Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là tài nguyên quý giá của nước ta, vai trò của rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế – xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, bảo tồn nguồn nước, làm giảm ô nhiễm không khí và giữ vững an ninh quốc phòng. Vấn đề quản lý, bảo vệ và phát triển rừng hiện nay được coi là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam.
Đà Nẵng là thành phố trực thuộc Trung ương, có diện tích rừng giàu tài nguyên, có giá trị lớn về đa dạng sinh học với 57.195,5 ha, gồm: 31.116,7 ha rừng đặc dụng; 8693,8 ha rừng phòng hộ; 17.385 ha rừng sản xuất và 2.729,9 ha rừng tự nhiên và rừng trồng sử dụng khác ngoài quy hoạch 3 loại rừng. Ngoài ý nghĩa kinh tế còn có ý nghĩa phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển du lịch. Song, cũng chính vì vị trí rất gần so với trung tâm đô thị của Thành phố nên tình trạng rừng bị xâm hại cũng xảy ra thường xuyên, đây là vấn đề bức xúc hiện nay, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, cần phải có sự quan tâm, chú trọng đúng mức của các cấp, các ngành chức năng và cộng đồng xã hội đồng thời có những giải pháp tích cực để ngăn chặn, xử lý kịp thời và có hiệu quả theo quy định của pháp luật.
Trong những năm qua, tình hình vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố diễn biến rất phức tạp và gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng cho xã hội. Trước tình hình đó, Đảng bộ, Chính quyền và các cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng đã tích cực, chủ động đưa ra nhiều biện pháp, giải pháp nhằm hạn chế, ngăn chặn để làm giảm tình trạng vi phạm đó. Song, thực tế cho thấy, tình trạng vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng chưa có chiều hướng giảm, thậm chí trong thời gian gần đây còn có dấu hiệu gia tăng, làm ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh thái cũng như tình hình an ninh, trật tự và sự phát triển về kinh tế – xã hội của thành phố.
Trong khi đó, có một thực tế đáng lo ngại là hiện nay cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa Đất nước, rừng đã trở thành đối tượng khai thác lén lút của nhiều tổ chức, cá nhân với mục đích vụ lợi; mặt khác, việc xử lý tội phạm này bằng pháp luật hình sự vẫn chưa hiệu quả. Số vụ án bị đưa ra xét xử về tội này còn rất nhỏ so với thực trạng hoạt động khai thác rừng trái pháp luật; Việc áp dụng quy định của luật hình sự trong thực tiễn xét xử tội phạm này còn tồn tại những hạn chế.
Bên cạnh đó, một số vụ vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đủ yếu tố cấu thành Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo quy định tại Điều 175 BLHS nhưng không được khởi tố điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật hình sự; mặt khác, việc áp dụng pháp luật trong hoạt động xét xử loại án này của Tòa án các cấp thành phố Đà Nẵng mặc dù đã đem lại kết quả trong việc răn đe, trừng trị, giáo dục nhưng vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Việc truy tố chưa nhắm đúng vào những đầu nậu mà chỉ dừng lại những người làm thuê, thiếu hiểu biết pháp luật bị lợi dụng.
Để xẩy ra tình trạng này là do nhiều nguyên nhân, như: các quy định của pháp luật hình sự về loại tội phạm này chưa thật sự rõ ràng, cụ thể; văn bản hướng dẫn thi hành chưa đầy đủ, chưa kịp thời; trình độ chuyên môn nghiệp vụ pháp luật của Thẩm phán còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn,… Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu làm sáng tỏ những dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam. Tổng kết, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của Tòa án các cấp thành phố Đà Nẵng, trên cơ sở đó tìm ra những giải pháp đảm bảo hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự xử lý tội phạm này là hết sức cần thiết.
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Hình sự và Tố tụng Hình sự.
- Tình hình nghiên cứu đề tài
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận và các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam; thực tiễn hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, rút ra những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập; nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội khai thác và bảo vệ rừng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu: Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật hình sự Việt Nam về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; phân tích các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng; phân biệt tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng với một số tội phạm về rừng khác.
