nhận thỏa thuận. Để đánh giá điều kiện này cần đặt thỏa thuận trong những hoàn cảnh cụ thể.

– Sự lừa dối phải xảy ra trước hoặc cùng lúc với sự giao kết

      1. 2.3.3. Thỏa thuận do bị đe dọa

Đe dọa là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình (điều 132 BLDS VN 2005).

Như vậy, đe dọa là dùng hành vi, lời nói tác động vào ý chí của một người, làm người đó miễn cưỡng phải thỏa thuận. Người bị đe dọa do lo sợ mà phải thỏa thuận, sự thỏa thuận này không phải là thỏa thuận tự nguyện.

Sự đe dọa ở đây có thể là đe dọa thể chất hoặc đe dọa tinh thần.

Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi đe dọa nào cũng dẫn tới khiếm khuyết của thỏa thuận mà phải thỏa mãn những điều kiện nhất định như:

– Sự đe dọa là có thực và phải mang tính chất tức thời, nghiêm trọng, từ đó tác động đến người bị đe dọa, buộc họ phải chấp nhận thỏa thuận

– Phải là hành vi đe dọa không chính đáng bao gồm cả về phương tiện sử dụng để de dọa cũng như mục đích theo đuổi của nó.

– Sự đe dọa là yếu tố quyết định dẫn tới việc thỏa thuận của người bị đe dọa với bên kia.

Người bị đe dọa và cả người đe dọa có thể chính là người trực tiếp tham gia quan hệ thỏa thuận hoặc người thân của họ, người thứ ba liên quan.

Trường hợp này người bị đe dọa biết việc mình làm, nhưng do sợ có hậu quả xấu xảy ra từ sự đe dọa nên họ không thể tự do biểu hiện ý chí của mình, họ đã xác lập thỏa thuận không tự nguyện,nếu hợp đồng được giao kết thì hợp đồng bị vô hiệu tương đối do vi phạm quy định bảo vệ bên yếu thế trong hợp đồng.

      1. 2.3.4. Thiệt thòi

Đây là trường hợp hai bên có thỏa thuận nhưng lợi ích từ thỏa thuận lại không tương xứng với mỗi bên, tạo ra những bất lợi cho bên yếu thế.

Thông thường trong trường hợp này, các bên do đã có sự nhầm lẫn, lừa dối hay bị đe dọa mà dẫn tới thiết lập thỏa thuận gây thiệt thòi cho mình. Thỏa thuận này lại tạo ra những lợi ích không tương xứng.

    1. 2.4. Nguyên nhân của những khiếm khuyết trong thoả thuận

Thỏa thuận là sự thống nhất ý chí của các bên làm phát sinh hậu quả pháp lý. Sự thống nhất ý chí này chỉ được công nhận khi các bên được tự do biểu lộ ý chí của mình và hoàn toàn tự nguyện tham gia vào thỏa thuận. Thế nhưng, trên thực tế, vì nhiều lí do khác nhau mà các bên không được biểu lộ ý chí đích thực của mình cũng như bị ép buộc chứ không tự nguyện khi giao kết, do đó thỏa thuận ra đời trở thành những thỏa thuận có tì ố.

Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại
Lý luận và thực tiễn về sự thống nhất ý chí để giao kết hợp đồng thương mại
  1. CHƯƠNG 3
  2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
  3. CỦA SỰ THỐNG NHẤT Ý CHÍ TRONG GIAO KẾT
  4. HỢP ĐỒNG THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

    1. 3.1. Cần phải có quan niệm đầy đủ, chính xác, thống nhất về thoả thuận trong pháp luật hợp đồng

Pháp luật hợp đồng Việt Nam đã bắt đầu được cải cách và thống nhất với các quy định mang tính lý luận tập trung trong BLDS 2005 và BLDS 2015 – phần thứ ba. Tuy nhiên lý thuyết về yếu tố thỏa thuận vẫn chưa được thể hiện rõ nét. Các quy định còn mang tính chung chung, đòi hỏi người học luật và áp dụng luật phải có những suy luận logic để sử dụng vào từng trường hợp cụ thể một cách hợp lý.