Trình bày những vấn đề lý luận về định tội danh, quyết định hình phạt và đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ thực trạng áp dụng pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Từ đó đưa ra các biện pháp bảo đảm để áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn hoạt động định tội danh, quyết định hình phạt của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên phạm vi địa bàn thành phố Đà Nẵng và trong khoảng thời từ năm 2011 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, cũng như của các cấp chính quyền thành phố Đà Nẵng về hoạt động phòng, chống tội phạm nói chung và tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã có sự kết hợp nhiều phương pháp khác nhau, như phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, quy nạp, diễn dịch, phương pháp lịch sử, …
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Luận văn thạc sĩ là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống dưới góc độ pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Công trình này có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong quá trình học tập và nghiên cứu.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với những vụ án phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cơ cấu gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo pháp luật hình sự Việt Nam
Chương 2. Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự về Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng
Chương 3. Các biện pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định của pháp luật về Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ
TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ
1.1.1. Khái niệm Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Tội phạm vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được quy định tại Điều 175 của BLHS năm 1999.
Điều 175 BLHS chỉ liệt kê một loạt những hành vi và viện dẫn những điều luật tương ứng của BLHS để xác định hành vi nào được coi là hành vi khách quan của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng mà chưa đưa ra được khái niệm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đòi hỏi phải có những dấu hiệu pháp lý như trên, căn cứ vào Điều 175 BLHS và trên cơ sở Điều 8 BLHS năm 1999 có thể rút ra khái niệm vệ tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng như sau:
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi, xâm phạm những quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng cũng như xâm phạm các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế nói chung.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Các dấu hiệu cơ bản của tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng được thể hiện ở bốn yếu tố: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan.
1.2.1. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều 175) và tội Vi phạm các quy định về quản lý rừng (Điều 176)
Đây là hai tội phạm cùng được xếp vào chương các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.
Về mặt khách thể: Cùng giống nhau là tội phạm đều xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về kinh tế gây thiệt hại cho Nhà nước. Tuy nhiên đối tượng tác động của hai tội này là khác nhau. Ở Điều 175 đối tượng tác động chính là lâm sản và các quy định về bảo vệ rừng còn ở điều 176, đó chính là những chính sách, những quy định về quản lý kinh tế trong quản lý rừng. Thông qua việc tác động vào những quy định này người phạm tội đã không thực hiện đúng chế độ quản lý gây thiệt hại cho lợi ích kinh tế của Nhà nước, tổ chức, công dân. Do vậy về mặt khách quan giữa hai tội có sự khác nhau chủ yếu giữa một bên (Điều 175) là trực tiếp hành động hoặc không hành động tác động trực tiếp đến rừng và một bên (Điều 176) là hành động hoặc không hành động tạo ra các quyết định hành chính cho phép người khác thực hiện.
1.2.2. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng (Điều 175) và tội Hủy hoại rừng (Điều 189)
Tội Hủy hoạt rừng vốn được tách ra từ điều 181 (BLHS năm 1985) do tính chất khách thể bị xâm hại và cũng vì BLHS 1999 quy định một chương mới – Chương các tội phạm về môi trường, cho nên tội Hủy hoại rừng được đưa vào chương này, với mục đích thực hiện nguyên tắc cá thể hóa TNHS, xử lý có phân biệt với những hành vi phạm tội.
Giữa Điều 175 và Điều 189 có nhiều điểm rất giống nhau: Về đối tượng tác động người phạm tội cũng có những hành vi phạm tội tác động trực tiếp đến rừng và các yếu tố có liên quan đến rừng. Về biểu hiện của hành vi khách quan có những điểm giống nhau như hành vi chặt phá, đốt rừng, do vậy cũng có sự tương đồng về công cụ phương tiện thực hiện tội phạm và cách thức thực hiện tội phạm. Mặt khác trong Điều 175 về hành vi khách quan xâm phạm đến những quy định về bảo vệ rừng cũng điều chỉnh hành vi phát đốt rừng. Do vậy, rất dễ có sự nhầm lẫn khi xác định tội danh giữa tội Vi phạm các quy định về khai thác về bảo vệ rừng và tội Hủy hoại rừng. Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu mà chúng ta phải đặc biệt chú ý để từ đó xác định chính xác tội danh.
Nhìn chung để phân biệt giữa tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng với các tội phạm khác chương theo quy định của BLHS, chúng ta cần bám sát vào các yếu tố CTTP, không nên xem nhẹ một yếu tố nào, các dấu hiệu về động cơ mục đích của tội phạm phải được đánh giá một cách đúng đắn, nó quyết định chính xác khi chúng ta xác định tội danh.
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985
1.3.2. Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999
1.3.3. Các quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng

CHƯƠNG 2
THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
2.1.1. Cách tiếp cận để nhận diện thực tiễn định tội danh Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
a) Định tội danh và các đặc điểm của định tội danh
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau đối với khái niệm định tội danh, tuy nhiên, bản thân tác giả đồng ý với quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Định tội danh là “Việc xác định và ghi nhận về mặt pháp lý hình sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm đã được quy định trong quy phạm pháp luật hình sự” [32. tr.04].
Định tội danh đúng là kết quả của quá trình hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng và tạo tiền đề để đảm bảo cho việc quyết định hình phạt đúng đắn.
Ta có thể thấy việc định tội danh gồm có bốn đặc điểm sau:
+ Định tội danh là một quá trình nhận thức có tính logic giữa thực tiễn và lý luận. Thể hiện ở hai khía cạnh: Đó là xác định xem hành vi nguy hiểm cho xã hội đã thực hiện có phù hợp với CTTP cụ thể trong BLHS và đưa ra sự đánh giá nhất định về mặt pháp lý hình sự đối với hành vi đã thực hiện trong thực tế.
+ Quá trình hoạt động định tội danh phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy phạm pháp luật của BLHS (Luật nội dung) cũng như các quy phạm pháp luật của BLTTHS (Luật hình thức).
+ Định tội danh là một dạng của hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng (gồm: Cơ quan điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát) để cụ thể hóa các quy phạm pháp luật hình sự vào trong thực tế đời sống xã hội.
+ Định tội danh với tính chất là một dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự.
b) Các yếu tố làm căn cứ trong hoạt động định tội danh
– Định tội danh theo các yếu tố CTTP
– Định tội danh đối với yếu tố hành vi phạm tội chưa thành
– Định tội danh trong trường hợp đồng phạm
– Định tội danh trong trường hợp phạm nhiều tội
– Định tội danh còn dựa vào các yếu tố đó là sự cạnh tranh quy phạm pháp luật hình sự về định tội danh.
c) Ý nghĩa của hoạt động định tội danh
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự, việc định tội danh đúng sẽ có ý nghĩa chính trị – xã hội, đạo đức, pháp luật rất lớn và ngược lại. Hoạt động định tội danh của các chủ thể thường theo hai xu hướng đó là: Định tội danh đúng và định tội danh sai.
– Hoạt động định tội danh đúng là tiền dề cho việc phân hóa TNHS và cá thể hóa hình phạt một cách đúng đắn có căn cứ pháp luật. Việc định tội danh đúng sẽ hỗ trợ cho việc thực hiện các nguyên tắc tiến bộ được thừa nhận trong nhà nước pháp quyền. Việc định tội danh đúng là một trong các cơ sở để áp dụng các quy phạm pháp luật hình sự về tạm giam, thẩm quyền điều tra, xét xử qua đó góp phần hiệu quả cho việc bảo vệ các quyền và tự do dân chủ của công dân.
– Hoạt động định tội danh sai sẽ dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực như: không đảm bảo tính công minh, truy cứu TNHS không đúng người, đúng tội, bỏ lọt tội phạm, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và các quyền tự do dân chủ của công dân được pháp luật Nhà nước bảo vệ. Định tội danh sai làm giảm uy tín của cơ quan tư pháp, vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, làm ảnh hưởng đến hiệu quả đấu tranh phòng chống tội phạm, những vụ việc oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ thiếu tính khách quan, thiếu thận trọng và suy diễn chủ quan.
2.1.2. Thực tiễn định tội danh Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng
a) Tình hình xét xử tội phạm và tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng từ năm 2011 – 2015:
Cùng với cả nước, những năm qua thành phố Đà Nẵng đã có sự thay đổi chuyển biến sâu sắc và toàn diện trên tất cả mọi mặt của đời sống xã hội, được mệnh danh là “thành phố đáng sống”. Chính vì vậy, dân số không ngừng gia tăng, số người ở các tỉnh khác đến cư trú, làm ăn ngày một đông đúc. Đây là điều kiện để các loại tội phạm nói chung và loại tội phạm liên quan đến khai thác quản lý bảo vệ rừng nói riêng luôn duy trì ở mức cao và ngày càng diễn biến phức tạp.