    1. 3.2. Sửa đổi, bổ sung một số quy định trong Bộ luật Dân sự có liên quan đến thoả thuận trong giao kết hợp đồng

Theo tác giả luận văn cần sửa đổi, bổ xung các quy định nhằm hoàn thiện pháp luật liên quan đến sự thống nhất ý chí nhằm giao kết hợp đồng ở Việt nam ở những vấn đề cơ bản sau:

* Thứ nhất, pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay sử dụng thuật ngữ “đề nghị giao kết hợp đồng” chứ không dùng khái niệm “chào hàng” như đã từng quy định trong Luật thương mại 1997 (Luật thương mại 2005 đã bỏ các quy định về chào hàng và chấp nhận chào hàng).

* Thứ hai, pháp luật của tất cả các nước trong đó có Việt Nam đều ghi nhận đề nghị có kèm thời hạn trả lời và đề nghị không kèm theo thời hạn trả lời.

* Thứ ba, một vấn đề nữa cần xem xét đó là đề nghị giao kết hợp đồng quy định tại Điều 390 BLDS 2005 và Điều 386 BLDS 2015 của Việt Nam đòi hỏi phải thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và chịu sự ràng buộc về đề nghị của bên đề nghị.

* Thứ tư, đối với chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thì theo quy định hiện hành, việc trả lời chấp nhận phải là chấp nhận hoàn toàn, vô điều kiện toàn bộ nội dung của đề nghị (điều 396 BLDS 2005, điều 393 BLDS 2015). Nếu có sự sửa đổi bổ sung thì sẽ hình thành đề nghị mới (điều 395 BLDS 2005, điều 394 BLDS 2015), không phụ thuộc vào tính chất hay mức độ của những thay đổi bổ sung đó.

* Thứ năm, cũng về vấn đề chấp nhận đề nghị, tại đoạn 2 khoản 1 điều 397 BLDS 2005 quy định “Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị”.

* Thứ sáu, cần có điều khoản quy định rõ về điều kiện có hiệu lực của sự thỏa thuận.

* Thứ bảy, một vấn đề cũng cần sửa đổi là khái niệm đe dọa, cần phân biệt “buộc phải thực hiện giao dịch” khác hoàn toàn với “buộc phải xác lập giao dịch”, một hợp đồng được xác lập hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp, việc đe dọa để bên có nghĩa vụ buộc phải thực hiện đúng cam kết không thể làm cho giao dịch bị vô hiệu.

* Thứ tám, quy định về đảm bảo quyền tự do ý chí không trái pháp luật và đạo đức xã hội cũng cần phải đảm bảo tính minh bạch, bởi lẽ “Pháp luật minh bạch mới giúp ích cho sự thực hiện một nền thịnh trị” (Hàn Phi- đại diện tiêu biểu nhất theo chủ thuyết pháp trị cách đây hơn hai nghìn năm), cần phải chuẩn hóa sự can thiệp một cách minh bạch của Nhà nước đến các quan hệ hợp đồng.

* Thứ chín, hiện nay việc đảm bảo thực hiện quy định về yếu tố thỏa thuận trong hợp đồng Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và đôi khi chưa thật hiệu quả.

* Thứ mười, về thỏa thuận bị khiếm khuyết do nhầm lẫn.

* Mười một, Pháp luật Việt Nam còn dự liệu đến trường hợp một trong hai bên của đề nghị chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự.

    1. 3.3. Đối mới, nâng cao hiệu quả xét xử của toà án đối với tranh chấp hợp đồng

Trong báo cáo về thực tế công bố các quyết định của tòa án ở một số nước điển hình và một số đề xuất với Việt nam trong dự án Star-VN tháng 12/2001, TS.Virginia Wise, giảng viên luật, trường Luật Harward đã tổng kết 7 tác dụng của việc công bố các bản án, quyết định của tòa án:

1. Cải thiện khả năng lập luận và soạn thảo quyết định

2. Cải thiện chất lượng “hồ sơ xét xử và từ đó nâng cao chất lượng của việc xem xét (phúc thẩm) theo thủ tục pháp lý”.

3. Tăng hiệu quả của hệ thống tư pháp và tránh việc khiếu kiện lại những vấn đề tòa án đã ra quyết định

4. Hỗ trợ các chức năng giáo dục và đào tạo

5. Hỗ trợ việc áp dụng luật một cách đồng bộ, nhất quán (ko tùy tiện) và có thể dự đoán được trên cả nước ở mọi thời điểm

6. Trợ giúp tìm kiếm và sửa chữa các vấn đề, làm rõ các vấn đề còn mơ hồ, giải quyết các điểm chưa thống nhất và giảm bớt các kết quả không lường trước được trong khi áp dụng luật.