Bảng 2.1. Cơ cấu tội phạm đã bị xét xử từ năm 2011 đến 2015
| STT | Nhóm tội xâm phạm | Năm 2011 | Năm 2012 | Năm 2013 | Năm 2014 | Năm 2015 | |||||
| Số vụ | Số bị cáo | Số vụ | Số bị cáo | Số vụ | Số bị cáo | Số vụ | Số bị cáo | Số vụ | Số bị cáo | ||
| 624 | 1.344 | 441 | 841 | 667 | 1.020 | 623 | 1.335 | 622 | 1.315 | ||
| 1 | KTBVR | 62 | 204 | 51 | 191 | 59 | 113 | 43 | 178 | 31 | 115 |
| 2 | TMSK | 144 | 259 | 127 | 264 | 215 | 390 | 135 | 305 | 165 | 337 |
| 3 | TTXH | 164 | 298 | 129 | 236 | 184 | 296 | 121 | 422 | 153 | 382 |
| 4 | MT | 42 | 57 | 35 | 48 | 47 | 65 | 38 | 76 | 54 | 83 |
| 5 | Khác | 212 | 529 | 99 | 102 | 162 | 156 | 286 | 354 | 229 | 398 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm (2011-2015) của TAND Tp. Đà Nẵng)
Theo số liệu thống kê, có thể thấy trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015, số vụ phạm tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng xét xử sơ thẩm hàng năm có xu hướng giảm so với năm đầu.
Về nguyên nhân khách quan, có thể là do chính sách hình sự của Nhà nước ta có những thay đổi nhất định trong từng thời kỳ, có thể là do địa bàn rừng núi, việc thu thập chứng cứ, tài liệu chứng minh tội phạm gặp nhiều khó khăn, đối tượng phạm tội bỏ trốn..v.v..
Về nguyên nhân chủ quan, khả năng nhận thức, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ thuộc các cơ quan tiến hành tố tụng còn hạn chế. Nhiều vụ vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cán bộ điều tra, cán bộ kiểm lâm chưa đánh giá hết tính chất vụ việc nên không coi đó là vụ án hình sự mà chỉ xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật.
b) Thực tiễn định tội danh tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo CTTP cơ bản tại thành phố Đà Nẵng
Theo báo cáo tổng kết 5 năm (2011-2015) của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng thì trong tổng số vụ án bị xét xử về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng thì chiếm số lượng lớn là các vụ án được VKS định tội danh theo cấu thành cơ bản. Cụ thể:
Bảng 2.3. Thống kê số vụ án được định tội danh
theo cấu thành tội phạm
| TT | Định tội danh TKTBVR | Năm 2011 | Năm 2012 | Năm 2013 | Năm 2014 | Năm 2015 | |||||
| Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | ||
| 62 | 51 | 59 | 43 | 31 | |||||||
| 1 | Cấu thành cơ bản | 42 | 67,7 | 35 | 68,6 | 39 | 66,1 | 25 | 58,1 | 20 | 64,5 |
| 2 | Cấu thành tăng nặng | 20 | 32,3 | 16 | 31,2 | 20 | 33,9 | 18 | 41,9 | 11 | 35,5 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm (2011-2015) của TAND Tp. Đà Nẵng)
Qua bảng thống kê trên, có thể thấy rằng, số lượng các vụ án vi phạm về khai thác và bảo vệ rừng được cơ quan có thẩm quyền định tội danh chủ yếu theo cấu thành cơ bản và chiếm tỉ lệ cao trong tổng số vụ án vi phạm qua các năm.
c) Thực tiễn định tội danh Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng theo CTTP tăng nặng tại thành phố Đà Nẵng.
Qua báo cáo tổng kết công tác 5 năm (2011-2015) của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng nhìn chung việc định tội danh theo cấu thành tăng nặng khi áp dụng điều 175 BLHS tại thành phố Đà Nẵng cơ bản đã được áp dụng đúng theo quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan nguời vô tội. Số lượng các vụ án được cơ quan có thẩm quyền xét xử theo cấu thành tăng nặng có xu hướng giảm qua các năm nhưng các vụ việc ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi hơn, các đối tượng đã lợi dụng những nơi địa hình hiểm trở, đi lại khó khăn, quản lý buông lỏng để tiến hành thực hiện hành vi phạm tội của mình.
Bảng 2.4. Thống kê số vụ án được định tội danh theo
cấu thành tội phạm
| TT | Định tội danh TKTBVR | Năm 2011 | Năm 2012 | Năm 2013 | Năm 2014 | Năm 2015 | |||||
| Tổng Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | Số vụ | Chiếm tỉ lệ (%) | ||
| 62 | 51 | 59 | 43 | 31 | |||||||
| 1 | Cấu thành cơ bản | 42 | 67,7 | 35 | 68,6 | 39 | 66,1 | 25 | 58,1 | 20 | 64,5 |
| 2 | Cấu thành tăng nặng | 20 | 32,3 | 16 | 31,2 | 20 | 33,9 | 18 | 41,9 | 11 | 35,5 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm (2011-2015) của TAND Tp. Đà Nẵng)
2.2.1. Cách tiếp cận để nhận diện thực tiễn quyết định hình phạt đối với Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
a) Quyết định hình phạt và các đặc điểm của quyết định hình phạt
Quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án phải chấp hành. Ở nước ta, cho tới nay vẫn chưa có một văn bản pháp luật hình sự nào xác định khái niệm quyết định hình phạt. Trong khoa học pháp lý hình sự đã có khá nhiều tác giả đưa ra khái niệm quyết định hình phạt.
Hoạt động quyết định hình phạt có các đặc điểm:
– Quyết định hình phạt là hoạt động thực tiễn cùa Tòa án (Hội đồng xét xử) được thực hiện sau khi đã xác định xong tội danh;
– Quyết định hình phạt do Tòa án thực hiện trên cơ sở quy định của BLHS;
– Nội dung của quyết định hình phạt có thể là miễn TNHS hoặc có thể là miễn hình phạt hoặc nếu Tòa án quyết định áp dụng hình phạt thì quyết định hình phạt bao gồm xác định khung hình phạt (có thể) và hình phạt cụ thể cho bị cáo;
– Quyết định hình phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân người đã có hành vi phạm tội;
Quyết định hình phạt đúng có ý nghĩa quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm thể hiện:
Thứ nhất, quyết định hình phạt đúng là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả của hình phạt.
Thứ hai, quyết định hình phạt đúng là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được mục đích của hình phạt.
Thứ ba, quyết định hình phạt đúng góp phần củng cố pháp chế và trật tự pháp luật XHCN.
b) Các nguyên tắc của hoạt động quyết định hình phạt
Ở nước ta hiện nay, trong khoa học Luật hình sự có nhiều quan điểm khác nhau trong việc xác định các nguyên tắc quyết định hình phạt. Tuy nhiên, đa số các tác giả cho rằng các nguyên tắc quyết định hình phạt bao gồm bốn nguyên tắc: Nguyên tắc pháp chế XHCN trong quyết định hình phạt; Nguyên tắc nhân đạo XHCN trong quyết định hình phạt; Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt và nguyên tắc công bằng trong quyết định hình phạt. Nguyên tắc quyết định hình phạt là các nguyên tắc đặc thù cho quá trình quyết định hình phạt, định hướng cho hoạt động của Tòa án để quyết định hình phạt đúng đắn với người phạm tội.
c) Các căn cứ của quyết định hình phạt
Căn cứ thứ nhất: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự
Căn cứ thứ hai: Tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Căn cứ thứ ba: Đặc điểm nhân thân người phạm tội
Căn cứ thứ tư: Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự
2.2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại địa bàn thành phố Đà Nẵng
Qua thực tiễn hoạt động quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng nhận thấy, trong tổng số các vụ vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng đã bị xét xử tại thành phố Đà Nẵng trong 05 năm từ 2011 đến 2015 (với 246 vụ và 801 bị cáo) đã được xét xử thì hầu hết các vụ án vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng đều được các cơ quan có thẩm quyền xác định đúng tội danh và quyết định hình phạt phù án hợp được nhân dân đồng tình.
Bảng 2.5. Thống kê quyết định hình phạt tội vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng
| Quyết định hình phạt tội vi phạm quy định về khai thác và bảo vệ rừng | |||||
| Năm | Khoản 1 Điều 175 BLHS | Khoản 2 Điều 175 BLHS | Tổng số vụ | ||
| Phạt tiền | Cải tạo không giam giữ | Tù có thời hạn | Tù có thời hạn | ||
| 5 triệu – 50 triệu | ≤ 3 năm | 3 tháng – 3 năm | 2-10 năm | ||
| 2011 | 12 | 20 | 10 | 20 | 72 |
| 2012 | 6 | 28 | 10 | 7 | 51 |
| 2013 | 9 | 30 | 7 | 13 | 59 |
| 2014 | 3 | 22 | 8 | 10 | 43 |
| 2015 | 4 | 15 | 6 | 6 | 31 |
(Nguồn: Báo cáo tổng kết 5 năm (2011-2015) của TAND Tp. Đà Nẵng)
a) Quyết định hình phạt đối với người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng theo khoản 1 Điều 175 BLHS.
Theo quy định của khoản 1 Điều 175 BLHS. Tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng được quy định tại khoản 1 Điều 175 BLHS là loại tội phạm ít nghiêm trọng (theo Điều 8 BLHS). Qua khảo sát từ thực tiễn của thành phố Đà Nẵng, thấy rằng các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng khá đầy đủ các quy định của BLHS, các văn bản hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ quyết định hình phạt một cách hiệu quả. Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm và hành vi phạm tội cụ thể mà quyết định khung hình phạt tương ứng. Đối với khoản 1 Điều 175 BLHS, tại thành phố Đà Nẵng cung độ hình phạt của khoản này tập trung nhiều nhất trong khoản từ 6 tháng đến 18 tháng tù giam, cũng có một vài trường hợp hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù trở lên vẫn có nhưng chiếm tỷ lệ rất ít. Qua khảo sát tại thành phố Đà Nẵng thì thấy các vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã được xét xử thì thì đa số rơi vào khoản 1 Điều 175, tài sản phạm tội có giá trị nhỏ, tính nguy hiểm cho xã hội không cao và quan trọng hơn là các đối tượng phạm tội tại khoản 1 Điều 175 BLHS thường có nhân thân tốt, đã khắc phục được hậu quả thiệt hại vật chất gây ra do vậy việc quyết định hình phạt thường cũng theo xu hướng giảm nhẹ hơn so với mức độ, hành vi phạm tội đã gây ra trên thực tế và trong một số trường hợp Tòa án cấp sơ thẩm thường xử các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là cải tạo không giam giữ.
b) Quyết định hình phạt đối với người phạm tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng theo khoản 2 Điều 175 BLHS.
Từ quy định và thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng theo khoản 2 Điều 175 BLHS thấy rằng hình phạt quy định là từ “hai năm đến mười năm”. Như vậy mức cao nhất của khung hình phạt này là mười năm tù. Cho nên tội vi phạm các quy định về khai thác bảo vệ rừng quy định tại khoản 2 Điều 175 BLHS là loại tội phạm rất nghiêm trọng (Theo Điều 8 BLHS).

CÁC BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ TỘI VI PHẠM
CÁC QUY ĐỊNH VỀ KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ RỪNG
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
BLHS năm 2015 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 27/11/2015 tuy nhiên đến nay chưa xác định được ngày có hiệu lực do phát hiện có nhiều sai sót cần được sửa đổi bổ sung cho phù hợp. Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng quy định tại Điều 175 BLHS năm 1999 nay là tội vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản quy định tại Điều 232 BLHS năm 2015. Khi nghiên cứu Điều 232 BLHS 2015 thấy rằng cần phải có sự hướng dẫn hoàn thiện bổ sung để việc áp dụng pháp luật được thống nhất đó là:
Thứ nhất: để đảm bảo cho pháp luật được thống nhất áp dụng, các cơ quan chức năng cần có hướng dẫn cụ thể đối với từng chủng loại là thực vật rừng ngoài gỗ tránh việc áp dụng không thống nhất sẽ dễ dẫn đến oan sai hoặc bỏ lọt tội phạm.
Thứ hai: cần có danh mục cụ thể các loại thực vật hoang dã hoặc thực vật rừng ngoài gỗ để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định cụ thể về giá tránh việc áp dụng tùy tiện …
Thứ ba: Kể từ ngày bộ luật hình sự có hiệu lực, các pháp nhân thương mại có hành vi phạm tội “vi phạm các quy định về khai thác, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản” thì phải chịu TNHS. Đồng thời quy định rõ 04 điều kiện để một pháp nhân thương mại phải chịu TNHS.
Thứ tư: Các quy định pháp luật về tố tụng hình sự đối với một pháp nhân theo quy định của BLTTHS mới năm 2015 cũng có nhiều bất cập cần có sự hướng dẫn hoặc bổ sung pháp luật kịp thời.
Thứ năm: Nên có quy định thống nhất giữa các quy định về xử lý vi phạm hành chính, truy cứu trách nhiệm hình sự trong lĩnh vực khai thác và bảo vệ rừng.
Thứ sáu: Quy định cụ thể về quyền khởi kiện của tổ chức, cá nhân đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Thứ bảy: cần quy định cụ thể về tính chất và khối lượng lâm sản là đối tượng bị thiệt hại do mỗi hành vi vi phạm về khai thác và bảo vệ rừng gây ra.
3.1.2. Tăng cường tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Giải quyết án hình sự nói chung và đối với một vụ án hình sự vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng nói riêng bao gồm giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử. Việc áp dụng luật hình sự trong hoạt động giải quyết án hình sự là hoạt động thường xuyên của các cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với tội vi phạm quy định về khai thác, bảo vệ rừng, đây là loại tội phạm gây hậu quả lâu dài ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống con người, diễn biến ngày càng phức tạp do vậy trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết loại tội phạm này, các cơ quan tiến hành tố tụng không tránh khỏi những khó khăn, vướng mắc và thực tiễn hoạt động áp dụng pháp luật sẽ phát hiện ra nhiều bất cập đối với những quy định của pháp luật. Do vậy việc tổng kết thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này là hết sức cần thiết và thường xuyên. Thông qua đó các cơ quan tiến hành tố tụng có những đúc kết kinh nghiệm, cũng như đóng góp ý kiến góp phần xây dựng pháp luật hình sự đối với loại tội phạm này ngày càng hoàn thiện hơn, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tội phạm.
3.1.3. Nâng cao năng lực của các chủ thể áp dụng pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì chủ thể áp dụng pháp luật hình sự trong quá trình giải quyết vụ án bao gồm điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân. Đối với những vụ án liên quan đến vi phạm quy định về khai thác bảo vệ rừng thì có kiểm lâm viên. Để việc xử lý về hình sự đối với một vụ án hình sự liên quan đến Điều 175 BLHS đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì năng lực của các chủ thể áp dụng pháp luật hình sự nêu trên có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là trong tình hình hiện nay tội phạm này có chiều hướng gia tăng, phức tạp. Do vậy việc điều tra, truy tố, xét xử gặp không ít khó khăn trong thực thi pháp luật, đặc biệt trong giai đoạn điều tra, phát hiện và xử lý tội phạm. Ngoài việc tăng cường về số lượng thì chất lượng cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật cần phải được nâng cao về đạo đức nghề nghiệp, bản lính chính trị và trình độ chuyên môn, kinh nghiệm trong hoạt động thực tiễn là những yêu cầu và đòi hỏi trong việc đấu tranh, xử lý loại tội phạm này.
3.1.4. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng
Bộ luật hình sự là một trong những căn cứ pháp lý nền tàng cho việc giải quyết các tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng. Ngoài những quy định chung được quy định trong luật, thì phải tăng cường ban hành các văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự, chi tiết hóa để cho các cơ quan, chủ thể quản lý có thể áp dụng một cách cụ thể và chính xác trong quá trình giải quyết. Trên thực tế, nhiều quy định chưa được hướng dẫn chi tiết gây khó khăn và vướng mắc cho người áp dụng trong khi thực thi.
3.2.1. Tăng cường cơ sở vật chất, đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ điều tra cho lực lượng Kiểm lâm, đồng thời có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa các ngành liên quan trong công tác điều tra, xử lý
Nhất thiết phải đầu tư, không trước thì sau và chi phí đầu tư cho việc bảo vệ, ngăn chặn bao giờ cũng rẻ hơn, hiệu quả hơn so với chi phí khắc phục hậu quả. Mặt khác với lực lượng chuyên trách quá mỏng như hiện nay cũng phải tính đến phương án đào tạo bổ sung và bố trí hợp lý nguồn nhân lực trên cơ sở nâng cao trách nhiệm cá nhân, tăng cường kiểm tra giám sát, tránh tình trạng giao khoán rừng cho từng đầu mối cán bộ mà thiếu kiểm tra, tạo ra tình trạng “chủ rừng” lạm quyền, tư lợi gây thiệt hại cho Nhà nước. Qua khảo sát thực tế thấy rằng việc “Chủ rừng” cho phương tiện vào rừng khai thác lâm sản (trừ gỗ) như tre nứa để phục vụ sản xuất trên cơ sở “Nộp khoán” từng xe là khá phổ biến. Đây là hiện tượng tiêu cực cần phải loại trừ. Bên cạnh đó cần chú ý đến sự phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm, bộ đội Biên phòng và Công an để giải quyết có hiệu quả đối với những trường hợp bắt người vi phạm, tạm giữ khi phát hiện người vi phạm, tránh tình trạng đùn đẩy cho rằng không đúng thẩm quyền tạo điều kiện cho người phạm tội lọt lưới pháp luật.
3.2.2. Tăng cường công tác phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật
Hình thành ý thức tuân thủ pháp luật. Tôn trọng và tự nguyện bảo vệ nguồn tài nguyên rừng trong cộng đồng dân cư là việc làm khó, đòi hỏi thời gian lâu dài. Trong công tác tuyên truyền cần xác định được những đối tượng làm hạt nhân – đầu mối để thực hiện. Đó chính là những trưởng thôn, tổ trưởng tổ dân phố, đội ngũ cán bộ xã, phường. Do vậy cần sát dân, nắm vững được tâm tư tình cảm của họ, dùng kiến thức phổ thông dễ hiểu để vận động tuyên truyền đối với đội ngũ này.
3.2.3. Kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm, tránh hành chính hóa hình sự
Để tăng cường xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm, trước hết đối với đội ngũ thực thi công vụ cần được giáo dục để họ thấy rõ vai trò, vị trí của mình trong công tác bảo vệ rừng. Hiện nay để xử phạt hành chính hoặc truy cứu TNHS phải dựa vào định lượng. Vấn đề này hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ chuyên trách, những người xử lý ban đầu. Bên cạnh đó để ngăn chặn tội phạm cần tuyệt đối tránh tình trạng hóa giá tang vật, tạo điều kiện cho một bộ phận có chức quyền mua số tang vật này để tái sản xuất. Hiện tượng này cần kiên quyết dẹp bỏ để tạo lòng tin nơi quần chúng. Bên cạnh đó cũng cần xử lý kiên quyết hơn đối với những hộ sản xuất trồng hồ tiêu có dùng trụ gỗ.
Qua nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, bước đầu luận văn đã cố gắng làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội danh và quyết định hình phạt từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng. Kết quả mà chúng tôi đạt được cho phép đi đến một số kết luận chung sau đây:
Tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đang diễn biến hết sức phức tạp, các vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng không có dấu hiệu giảm gây mất trật tự ổn định xã hội, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, sự phát triển kinh tế và ổn định chính trị của thành phố.
Từ thực tiễn của các cơ quan tiến hành tố tụng trong hoạt động giải quyết các vụ án vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng thì hoạt động định tội danh là một trong những hoạt động rất quan trọng trong việc xác định một người có phải chịu TNHS cho hành vi của mình gây ra hay không, do vậy hoạt động định tội danh đối với tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng là một quá trình nhận thức lý luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, được tiến hành bằng cách trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu thu thập được và các tình tiết thực tế của vụ án để đối chiếu, so sánh, kiểm tra nhằm xác định sự phù hợp giữa các dấu hiệu của những hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng đã được thực hiện với các dấu hiệu của CTTP Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tương ứng do luật hình sự quy định.
Quyết định hình phạt với tư cách là một hoạt động quan trọng trong áp dụng pháp luật hình sự, do Tòa án có thẩm quyền (HĐXX) thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt, mức hình phạt cụ thể trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hoặc những hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS. Để đảm bảo pháp chế XHCNhoạt động quyết định hình phạt phải được thực hiện dựa trên các căn cứ luật định. Căn cứ quyết định là những đòi hỏi cụ thể, có tính khách quan, do BLHS quy định mà HĐXX bắt buộc phải tuân thủ để không chỉ đảm bảo cho hình phạt được quyết định một cách khách quan, đúng pháp luật mà còn nhằm đạt được những mục đích của hình phạt ở mức cao nhất khi áp dụng đối với người phạm tội bị kết án. Việc tuân thủ căn cứ quyết định hình phạt sẽ đảm bảo cho hình phạt được quyết định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đảm bảo tính hợp pháp và có căn cứ pháp lý của hoạt động quyết định hình phạt.
Từ thực tiễn hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tại thành phố Đà Nẵng trong thời gian qua cho thấy công tác giải quyết, xét xử các loại vụ án luôn được các cấp quan tâm chú trọng. Thực tế là số vụ án bị hủy, bị cải sửa theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm là không nhiều, chủ yếu là cải sửa theo hướng giảm nhẹ hình phạt do áp dụng thêm một số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc do HĐXX đánh giá mức độ, tính chất, hậu quả của hành vi mà xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Điều này cho thấy sự nỗ lực rất lớn từ phía các cơ quan tố tụng địa phương trong việc khắc phục những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau, đề ra những đường lối xử lý phù hợp, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xét xử.
Qua nghiên cứu tìm hiểu các quy định của pháp luật về tội Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng cũng như thực tiễn xét xử và nghiên cứu Điều 232 BLHS 2015 tác giả đã đưa ra những điểm mới của Điều 232 BLHS 2015 đồng thời cũng mạnh dạn đề xuất những vướng mắc bất cập cần được hướng dẫn khi điều luật trên được đưa vào áp dụng thực tiễn đồng thời kiến nghị kịp thời bổ sung những quy định mới của BLTTHS đối với chương xét xử pháp nhân phạm tội theo khoản 5 điều 232 BLHS./.
E:\DỮ LIỆU COP CỦA CHỊ YẾN\LUAN VAN VIEN HAN LAM\VIEN HAN LAM DOT 5\LUAT HINH SU\TRAN MINH TRIET\SAU BAO VE