7. Tăng cường công khai, từ đó tăng sự tự tin, tín nhiệm của hệ thống tòa án.

  1. KẾT LUẬN

Nếu như hợp đồng là “huyết mạch” của hoạt động thương mại thì yếu tố thỏa thuận, về cơ bản, có thể xem là vấn đề cốt lõi của hợp đồng. Bởi lẽ nó không chỉ là yếu tố đầu tiên mà còn là yếu tố không thể thiếu của hợp đồng, nói lên bản chất của hợp đồng.

Nhận thức được tầm quan trọng của đề tài, luận văn đã phần nào đi sâu nghiên cứu và giải quyết được những vấn đề lý luận và thực tiễn cơ bản về sự thỏa thuận, cụ thể:

Về cơ sở lý luận của đề tài, tác giả đã đưa ra những hình dung tương đối rõ nét về hợp đồng và yếu tố thỏa thuận trong hệ thống pháp luật. Tác giả không đi sâu vào các quy định cụ thể của Việt Nam mà đưa ra các quy phạm tổng quát, liên hệ với pháp luật các quốc gia khác, từ đó có cái nhìn toàn diện và đúng đắn hơn về vấn đề. Một thực tế cần được ghi nhận là pháp luật hợp đồng của một số nước đặc biệt là các nước phương Tây đã có bề dày lịch sử lâu đời và tính đúng đắn, hợp lý của nó đã được chứng minh trong thực tế. Việc đưa ra và nghiên cứu những quy định này cùng những quy định trong các nguyên tắc, công ước quốc tế về hợp đồng sẽ tạo cơ sở vững chắc về mặt lý luận cũng như là nền tảng cơ bản cho cho việc học hỏi và kế thừa trong xây dựng và nghiên cứu pháp luật hợp đồng Việt Nam vốn còn sơ sài và còn tồn tại nhiều thiếu sót.

Luận văn đặc biệt đi sâu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về các vấn đề liên quan đến yếu tố thỏa thuận, điều này là phù hợp với mục đích và phạm vi nghiên cứu đã đặt ra. Dựa trên những cơ sở nền tảng đã được đề cập, việc phân tích như vậy giúp tác giả có thể đánh giá một cách khách quan tính ưu việt và sự hạn chế của quy phạm pháp luật Việt Nam, đối chiếu vào thực tiễn để rút ra những điểm cần phát huy và những điểm cần sửa đổi, hoàn thiện, tạo tính minh bạch và ứng dụng cao của sự thỏa thuận.

Các kiến nghị được đưa ra tuy chưa nhiều và có thể chưa thực sự đầy đủ, hợp lý, nhưng với tầm hiểu biết và những kết luận rút ra từ quá trình tìm hiểu đề tài, phần nào nói lên những cố gắng của tác giả trong nghiên cứu khoa học, làm cho luận văn không chỉ dừng lại ở khía cạnh lý luận mà cũng ít nhiều có ý nghĩa về mặt thực tiễn.

Việc đi sâu nghiên cứu đề tài này giúp tác giả có được những nhìn nhận khá sâu sắc về pháp luật hợp đồng. Do điều kiện nghiên cứu, khả năng và hiểu biết của bản thân còn hạn chế cũng như nội dung cần giải quyết của vấn đề cũng tương đối phức tạp, đòi hỏi sự am hiểu sâu rộng, nên tác giả có thể chưa đáp ứng đầy đủ những nhiệm vụ đề ra và còn nhiều thiếu sót. Dẫu vậy, có thể xem đây là một tiếng nói nhỏ góp phần hoàn thiện pháp luật hợp đồng nói chung và pháp luật về yếu tố thỏa thuận nói riêng.

LIỆN HỆ:

SĐT+ZALO: 0935568275

E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 6\KINH TE\PHUONG + THANH\PHUỌNG

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *